1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên

103 952 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa
Tác giả Trần Trọng Thịnh, Nguyễn Quốc Huy, Trịnh Thanh Minh, Bùi Quang Hạt, Võ Bình Giang, Trần Trọng Dần, Nguyễn Xuân Nam
Người hướng dẫn TS. Đào Mạnh Tiến, TS. Vũ Trường Sơn
Trường học Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất Hà Nội
Chuyên ngành Địa chất Môi trường
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địa hình núi phân bố trên diện tích các đá magma phức hệ Ye Yen Sun, Nậm Xe, Tam Đường, Pu Sam Cap… và thành tạo trầm tích biến chất cổ của hệ tầng Sinh Quyền… Phần lớn các dãy núi kéo d

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN

-  -

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

"ĐẶC TRƯNG TRƯỜNG PHÓNG XẠ VÀ Ô NHIỄM CÁC NGUYÊN TỐ PHÓNG XẠ VÙNG PHONG THỔ - LAI

CHÂU"

Thuộc đề tài: “Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa”

6383-4

23/5/2007

HÀ NỘI, 2006

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN

Nguyễn Xuân Nam

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

"ĐẶC TRƯNG TRƯỜNG PHÓNG XẠ VÀ Ô NHIỄM CÁC NGUYÊN TỐ PHÓNG XẠ VÙNG PHONG THỔ - LAI

CHÂU"

Trong đề tài: “Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa”

LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN CHỦ NHIỆM CHUYÊN ĐỀ LIÊN ĐOÀN TRƯỞNG

HÀ NỘI, 2006

Trang 3

CHƯƠNG I CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG

PHÓNG XẠ VÙNG NGHIÊN CỨU I.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN:

I.1.1 Vị trí địa lý:

Vùng nghiên cứu thuộc các huyện Phong Thổ, Tam Đường và một phần của thị

xã Lai Châu mới Phía Bắc vùng tiếp giáp với Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp với huyện Sìn Hồ, phía Đông giáp với huyện Bát Xát-tỉnh Lào Cai

Vùng được giới hạn bởi tọa độ:

Vùng nghiên cứu nằm trên khu vực chuyển tiếp của 2 đới kiến tạo (đới nâng Fan

Si Pan và đới sụt lún sông Đà) Vùng có độ cao tuyệt đối từ 300 – 2500m, đa phần có

độ dốc lớn trên 500 đây là vùng núi cao hiểm trở nhất Việt Nam Vùng núi khu vực nghiên cứu bị phân cắt rất mạnh, các đường phân thuỷ hẹp, hiện tượng sạt lở xảy ra nhiều Nhìn chung ở các miền núi cao độ phân cắt địa hình rất lớn từ 200-1000m Địa hình núi phân bố trên diện tích các đá magma phức hệ Ye Yen Sun, Nậm Xe, Tam Đường, Pu Sam Cap… và thành tạo trầm tích biến chất cổ của hệ tầng Sinh Quyền… Phần lớn các dãy núi kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam gần trùng với phương của các thành tạo địa chất, càng về phía Tây Bắc địa hình càng cao, về phía Đông Nam địa hình thấp dần Địa hình bị bào mòn và phân cắt bởi hệ thống sông suối

có phương Đông Bắc – Tây Nam và có thể chia ra các mức địa hình như sau:

Địa hình núi cao trên 1500m: Phân bố ở phía Đông Bắc (sườn Tây Fan Si Pan)

Trang 5

Địa hình núi cao dưới 500m: Chiếm khoảng hơn 10% diện tích, sườn thoải, đất phủ dày

Địa hình cao nguyên và karst: Phân bố ở nhiều vị trí trong phạm vi vùng nghiên cứu, tập trung chủ yếu ở các cao nguyên đá vôi Lang Nhị Thang, Tà Phìn, Sìn Hồ và phía Tây Nam Phong Thổ

Xen giữa các kiểuđịa hình chính nói trên là các thung lũng có địa hình tương đối bằng phẳng như Mường So, Tam Đường, Bình Lư, Đây là những khu vực tập chung dân cư trong vùng nghiên cứu

I.1.3 Khí hậu

Khu vực nghiên cứu có khí hậu đặc trưng của vùng núi cao, tuy nhiên vẫn mang đặc tính chung của khí hậu gió mùa chí tuyến

+ Chế độ bức xạ: Khí hậu Lai Châu có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa

đông tương đối lạnh và khô, mùa hè nóng và ẩm Số giờ nắng trung bình cao nhất tại Tam Đường (167 giờ), tháng nắng nhất là tháng 4, số giờ nắng trong tháng này tại Sìn

Hồ lên tới 256 giờ (số liệu thống kê năm 2003)

+ Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 2003 từ 13 – 270C và

có xu hướng tăng dần Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm thường là các tháng 6, 7

và 8 (26,90C) và tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng giêng (10,30C)

Đặc biệt, vào những ngày mùa đông nhiệt độ có thể hạ xuống rất thấp tạo băng

và tuyết tại các vùng núi cao

+ Chế độ mưa: Lượng mưa ở Lai Châu nhỏ hơn so với lượng mưa của các vùng

đồng bằng Bắc Bộ Mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 9, lượng mưa lớn nhất lên tới

653 mm vào tháng 6 tại huyện Sìn Hồ (năm 2003), các tháng mùa khô có lượng mưa rất nhỏ đặc biệt vào tháng 12 tại huyện Tam Đường năm 2003 chỉ đạt 3 mm

+ Độ ẩm: Độ ẩm trung bình các tháng trong năm nằm trong khoáng 74 đến 89%

và trung bình cả năm khoảng 83%, độ ẩm thấp nhất là 56%

+ Chế độ mây: Mây trung bình trong năm khoảng 6,5 ÷ 7,0/10 bầu trời Thời kỳ nhiều mây nhất là từ tháng 6 đến tháng 8, với mây trung bình 5 ÷ 6/10 bầu trời

+ Chế độ gió: Lai Châu chịu ảnh hưởng của gió Tây Bắc, nhìn chung gió Tây

Bắc có tần suất nhỏ Các thời kỳ lặng gió đạt tần suất 50 ÷ 60% Thời kỳ ít gió nhất từ tháng 6 đến tháng 10, với tần suất trung bình 50 ÷ 65% Vận tốc gió trung bình đạt 29 m/h

Các hiện tường thời tiết đặc biệt khác :

+ Dông: Đây là hiện tượng tương đối phổ biến trên địa bàn tỉnh Lai Châu Trung

bình khoảng 50 ÷ 60 ngày/năm Dông thường tập trung nhiều từ tháng 3 đến tháng 9, nhiều nhất vào các tháng đầu mùa mưa, mùa đông hầu như không có dông

+ Sương muối: Sương muối tuy xuất hiện thưa thớt nhưng ảnh hưởng của nó rất

lớn đến sản xuất và đời sống, gây nhiều tác hại với cây trồng, nhất là các loại cây nhiệt đới ưa nóng và gây khó khăn cho sản xuất vụ đông xuân Ở các nơi có độ cao 1500 m tần suất hiện tượng sương muối rất cao, 9 ÷ 10 ngày/năm, ở những nơi có độ cao thấp hơn, tần suất xuất hiện sương muối khoảng 1,1 ngày/năm Sương muối xuất hiện ở hầu hết các khu vực trong tỉnh Lai Châu

+ Sương mù: Sương mù xuất hiện thường xuyên hàng năm Nơi thường có nhiều

sương mù là những nơi có độ cao lớn như Sìn Hồ, ở những nơi độ cao thấp sương mù

Trang 6

ít hơn hẳn Tại Tam Đường sương mù bình quân chỉ 13 ngày/năm Sương mù thường xảy ra trong các tháng thu – đông (tháng 10 đến tháng 3)

+ Mưa đá: Hiện tượng mưa đá thường xảy ra tại một số nơi ở Lai Châu Mưa đá

thường xảy ra ở cuối mùa đông (thời kỳ chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hè) Tỉnh Lai Châu là một trong những tỉnh có nhiều ngày mưa đá so với các tỉnh Bắc Bộ Tần suất xuất hiện mưa đá trung bình một năm tại Lai Châu khoảng 1,6 ngày/năm

I.1.4 Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông suối

Tỉnh Lai Châu có hệ thống sông suối tương đối dày đặc, với 5,5 ÷ 6 km sông suối/km2 nhưng ít có những con sông lớn, chủ yếu là những sông nhỏ có độ dốc lớn,

về mùa khô thường thiếu nước Chế độ thuỷ văn của khu vực chịu ảnh hưởng của các con sông chính như: Sông Nậm Na, sông Nậm So và sông Nậm Mu Sông Nậm So có tổng diện tích là 150km2, là phụ lưu cấp 2 của sông Đà có diện tích lưu vực là 3.400

km2, chiếm tới 13% tổng diện tích toàn khu vực Sông dài 165 km, độ dốc trung bình đạt 37,2% Mùa lũ trong khu vực ngắn từ tháng 6 đến tháng 9 với lượng nước chiếm khoảng 70% tổng lượng nước trong năm Mùa cạn kéo dài 8 tháng, tháng 3 là thời kỳ nước bị thiếu hụt nghiêm trọng, lượng nước trong tháng 3 chỉ chiếm 1 đến 2 tổng lượng nước trong năm

I.1.5 Thảm thực vật

Hiện nay rừng chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 19% diện tích vùng nghiên cứu, phát triển chủ yếu trên địa hình các vùng núi cao trên 1500m ở phía Tây Fan Si Pan, vùng núi đá vôi, đá phun trào ở phía Đông Nam Sìn Hồ, các thượng lưu sông Nậm Tần, Nậm Ten, Nậm Ban Thảm thực vật phong phú và đa dạng từ các loại cây nhóm gỗ quý (lát, dổi,

sa mu ) đến các loại cây thân đốt, leo Hiện nay, do phát nương, làm rẫy nên diện tích rừng bị thu hẹp dần và các loại gỗ quý hiếm cũng đang biến mất, các loại động vật

tự nhiên quí, hiếm có số lượng giảm hoặc chúng đã di chuyển sang vùng khác

I.1.6 Ảnh hưởng của điều kiện địa lý tự nhiên đến môi trường xạ

a Ảnh hưởng của địa hình, địa mạo tới môi trường phóng xạ

Vùng nghiên cứu có diện tích tương đối rộng, địa hình nhiều núi cao hiểm trở, phân cắt mạnh, độ dốc lớn, nhiều nơi trên 500 Độ cao của địa hình thay đổi từ 300m – 2500m sườn núi dốc, quá trình phong hoá, bào mòn xảy ra mạnh mẽ Cùng với thảm thực vật ngày càng thưa thớt, mức độ che phủ kém đã gây sạt lở, bào mòn, kéo theo sự phát tán các sản phẩm chứa phóng xạ gây ô nhiễm môi trường

b Ảnh hưởng của đặc điểm thuỷ văn, mạng lưới sông suối tới môi trường:

Vùng nghiên cứu có mạng lưới sông suối khá phong phú, chảy theo nhiều hướng khác nhau với đặc điểm lòng hẹp dốc và có nhiều thác ghềnh, tốc độ dòng chảy mạnh

dễ gây lũ quét và sạt lở đất đá Như các sông Nậm Na, Nậm Mu, Nậm So các suối ngắn, dốc như Nậm Tần, Nậm Ban, Than Theo Ho Đặc biệt các sông suối chảy qua các mỏ đất hiếm, ngoài tác dụng hoà tan chúng còn phá huỷ, xói mòn, rửa trôi phát tán các nguyên tố phóng xạ gây ô nhiễm môi trường

c Ảnh hưởng của khí hậu tới môi trường phóng xạ:

Khí hậu vùng nghiên cứu là đặc trưng của vùng núi cao nhưng mang tính chất gió mùa chí tuyến có cả mùa mưa và mùa khô kéo dài, nhiệt độ thăng giáng lớn từ 1 –

20C đến trên 300C nên các quá trình phong hoá, bóc mòn xảy ra mạnh mẽ Mùa mưa dòng chảy dốc gây ra các hiện tượng sạt lở, lũ quét thậm chí cả lụt lội rất thuận lợi cho các quá trình hoà tan, phát tán các chất phóng xạ đi xa gây ô nhiễm môi trường

Trang 7

Đi lộ trình theo suối Nậm Xe đoạn chậy qua Bản Mấn

Lấy mẫu nước tại suối Nậm Xe chạy quanh điểm xạ Bản Màu

Trang 8

Thảm thực vật Thôn Tát Cạn – Bình Lư

Toàn cảnh công trường khai thác đá – xã Sùng Phài

(Đường đi từ Thị xã Lai Châu đi Nậm Xe)

Trang 9

Mùa khô gió nhiều kèm theo cả dông và lốc sinh ra nồng độ bụi tăng cao nhất là những nơi sạt lở gần các vỉa quặng có chứa các nguyên tố phong xạ hay các khu vực khai thác tài nguyên khoáng sản Vì vậy khả năng ô nhiễm bụi trong đó có chứa bụi

phóng xạ qua đường hô hấp tăng lên nhiều

I.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI:

