Nghiên cứu, đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và giải pháp kiện toàn và nâng cao năng lực quản lí nhà nước phục vụ nghiên cứu, triển khai và phát triển ứng dụng bức xạ và đồng bị phóng x
Trang 1NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, LỘ TRÌNH VÀ GIẢI PHÁP KIỆN TOÀN VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU, TRIỂN KHAI VÀ PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG BỨC XẠ VÀ
ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ Ở VIỆT NAM
Năng lượng nguyên tử (NLNT) được tạo ra do các biến đổi trạng thái của nguyên tử và hạt nhân có hai dạng là năng lượng bức xạ và năng lượng phân hạch, các dạng năng lượng này đã được ứng dụng trong đời sống kinh tế - xã hội
Ngày nay bức xạ và đồng vị phóng xạ được ứng dụng có hiệu quả vào nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, có thể kể đến như sản xuất đồng
vị và điều chế dược chất phóng xạ phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh; sử dụng
kỹ thuật nguồn kín để xây dựng các hệ đo đạc hạt nhân như đo mức chất lỏng,
đo độ dày, độ ẩm của vật liệu; trong các dây chuyền tự động hóa của các nhà máy công nghiệp; phát triển các kỹ thuật phân tích hạt nhân để tham gia vào các chương trình thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản và nghiên cứu, bảo vệ môi trường; sử dụng các đồng vị tự nhiên và nhân tạo để đánh giá một số quá trình trong tự nhiên như hiện tượng bồi lấp, xói mòn; sử dụng các nguồn bức xạ cường độ cao để khử trùng các dụng cụ, chế phẩm và bảo quản thực phẩm, dược phẩm; ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong nông nghiệp và sinh học
Việc phát triển năng lượng nguyên tử bao gồm ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ và phát triển điện hạt nhân sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đáp ứng về cơ bản nhu cầu sử dụng điện năng ngày càng tăng, bảo đảm an ninh năng lượng và dự trữ nguồn tài nguyên của đất nước
Phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ là một lĩnh vực bao trùm hầu hết mọi mặt của đời sống xã hội do đó đòi hỏi một chiến lược năng lượng
Trang 2dài hạn và lập trường vững vàng do những đặc thù riêng của nó Để có thể ứng dụng có hiệu quả bức xạ và đồng vị phóng xạ mà vẫn nằm trong tầm kiểm soát
và đảm bảo an toàn thì vai trò quản lý nhà nước hết sức cần thiết và mang tính quyết định Do quy mô mang tính bao quát rộng trên mọi mặt đời sống xã hội nhằm ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ, yêu cầu cấp thiết là phải có hệ thống quản lý nhà nước rõ ràng, minh bạch làm nền tảng cho việc phát triển ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ ở Việt Nam
Trong phạm vi chuyên đề này sẽ tập trung vào việc nghiên cứu, đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và giải pháp kiện toàn và nâng cao năng lực quản lý nhà nước phục vụ nghiên cứu, triển khai và phát triển ứng dụng bức xạ và đồng
vị phóng xạ ở Việt Nam nhằm kiện toàn và nâng cao năng lực quản lý trong lĩnh vực này
II THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG BỨC
XẠ TRÊN THẾ GIỚI
I.1 Kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT)