I.2.1 Dân cư: Vùng nghiên cứu thuộc vùng núi Tây Bắc Việt Nam, dân cư thưa

thớt, mật độ dân cư phân bố không đồng đều, tập trung thành những bản nhỏ dọc các con suối, khe hẻm, thung lũng giữa núi Các điểm dân cư tập trung đông đúc là thị xã Lai Châu, thị trấn Phong Thổ, Tam Đường

Dân cư vùng nghiên cứu gồm nhiều dân tộc chung sống như Lừ, H'mông, Cùi Chu, Dao, Dáy, Hà Nhì, Lô Lô, Mảng, Thái, Thổ, Nhắng, Kinh Mật độ dân số 69 người/km2

Trong những năm gần đây, hầu hết các xã trong huyện đều có trường cấp 1, phần lớn thanh niên trong vùng đã biết đọc, biết viết và nói tiếng phổ thông Ở thị xã Lai Châu, thị trấn Tam Đường đã có trường cấp 2, cấp 3 Trạm y tế đã được xây dựng phục vụ việc khám chữa bệnh cho nhân dân trong vùng nhưng số lượng còn ít Ở thị xã Lai Châu, thị trấn Phong Thổ, Tam Đường đã có điện lưới quốc gia, một số nơi có máy phát điện hoặc thuỷ điện nhỏ phục vụ sinh hoạt Nhờ có điện đời sống văn hoá ngày càng được nâng cao Tuy nhiên ở các bản làng xa xôi hẻo lánh người dân còn gặp nhiều khó khăn Đồng bào dân tộc ít người còn nhiều người mù chữ, tệ nạn, mê tín dị đoan còn phổ biến Nhìn chung trình độ dân trí và trình độ nghề nghiệp của người lao động thấp hơn so với các địa phương khác trong cả nước

I.2.2 Giao thông:

Vùng nghiên cứu được nối với vùng khác của miền Bắc bởi các tuyến đường chính sau:

Hệ thống đường ô tô:

Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai - Sa Pa – Tam Đường (500km)

Hà Nội – Tuần Giáo – Lai Châu – Tam Đường (600km)

Hệ thống đường sắt : Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai

Hệ thống đường thuỷ: Sông Hồng đóng vai trò là tuyến giao thông nối liền khu vực miền núi Tây Bắc với miền xuôi

Ngoài các tuyến đường chính còn có các tuyến đường Phong Thổ-Dao San, Phong Thổ-Thèn Sin-Tam Đường, Phong Thổ-Mường So, dọc sông Nậm Na, Sìn

Hồ nhưng việc đi lại trong vùng nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn, đường mòn chật hẹp, khá dốc, di chuyển chủ yếu bằng ngựa hoặc đi bộ Về mùa mưa, đường trơn, lầy lội rất khó khăn trong việc đi lại Tuy nhiên từ các mỏ (Nậm Xe, Đông Pao) tới thị trấn, thị xã trong vùng việc đi lại dễ dàng hơn do được nối liền bởi đường đất, ô tô có thể đi lại được

Đường thuỷ có con sông Nậm Na chạy dọc phía Tây, sông Nậm Ma chạy dọc phía Đông vùng nghiên cứu

Còn nhiều xã chưa có đường ô tô xuống trung tâm xã Sự xuống cấp của hệ thống giao thông vận tải cùng với sự lạc hậu của mạng lưới thông tin bưu điện, bưu chính viễn thông, hệ thống cấp điện, cấp nước đang là những trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế của vùng nghiên cứu Tuy nhiên hiện nay một số tuyến đường giao thông quan trọng đã được nâng cấp như Chiềng Chăn - Sìn Hồ; Lai Châu - Mường Tè - Bom Lót - Suối Lư

Trang 10

I.2.3 Tình hình kinh tế xã - hội:

a Tổ chức hành chính:

Tỉnh Lai Châu có diện tích tự nhiên là 9059,43 km2, dân số đến 31/12/2003 là

301.855 người với mật độ dân số là 33,32 người/km2

Dân số phân theo huyện thị tính đến ngày 31/12/2003

Huyện, thị, thành

Số phường, thị trấn

Diện tích (km 2 )

Dân số trung bình (người)

Mật độ dân số (người/km 2 ) Tổng số 86 5 9059,43 301855 33,32

b Tình hình phát triển kinh tế xã hội

∗ Tình hình tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong những năm qua

Nông – Lâm nghiệp:

- Sản xuất lương thực: Trong 2 năm vừa qua, tuy diện tích trồng cây lương thực

tăng không nhiều nhưng sản lượng lại tăng đáng kể (11618 tấn so với năm 2002)

chứng tỏ ngành nông nghiệp của tỉnh đã có những kết quả đáng khích lệ

Sản lượng và diện tích cây lương thực có hạt phân theo huyện, thị, thành phố

Sản lượng (tấn) Diện tích (ha) Năm

- Cây công nghiệp và cây ăn quả: Nghành nông nghiệp của tỉnh bước đầu đã

hình thành những vùng chuyên canh trồng cây công nghiệp và cây ăn quả Trong 02

năm gần đây, mía là cây cho sản lượng cao nhất, chiếm 86,5% tổng sản lượng cây

công nghiệp hàng năm 2002 và gần 84% năm 2003

Sản lượng (tấn) Diện tích (ha) Năm

Trang 11

Diện tích và sản lượng cây ăn quả

Sản lượng (tấn) Diện tích (ha) Năm

- Thuỷ lợi: Hiện nay toàn tỉnh có 970 công trình thuỷ lợi trong đó có 270 công

trình kiên cố, 700 công trình tạm, 350 km kênh gia cố, 750 km kênh đất tưới tiêu vụ

chiêm 4.400 ha và vụ mùa là 14.000 ha góp phần đáng kể vào việc nâng cao sản lượng

nông nghiệp trong toàn tỉnh

- Chăn nuôi: Chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong những năm qua tiếp tục phát triển

với tốc độ chậm, đặc biệt sang năm 2003 số lượng ngựa và dê giảm hơn nhiều so với

- Lâm nghiệp: Tổng diện tích đất có rừng chiếm khoảng 38,5% diện tích đất lâm

nghiệp trong toàn tỉnh Những năm gần đây, được sự quan tâm của tỉnh và chính sách

giao đất khoán rừng của Nhà nước nên diện tích rừng trồng tăng đáng kể

Diện tích rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Lai Châu Loại đất, loại rừng Diện tích năm 2003 (ha)

A Rừng tự nhiên: 289.465,1

1 Rừng gỗ 234.651,8

Trang 12

III Đất lâm nghiệp (đất có rừng + không có rừng) 785.938,1

Mặc dù công tác trồng rừng và bảo vệ rừng đã mang lại một số hiệu quả nhất

định nhưng việc khai thác rừng để phục vụ đời sống vẫn đang diễn ra đặc biệt là những

khu vực vùng sâu vùng xa đồng bào vẫn có thói quen đốt nương làm rẫy gây ảnh

hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên rừng Vì vậy, tỉnh cần có các biện pháp tăng

cường công tác quản lý nguồn tài nguyên quý giá này

Giáo dục và y tế:

- Giáo dục: Về lĩnh vực giáo dục, Lai Châu có nhiều bước chuyển biến đáng kể

Các trường học, lớp học, giáo viên và học sinh các cấp tăng nhanh cả về số lượng và

chất lượng đào tạo Một số thống kê về công tác giáo dục của tỉnh trong 02 năm học

vừa qua như sau:

Số trường học, lớp học và học sinh của tỉnh Lai Châu STT Nội dung Năm học 2002 – 2003 Năm học 2003 - 2004

Trang 13

1 Mẫu giáo 5328 6738

Việc thực hiện chương trình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục, tỉnh Lai Châu cũng

đạt được những kết quả đáng khích lệ góp phần nâng cao trình độ dân trí của tỉnh

- Y tế: Sau khi tách tỉnh, ngành y tế của tỉnh gặp nhiều khó khăn đặc biệt trong

việc nâng cấp bệnh viện huyện Tam Đường lên thành bệnh viện cấp tỉnh Tuy nhiên,

ngành y tế không ngừng cố gắng trong những năm qua để nâng cao hiệu quả chăm sóc

sức khoẻ và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân

Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế tỉnh Lai Châu năm 2003

Du lịch: Vùng nghiên cứu là một khu vực có phong cảnh thiên nhiên hữu tình,

giàu tiềm năng du lịch Nơi đây còn có những bản làng dân tộc với nhiều phong tục tập

quán vẫn nguyên sơ, có thể triển khai các tuyến du lịch sinh thái để đón du khách trong

và ngoài nước

Khai thác khoáng sản:

Trong những năm qua khu mỏ Nậm Xe, Đông Pao đã được nhiều đơn vị khai

thác quặng fluorit, đất hiếm Quặng được khai thác lộ thiên, tuyển quặng bằng phương

pháp thủ công và vận chuyển tập trung ở khu vực Tam Đường, Phong Thổ chờ

chuyển đến các đơn vị sử dụng và chế biến khoáng sản

Khu mỏ Thèn Sỉn-Tam Đường có các điểm vàng gốc và sa khoáng, cộng sinh với

các mạch vàng gốc có chứa hàm lượng các nguyên tố phóng xạ Những năm gần đây

Trang 14

dân địa phương và một số người ở nơi khác đến tiến hành đào bới, khai thác vàng gây

ô nhiễm nước, phá vỡ hệ sinh thái môi trường và sản xuất nông nghiệp tại vùng này Hiện nay chính quyền địa phương đã ngăn chặn được hoạt động khai thác vàng tự do này

Hoạt động khai thác khoáng sản (quặng fluorit, đất hiếm, vàng ) trong vùng thiếu quy hoạch đã làm thay đổi môi trường sinh thái và cân bằng tự nhiên: rừng đầu nguồn bị tàn phá, đất đai bị xói mòn, hàng năm gây ra lũ ở vùng hạ nguồn của các dòng sông, đặc biệt ô nhiễm phóng xạ ảnh hưởng tới sức khỏe người dân trong vùng

I.2.4 Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế - xã hội tới môi trường phóng xạ:

Trong vùng nghiên cứu đã có nhiều đơn vị khai thác quặng fluorit và đất hiếm ở khu vực mỏ Nậm Xe và Đông Pao Do khai thác lộ thiên cộng với quá trình vận chuyển quặng là điều kiện cho các nguyên tố phóng xạ phát tán xa nơi khai thác

Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế trong nông lâm nghiệp tới môi trường phóng

xạ, đáng chú ý là hoạt động sản suất nông lâm nghiệp nhỏ lẻ của đồng bào dân tộc thiểu số trên các sườn đồi núi tại các vùng có mỏ phóng xạ hoặc chứa các chất phóng

xạ như : Làm công trình thuỷ lợi nhỏ để sản xuất nông nghiệp, trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây lấy gỗ Trên các vùng có dị thường phóng xạ hoặc thân quặng phóng xạ Các hoạt động này đã vô tình gây rửa trôi, đào xới phát tán các chất phóng

xạ đi xa Còn các hoạt động trồng trọt cây lương thực như lúa, ngô ở những vùng thấp của địa hình, thung lũng không gây ảnh hưởng ô nhiễm phóng xạ nhưng lại chịu tác động của ô nhiễm chất phóng xạ vào các sản phẩm lương thực, thực phẩm và ảnh hưởng tới con người

I.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT - KHOÁNG SẢN VÙNG NGHIÊN CỨU

I.3.1 Đặc điểm địa tầng

Trên diện tích vùng nghiên cứu phân bố rộng rãi các thành tạo trầm tích phun trào với thành phần đa dạng được hình thành từ Proterozoi đến Kainozoi Chúng bao gồm các phân vị sau

GIỚI PROTEROZOI, THỐNG HẠ - TRUNG

♦ Hệ tầng Suối Chiềng (PR sc 2)

Nguyễn Xuân Bao (1969) đã xác lập và mô tả hệ tầng Suối Chiềng theo mặt cắt điển hình tại Suối Chiềng Hệ tầng phân bố ở Đông Nam vùng nghiên cứu tạo thành một dải hình thước thợ kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Thành phần mặt cắt

và đặc điểm biến chất các đá của hệ tầng ít thay đổi theo đường phương và đồng đều trên diện tích phân bố Hệ tầng Suối Chiềng được chia làm 2 tập nhưng vùng nghiên

cứu chỉ lộ ra tập 2 (PRsc 2): Thành phần của tập 2 gồm: Đá phiến biotit-epidot-sphen, amphibolit-epidot, xen những lớp mỏng đá phiến felspat thạch anh mica và đá phiến hai mica

Chiều dày tập này là 1400m

♦ Hệ tầng Sinh Quyền (PR 1-2 sq)

Hệ tầng Sinh Quyền do Tạ Việt Dũng và những người khác xác lập năm 1963 Trong vùng nghiên cứu hệ tầng này lộ ra thành một dải liên tục ở phía Bắc-Đông Bắc vùng nghiên cứu có chiều dài khoảng 25km, chiều rộng khoảng 2-2,5km Ranh giới phía Đông Bắc của hệ tầng là các đá xâm nhập thuộc phức hệ Ye Yen Sun và phía Tây Nam là đứt gẫy sâu Bản Lang - Nậm Xe (F11)

Thành phần đất đá của hệ tầng được mô tả từ dưới lên như sau:

Trang 15

- Phần dưới gồm plagiogneis, amphibol-biotit; amphibolit, đá phiến thạch anh felspat mica, các đá bị ép, phân phiến, cấu tạo dải và dạng gneis, đôi chỗ có magmatit Các đá thuộc phần dưới của hệ tầng thường cắm về phía Tây Nam Chiều dày của phần dưới đạt tới 150m

- Phần giữa: là các đá gneis biotit, plagiogneis hai mica, đá phiến thạch anh felspat mica, xen các lớp mỏng amphibolit biotit Nhìn chung đá có màu xám, xám sáng, cấu tạo dải, dạng gneis, chúng cắm về phía Tây Nam, dốc 500-700, chiều dày đạt 450m

- Phần trên phân bố rải rác dọc theo bờ phải suối Nậm Xe và ở phía Đông Nam bản Nậm Xe gồm đá phiến mica, đá phiến sericit, đá vôi bị hoa hóa màu rất trắng, phân lớp dày, các lớp quarzit biotit màu xám nâu phân lớp mỏng từ một vài mm đến 5-10cm, ở phía Đông Nam Nậm Xe các lớp quarzit bị uốn nếp rất đẹp, chiều dày của phần trên tới 350m

Tổng chiều dày của hệ tầng là 950m

- Tập 1: đá vôi hạt nhỏ màu xám đen phân lớp mỏng xen các lớp đá vôi silic, đá vôi chứa sét khi phong hoá có màu vàng nâu, dày 260m

- Tập 2: đá vôi kết tinh màu xám đến xám sáng, phân lớp dày kẹp giữa là lớp đá vôi silic màu xám đen Đá vôi màu xám đến xám sáng bị hoa hoá yếu, dày 200m

HỆ PERMI

HỆ PERMI THỐNG HẠ-TRUNG

Loạt Bản Diệt: các trầm tích Loạt Bản Diệt do Tô Văn Thụ xác lập và mô tả (1996) trên cơ sở hệ tầng cùng tên của Phan Cự Tiến (1977) với hai hệ tầng chuyển tiếp là hệ tầng Si Phay (P1-2sp) và hệ tầng Na Vang (P2nv)

♦ Hệ tầng Si Phay (P 1-2 sp)

Hệ tầng Si Phay lộ ra thành một dải ở phía Bắc – Đông Bắc vùng nghiên cứu Ranh giới phía Đông Bắc là đứt gẫy Bản Lang- Nậm Xe Đan xen trong các thành tạo này là các thành tạo thuộc hệ tầng Na Vang Tại mặt cắt Na Vang của hệ tầng được chia làm 2 tập:

+ Tập 1: - Đá phiến màu xám đen gồm vật chất hữu cơ xen ít đá phiến silic, bột kết, cát kết và đá phiến sét có các vẩy nhỏ muscovit,

- Đá phiến sét xen bột kết màu xám đen, cát kết đa khoáng

- Đá phiến sét vôi, sét vôi và thấu kính đá vôi

- Đá phiến sét màu đen xen bột kết

Chiều dày tập 1 đạt tới 490m

+ Tập 2: - Đá phiến sét silic màu đen

- Đá phiến sét màu đen, xen ít bột kết màu xám đen

Trang 16

- Đá phiến sét silic phân lớp mỏng cấu tạo dải màu nâu, nâu sẫm Các tập đá này chuyển tiếp lên hệ tầng Na Vang

Chiều dày tập 2 đạt tới 220m

Như vậy chiều dày của hệ tầng Si Phay dày 710m

Trong hệ tầng này có rất nhiều các đai mạch nằm rải rác thuộc phức hệ Phong Thổ có liên quan đến khoáng sản đất hiếm (mỏ đất hiếm Nậm Xe)

Chiều dày tầng 120m

GIỚI MEZOZOI

HỆ TRIAS

HỆ TRIAS THỐNG HẠ BẬC INDI

♦ Hệ tầng Viên Nam (T 1 ivn)

Hệ tầng Viên Nam do Phan Cự Tiến xác lập năm 1975

Các thành tạo phun trào mafic trong vùng tương đương với hệ tầng Viên Nam có tuổi Permi muộn – Trias sớm đã được Bùi Phú Mỹ phân chia (1978) Chúng phân bố rộng

ở trung tâm vùng nghiên cứu, từ bản Khoang Thèn, Vàng Pheo đến Van Hồ, Đông Phong thành một dải dài nằm theo phương Tây Bắc - Đông Nam và có đặc điểm cấu trúc giống nhau Thành phần mặt cắt tại đây gồm: đá bazan, bazan olivin, bazan hạnh nhân và andezitrachyt Chúng được chia làm hai phần:

- Phần dưới là bazan hạnh nhân, bazan olivin, và các lớp tù của chúng

- Phần trên chủ yếu là bazan dạng khối màu xám đen, không thấy có cấu tạo hạnh nhân, mà phổ biến là cấu tạo định hướng và có kiến trúc porphyr

hệ tầng Đồng Giao Tại đây mặt cắt của hệ tầng lộ không đầy đủ, đặc biệt các lớp thuộc phần dưới của hệ tầng không quan sát được

Thành phần mặt cắt hệ tầng gồm:

- Dưới là đá phiến sét, bột kết chứa vôi màu xám xanh, vàng nhạt

- Trên là đá vôi xen kẽ với các đá phiến sét vôi màu xám, chúng chuyển tiếp lên

đá vôi phân lớp dày của hệ tầng Đồng Giao

Chiều dày hệ tầng 410m

Trang 17

HỆ TRIAS THỐNG TRUNG BẬC ANISI

♦ Hệ tầng Đồng Giao (T 2adg)

Các đá vôi, vôi sét thuộc hệ tầng Đồng Giao được Jmoniida A.I., Phạm Văn Quang mô tả (1965) Trong vùng nghiên cứu hệ tầng Đồng Giao phân bố trên một diện rất rộng (khoảng 350km2 ) ở trung tâm vùng nghiên cứu, các thành tạo này hình thành một dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam phủ trên toàn bộ diện tích của cao nguyên Lang Nhị Thang

Thành phần mặt cắt đặc trưng của hệ tầng là các đá carbonat gồm 2 tập:

- Tập 1: đá vôi, đá sét vôi phân lớp mỏng, đôi chỗ là đá phiến carbonat, sericit và

đá vôi sét có màu xám đến xám đen, hạt mịn có chứa silic

- Tập 2: đá vôi phân lớp dày đến dạng khối, màu xám đến xám sáng ít nhiều bị đolomit hóa ở mức độ khác nhau

Tổng chiều dày của hệ tầng ở đây đạt 850m

HỆ TRIAS THỐNG TRUNG BẬC LADIN

♦ Hệ tầng Mường Trai (T 2 lmt)

Hệ tầng Mường Trai do Trần Đăng Tuyết xác lập (1977) Hệ tầng phân bố ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu có dạng dải hẹp, kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam với chiều rộng khoảng 1km từ bản suối Thầu, Sữ Thàng, Thèn Thẩu đến bản Nà Sẳng Thành phần mặt cắt gồm: cát kết tuf, bột kết, đá sét vôi, đá phiến sét và đá vôi

Đặc điểm thạch học của hệ tầng ở mặt cắt bản Bầu Ban gồm:

- Phần dưới là đá phiến sét xen kẹp các lớp hoặc thấu kính đá vôi và các lớp mỏng cát kết, dày 350m-400m

- Phần trên gồm: đá phiến sét xen bột kết màu xám đen, chiều dày 300-460m

Hệ tầng Mường Trai phủ trực tiếp không chỉnh hợp trên hệ tầng Viên Nam (T1i

vn) và tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Nậm Mu ở trên Hệ tầng bị xuyên cắt bởi các thể

xâm nhập nhỏ phức hệ Pu Sam Cap

Chiều dày của hệ tầng 400m - 450m

HỆ TRIAS THỐNG THƯỢNG BẬC CARNI

♦ Hệ tầng Nậm Mu (T 3cnm)

Hệ tầng Nậm Mu được Dovjikov A.E., Bùi Phú Mỹ phân chia (1965) Trên diện tích vùng nghiên cứu hệ tầng Nậm Mu phân bố thành hai dải ở Tây Bắc và Đông Nam vùng nghiên cứu Dải thứ nhất phân bố ở phía Đông Bắc thị trấn Phong Thổ (mới), dải thứ hai nằm ở phía Đông Nam mỏ Đông Pao

Thành phần gồm: đá phiến sét màu đen xen các lớp mỏng bột kết và cát kết hạt nhỏ màu xám có chứa các dạng Pelecpoda phổ biến ở Carni

Chiều dày quan sát được 600-700m

Hệ tầng Nậm Mu tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Mường Trai, hệ tầng Suối Bàng

và bị xuyên cắt bởi các thể magma phức hệ Pu Sam Cap, phức hệ Nậm Xe-Tam Đường

HỆ TRIAS THỐNG THƯỢNG BẬC NORI-RET

♦ Hệ tầng Suối Bàng (T 3n-rsb)

Do Dovjikov A.E và n.n.k xác lập (1965) Các trầm tích chứa than hệ tầng Suối Bàng phân bố ở phía Tây Bắc và Đông Nam vùng Thành 2 dải kéo dài theo phương

Trang 18

Tây Bắc - Đông Nam Dải Tây Bắc thuộc phía Đông Bắc - Tây Nam bản Huổi Luông Dải Đông Nam kéo dài từ bản Chiềng Là đến bản Nậm Đích

Mặt cắt của hệ tầng gồm hai tập:

- Tập 1: đá phiến sét xen các lớp mỏng bột kết Chiều dày quan sát được 260m

- Tập 2: được phân biệt với tập 1 do có sự gia tăng của cát kết trong thành phần mặt cắt Bao gồm: cát kết xen kẽ cát bột kết và đá phiến sét than màu xám đen

Chiều dày tập 2 là 300m

Hệ tầng Suối Bàng có quan hệ kiến tạo với các hệ tầng Nậm Mu, hệ tầng Mường Trai, hệ tầng Đồng Giao và bị các thể xâm nhập phức hệ Nậm Xe- Tam Đường, đá mạch minet phức hệ Pu Sam Cap xuyên cắt

Chiều dày của hệ tầng là 560m

HỆ CRETA THỐNG THƯỢNG

♦ Hệ tầng Yên Châu (K 2yc)

Hệ tầng Yên Châu do Nguyễn Xuân Bao và Từ Lê xác lập năm 1964 Hệ tầng phân bố ở phía Tây vùng nghiên cứu thành một dải rộng kéo dài theo phương Tây Bắc

- Đông Nam Ranh giới phía Đông Bắc của hệ tầng giáp với hệ tầng Đồng Giao Hệ tầng được chia thành 3 tập Thành phần thạch học gồm:

- Tập 1: cuội kết, sỏi kết đa khoáng, phân lớp dày đến dạng khối, thành phần chủ yếu là thạch anh, xen ít là cát kết dạng quarzit và phiến silic, chuyển lên trên là sạn kết, cát kết thạch anh màu xám vàng, chứa cuội hoặc những ổ hay thấu kính cuội kết đa khoáng màu xám vàng Trên cùng là cát kết hạt thô màu xám sáng phân lớp dày đến dạng khối, thường phân lớp xiên, thỉnh thoảng xen lớp mỏng cát bột kết màu xám, dày 500m

- Tập 2: bột kết màu nâu đỏ phân lớp trung bình đến dày, có các mạch ổ nhỏ thạch cao, xen kẽ với cát kết hạt vừa màu vàng nhạt, phân lớp trung bình, dày 380m

- Tập 3: cuội dăm vôi, cuội kết vôi, hoặc cuội tảng kết vôi, thành phần chủ yếu là

đá vôi của hệ tầng Đồng Giao, một phần là cát kết dạng quarzit, xen trong cuội kết thỉnh thoảng gặp cát kết, sạn kết hạt thô màu đỏ nhạt, dày 400m

Chiều dày của hệ tầng khoảng 1280m

HỆ PALEOGEN

♦ Hệ tầng Pu Tra (Ept)