Trên thế giới, Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc là những nước dẫn đầu về ứng dụng NDT Hoa Kỳ hiện chiếm khoảng 40% thị trường, với doanh số năm 2002 đạt xấp xỉ 840 triệu USD Riêng ngành điện Hoa Kỳ chi khoảng 20 triệu USD mỗi năm cho hoạt động NDT Nga rất chú trọng nghiên cứu phát triển trong lĩnh vực NDT, hằng năm có khoảng 400 bằng sáng chế về NDT Nga có 34 cơ quan cấp chứng chỉ độc lập và khoảng 100 trung tâm kiểm tra; cấp 17.100 chứng chỉ bậc 1, bậc 2 và 220 chứng chỉ bậc 3 mỗi năm Trung Quốc hiện có 255.400 chứng chỉ bậc 1, bậc 2 và 8.700 chứng chỉ bậc 3 Năm 2007, thị trường Trung Quốc đã tiêu thụ 4.300 thiết bị NDT với doanh thu ước đạt 62 triệu USD Trung Quốc hiện có 25 nhà sản xuất máy X-quang, 4 nhà sản xuất máy phát tia gamma, 2 nhà sản xuất nguồn gamma, 2 nhà sản xuất máy gia tốc phát tia X, 2 nhà sản xuất phim phóng xạ và 4 nhà sản xuất NDT kỹ thuật số
Trong số các nước châu Á có quan hệ kinh tế nhiều mặt với Việt Nam, có thể kể đến Ấn Độ và Thái Lan là những nước có nhiều ứng dụng NDT Ấn Độ
có khoảng 350 tổ chức sử dụng 1.100 thiết bị, cung cấp dịch vụ NDT cho 500 cơ
Trang 3sở công nghiệp Ấn Độ phát triển việc sử dụng kỹ thuật quét gamma tháp công nghiệp, xử lý hơn 200 tháp đường kính khác nhau (có loại đường kính tới 9,5 m) Kỹ thuật này đã giúp tiết kiệm được hàng triệu USD Thái Lan sử dụng NDT trong nhiều ngành công nghiệp (xem bảng dưới đây)
T
T
Khu vực công nghiệp Kiểm tra
1 Công nghiệp hóa dầu Sản xuất và lắp ghép đường ống, ống dẫn, ống lò hơi, bể
áp lực, bồn chứa, kết cấu thép
2 Công nghiệp hàng không Bảo trì các bộ phận máy bay
3 Công nghiệp dự án lớn Cấu trúc cầu, các nhà máy điện, xưởng, các tòa nhà,
kho liên hợp
4 Các ngành công nghiệp khác Phụ tùng xe, sản phẩm nông nghiệp, chất lượng sản
phẩm và vật liệu trong y tế và công nghiệp sản xuất
Các nước đều chú trọng phát triển các cơ sở hỗ trợ kỹ thuật NDT cho hoạt động đăng kiểm Một số nước công nghiệp phát triển sử dụng dịch vụ của các cơ sở tư nhân trong nhiều lĩnh vực quan trọng Ví dụ: Hoa Kỳ sử dụng dịch vụ đăng kiểm
tư nhân kiểm định tàu ngầm, sử dụng dịch vụ NDT tư nhân kiểm tra tàu con thoi…
I.2 NCS
Ở các nước phát triển Tây Âu và Nhật Bản, NCS bắt đầu được sử dụng từ đầu những năm 1960, số lượng tăng dần và đạt mức bão hòa vào khoảng những năm 1995-2000 (ở mỗi nước có khoảng 6000-6.500 hệ NCS) Trung Quốc là một nước tiến hành nội địa hóa rất mạnh trong lĩnh vực NCS; năm 2000, sản xuất khoảng 50.000 hệ NCS Ấn Độ hiện có 5.200 NCS sử dụng trong dầu khí, hoá chất và nhiều ngành công nghiệp khác
Hiện tại, trên toàn thế giới có khoảng 250.000 hệ NCS Về số lượng, không có sự thay đổi nhiều từ giữa thập kỷ 1970 đến nay; nhưng về chất lượng, thì đã có sự thay đổi rất lớn
I.3 Chiếu xạ công nghiệp
Chiếu xạ được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp và các nhành kinh tế
-kỹ thuật
Trang 4- Trong công nghiệp: chế tạo vật liệu co nhiệt, cáp điện chịu nhiệt, vỏ xe (sợi cacbon), vật liệu polyme, vật liệu xốp; xử lý bề mặt vật liệu, chế tạo silic…
- Trong nông nghiệp: chế tạo sản phẩm sinh học để chống bệnh, tăng trưởng cho cây trồng; chế tạo chất siêu hấp phụ nước dùng cho điều hòa độ ẩm, vật liệu che phủ, bao gói; chiếu xạ củ, trái cây nhằm đáp ứng các yêu cầu về kiểm dịch trong xuất khẩu; chiếu xạ chống nảy mầm, chống hư hỏng, hãm chín các loại củ, trái cây; chiếu xạ diệt vi sinh vật gây bệnh trong thực phẩm