Hệ tầng Pu Tra được Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao xác lập (1989), trên cơ sở quan sát mô tả của Bùi Phú Mỹ (1971) Các đá của hệ tầng lộ ra ở Đông Nam vùng nghiên cứu thành hai khối, thuộc khu vực bản Sin Câu, một khối nhỏ lộ

ra ở bản Thẳm

Thành phần thạch học của hệ tầng gồm chủ yếu là tuf dăm, tuf, cát sạn kết và tuf tảng có thành phần là đá phun trào trachyt màu nâu gụ, màu đỏ và trachyt porphyr với chiều dày khoảng 350m

Trang 19

Trầm tích Pleistocen trung (aQ12), có nguồn gốc sông phân bố trong thung lũng khá rộng ở vùng bản Mương Mới huyện Tam Đường Thành phần trầm tích từ dưới lên trên gồm: cuội, sỏi, cát, tảng, ít cát bột Thành phần đa khoáng, chiều dày 2-3m

♦ Trầm tích Pleistocen thượng (aQ 1 3 )

Trầm tích Pleistocen thượng (aQ13), có nguồn gốc sông phân bố trong thung lũng tương đối rộng ở vùng bản Mường Mới huyện Tam Đường, Vàng Bâu huyện Phong Thổ, thành phần trầm tích gồm: cuội, cát, tảng Thành phần đa khoáng, chiều dày 1-2m

Trầm tích Holocen

♦ Trầm tích Holocen, Hạ-Trung (aQ 2 1-2 )

Trầm tích Holocen, Hạ - Trung (aQ21-2), có nguồn gốc sông, phân bố thành các bậc thềm, thềm cao và phát triển nơi đoạn vách thung lũng mở rộng Như ở bản Nà Đon Nà Sản, bản Nà Ít, bản Bo thuộc huyện Tam Đường Thành phần trầm tích gồm:

- Các tích tụ dọc thung lũng suối đều thể hiện 2 phần: dưới là tuớng lòng sông, trên là tướng bãi bồi mịn hơn, mặt cắt thường có 2 phần:

+ Dưới là đá tảng, cuội sỏi lẫn cát không gắn kết

+ Trên là cát sạn, sét màu xám vàng

Chiều dày 6-8m

♦ Trầm tích Holocen thượng ( a,apQ 2 3 )

Trầm tích Holocen thượng (a,apQ23), có nguồn gốc sông, sông lũ phân bố thành các bãi bồi, thềm thấp và phát triển nơi đoạn thung lũng mở rộng, cát bồi trũng lòng chảo karst chiều rộng khoảng 500m và dài tới 2-3km Như ở thung lũng bản Vàng Pau

- bản Hồi Én và dọc suối Nậm So huyện Phong Thổ, bản Hồng Ngài, bản Giang huyện Tam Đường Thành phần trầm tích gồm: cuội, tảng, sạn, cát, bột, sét màu xám vàng, chiều dày từ 1-5m

I.3.2 Các thành tạo magma

Theo kết quả khảo sát nghiên cứu của các nhóm tờ bản đồ 1:50.000 (nhóm tờ Lào Cai và Phong Thổ) đã xác định được sự có mặt của 8 phức hệ magma có tuổi từ Paleozoi giữa đến Kainozoi Ngoài ra còn tồn tại một số thành tạo magma xâm nhập ở dạng đai mạch chưa xác định được thời gian thành tạo (bảng 1.2)

Thành tạo xâm nhập Paleozoi giữa

♦ Phức hệ Mường Hum (aG/PZ 2mh)

Các thành tạo thuộc phức hệ phân bố thành một khối nhỏ ở ngọn Suối Nậm Che phía Đông Nam vùng nghiên cứu với diện tích khoảng 8km2 (khối Chu Va) Thành phần chủ yếu là: granit kiềm, ít hơn là granosyenit kiềm, syenit kiềm và syenitodiorit

Thành tạo xâm nhập Kreta

♦ Phức hệ núi lửa Ngòi Thia (R p/Knt)

Phức hệ do Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Cự Tiến xác lập (1977) và được đề cập đến trong nhiều công trình của các tác giả khác (Đào Đình Thục 1980, )

Phức hệ được xác định bởi các đá thuộc tướng á núi lửa, chủ yếu là ryolit, porphyr

Phức hệ núi lửa Ngòi Thia phân bố ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu thành dải không liên tục, kéo dài khoảng 20 km từ Bắc Bình Lư đến Thân Thuộc theo phương Tây Bắc - Đông Nam với diện tích khoảng 18 km2 Phía Tây Nam phức hệ có quan hệ

Trang 20

kiến tạo với hệ tầng Mường Trai (T2lmt) bởi đứt gãy chính Bình Lư - Thân Thuộc

Phía Đông Bắc phức hệ có quan hệ không rõ ràng với granitoid á núi lửa của phức hệ Phu Sa Phìn (GP- SyP/Kpp) và được vẽ quan hệ xuyên cắt giả định

Thành phần thạch học của phức hệ chủ yếu là ryolit porphyr, chiếm khoảng 95% diện tích phân bố Các đá còn lại chỉ chiếm khoảng 5% diện tích và gồm có: porphyr thạch anh, ryodacit, tuf ryolit Quan hệ giữa các đá trên mang tính phân dị

Phức hệ núi lửa Ngòi Thia trong vùng bao gồm ba tướng đá:

+ Tướng phun nổ: Có diện phân bố hẹp (khoảng 2% diện tích) và chỉ gặp một

diện nhỏ ở khu vực Huổi Ke với thành phần là tuf của ryolit

+ Tướng phun trào: Chiếm khoảng 70% diện tích và phân bố ở phía Tây Bắc

của dải đá, bao gồm các đá ryolit porphyr và ryodacit porphyr với lượng ban tinh trong

đá chiếm 3-14%

+ Tướng á núi lửa: Chiếm khoảng 28% diện tích và phân bố ở phía Đông Nam

của dải, bao gồm các đá ryolit porphyr và porphyr thạch anh với lượng ban tinh trong

đá 18÷37% Các thành tạo này phần lớn tạo nên các thể lấp đầy khe nứt và trồi lên trên mặt dưới dạng các vòm nghiêng và nằm dọc theo đứt gãy Trong các đá này có chứa các nguyên tố phóng xạ như (K, U, Th)

Thành tạo xâm nhậpTrias

♦ Phức hệ Ba Vì (Gb/T 1bv)

Trong hệ tầng Viên Nam Phức hệ Ba Vì lộ ra thành sáu chỏm nhỏ phân bố với diện tích khoảng 0,3km2, ở gần trung tâm vùng nghiên cứu Thành phần gồm: gaborodiabas, gabro Trong các đá này hàm lượng các nguyên tố chứa phóng xạ thấp

♦ Phức hệ Phu Sa Phìn (G p -Sy p/Kpp)

Phức hệ Phu Sa Phìn được Izokh E.P (1965) phân chia bao gồm các đá xâm nhập đá núi lửa, các đá thuộc phức hệ núi lửa phân bố trong vùng nghiên cứu thuộc phần Tây Bắc của khối Nậm Khế - Đông Tam Đường với diện tích khoảng 110 km2 Phía Tây Nam khối được vẽ giả định xuyên cắt các thành tạo núi lửa phức hệ Ngòi Thia (RP/Knt) Phía Đông Bắc khối có quan hệ kiến tạo với granitoid phức hệ

Ye Yen Sun (G/Eys) Trong granit phức hệ Ye Yen Sun còn có chứa thể tù syenit

porphyr phức hệ Phu Sa Phìn Bên trong khối có nhiều khối nhỏ và các thân dạng

tường syenit kiềm, granosyenit kiềm của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent),

granit biotit hạt nhỏ, đá mạch granit aplit của phức hệ Ye Yen Sun Ngoài ra xung quanh khối còn có quan hệ kiến tạo với phức hệ Mường Hum (aG/PZ2mh), hệ tầng

Suối Chiềng (PRsc), hệ tầng Viên Nam (T1vn), hệ tầng Mường Trai (T2lmt)

Thành phần thạch học của khối gồm: syenit porphyr, granosyenit porphyr, syenit porphyr thạch anh, granit dạng porphyr, granit granophyr, granit felspat kiềm Một phần các đá của phức hệ kết tinh tương đối đều hạt, không có kiến trúc porphyr Quan

hệ giữa các đá trong khối mang tính phân dị, chuyển tiếp từ syenit qua các đá trung gian là syenit thạch anh và granosyenit đến granit felspat kiềm

Thành tạo xâm nhập Paleogen

♦ Phức hệ Ye Yen Sun (G/Eys)

Phức hệ Ye Yen Sun do Izokh E.P Thành lập (1965) các thành tạo thuộc phức

hệ phân bố trên toàn bộ Đông Bắc vùng nghiên cứu đây là phần rìa Tây Nam của thể batonit rất lớn của sườn Đông dãy Fan Si Pan với diện tích thuộc vùng nghiên cứu khoảng 130km2

Trang 21

Phía Tây Nam phức hệ có quan hệ xuyên cắt với hệ tầng Suối Chiềng (PRsc),

phức hệ Mường Hum (aG/PZ2mh), phức hệ Phu Sa Phìn (GP- SyP/Kpp) và quan hệ

kiến tạo với hệ tầng Na Vang (P2nv), hệ tầng Si Phay (P1-2sp), hệ tầng Viên Nam (T1

ivn), phức hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent) Phía Đông Bắc phức hệ có quan hệ

xuyên cắt với hệ tầng Suối Chiềng (PRsc), hệ tầng Bản Páp (D1-2bp), phức hệ Mường

Hum (aG/PZ2mh) Trong khối Ye Yen Sun còn gặp các thể syenit kiềm, granit kiềm

phức hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent)

Nhìn tổng thể trong khối nhận thấy ở trung tâm khối đá thường kết tinh hạt vừa, còn rìa khối đá kết tinh hạt nhỏ Các đá mạch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu dạng aplit, pegmatit và granit pegmatit xuyên cắt các đá trong khối và hầu hết các thành tạo vây quanh

Phức hệ Ye Yen Sun được hình thành bởi hai pha xâm nhập:

- Pha1: granit biotit, granit biotit-amphibol và các đá lai tính granodiorit, granosyenit, syenit

- Pha 2: các đá mạch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu dạng aplit, pegmatit và granit pegmatit

♦ Phức hệ Nậm Xe-Tam Đường (aG-aSy/Ent)

Phức hệ Nậm Xe - Tam Đường do Izokh E.P phân chia (1965) Các thân xâm nhập của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường thường có kích thước nhỏ hơn 2 km2 phân bố chủ yếu ở nửa Đông Nam của vùng nghiên cứu (gồm 10 khối nhỏ với diện tích 10,5

km2) Chúng thường có dạng khối nhỏ hoặc đai mạch xuyên cắt các đá granitoid phức

hệ Ye Yen Sun (G/Eys), phức hệ Phu Sa Phìn (GP- SyP/Kpp) hoặc các trầm tích lục

nguyên, lục nguyên-carbonat, carbonat của các hệ tầng: Đồng Giao (T2ađg), Mường

Trai (T2lmt) và Nậm Mu (T3cnm)

Thành phần thạch học của các thể xâm nhập thường khác nhau, thay đổi từ syenit kiềm, granosyenit kiềm đến granit kiềm Có lẽ là do quá trình phân dị kết tinh các hợp phần thạch anh và felspat phân bố không đồng đều đã hình thành các loại đá khác nhau trong một không gian hẹp

Các thể xâm nhập nhỏ của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường thường phát triển dọc theo các đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam và dọc các đứt gãy giữa các trầm tích Trias từ Tam Đường qua Bình Lư đến Thân Thuộc các thân xâm nhập kiềm phân bố trong các thung lũng kín hẹp

♦ Phức hệ Pu Sam Cap (aSy p/Epc):

Phức hệ Pu Sam Cap do Izokh E.P thành lập năm 1965 Trong vùng nghiên cứu phức hệ Pu Sam Cap gồm các khối bản Suối Thầu, Tam Đường, Đông Pao và các đai mạch, thể tường minet với tổng diện tích phân bố khoảng 12,7 km2

Quan hệ giữa các khối với đá vây quanh như sau: khối Đông Pao xuyên cắt và gây hoa hoá đá vôi hệ tầng Đồng Giao (T2a đg), khối Tam Đường xuyên cắt và gây

sừng hóa các đá phiến sét và cát kết hệ tầng Suối Bàng (T3n-r sb) Các đá syenittoid

của phức hệ Pu Sam Cap luôn luôn gần gũi về không gian với phun trào trachyt và tuf của chúng

Hệ thống các đá mạch của phức hệ phân bố chủ yếu ở khu vực phía Tây Bắc, vùng nghiên cứu, thành phần của chúng rất phong phú và đa dạng bao gồm từ minet, shonkinit, syenit aplit đến bostonit Chúng xuyên cắt các đá granitoid của phức hệ