- Trong y tế: khử trùng vật phẩm y tế như kim tiêm, ống nhựa, lọ nhỏ,
găng tay, khẩu trang, quần áo mổ
Hoa Kỳ hiện có khoảng 50 cơ sở chiếu xạ, phần lớn được sử dụng trong khử trùng vật phẩm y tế và các mặt hàng phi thực phẩm khác Trong chiếu xạ thực phẩm, tổng sản phẩm chiếu xạ của Hoa Kỳ là 92.000 tấn, trong đó, thịt và gia cầm là 8.000 tấn, các sản phẩm trái cây và rau là 4.000 tấn, các loại gia vị là 80.000 tấn Tổng giá trị kinh tế ước đạt 7.316 triệu USD (thịt: 94 triệu USD, rau
và trái cây: 22 triệu USD, gia vị: 7.200 triệu USD) Theo Trung tâm phòng tránh
và kiểm soát bệnh tật của Hoa Kỳ, hằng năm, chỉ với 50% các loại thịt sống được chiếu xạ đã giúp tránh được khoảng 900.000 nghìn ca ngộ độc, 8.500 ca phải nằm viện và 404 trường hợp tử vong Năm 2005, ước tính có 80.000 tấn gia
vị được chiếu xạ bằng 1/3 tổng sản lượng gia vị được sản xuất tại Hoa Kỳ Hoa
Kỳ có tỉ lệ gia tăng khoảng 7% các sản phẩm chiếu xạ khử trùng mỗi năm và giá trị kinh tế vượt 2 tỉ USD vào năm 2008
Nga chiếu xạ 40% vật phẩm y tế trong tổng số 1,5 tỉ đơn vị với trên 80 loại khác nhau được sản xuất hằng năm Nhật Bản chú trong chiếu xạ biến tính vật liệu sử dụng trong công nghiệp Hiện nay, hơn 90% lốp xe ô tô được sản xuất bằng cao su chiếu xạ bằng máy gia tốc để biến đổi cấu trúc liên kết Hầu hết các ứng dụng mới đều xuất phát từ Nhật Bản với trình độ khoa học và công nghệ rất cao: chế tạo dây cáp điện, chế tạo vật liệu co nhiệt, chế tạo vật liệu xốp, chế tạo vỏ xe và chế tạo chất bán dẫn Trong lĩnh vực chiếu xạ thực phẩm, năm
2005, tổng sản lượng khoai tây chiếu xạ của Nhật Bản đạt khoảng 8.100 tấn, giá trị kinh tế ước đạt 12,5 triệu USD
Trang 5Năm 2001-2005, Hàn Quốc đầu tư khoảng 455 triệu USD để xây dựng viện nghiên cứu đầu ngành về công nghệ bức xạ Trong lĩnh vực chiếu xạ thực phẩm, năm 2005, tổng sản lượng thực phẩm chiếu xạ của Hàn Quốc đạt khoảng 5.400 tấn, giá trị ước đạt 160 triệu UCD Tổng giá trị thực phẩm chiếu xạ của Trung Quốc năm 2005 ước đạt khoảng 600 triệu USD (tăng rất nhanh về khối lượng: năm 2001: 80.000 tấn, năm 2002: 100.000 tấn, năm 2004: 120.000 tấn, đến năm 2005: 146.000 tấn) Năm 2000, tổng thị trường vật phẩm y tế của Trung Quốc vào khoảng 3,24 tỉ USD, chiếm 3% thị trường vật phẩm y tế toàn cầu, tăng trưởng trung bình 15% mỗi năm Năm 2005, Ấn Độ chiếu xạ 100 tấn hành, 1.500 tấn ớt đỏ và các gia vị khác, tổng giá trị kinh tế ước đạt 8 triệu USD
Cơ sở chiếu xạ suất liều cao sử dụng nguồn Co-60 của Ấn Độ có công suất chiếu xạ mỗi ngày 30 tấn gia vị và rau khô, cơ sở chiếu xạ suất liều thấp có công suất chiếu xạ mỗi ngày 10 tấn hành, ngũ cốc và hoa quả
Trong số các nước Đông Nam Á có thể kể đến Malaysia, Indonesia và Thái Lan Năm 2006, Malaysia chiếu xạ 630 tấn sản phẩm các loại Malaysia đặc biệt quan tâm đến chiếu xạ xử lý vật liệu composit từ polyme tổng hợp và tự nhiên; vật liệu kích thước micro và nano; xử lý bề mặt; biến tính vật liệu polyme
tự nhiên áp dụng trong y tế, mỹ phẩm và một số ngành công nghiệp; chiếu xạ khử trùng Indonesia phát triển các cơ sở chiếu xạ biến đổi màu đá quý và hiện
đã đạt được quy mô thương mại trong lĩnh vực này Năm 2006, Indonesia chiếu