Ye Yen Sun, syenitoid pha 1 của phức hệ Pu Sam Cap, phun trào của hệ tầng Pu Tra

và các phân vị địa tầng tuổi Mesozoi từ Trias đến Creta có mặt trong vùng

Trang 22

Phức hệ Pu Sam Cap được hình thành bởi hai pha xâm nhập:

- Pha 1 gồm 2 tướng:

+ Tướng ven rìa: syenit porphyr và granosyenit porphyr

+ Tướng trung tâm: syenit hạt nhỏ đến hạt vừa và syenit thạch anh

- Pha 2: các đá mạch minet, shonkinit, syenit aplit và bostonit

Các thành tạo quặng đất hiếm phóng xạ có quan hệ mật thiết với phức hệ Pu Sam Cap, toàn bộ hệ thống mỏ Đông Pao nằm trên khối Bản Thẳm

♦ Phức hệ Phong Thổ (aSy/Ept)

Phức hệ Phong Thổ được Bùi Minh Tâm và Tô Văn Thụ xác lập khi đo vẽ và thành lập nhóm tờ bản đồ Phong Thổ bao gồm các đai mạch minet, shonkinit, cocit Các mạch cacbonatit, đai cơ và xâm nhập dạng họng nhỏ có thành phần từ mafic – trung tính kiềm kali có thể tương ứng với kiểu lamproid thấp titan, cao nhôm kiểu Địa Trung Hải Phân bố rải rác trong hệ tầng Viên Nam, Si Phay và dọc theo suối Nậm So Chúng được phân chia thành hai nhóm chính:

- Nhóm lamproid : các đá mafic, trung tính cao magie và kali

- Nhóm cacbonatit

♦ Thành tạo xâm nhập chưa rõ tuổi:

Ngoài những phức hệ nêu trên và những đai mạch đã xác định được tuổi, còn một

số đá mạch xâm nhập chưa rõ tuổi như đai mạch lamprophyr (L) Diện phân bố chủ yếu ở gần trung tâm vùng nghiên cứu Các thể xâm nhập này thường có dạng khối nhỏ kéo dài theo phương Tây Bắc – Đông Nam thậm chí còn có hình dạng tựa như thấu kính chúng xuyên cắt các đá biến chất của hệ tầng Sinh Quyền và hệ tầng Viên Nam, đôi lúc chúng còn có quan hệ kiến tạo với một số phân vị khác Ranh giới giữa xâm nhập này và đá vây quanh không rõ ràng

Trang 23

Vị trí địa lý

Diện tích (km 2 )

Đá bazan, bazan olevin, tuf, syenit kiềm, granosyenit kiềm, granit biotit, syenit, granit kiềm syenitodiorit

biotit-Plagiogneis, amphibol-biotit, anphibolit, đá phiến thach anh,

Felspat mica, đá phiến mica, đá phiến sericit, đá vôi bị hoa hoá, quarzit, đá phiến sét, granit, felspat, kiềm, syenit pocphyr, granosyenit pocphyr, syenit pocphyr thạch anh, granosyenit kiềm

Trang 24

Diện tích (km 2 ) Thành phần đá chính Thành phần đá vây quanh

1 1030 31' 21'' - 220 27' 38'' 3

1 1030 32' 40'' - 220 25' 14'' 2,2

Bazan, bazan olevin, tuf, đá granit, felspat, syenit pocphyr, granosyenit pocphyr

1 1030 33' 15'' - 220 26' 26'' 1,2

1 1030 34' 43'' - 220 25' 21'' 1,5

Đá granit, felspat, kiềm, syenit pocphyr, granosyenit pocphyr, granit biotit, granosyenit, syenit

đolomit hoá, cuội kết, sỏi kết đá khoáng

7 Ba Vì

(Gb/T1bv) 6 Dạng khối nhỏ 0,3 Gaborodiabas, gabro Bazan hạnh nhân, bazan olivin,

8 Phong Thổ (aSy/Ept) Dạng đai mạch Các đá mafic, trung tính cao magie và kali

Đá phiến silic, bột kết, cát kết và đá phiến sét, cát kết đa khoáng, đá phiến sét vôi, sét vôi và thấu kính đá vôi

9

Thành tạo

xâm nhập

chưa rõ tuổi

Dạng đai mạch Đai mạch lamprophyr

(L) Bazan hạnh nhân, bazan olivin,

Trang 25

I.3.3 Đặc điểm kiến tạo

Trên cơ sở tổng hợp tài liệu điều tra lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000 của 2 nhóm tờ Lào Cai và Phong Thổ liên quan đến diện tích vùng nghiên cứu có kết hợp với các tài liệu nghiên cứu cấu trúc khu vực của các nhà địa chất khác đã xác lập các đới kiến trúc và hệ thống đứt gãy trong vùng Vùng nghiên cứu gồm hai đới kiến trúc Mỗi đới kiến trúc được cấu thành bởi các tổ hợp thạch kiến tạo (THTKT) Mỗi THTKT được hình thành trong bối cảnh kiến tạo riêng

I.3.3.1.Các đới kiến trúc:

Vùng nghiên cứu thuộc miền kiến tạo Tây Bắc bao gồm một phần diện tích của 2 đới kiến trúc lớn là đới Fan Si Pan và đới Sông Đà Các đứt gãy sâu là ranh giới phân chia giữa hai đới Trong đó đới sụt lún Sông Đà được lấp đầy trầm tích lục nguyên và carbonat Đây là miền cấu trúc địa chất phức tạp với nhiều hệ thống đứt gãy, uốn nếp, các thành tạo magma, kèm theo nhiều hoạt động tạo khoáng

- Đới kiến trúc Fan Si Pan: đới này phân bố ở Bắc- Đông Bắc vùng nghiên cứu

Đới phân cách với đới kiến trúc Sông Đà ở phía Tây Bắc bằng đứt gẫy sâu Bản Lang Nậm Xe (F11) kéo dài khoảng 25km và ở phía Đông Nam bằng đứt gãy sâu Bình Lư – Thân Thuộc (F12) với chiều dài ở vùng nghiên cứu khoảng 35km Đới kiến trúc này được cấu thành bởi các THTKT sau:

+THTKT Proterozoi sớm- giữa gồm các đá lục nguyên, phun trào mafic bị biến chất

tướng anmandin-tremonit thuộc hệ tầng Suối Chiềng (PRsc 2), hệ tầng Sinh Quyền (PR1-2

+THTKT Mezozoi muộn (MZ3) bao gồm các thành tạo lục nguyên chứa than và lục nguyên màu đỏ hệ tầng Suối Bàng (T3n-rsb), Yên Châu (K2yc), các phức hệ Phu Sa Phìn

(Gp-Syp/Kpp)

+THTKT Kainozoi (KZ) bao gồm các thành tạo phun trào và lục nguyên của các

hệ tầng Pu Tra (Ept) và các thành tạo bở rời Đệ tứ, các phức hệ xâm nhập Ye Yen Sun (G/Eys), Nậm Xe- Tam Đường (aG - aSy/Ent) và Pu Sam Cap (aSyp/Epc)

I.3.3.2 Cấu trúc nếp uốn

Trang 26

Trên các đới kiến trúc phát triển những cấu trúc nếp uốn Cơ sở cho việc xác lập các cấu trúc nếp uốn trên diện tích nghiên cứu là các phức hệ vật chất kiến trúc, sự khống chế trong không gian của các loại đứt gẫy Trong đó các đứt gẫy cấp II giữ vai trò quan trọng Những cấu trúc nếp uốn dạng tuyến kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam có các đối tượng cụ thể sau:

- Nếp uốn dạng đơn nghiêng

Nếp uốn Mu Sang: phân bố dạng tuyến, phương trục Tây Bắc-Đông Nam, nằm ở phần cánh phía Bắc của đới Sông Đà, phức hệ vật chất kiến trúc có mặt trong nếp uốn này là các thành tạo lục nguyên carbonat, thành tạo phun trào mafic Nói chung các đá đều có thế nằm đơn nghiêng về phía Tây Nam, góc dốc từ 500-600 Nếp uốn có diện tích khoảng 200-300km2, khống chế trong không gian bởi 2 đứt gẫy Bản Lang - Nậm Xe (F11)

ở phía Đông và đứt gẫy Mường So-Thèn Sin (F12) ở phía Tây, là các thể xâm nhập gnanitolit thuộc phức hệ Ye Yen Sun, Pu Sam Cap và phức hệ đai mạch Phong Thổ

- Phức nếp vồng Lang Nhị Thang:

Phân bố dạng tuyến phương trục Tây Bắc-Đông Nam, dài 35-40km, rộng 16-18km Ranh giới phía Đông Nam của nếp vồng là đứt gẫy kiến tạo Mu Sang (F32), ranh giới phía Tây Bắc, Tây Nam là đứt gẫy Nậm Mạ (F21), phức hệ vật chất kiến trúc được tạo lập bởi các trầm tích lục nguyên carbonat Đá phiến sét, tuf, đá vôi (hệ tầng Tân Lạc-Đồng Giao),

đá phiến sét (hệ tầng Nậm Mu), đá phiến sét chứa than, cát bột kết (hệ tầng Suối Bàng); cuội kết, sạn kết, cát kết, bột kết màu nâu đỏ (hệ tầng Yên Châu) và các đai mạch, khối xâm nhập granitoid (Pu Sam Cap, Phong Thổ) có mặt trong nếp vồng thường có thế nằm cắm về Tây Nam hoặc Đông Bắc, góc dốc 400-600, ở gần đứt gẫy độ dốc lên tới 700-

800 Ở phức nếp vồng này đã xác lập được 3 nếp vồng và 1 nếp võng nhỏ như sau: + Nếp vồng Lang Nhị Thang

- Đứt gẫy Bình Lư -Thân Thuộc (F21): phân bố theo dạng kéo dài từ bản Bình Lư đến bản Thân Thuộc theo phương Tây Bắc - Đông Nam dài khoảng 35km trong vùng nghiên cứu Đứt gãy này cũng là đường phân chia ranh giới giữa hai đới kiến trúc Fan Si

Trang 27

Pan với đới kiến trúc Sông Đà, cắm nghiêng về phía Tây Nam với góc dốc 600-700, có lẽ được hình thành vào Proterozoi sớm- giữa (hệ tầng Sinh Quyền) Do đó đã tạo nên một số đới dập vỡ mạnh mẽ thuận lợi cho các hoạt động phun trào (hệ tầng Viên Nam) trong phạm vi ảnh hưởng của đứt gẫy đã phân định được nhiều biểu hiện quặng hóa, đất hiếm,

xạ, molybden, đồng, pyrit, chì, kẽm, vàng

- Đứt gẫy Nậm Mạ (F31): phát triển dọc khu vực suối Nậm Mạ kéo dài theo hướng Đông Nam (dọc thung lũng Nậm Mạ) dài khoảng 12 km lộ ra trong vùng nghiên cứu, phát triển như một đứt gẫy thuận, giữ vai trò là đường ranh giới phân chia đới kiến trúc Sông

Mã với đới kiến trúc Sông Đà, cắm nghiêng về phía Đông Bắc với góc dốc 600-700 Đứt gẫy được xác định có phương 300-400 và phương á kinh tuyến 150-200 Đứt gẫy có lẽ được hình thành và hoạt động rõ rệt trong Trias sớm tạo đới dập vỡ mạnh mẽ thuận lợi cho các hoạt động phun trào (hệ tầng Viên Nam) Đôi chỗ còn phát hiện được các di chỉ của một số họng núi lửa Vào Mesozoi muộn tái hoạt động theo cơ chế dồn ép tạo bồn trũng dọc theo sườn phía Đông, Đông Nam tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ các thành tạo lục nguyên chứa than (hệ tầng Suối Bàng) và phức hệ vật chất vụn thô màu nâu

đỏ (hệ tầng Yên Châu) Đứt gẫy này khống chế diện phân bố các thể granitoid và các đai mạch, dọc đứt gẫy đã khoanh định được nhiều diện tích có tiềm năng quặng hóa: đồng,

chì, kẽm, vàng

b -Các đứt gẫy cấp II

Vùng nghiên cứu đã phân định được nhiều đứt gẫy có qui mô cấp II (F2), chúng là những đứt gẫy phân nhánh tựa vào các đứt gẫy cấp I (F1) và thường có độ dài từ 10-15km, có thể thuộc các phương khác nhau song chủ yếu là phương Tây Bắc-Đông Nam và á vĩ tuyến Với vai trò là đường ranh giới cho các cấu trúc uốn nếp địa phương bao gồm các đứt gẫy Nậm So-Thèn Sin (F12), Nam Mường So (F22), đứt gẫy Mu Sang (F32) v.v

Ngoài những đứt gẫy cấp I, cấp II đã được mô tả ở trên còn có các đứt gẫy nhỏ, nhánh Tất cả chúng đã góp phần làm phức tạp thêm cấu trúc chung của vùng nhưng mặt khác chúng là nhân tố quan trọng vào việc tạo khoáng của toàn vùng nghiên cứu