xạ hơn 2.500 tấn thực phẩm, bao gồm thực phẩm dành cho trẻ em, bột ca cao, gia vị, rau quả khô và thực phẩm đông lạnh Năm 2005, sản lượng thực phẩm chiếu xạ của Thái Lan là 3.000 tấn, giá trị kinh tế ước đạt 19 triệu USD
I.4 Kỹ thuật đánh dấu
Trong lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật đánh dấu, Hoa Kỳ và Nga là hai nước đứng đầu về tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư Trung Quốc và Ấn Độ cũng có phát triển rất mạnh kỹ thuật này trong công nghiệp dầu khí Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư ở Hoa Kỳ là 1/50, có trường hợp đến 1/1000 (Theo báo cáo của dự
án IAEA RAS/8/099, năm 2005) Ở Nga, nghiên cứu động học liên quan giữa
Trang 6các tầng chứa dầu đã giúp cho việc xây dựng kế hoạch chính xác, phù hợp khi cần mở rộng quy mô khai thác, giảm đáng kể số lượng giếng khoan Năm 1987, ước tính ngành dầu khí của Nga tiết kiệm được hơn 1/3 số giếng khoan trị giá khoảng 15 triệu USD Trung Quốc tiến hành kỹ thuật đánh dấu ở hầu hết các giếng dầu, tăng cường sử dụng kỹ thuật đánh dấu hạt đơn lẻ cho nghiên cứu xúc tác Ứng dụng đầu tiên thành công của Ấn Độ về kỹ thuật đánh dấu đồng vị phóng xạ được thực hiện tại liên doanh công nghiệp dầu Ấn Độ M/S trong tinh luyện dầu mỏ
II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG BỨC XẠ Ở VIỆT NAM
Số liệu về thực trạng phát triển ứng dụng bức xạ ở Việt Nam chủ yếu được trích dẫn và tổng hợp từ “Hệ thống thông tin quốc gia về an toàn bức xạ,
an toàn hạt nhân” do Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (ATBXHN) xây dựng và cập nhật
II.1 Kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT)
NDT được sử dụng lần đầu tiên tại Việt Nam cách đây 20 năm, với thiết
bị kỹ thuật được IAEA trang bị thông qua các dự án viện trợ Đến nay, thị trường ứng dụng NDT trải rộng trên phạm vi toàn quốc, trong hầu hết các ngành công nghiệp, từ xây dựng, cơ khí đến giao thông vận tải…; nhiều nhất là kiểm tra mối hàn, kiểm tra nhằm phát hiện khuyết tật của bê tông; trở thành kỹ thuật không thể thay thế trong nhiều lĩnh vực Một số công trình xây dựng và sản phẩm công nghiệp như đóng tàu, cơ khí, chế tạo máy đã có yêu cầu bắt buộc phải sử dụng NDT
Cả nước hiện có 47 cơ sở được cấp giấy phép tiến hành dịch vụ NDT, tổng cộng 22 thiết bị X-quang, 93 nguồn phóng xạ phát gamma (trong đó có 3 nguồn Cs-137, 5 nguồn Se-75, còn hầu hết là nguồn Ir-192) Các cơ sở NDT sử dụng nhiều nguồn là: Lilama, Apave, Anpha, Vilam, Trung tâm Đánh giá không phá hủy (NDE) thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Xí nghiệp liên
Trang 7doanh dầu khí VietsovPetro (VSP), Trung tâm An toàn và Môi trường dầu khí (CPSE)
Là một công ty 100% vốn nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực NDT, vào Việt Nam từ năm 1993, Công ty Apave có mức tăng trưởng hằng năm đến 30%
và đạt doanh thu năm 2007 là 6 triệu USD Công ty đã tham gia nhiều công trình lớn như: nhà máy khí hóa lỏng (Dinh Cố), nhiệt điện (Cao Ngạn, Sêsan 3, Nahang), nhà máy đóng tàu (Nam Triệu, Hạ Long, Sông Cấm), Trung tâm Hội nghị quốc tế, Khách sạn Metropole, Khách sạn Opera Hilton…
Hiện nay có nhiều cơ sở NDT trực thuộc các cơ sở lớn như: Tổng Công ty
cơ khí xây dựng (COMA), Viện Nghiên cứu cơ khí (NARIME), Tổng Công ty dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam), Tổng Công ty hàng không Việt Nam (VAC), Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (VINASHIN)
Thị trường ứng dụng NDT ở Việt Nam đang phát triển mạnh, đặc biệt là ở khu vực miền Trung Từ năm 2006 đến nay, tại Khu kinh tế (KKT) Dung Quất
có tất cả 10 đơn vị sử dụng nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ để chụp ảnh phóng
xạ công nghiệp Phần lớn các đơn vị này là nhà thầu phụ của tập đoàn Technip phục vụ cho nhà máy lọc dầu Dung Quất Đặc biệt, năm 2008, thời điểm nhà máy lọc dầu ở giai đoạn nước rút để kịp đưa vào hoạt động đúng tiến độ cũng là lúc hoạt động chụp ảnh phóng xạ tại Quảng Ngãi rầm rộ nhất, có tất cả 7 đơn vị
sử dụng trên 40 nguồn bức xạ tại công trường Tháng 10/2009, tại KKT Dung Quất có 5 đơn vị sử dụng 12 nguồn bức xạ: Apave, Alpha, Vilam, Doosan, Công
ty Cổ phần tư vấn đầu tư và thiết kế dầu khí
Hiện chưa có số liệu thống kê chính xác tổng doanh thu của thị trường NDT, nhưng ước tính không dưới 26 triệu USD/năm Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của thị trường NDT Việt Nam là vào khoảng 20% Tốc độ tăng trưởng này được dự tính trên cơ sở tốc độ tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước Tuy nhiên, tăng trưởng ứng dụng NDT chưa thực sự bền vững, do những nguyên nhân chính sau đây:
Trang 8- Phụ thuộc vào nước ngoài hoàn toàn về thiết bị, công nghệ và nguồn phóng xạ Hiện nay 100% máy móc, thiết bị và nguồn phóng xạ phải nhập từ nước ngoài, của nhiều hãng khác nhau – hầu hết từ các nước phát triển như Pháp, Hoa Kỳ;
- Chưa chủ động được việc bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị, nạp mới nguồn phóng xạ;
Trong khi đó, việc nhập khẩu, tái xuất nguồn phóng xạ còn khó khăn trong khâu vận chuyển do chưa có quy định phù hợp đối với ngành hàng không trong nước;
- Khả năng tiếp thị và phát triển thị trường, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước còn yếu so với các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài
do nguyên nhân thương hiệu, vốn và công nghệ;
- Nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ cao còn thiếu, việc đào tạo chưa theo kịp yêu cầu thực tế
Hiện có 4 cơ sở đào tạo và cấp chứng chỉ cho kỹ thuật viên NDT là Hội Thử nghiệm không phá hủy (VANDT), Trung tâm Thử nghiệm không phá hủy (NDE), Trung tâm Chất lượng – Đo lường 3 (Quatest 3) và Trung tâm Đào tạo PVD Số lượng nhân viên NDT được đào tạo cao nhất là vào năm 2004 được
177 người; từ đó đến nay, mỗi năm đào tạo được khoảng 70-100 người Ngoài
ra, còn có một số cơ sở tự đào tạo kỹ thuật viên cho nhu cầu của mình như Apave, Lilama, CPSE
Trong những năm gần đây, nhân lực NDT đã tăng về số lượng, nhưng còn yếu về chất lượng, thiếu kỹ thuật viên bậc cao, có khả năng xử lý các tình huống phức tạp Hiện nay ở nước ta mới có khoảng 1.000 kỹ thuật viên NDT được cấp chứng chỉ, trong đó có 100 kỹ thuật viên bậc 3 Đặc biệt là Việt Nam rất thiếu và yếu về nhân lực nghiên cứu, phát triển công nghệ, thậm chí là so sánh với các nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan Nguyên nhân là do việc đào tạo còn tự phát, thiếu quy hoạch định hướng
Trang 9II.2 NCS
Việt Nam thường sử dụng 2 loại NCS: loại có nguồn phóng xạ kắn và loại
có thiết bị X-quang Loại có nguồn phóng xạ kắn được sử dụng phổ biến hơn; loại có thiết bị X-quang chủ yếu để đo mức, hoặc phân tắch thành phần vật liệu
Cả nước hiện có khoảng 500 hệ NCS Các hệ này được phân bổ theo các ngành công nghiệp và kinh tế - kỹ thuật, có mục đắch sử dụng và sử dụng loại nguồn được thể hiện trong bảng sau đây:
STT Ngành Tỷ lệ Mục đắch sử dụng Loại nguồn
1 Xi mãng, vật liệu xây dựng 35,7% Đo mức Cs-137, Cf-252
Phân tắch X-quang
Đo mức, mật độ Co-60, Cs-137
3 Dầu khắ, hóa chất 12,8% Đo mức, mật độ Cs-137
5 Rýợu bia, nýớc giải khát 8,6% Đo mức Am-241
6 Xây dựng, giao thông vận tải 8,0% Đo độ chặt nền
đường, độ ẩm
Am-Be, Cs-137
lượng
Cs-137
Trong 5 năm gần đây, xu hướng sử dụng NCS trong các ngành kinh tế
-kỹ thuật có tăng mặc dù chưa nhiều (trung bình tăng 53 thiết bị/năm) Số liệu cấp phép của Cục An toàn bức xạ và hạt nhân cho thấy một số thông tin sau đây:
- Ngành xi măng: một lượng lớn thiết bị đo hạt nhân sử dụng trong các nhà máy xi măng lò đứng được cấp phép vào năm 1997;
- Các thiết bị đo này đến nay hầu như không còn được sử dụng nữa và các nguồn phóng xạ đi kèm với chúng đang được lưu giữ tại nhà máy Từ năm 2000 trở đi số lượng giấy phép sử dụng cho các thiết bị đo hạt nhân dùng trong ngành
xi măng giảm đi rõ rệt Tuy nhiên, cùng với việc sử dụng công nghệ lò quay thay cho công nghệ lò đứng, các thiết bị đo hạt nhân dùng trong ngành xi măng cũng thay đổi về chất Một số nhà máy xi măng lò quay có sử dụng các thiết bị phân tắch kắch hoạt nơtron gamma tức thời Các nhà máy xi măng chất lượng cao đều sử dụng máy phân tắch XRF để phân tắch kiểm tra chất lượng xi măng
Trang 10thành phẩm Các nhà máy sản xuất xi măng cỡ nhỏ thường sử dụng máy phân tích XRF do Trung Quốc sản xuất Các nhà máy xi măng lớn sử dụng máy phân tích XRF do các nước phát triển sản xuất
- Ngành giấy, nhựa: phần lớn các thiết bị đo này được sản xuất tại Trung Quốc;
- Ngành thép: phần lớn các thiết bị đo hạt nhân sử dụng trong ngành thép mới được đưa vào sử dụng tại Việt Nam những năm gần đây;
- Ngành dầu khí, hóa chất: năm 2009, số lượng thiết bị đo hạt nhân tăng vọt do tổ hợp lọc hóa dầu của Công ty TNHH MTV lọc hóa dầu Bình Sơn tại Dung Quất, Quảng Ngãi đi vào hoạt động;
- Ngành rượu-bia, nước giải khát: trong 10 năm trở lại đây, số lượng thiết
bị đo hạt nhân có xu hướng tăng hằng năm;
- Ngành xây dựng và giao thông vận tải: số lượng thiết bị do hạt nhân mới chỉ có ở Việt Nam 4 năm gần đây với số lượng chưa nhiều;
- Ngành than, nhiệt điện: số lượng thiết bị đo hạt nhân còn rất hạn chế và
có xu hướng giảm
Hiện nước ta có 3 cơ sở có các cán bộ được đào tạo chuyên nghiệp về NCS, đó là: Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân, Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp, Trung tâm Hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh với tổng số khoảng 30 cán bộ Hạ tầng cơ sở kỹ thuật của 3 cơ sở trên còn rất hạn chế, phần lớn các trang thiết bị hiện có trong các cơ sở này phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học nhằm phát triển ứng dụng NCS trong công nghiệp và các ngành kinh tế - kỹ thuật
Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp đang nghiên cứu chế tạo thiết bị phân tích trực tiếp thành phần phối liệu xi măng, nguyên liệu, khoáng sản bằng nơtron, thiết bị soi đường ống, soi thiết bị