I.3 4 Đặc điểm khoáng sản

Trong vùng nghiên cứu có khá nhiều loại hình khoáng sản như: vàng, chì - kẽm, xạ - đất hiếm (K, U, Th) và vật liệu xây dựng (đá vôi, cuội sỏi cát, sét gạch ngói) nước nóng, nước khoáng ( bảng 1.4) Trong đó các loại khoáng sản chính gồm vàng, chì, kẽm, đất hiếm và vật liệu xây dựng

Trang 28

dạng mạch mỏng nhét đầy khe nứt Hàm lượng vàng biến thiên trong khoảng rộng 7,0g/T)

(0,4-Ngoài vàng Tà Lèng trong vùng nghiên cứu còn một số vùng có biểu hiện khoáng sản vàng như ở Yên Thang, Thèn Sin, Suối Thầu và Đông Nam Sỉn Chải

- Vàng sa khoáng: có ở nhiều nơi nhưng qui mô nhỏ ít có ý nghĩa

I.3.4.2 Chì - Kẽm

Phát hiện ở nhiều nơi với đặc điểm quặng hóa khá đa dạng ở Si Phay chì kẽm đi cùng với vàng- bạc; ở bản Lang, bản Nậm Khan, Sin Chải chì kẽm đi cùng với đất hiếm, barit, fluorit… Phần lớn biểu hiện quặng chì kẽm phân bố trong đá vôi của hệ tầng Bản Páp, Đồng Giao và một ít trong đá lục nguyên có chứa các thấu kính carbonat của hệ tầng

Si Phay Hàm lượng quặng thay đổi trong khoảng rộng từ rất nghèo đến giàu Nói chung biểu hiện quặng chì kẽm cần được đầu tư nghiên cứu cùng với vàng bạc ở khu vực Si Phay và lấy kèm khi khai thác mỏ đất hiếm Bắc Nậm Xe

Thuộc xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

Quặng đất hiếm chứa kim loại phóng xạ phân bố chủ yếu nằm trong các đá phiến sét, đá phiến silic, đá vôi, đá hoa thuộc hệ tầng Si Phay (P1-2sp) và hệ tầng Na Vang

(P2nv) Trong đá carbonat thường có dạng ổ, túi, thấu kính với mức độ tập trung khác

nhau từ xâm tán thưa đến đặc sít Còn trong phiến sét, đá phiến silic thường có dạng mạch, mạng mạch xâm tán thưa Thành phần khoáng vật của quặng chủ yếu gồm: carbonat (60-80%) như calcit, parizit, basnezit, ít hơn là khoáng vật apatit, magnetit, barit, pyrit, galenit, biotit, microclin Hàm lượng tổng ôxit đất hiếm thay đổi từ vài phần ngàn đến 34%, trung bình đạt 4-6%TR2O3 Ngoài quặng gốc còn gặp quặng thứ sinh trong vỏ phong hoá với hàm lượng TR2O3 thay đổi từ 0,01%-28% trung bình là 4% Tổng tài nguyên dự báo:

Trữ lượng cấp B+C1=2,1 triệu tấn TR2O3

Tài nguyên dự báo:7 triệu tấn TR2O3

Trang 29

đới dập vỡ của đá phun trào bazơ tạo thành các thân mạch chạy dày theo phương Tây Bắc

và cắm về phía Đông Bắc với góc thoải (10-300)

Mạch quặng kéo dài từ 200m-1000m và dày 2,5m thường bị phân nhánh phức tạp và đôi khi thay đổi kích thước khá đột ngột Theo kết quả tìm kiếm đã khống chế được 4 thân quặng Dài từ 450m đến 1030m, chiều dày từ 0,2m đến 1,75m, thường dài từ 530m đến 800m và dày từ 0,2m đến 1,35m

Quặng đất hiếm ở mỏ Nam Nậm Xe cũng thuộc loại nhóm nhẹ Thành phần khoáng vật của quặng tương đối đơn giản gồm chủ yếu là barit, parizit, ankerit, calcit, biotit ít pyrit, galenit, sphalerit, magnetit, fluorit và thạch anh Hàm lượng tổng oxit đất hiếm thay đổi từ 0,8 – 36,2%, trung bình 10,6% Ngoài những thân quặng kể trên, ở mỏ Nam Nậm

Xe còn có một thể đá carbonat chứa quặng đất hiếm dưới dạng xâm tán với hàm lượng TR2O3 0,4-1%

Trữ lượng B+C1= 199.168 tấn TR2O3

Tài nguyên dự báo: 3 triệu tấn TR2O3

Các kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy các mỏ đất hiếm Nậm Xe có nguồn gốc nhiệt dịch

c Điểm biểu hiện quặng phóng xạ ở khu vực Thèn Sin – Tam Đường

Có toạ độ : 220 23’30’’ vĩ độ Bắc

103 025’30’’ kinh độ Đông

Thuộc các xã Thèn Sin, Tà Lèng huyện Phong Thổ, Sin Suối Hồ, Sùng Phài, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Kết quả tìm kiếm đã phát hiện được 113 điểm dị thường Trong đó đã nghiên cứu 18 điểm có hình dạng và qui mô các thân quặng dạng mạch nhỏ, đới mạch và mạng mạch Chúng phân bố theo đứt gẫy nhỏ hoặc đới

cà nát, khe nứt Chúng nằm trong các đá hệ tầng Viên Nam (T1i vn), một phần trong hệ tầng Mường Trai (T2lmt)

+ Hàm lượng trung bình của thori: từ 0,01-0,02% ThO2 cao nhất từ 1,5-5% ThO2 đặc biệt có mẫu cao hơn

+ Hàm lượng trung bình của urani: n10-3% đến n10-2% U3O8, cao nhất là n10-2% U3O8 + Hàm lượng trung bình của đất hiếm: n10-1% tổng lượng TR2O3 có mẫu đạt hàm lượng 5-7% TR2O3

d Mỏ Đông Pao

Có toạ độ : 22018’12’’ vĩ độ Bắc

103032’52’’ kinh độ Đông

Thuộc xã Bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Kết quả tìm kiếm đánh giá

đã xác định được 60 thân quặng đất hiếm - barit - fluorit có dạng mạch, dạng thấu kính và đới mạch phức tạp Quặng phân bố chủ yếu theo hệ thống khe nứt của đá syenit kiềm, syenit porphyr thuộc phức hệ Pu Sam Cap và số ít phân bố trong đá vôi hệ tầng Đồng Giao tại gần nơi tiếp xúc với syenit Các thân quặng được khống chế bởi hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam và á vĩ tuyến

Tập hợp khoáng vật quặng ở Đông Pao gồm: fluorit, barit, batnhezit , đất hiếm do phong hoá, lantanit, monazit và xenotim Quặng cấu tạo khối tinh thể, dạng mạch ổ xâm tán dày và dạng đất bở rời Hàm lượng quặng gồm: đất hiếm TR2O3 = 0,3 – 12%; BaSO4

Trang 30

= 20 – 70%; CaF2 = 10 – 60% Quặng đất hiếm – barit – fluorit – uran – thori ở đây có nguồn gốc nhiệt dịch, hoặc nguồn gốc nhiệt dịch cacbonatit

Trữ lượng quặng như sau:

Thuộc xã Dao San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Kết quả tìm kiếm đã phát hiện

26 dị thường có 3 dị thường phóng xạ có dạng thấu kính với trục kéo dài theo phương á vĩ tuyến Các dị thường này có chiều rộng từ 50m đến 250m, chiều dài từ 200m đến 500m

và cường độ phóng xạ dao động từ 50 đến 570µR/h

Các dị thường này liên quan chặt chẽ với các đá mạch aplit, granit aplit Các đai mạch này xuyên cắt các đá trầm tích lục nguyên và các thấu kính carbonat của hệ tầng Si Phay (P1-2sp)

Kết quả phân tích mẫu hoá xạ cho hàm lượng U3O8 =0,004-0,016%; TR2O3 0,21%; ThO2 từ vết đến 0,036%

=0,03-I.3.4.4 Vật liệu xây dựng

Trong vùng có rất nhiều loại đá được sử dụng làm vật liệu xây dựng với tiềm năng rất lớn:

Đá vôi dùng cho rải đường, đá ốp lát, xây nhà cửa, cầu cống như ở bản Giang, Kiều

Sa Pin, Nậm Long; Đá vôi đolomit dùng cho xi măng thuộc hệ tầng Đồng Giao, Bản Páp,

Na Vang Đá granit thuộc phức hệ Ye Yen Sun, đá bazan thuộc hệ tầng Viên Nam, được

sử dụng làm đá ốp lát (điểm mỏ đá ốp lát granosyenit Bình Lư)

Ngoài ra trong vùng còn một số loại vật liệu xây dụng khác như:

+ Cuội, sỏi, cát (Mường So, Nậm Na): Có quy mô nhỏ, chất lượng tốt, tiện lợi cho việc khai thác

+ Sét gạch ngói (Lang Nhị Thang, Nậm Na, Nậm Tầm, Mường So): Có qui mô lớn, chất lượng tốt, tiện lợi cho việc khai thác

Trang 31

Bảng1.4: Bảng tổng hợp các loại mỏ và điểm khoáng hoá trong vùng nghiên cứu

TT Loại hình khoáng sản Nguồn gốc Vị trí địa lý Mỏ lớn nhỏ Mỏ khoáng sảnBiểu hiện Ghi chú

Trang 32

15 2.Điểm đá vôi xây dựng Đông

Nam Mù Phìn

Trầm tích

I.3.5.1 Đặc điểm cường độ phóng xạ của các thành tạo đá gốc

Căn cứ vào đặc điểm cường độ phóng xạ của các thành tạo đá gốc (được trình bày trong bảng 1.5) có thể chia ra vùng nghiên cứu thành năm miền có cường độ phóng xạ khác nhau:

- Miền cường độ phóng xạ thấp (cường độ phóng xạ trung bình ≤ 15µR/h) gồm diện tích phân bố các phân vị địa tầng: Tân Lạc (T1otl ), Viên Nam (T1ivn), phân bố ở trung tâm và phía Tây Bắc vùng nghiên cứu và hệ tầng Na Vang (P2nv) tạo một dải kéo dài từ

Tây Bắc vùng đến khu vực bản Tà Chải xã Hồ Thầu

- Miền cường độ phóng xạ trung bình nhỏ hơn 25µR/h chiếm diện tích lớn trong vùng nghiên cứu Miền này được đặc trưng bởi các hệ tầng: Yên Châu (K2yc), Đồng Giao

phân bố chủ yếu ở khu vực từ trung tâm vùng ra phía Tây vùng nghiên cứu; Sinh Quyền (PR1-2sq), Si Phay (P1-2sp) phân bố ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu; phức hệ Ba Vì

(Gb/T1bv)(các khối nhỏ) phân bố rải rác trong hệ tầng Viên Nam (T1ivn)

- Miền có cường độ phóng xạ trung bình nhỏ kơn 35µR/h miền được đặc trưng bởi các thành tạo của Hệ tầng Mường Trai (T2lmt), Nậm Mu (T3cnm), phân bố thành dải kéo dài theo phương Tây Bắc Đông Nam phân bố từ xã Thèn Sin đến phía Đông Nam vùng nghiên cứu; phức hệ Mường Hum (aG/PZ2mh), Phu Sa Phìn (Gp-Syp/Kpp), Ye Yen Sun

Trang 33

(G/Eys), Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Knt) bao gồm các khối lớn nhỏ tập trung ở phía

Đông vùng nghiên cứu

- Miền có cường độ phóng dao động từ 35µR/h đến 50 µR/h gồm diện tích phân bố trong các hệ tầng Bản Pháp (D1-2bp) phân bố ở Bắc và phía Tây vùng nghiên cứu; Suối

Bàng (T3n-rsb) phân bố gồm hai dải ở Phía Tây Bắc và Đông Nam Vùng Nghiên Cứu, Ngòi Thia (Rp /Knt) nằm xen giữa hệ tầng Mường Trai (T2lmt) và phức hệ Phu Sa Phìn

(Gp-Syp/Kpp) ở phía Đông Nam Vùng, Pu Sam Cap (aSyp/Epc) phân bố thành hai khối ở

bản Suối Thầu, Đông Pao

- Miền có cường độ phóng xạ lớn hơn 50µR/h, là các thành tạo chứa quặng phân bố trong các khu vực mỏ đất hiếm - phóng xạ (Nậm Xe, Thèn Sin, Đông Pao)

I.3.5.2 Môi trường phóng xạ

Trong vùng nghiên cứu chỉ mới có kết quả nghiên cứu môi trường phóng xạ ở khu vực Nậm Xe [28] trên diện tích 62.4 km2 Các kết quả này đã xác định giá trị xuất liều chiếu xạ trong vùng mỏ dao động từ 1,2 đến 23,3 mSv/năm và cũng đã phân chia thành ba khu vực đặc trưng bởi giá trị xuất liều chiếu khác nhau

+ Khu vực phía Tây mỏ Nậm Xe có suất liều xạ chiếu H ≤ 2 mSv/năm phân bố trong trầm tích Đệ Tứ (Q), đá vôi, bột kết thuộc hệ tầng Tân Lạc (T1otl) và hệ tầng Suối Bàng (T3n-rsb)

+ Khu vực phía tây mỏ Nậm Xe có suất liều xạ chiếu từ 2 đến 3 mSv/năm phân bố chủ yếu trong đá vôi, sét vôi hệ tầng Đồng Giao (T2a đg1,2), bột kết, sét kết, phiến sét của

hệ tầng Nậm Mu (T3cnm), hệ tầng Suối Bàng (T3n-rsb) và trầm tích phun trào hệ tầng Viên Nam (T1i vn)

+ Khu vực góc Đông-Bắc mỏ Nậm Xe có suất liều xạ chiếu từ 3 đến 5 mSv/năm

phân bố trong các đá granit, granodiorit phức hệ YeYenSun (Sy/Eys) và xung quanh mỏ

Bắc Nậm Xe, phát triển xuống mỏ Nam Nậm Xe, chúng phân bố trong các đá của hệ tầng

Sinh Quyền (P-MPsq) và các đá phiến, bột kết, cát kết, thấu kính đá vôi và phun trào

thuộc hệ tầng Si Phay (P1-2 sp), và các thành tạo phun trào của hệ tầng Viên Nam (T1i vn) Các thành tạo chứa các thân quặng đất hiếm, urani, thori là khu vực có suất liều xạ chiếu cao nhất từ 5 đến 10 mSv/năm phân bố ở khu vực mỏ Bắc Nậm Xe, kéo dài tới mỏ Nam Nậm Xe

Ngoài ra, dựa vào các chỉ tiêu an toàn phóng xạ, khu mỏ Nậm Xe còn được phân thành vùng không an toàn và vùng kiểm soát

Trang 34

Bảng 1.5 Cường độ phóng xạ của các thành tạo đá gốc

TT Tên hệ tầng và phức hệ

có chứa phóng xạ

Cường độ phóng xạ dao động trong khoảng ( µR/h)

Cường độ phóng xạ trung bình ( µR/h)

Ghi chú

Trang 35

CHƯƠNG II

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN MÔI

TRƯỜNG PHÓNG XẠ CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU

II.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG PHÓNG XẠ

I.1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trên thế giới:

Sau khi phát minh ra hiện tượng phóng xạ (Becquerel – 1896) người ta cũng đã xác định được các bằng chứng về tác hại của các bức xạ phóng xạ đối với con người khi làm việc với các chất phóng xạ Chính vì vậy cần thiết phải bảo vệ và xác định các điều kiện

an toàn cho những người trực tiếp làm việc hoặc có tiếp xúc ngẫu nhiên với các bức xạ ion hóa Từ đầu thế kỉ XX nhiều tổ chức quốc tế về an toàn bức xạ dược thành lập Ủy ban Quốc tế về an toàn bức xạ (ICRP) đã được thành lập vào năm 1928 nhằm mục đích xây dựng các nguyên tắc cơ bản và đưa ra các khuyến cáo về các vấn đề bảo vệ an toàn bức xạ

Năm 1990 một bước tiến quan trọng nhằm đi tới sự thống nhất quốc tế về an toàn bức xạ đã được xúc tiến: thành lập Ủy ban hỗn hợp giữa các Tổ chức Quốc tế về An toàn Bức xạ (IACRS) với sự tham gia của các tổ chức sau: Ủy ban khối Cộng đồng chung Châu Âu (CEC), Hội đồng tương trợ kinh tế (CMEA), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới (FAO), Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Cơ quan Năng lượng Hạt nhân của Tổ chức hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD/NEA), Ủy ban Khoa học của Liên Hợp Quốc về những ảnh hưởng của bức xạ nguyên tử (UNSCEAR) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

Các nước như Mỹ, Pháp, Liên Xô trước kia – CHLB Nga ngày nay, Trung Quốc đều

đề ra các tiêu chuẩn an toàn bức xạ, nghiên cứu các phương pháp và thiết bị điều tra đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ:

- Bộ Y tế Liên Xô đã xuất bản bộ “Tiêu chuẩn an toàn bức xạ” HbP-69 (năm 1969), HbP – 76/87 (năm 1988) và “Các nguyên tắc vệ sinh chủ yếu làm việc với các chất phóng

xạ và với các nguồn bức xạ ion hóa OCII-72/87 (năm 1988)

- Bộ Công nghiệp Trung Quốc đã xuất bản bộ “Tiêu chuẩn bảo vệ an toàn phóng xạ các sản phẩm vật liệu khoáng chất thiên nhiên: JC518-93 (năm 1993)

Hàng năm các nước có hoạt động khai thác khoáng sản phóng xạ đều phải có báo cáo gửi đến UNSCEAR theo các biểu mẫu quy định và được cơ quan này xuất bản và gửi đến các quốc gia thành viên (ví dụ IAEA-TECDOC-1244., 2001…)

Năm 1996 dưới sự đồng bảo trợ của FAO, IAEA, ILO, OECD/NEA, Tổ chức Y tế Liên Mỹ (PAHO), WHO, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế xuất bản bộ “Tiêu chuẩn quốc tế cơ bản về bảo vệ bức xạ ion hóa và an toàn đối với nguồn bức xạ” nhằm đạt được sự thống nhất quốc tế về các tiêu chuẩn bảo vệ bức xạ và an toàn đối với các nguồn bức xạ

Bản đồ môi trường phóng xạ nền (phông) được các nước như Nga, Đức, Mỹ, Thụy Điển đặc biệt chú ý, cơ bản đã thành lập xuất bản ở tỷ lệ 1/50.000 toàn quốc (Liên bang) và một số khu vực trọng điểm thành lập tỷ lệ 1/25.000 đến 1/2.000 (khu vực có các mỏ phóng xạ - đất hiếm, khu vực chứa các dị thường phóng xạ, đá chứa các kim loại phóng xạ hàm lượng cao) Cục Địa

Trang 36

chất Mỹ đã hoàn thành việc lập bản đồ phân bố nồng độ khí Radon toàn Liên bang năm 1996 và cập nhật cơ sở dữ liệu bản đồ cung cấp mạng Internet

II.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam:

Giai đoạn trước năm 1980

Ở nước ta từ năm 1955 các phương pháp phóng xạ đã được áp dụng trong đo vẽ bản

đồ địa chất, tìm kiếm các mỏ quặng có chứa các chất phóng xạ

Năm 1959 Đoàn Địa chất 16 đã tìm ra một số điểm quặng đất hiếm fluorit ở Đông Pao Đây là lần đầu tiên các nhà địa chất phát hiện vùng mỏ đất hiếm ở nước ta Dưới sự chỉ đạo của Tổng cục Địa chất một số công trình nghiên cứu điều tra về đất hiếm và các nguyên tố phóng xạ đã được tiến hành Các công trình đó gồm: "Thăm dò tìm kiếm mỏ đất hiếm Nậm Xe" dưới sự chủ biên của J Vlasốp được đoàn 16 thực hiện năm 1960;

"Khoáng sản kim loại hiếm và kim loại phóng xạ Nậm Xe (Lai Châu)" của Nguyễn Cao Sơn thực hiện năm 1961; Từ 1971 ÷ 1983, Đoàn Địa chất 10 đã tiến hành thăm dò sơ bộ

mỏ đất hiếm Bắc Nậm Xe tỷ lệ 1/5.000 và 1/1.000 với diện tích 3km2, đánh giá trữ lượng cấp C1; "Tìm kiếm lập bản đồ 1:10.000 và đánh giá 5 thân quặng vùng đất hiếm - fluorit - barit Đông Pao, Lai Châu” của các tác giả Nguyễn Ngọc An, Phạm Vũ Đương được thực hiện năm 1972 Các kết quả điều tra, tìm kiếm, thăm dò nói trên cho thấy mỏ đất hiếm có quy mô rất lớn với hàm lượng tổng oxit đất hiếm từ vài phần nghìn đến 34% (trung bình 4-6%) Các thân quặng đất hiếm ở Nam Nậm Xe có chiều dài 200 đến 1000m, chiều dày đạt 2,5m, hàm lượng tổng oxit đất hiếm giao động từ 0,8 đến 36,2% và hàm lượng trung bình trung bình 10,6% Các nguyên tố đất hiếm cộng sinh chặt chẽ với U, Th và các nguyên tố phóng xạ khác nên đã phát hiện các dị thường gamma có kích thước lớn trên khu mỏ Tuy nhiên các công trình này chủ yếu nghiên cứu đánh giá về triển vọng, tính trữ lượng quặng đất hiếm và phóng xạ, công tác nghiên cứu về môi trường phóng xạ và ảnh hưởng của chúng đối với môi trường chưa được nghiên cứu

Giai đoạn sau năm 1980

Trong giai đoạn này các kỹ thuật hạt nhân đã được ứng dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau: Y tế, công nghiệp, nông nghiệp, địa chất dầu khí, địa chất thủy văn, công trình Trong tìm kiếm thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng các loại khoáng chất

và vật liệu có chứa phóng xạ và ứng dụng các kỹ thuật hạt nhân, đồng thời với những lợi ích kinh tế xã hội to lớn không thể phủ nhận, còn gây ra nguy cơ ô nhiễm phóng xạ Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường nói chung và vấn đề an toàn phóng xạ nói riêng Đã có nhiều văn bản pháp luật quy định về công tác bảo vệ an toàn môi trường phóng xạ như tháng 7/1996 Nhà nước đã ban hành

“Pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ”, năm 1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/1998/ND-CP “Quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ”.Vì lý do trên ở phạm vi cả nước cũng như khu vực đã triển khai nhiều công trình điều tra nghiên cứu về tài nguyên khoáng sản phóng xạ và đánh giá mức độ ảnh hưởng của trường phóng xạ tới môi trường và xã hội

Đã có nhiều công trình điều tra ở tỉ lệ lớn nhằm đánh giá trữ lượng quặng phóng xạ tại vùng Phong Thổ:

- Nguyễn Ngọc An 1983 “Thăm dò mỏ đất xạ hiếm Bắc Nậm Xe, Lai Châu” công

Trang 37

trình đã đánh giá được quy mô và cấp trữ lượng tới cấp C1+C2 với tổng trữ lượng của mỏ

là gần 8 triệu tấn quặng tổng

- Hồ Nhiệm 1984 “Tìm kiếm quặng phóng xạ, đất hiếm vùng Thèn Sin, Tam Đường, Lai Châu” công trình đã tiến hành tìm kiếm quặng phóng xạ đất hiếm trên diện tích 21 km2 ở tỉ lệ 1/10.000 kết quả tìm kiếm cho thấy khoáng hoá trong vùng chủ yếu là thori và đất hiếm

- Ninh Duy Huân 1996 “Kết quả khai thác khối 2A, Nam Nậm Xe (Lai Châu)” tác giả đã khái quát được toàn bộ cấu trúc địa chất thân quặng, tính trữ lượng và đánh giá được mức độ tổn thất trong khai thác, công trình này được tiến hành song song với việc tổ chức khai thác

- Nguyễn Đắc Đồng 1992 “Tìm kiếm và tìm kiếm đánh giá quặng đất hiếm - fluorit - barit khu mỏ Đông Pao, Phong Thổ, Lai Châu” các tác giả đã tìm kiếm và đánh giá ở tỉ lệ 1/10.000 đến 1/2000 đặc biệt làm sáng tỏ tổ hợp quặng trong khu vực là đất hiếm, fluorit, barit, công trình cũng phân chia được các loại quặng tự nhiên và quặng công nghiệp Các công trình điều tra nghiên cứu và tổng hợp ở tỉ lệ nhỏ có liên quan đến vùng nghiên cứu

- Nguyễn Văn Lịch 1986 "Tổng hợp tài liệu Phóng xạ mặt đất 1:500.000 lãnh thổ Việt Nam"

- Nguyễn Tài Thinh 1994 "Thành lập bản đồ trường phóng xạ tự nhiên Việt Nam tỷ

lệ 1:500.000" trong đó có đề cập trong vùng Phong Thổ có nhiều khu vực có xuất liều cao vượt giới hạn cho phép và khẳng định vùng có ô nhiễm môi trường phóng xạ

- Nguyễn Văn Hoai 1990 "Đánh giá tiềm năng urani và một số nguyên liệu khoáng, phục vụ cho công nghiệp năng lượng nguyên tử trên lãnh thổ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam"

- Phạm Vũ Đương 1986 “Đánh giá triển vọng quặng phóng xạ dải Thanh Sơn (Phú Thọ), Tứ Lệ (Sơn La), Phong Thổ (Lai Châu)”

- Nguyễn Quang Hưng 2003 "Báo cáo tổng quan về tiềm năng nguồn urani ở Việt Nam"

Các công trình điều tra nghiên cứu có liên quan đến môi trường phóng xạ vùng Phong Thổ:

Sau năm 1980 đề tài cấp Nhà nước “Cơ sở khoa học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường” do cố giáo sư Nguyễn Đình Tứ chủ trì có 4 đề tài nhánh liên quan đến môi trường xạ:

- Đề tài nhánh mã số 5202-01: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phóng xạ đối với sức khỏe con người nhằm đề ra phương pháp điều trị” do GS.TS Viện trưởng Lê Thế Trung, Viện Quân y 103 chủ trì

- Đề tài nhánh mã số 5202-02: “Nghiên cứu mức độ ô nhiễm xạ môi trường không khí tại Việt Nam” do Viện Hóa học Quân sự Bộ Tư lệnh Hóa học chủ trì

- Đề tài nhánh mã số 5202-03: “Nghiên cứu xác lập các vùng nhiễm xạ và mức độ nhiễm xạ” do GS.TS Trương Biên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nay là Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội chủ trì

Trong các công trình này mới chỉ chú trọng đến đánh giá tiềm năng và hiện trạng

Trang 38

phóng xạ của các khu mỏ có chứa phóng xạ việc nghiên cứu môi trường phóng xạ tác động tới sức khoẻ con người và mức độ phát tán các nguyên tố này trong các hợp phần tự nhiên (đất, nước, không khí, thực vật) chưa được quan tâm nghiên cứu hoặc chỉ mới ở các nghiên cứu đơn lẻ thiếu đồng bộ

Từ năm 1990 đến 2000 chương trình địa chất đô thị của Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã thực hiện các đề tài môi trường phóng xạ Hầu hết các đô thị lớn của Việt Nam đã được điều tra nghiên cứu và lập bản đồ môi trường phóng xạ ở tỷ lệ 1/25.000 Sản phẩm của các đề án địa chất môi trường nói chung và môi trường phóng xạ nói riêng

đã có ý nghĩa quan trọng giúp Nhà nước, chính quyền địa phương xây dựng các quy hoạch tổng thể các khu đô thị và định hướng phát triển kinh tế xã hội vùng

Từ năm 2000 đến 2002, Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm (Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam) triển khai đề án địa chất môi trường: “Điều tra hiện trạng môi trường phóng

xạ, khả năng ảnh hưởng và biện pháp khắc phục trên một số mỏ phóng xạ, mỏ có chứa phóng xạ ở Lai Châu, Cao Bằng và Quảng Nam” báo cáo đã phân chia được 13 khu vực không an toàn phóng xạ với diện tích 85,43 km2 số dân đang sinh sống trong vùng là 5262 người, 12 khu vực cần kiểm soát với diện tích 38 km2, số dân đang sinh sống trong vùng

là 8072 người Suất liều xạ chiếu của khu vực không an toàn nằm trong giới hạn từ 3-44 mSv/năm, trung bình 4 mSv/năm

Từ năm 2002 đến 2005, Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm thực hiện đề án địa chất môi trường “Điều tra hiện trạng môi trường phóng xạ trên các mỏ Đông Pao, Thèn Sin – Tam Đường tỉnh Lai Châu, Mường Hum tỉnh Lao cai, Yên Phú tỉnh Yên Bái, Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, An Điềm, Ngọc Kính - Sườn Giữa tỉnh Quảng Nam

Tại vùng Phong Thổ, ngoài các công trình trên còn có một số công trình điều tra môi trường phóng xạ của Trường Đại học Mỏ Địa chất, Liên đoàn Vật lí Địa chất, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Viện Vật lý – Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quốc gia Hàng năm, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Lai Châu (từ năm 2004 là

Sở Tài nguyên và Môi trường) có các báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Lai Châu, trong

đó có đề cập đến ô nhiễm kim loại nặng, các nguyên tố độc hại trong nước, đất và vỏ phong hóa Về môi trường phóng xạ chỉ có những đánh giá sơ lược và chưa được quan tâm đúng mức

* Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu ô nhiễm phóng xạ vùng Phong Thổ - Lai Châu

Phong Thổ là vùng có tiềm năng lớn về khoáng sản đất hiếm và phóng xạ với các khu mỏ có tiềm năng và trữ lượng lớn (Nậm Xe, Thèn Sin - Tam Đường, Đông Pao) nên

có nhiều công trình nghiên cứu địa chất, tìm kiếm, đánh giá, thăm dò Các công trình này đã nghiên cứu khá chi tiết về địa chất khoáng sản, khoanh định được những vùng quặng có triển vọng và đánh giá trữ lượng (Hình II.1)

Tuy nhiên các công trình này mới chỉ dừng lại ở mức đánh giá cấp trữ lượng, khoanh vùng triển vọng, thành lập các bản đồ, sơ đồ phân bố Điều tra địa chất môi trường và đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ trên toàn diện tích, hành vi các nguyên tố phóng xạ và sự phát tán của chúng trong các hợp phần môi trường (đất, nước, không khí, thực vật), mức độ tác động và hậu quả của chúng đối với các khu vực dân cư trong khu vực chưa được quan tâm nghiên cứu Trong các công trình nghiên cứu trước đây với trang

Trang 39

thiết bị và hệ thống phân tích còn lạc hậu nên không thể đáp ứng được những yêu cầu mới của sự phát triển khoa học công nghệ và chỉ tiêu môi trường Hiện nay chưa có số liệu xác định tiêu chuẩn về phóng xạ tự nhiên của Việt Nam, mặt khác các nghiên cứu điều tra trước đây có diện tích rất hạn chế Vì vậy việc xác định phông phóng xạ cho những vùng

có đặc điểm trường phóng xạ cao là rất cần thiết Một số các công trình nghiên cứu về môi trường phóng xạ chỉ thực hiện trên diện tích hẹp chưa đủ số liệu cho việc đánh giá hiện trạng môi trường phóng xạ trên toàn vùng nghiên cứu Trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Phong Thổ yếu tố môi trường nói chung và đặc biệt là môi trường phóng xạ chưa được quan tâm đúng mức

Đồng thời với sự phát triển của khoa học, kinh tế xã hội, các nghiên cứu, đánh giá

về chất lượng môi trường đòi hỏi phải có một hệ thống nghiên cứu đồng bộ từ máy móc thiết bị, phương pháp thi công đến phân tích thí nghiệm phải phù hợp với tình hình thực tế

và đáp ứng được các yêu cầu giúp các nhà quản lý xây dựng các quy hoạch tổng thể các khu đô thị và định hướng phát triển kinh tế xã hội cho toàn vùng

Ngày đăng: 11/05/2014, 17:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Trần Bình Trọng và nnk, 2002, Báo cáo “Điều tra hiện trạng môi trường phóng xạ, khả năng ảnh hưởng và biện pháp khắc phục trên một số mỏ phóng xạ, mỏ có chứa phóng xạ ở Lai Châu, Cao Bằng và Quảng Nam” tỷ lệ 1/25.000 – Lưu trữ Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra hiện trạng môi trường phóng xạ, khả năng ảnh hưởng và biện pháp khắc phục trên một số mỏ phóng xạ, mỏ có chứa phóng xạ ở Lai Châu, Cao Bằng và Quảng Nam
10. Lê Khánh Phồn, năm 2004 “thăm dò phóng xạ”. Nhà xuất bản Giao thông Vận Tải 11. Nguyễn Ngọc Anh, năm 1972. Tìm kiếm lập bản đồ 1/10.000 và đánh giá 5 thânquặng vùng Đất hiếm – fluorit – Barit Đông Pao của đoàn 35, Lai Châu. Lưu trữ Địa chất – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: thăm dò phóng xạ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông Vận Tải 11. Nguyễn Ngọc Anh
1. Hướng dẫn lập báo cáo đánh giá địa chất môi trường, 1997, Bộ Công nghiệp Khác
2. Hướng dẫn tạm thời về điều tra địa chất môi trường và địa chất tai biến, 2004, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam Khác
3. Qui phạm kỹ thuật thăm dò phóng xạ, 1998, Bộ Công nghiệp Khác
4. Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường, 1996, Bộ Khoa học, Công nghệ và môi trường Khác
5. Văn bản qui phạm pháp luật về àn toàn và kiểm soát bức xạ, 1998, Ban an toàn bức xạ và hạt nhân, Bộ Khoa học, Công nghệ và môi trường Khác
6. Đặng Hoàng Dũng, 2000, Định Chế Quốc tế và Việt Nam về bảo vệ môi trường, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Khác
9. PGS.TS. Lê Khánh Phồn, 2003, Những tiến bộ kỹ thuật mới của thăm dò phóng xạ trong nghiên cứu địa chất và môi trường Khác
12. Phạm Vũ Đương, 1986. Đánh giá triển vọng quặng phóng xạ dải Thanh Sơn (Phú Thọ), Tứ Lệ (Sơn La), Phong Thổ (Lai Châu), Liên đoàn 10. Lưu trữ Địa chất – Hà Nội Khác
13. Ninh Duy Hân, năm 1986. Kết quả khai thác khối 2A, Nam Nậm Xe (Lai Châu). Lưu trữ Địa chât – Hà Nội Khác
14. Đào Văn Thịnh và nnk, 2003. Điều tra tai biến vùng Tây Bắc, Lưu trữ Địa chất – Hà Nội Khác
15. Mai Thế Truyền và nnk, 1996. Địa chất và khoáng sản nhóm tờ Phong Thổ tỷ lệ 1/50.000, Lưu trữ Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và một số Liên đoàn Địa chất khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Toạ độ xác định ranh giới vùng nghiên cứu - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
Bảng 1.1 Toạ độ xác định ranh giới vùng nghiên cứu (Trang 3)
Bảng 1.2: Đặc điểm phân bố các phức hệ magma xâm nhập - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
Bảng 1.2 Đặc điểm phân bố các phức hệ magma xâm nhập (Trang 23)
Bảng 1.3: Đặc điểm phân bố các phức hệ magma xâm nhập (tiếp)  TT Phức hệ  Khối - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
Bảng 1.3 Đặc điểm phân bố các phức hệ magma xâm nhập (tiếp) TT Phức hệ Khối (Trang 24)
Bảng1.4: Bảng tổng hợp các loại mỏ và điểm khoáng hoá trong vùng nghiên cứu. - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
Bảng 1.4 Bảng tổng hợp các loại mỏ và điểm khoáng hoá trong vùng nghiên cứu (Trang 31)
Bảng 1.5. Cường độ phóng xạ của các thành tạo đá gốc - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
Bảng 1.5. Cường độ phóng xạ của các thành tạo đá gốc (Trang 34)
BẢNG THỐNG K£ HÀM L¦ỢNG Rn TỰ DO TRONG MẪU N¦ỚC - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
n TỰ DO TRONG MẪU N¦ỚC (Trang 47)
Bảng 3.4: Ô nhiễm nước bởi Pb - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
Bảng 3.4 Ô nhiễm nước bởi Pb (Trang 57)
Bảng 3.3: Ô nhiễm nước bởi Cu - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
Bảng 3.3 Ô nhiễm nước bởi Cu (Trang 57)
Bảng 3.6. Ô nhiễm nước bởi F  Vùng  Trạm khảo sát  Hàm lượng - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
Bảng 3.6. Ô nhiễm nước bởi F Vùng Trạm khảo sát Hàm lượng (Trang 58)
Bảng 3.7: Ô nhiễm môi trường trầm tích bởi chì  Vùng  Trạm khảo sát  Hàm lượng - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
Bảng 3.7 Ô nhiễm môi trường trầm tích bởi chì Vùng Trạm khảo sát Hàm lượng (Trang 59)
Bảng 3.9. Nguy cơ ô nhiễm trầm tích bởi Rb - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
Bảng 3.9. Nguy cơ ô nhiễm trầm tích bởi Rb (Trang 61)
Bảng 3.8: Nguy cơ ô nhiễm trầm tích bởi Cs - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
Bảng 3.8 Nguy cơ ô nhiễm trầm tích bởi Cs (Trang 61)
Bảng III.2. Cường độ bức xạ gamma đặc trưng của các đối tượng địa chất  vùng Phong Thổ - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
ng III.2. Cường độ bức xạ gamma đặc trưng của các đối tượng địa chất vùng Phong Thổ (Trang 67)
Bảng   Kết quả phân tích mẫu lương thực, thực phẩm vùng Phong Thổ - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
ng Kết quả phân tích mẫu lương thực, thực phẩm vùng Phong Thổ (Trang 75)
23 23  Sơ đồ tài liệu thực tế đo ngoài trời khu vực Tam  Đường - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên
23 23 Sơ đồ tài liệu thực tế đo ngoài trời khu vực Tam Đường (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm