1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phân loại và tái chế vật liệu trong công trình tại thành phố hồ chí minh

133 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Nguyên Nhân Ảnh Hưởng Đến Việc Phân Loại Và Tái Chế Vật Liệu Trong Công Trình Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Phan Thành Phát
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Anh Tuấn, TS. Lê Hoài Long
Trường học Đại Học Bách Khoa - ĐHQG-HCM
Chuyên ngành Quản Lý Xây Dựng
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU (17)
    • 1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu (17)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (18)
    • 1.3 Phạm vi nghiên cứu (19)
    • 1.4 Đóng góp của nghiên cứu (19)
      • 1.4.1 Thực tiễn (19)
      • 1.4.2 Học thuật (19)
    • 1.5 Bố cục luận văn (19)
  • CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN (21)
    • 2.1 Giới thiệu chương (21)
    • 2.2 Khái niệm CDW và CDSW (21)
    • 2.3 Tình hình quản lý và phát triển nghiên cứu CDW ở Việt Nam (25)
      • 2.3.1 Tình hình chung (25)
      • 2.3.2 Các nghiên cứu và ứng dụng (28)
      • 2.3.3 Một số dự án cải tạo, nâng cấp và xây mới tại Việt Nam (30)
    • 2.4 Tình hình quản lý CDW và nghiên cứu trên thế giới (30)
      • 2.4.1 Tình hình chung (30)
      • 2.4.2 Các nghiên cứu và ứng dụng (31)
    • 2.5 Hành lang pháp lý liên quan đến xử lý CDW (32)
    • 2.6 Cát và tình trạng sử dụng năng lượng (34)
      • 2.6.1 Phát triển bền vững (34)
      • 2.6.2 Bê tông và sự ảnh hưởng đến môi trường (35)
      • 2.6.3 Cát tự nhiên và cát tái chế từ CDW (36)
    • 2.7 Kinh tế chất thải (37)
    • 2.8 Tổng kết chương (39)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (40)
    • 3.1 Giới thiệu chương (40)
    • 3.2 Đối tượng được đề xuất và nội dung đề xuất (40)
      • 3.2.1 Đối tượng mà nghiên cứu muốn đề xuất kết quả (40)
      • 3.2.2 Loại vật liệu mà nghiên cứu muốn đề xuất (41)
    • 3.3 Thiết kế bảng câu hỏi (42)
      • 3.3.1 Thang đo Likert (42)
      • 3.3.2 Thang đơn cực và thang lưỡng cực (42)
    • 3.4 Sơ đồ khối cho phương pháp nghiên cứu (44)
    • 3.5 Giai đoạn thực hiện nghiên cứu (44)
      • 3.5.1 Giai đoạn 1 – Thành lập bảng câu hỏi phỏng vấn (44)
      • 3.5.2 Giai đoạn 2 – Thu thập dữ liệu, phân tích (45)
    • 3.6 Phương pháp phân tích dữ liệu (46)
      • 3.6.1 Phân tích định lượng (46)
      • 3.6.2 Thống kê mô tả và Thống kê suy luận (46)
      • 3.6.3 Phân tích xếp hạng theo điểm trung bình (47)
      • 3.6.4 Kiểm định giả thuyết thống kê (48)
      • 3.6.5 Phân tích tương quan (49)
      • 3.6.6 Đánh giá độ tin cậy thang đo (50)
      • 3.6.7 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) (51)
    • 3.7 Kết quả khảo sát thực tế (52)
      • 3.7.1 Email (53)
      • 3.7.2 Gọi điện thoại (54)
      • 3.7.3 Lấy mẫu tại nơi khảo sát (54)
      • 3.7.4 Các địa điểm lấy mẫu khảo sát (55)
    • 3.8 Kết quả thu thập số liệu và xử lý sơ bộ (57)
      • 3.8.1 Tóm tắt nội dung chính phiếu khảo sát (57)
      • 3.8.2 Xử lý nhóm câu hỏi phân loại (59)
    • 3.9 Phân tích chính sách (61)
      • 3.9.1 Giới thiệu (61)
      • 3.9.2 Lý do cần phân tích chính sách (61)
    • 3.10 Tổng kết chương (62)
  • CHƯƠNG 4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU (63)
    • 4.1 Giới thiệu chương (63)
    • 4.2 Phân tích nhóm câu hỏi phân loại (63)
      • 4.2.1 Phân loại theo vai trò tổ chức (A1) (63)
      • 4.2.2 Phân loại theo vai trò người tham gia khảo sát (A2) (63)
      • 4.2.3 Phân loại theo thời gian công tác (A3) (64)
    • 4.3 Phân loại xếp hạng các yếu tố ảnh hưởng theo nhóm (64)
      • 4.3.1 Các yếu tố được quan tâm nhiều nhất (64)
      • 4.3.2 Các yếu tố ít được quan tâm nhất (66)
      • 4.3.3 Xếp hạng theo vai trò của tổ chức (A1) (66)
      • 4.3.4 Xếp hạng theo vai trò của người tham gia khảo sát (A2) (68)
      • 4.3.5 Xếp hạng theo thời gian công tác (A3) (70)
    • 4.4 Tương quan xếp hạng giữa các nhóm đối với các yếu tố (70)
    • 4.5 Kiểm định giả thuyết thống kê (71)
      • 4.5.1 Kiểm định giả thuyết về trung bình tổng thể (71)
      • 4.5.2 Kiểm định Kruskal-Wallis (71)
    • 4.6 Đánh giá độ tin cậy của thang đo (73)
    • 4.7 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) (73)
      • 4.7.1 Tìm nhân tố mới đại diện (73)
      • 4.7.2 Phân tích các nhân tố mới (75)
    • 4.8 Tổng kết chương (82)
      • 4.8.1 Các yếu tố được quan tâm nhiều nhất (82)
      • 4.8.2 Các yếu tố ít được quan tâm nhất (82)
      • 4.8.3 Các yếu tố được quan tâm nhất theo vai trò tổ chức (82)
      • 4.8.4 Xếp hạng theo vai trò người tham gia (82)
      • 4.8.5 Xếp hạng theo thời gian công tác (83)
      • 4.8.6 Ghi nhận 21 yếu tố được cho là có ảnh hưởng (83)
      • 4.8.7 Quan điểm của các tổ chức (A1) giữa các yếu tố nhận định (83)
      • 4.8.8 Quan điểm giữa người tham gia (A2) đối với các yếu tố nhận định (83)
      • 4.8.9 Quan điểm của đối tượng tham gia dựa trên thời gian công tác (A3) đối với các yếu tố nhận định (84)
      • 4.8.10 Tương quan xếp hạng các nhóm thành phần trong mỗi phân loại (84)
      • 4.8.11 Đánh giá độ tin cậy thang đo (84)
      • 4.8.12 Phân tích nhân tố khám phá (84)
  • CHƯƠNG 5. CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VẬT LIỆU VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN LIÊN QUAN VẬT LIỆU XÂY DỰNG THẢI CHO TP. HCM (85)
    • 5.1 Giới thiệu chương (85)
    • 5.2 Các chính sách thúc đẩy quản lý và tái chế ở Việt Nam (85)
    • 5.3 Các đề xuất từ nghiên cứu (86)
    • 5.4 Tổng hợp đề xuất chính sách, kế hoạch (89)
      • 5.4.1 Nội dung chung về chiến lược phát triển (89)
      • 5.4.2 Phát triển, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn (89)
      • 5.4.3 Quy định 4 đối tượng trong quá trình tồn tại vật liệu xây dựng thải (90)
      • 5.4.4 Đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng và công nghệ (91)
      • 5.4.5 Đào tạo, nghiên cứu kỹ thuật và phát triển nhận thức (92)
      • 5.4.6 Thử nghiệm và xử lý tại chỗ (93)
    • 5.5 Tổng kết chương (93)
  • CHƯƠNG 6. KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ (94)
    • 6.1 Kết luận (94)
    • 6.2 Kiến nghị (95)
    • 6.3 Hạn chế của đề tài (95)
    • 6.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo (95)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (96)
  • PHỤ LỤC (64)

Nội dung

Quản lý vật liệu xây dựng thải có tác động trực tiếp đến kinh tế và môi trường nên cần được đặt đúng tầm quan trọng trong công cuộc phát triển chung cũng như sự cân đối hài hòa với các c

TỔNG QUAN

Giới thiệu chương

Chương 2 – Tổng quan trình bày một số nội dung sau:

• Khái niệm về “Vật liệu xây dựng thải – CDW” và “Vật liệu xây dựng thải dạng rắn – CDSW”

• Tình hình quản lý và phát triển nghiên cứu CDW ở Việt Nam

• Tình hình quản lý CDW và nghiên cứu trên thế giới

• Hành lang pháp lý liên quan đến xử lý CDW

• Cát và tình trạng sử dụng năng lượng

• Một số điểm về kinh tế chất thải

Khái niệm CDW và CDSW

CDW, hay chất thải xây dựng, là rác thải phát sinh từ việc phá dỡ công trình, chủ yếu là từ vật liệu nhân tạo như bê tông cốt thép Để phân loại chính xác hơn, thuật ngữ CDSW (chất thải rắn xây dựng) được sử dụng, nhấn mạnh vào dạng rắn của chất thải này CDW có phạm vi rộng, bao gồm nhiều loại vật liệu rắn như bê tông, kính và gỗ Trong nghiên cứu này, CDSW được xem là tương đương với CDW, tập trung vào các loại chất thải có khả năng tái chế, đặc biệt là bê tông phế thải và các cấu kiện có thể tái sử dụng trong xây dựng.

Có nhiều tài liệu, văn bản đề cập tới khái niệm “Chất thải rắn xây dựng”:

Theo thông tư 08/2017/TT-BXD, "chất thải rắn xây dựng" được định nghĩa là chất thải rắn phát sinh trong quá trình khảo sát và thi công xây dựng công trình, bao gồm cả công tác phá dỡ.

1 Thông tư 08/2017/TT-BXD có đề cập khái niệm “Chất thải rắn xây dựng”, tác giả chú thích như một thông tin bổ sung

Theo luật Malaysia, "rác thải xây dựng" bao gồm tất cả các loại chất thải phát sinh từ hoạt động xây dựng hoặc phá dỡ công trình, bao gồm cả việc tu bổ, bảo trì, sửa chữa và thay thế.

CDW, hay chất thải xây dựng, là vật liệu phát sinh từ quá trình xây dựng, sửa chữa hoặc phá dỡ công trình Nó bao gồm hỗn hợp các chất liệu như bê tông, gạch, cốt thép, gỗ, nhựa, thủy tinh, sắt vụn và các kim loại khác, trong đó chất rắn chiếm khoảng 90% tổng khối lượng CDW.

CDW bao gồm các mảnh vụn phát sinh từ xây dựng, cải tạo và phá dỡ cầu, đường, và các tòa nhà Để thuận tiện trong việc thảo luận, thuật ngữ CDW sẽ được sử dụng để chỉ những trường hợp có khả năng được đưa vào quy trình phân loại và tái chế.

Nghiên cứu về phân loại tái chế vật liệu xây dựng thải trong các công trình, cả trong nước và quốc tế, được tóm tắt trong Bảng 2-1 và Bảng 2-2.

Bảng 2-1 Tóm tắt một số nghiên cứu trong nước

# Nghiên cứu / Báo cáo Nội dung

1 Báo cáo môi trường quốc gia [2] –

Bộ Tài Nguyên và Môi Trường

Hiện trạng môi trường qua các hoạt động sản xuất trong xã hội, trong nghiên cứu lấy thông tin về chất thải rắn xây dựng

2 Nghiên cứu hiện trạng quản lý phế thải xây dựng và phá dỡ ở Việt

Nam [3] – Tuân N K et al (Tạp chí

Khoa học Công nghệ Xây dựng

Tình hình quản lý phế thải xây dựng ở Việt Nam tính đến năm 2018 gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc tái chế Bài viết đề xuất các chiến lược phù hợp nhằm cải thiện quản lý và tăng cường khả năng tái chế phế thải xây dựng, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến Nghiên cứu và phân tích 7 yếu tố chính

2 TCVN 6705:2009 có đề cập khái niệm “Chất thải rắn xây dựng”, tác giả chỉ chú thích như một thông tin bổ sung

# Nghiên cứu / Báo cáo Nội dung việc quản lý rác thải xây dựng [10]

– Minh N V (Luận văn thạc sĩ,

2016) gây ảnh hưởng tới quản lý chất thải xây dựng Đề xuất 10 biện pháp để tăng hiệu quả quản lý chất thải xây dựng

4 Ứng dụng mô hình động học hệ thống (SD) đánh giá hiệu quả của chiến lược quản lý rác thải xây dựng [11] – Nhựt C T M (Luận văn thạc sĩ, 2015)

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích hệ thống quản lý rác thải xây dựng tại các công trường và đánh giá hiệu quả của hệ thống này trong việc xử lý rác thải.

5 Legal and Institutinal Framework of Solid Waste Management in

(Asian Jounal on Energy and

Mô tả cách mà hệ thống quy định cho việc quản lý chất thải rắn ở Việt Nam đang được ứng dụng và phát triển

Trên toàn cầu, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về quản lý rác thải xây dựng và phát triển các quy trình hiệu quả Tuy nhiên, tại Việt Nam, đặc biệt là TP Hồ Chí Minh, việc áp dụng các nghiên cứu này vẫn còn hạn chế.

Bảng 2-2 Tóm tắt một số nghiên cứu quốc tế

# Nghiên cúu / Báo cáo Nội dung

1 Implementing on-site construction waste recycling in Hong Kong:

Zhikang Bao et al (Science of the

Nghiên cứu chỉ ra các rào cản trong việc tái chế phế thải xây dựng tại công trường và đề xuất những khả năng hỗ trợ nhằm khắc phục những rào cản này.

2 Establishment of environmentally sound management of construction and demolition waste and its wise ultilization for environmental

Nghiên cứu hợp tác giữa Nhật Bản và Việt Nam nhằm đề xuất mô hình chiến lược tái chế phế thải xây dựng, đồng thời đánh giá hiệu quả của mô hình này.

# Nghiên cúu / Báo cáo Nội dung pollution control and for new recycled construction materials [14]

– Kawamoto K, Giang N H (2017) hình với chương trình thí điểm tại địa phương

3 Trend of the research on construction and demolition waste management

Nghiên cứu chỉ ra rằng tính đến năm 2011, lĩnh vực quản lý phế thải xây dựng (CDW) vẫn chưa có sự phát triển đáng kể về các nghiên cứu hệ thống Dự báo rằng sẽ có nhiều nghiên cứu về quản lý CDW được thực hiện tại các nền kinh tế đang phát triển trong tương lai.

4 Simulation model using system dynamic method for construction and demolition waste management in

Hong Kong [16] – J L Hao et al

Nghiên cứu của Construction Innovation (2007) giới thiệu một phương pháp mới trong quản lý phế thải xây dựng thông qua System Dynamic, nhằm bổ sung cho các nghiên cứu trước đó chủ yếu tập trung vào việc giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế loại rác thải này.

5 Construction and demolition waste management in China through the

Nghiên cứu chỉ ra rằng rào cản chính trong việc giảm chất thải xây dựng (CDW) tại Trung Quốc bao gồm việc thiếu tiêu chuẩn thiết kế, mức phí phát thải và chôn lấp thấp, cùng với quy hoạch đô thị chưa hợp lý Để khắc phục vấn đề này, cần phát triển quy trình quản lý phế thải xây dựng thông qua phương pháp 3R (Giảm thiểu, Tái sử dụng, Tái chế).

6 Sustainability assessment of construction and demolition waste management applied to an Italian case [18] – Silvia I et al (Waste

Nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng của phế thải xây dựng tới vùng Campania (Ý) và nhấn mạnh lợi ích kinh tế và môi trường khi lựa chọn

# Nghiên cúu / Báo cáo Nội dung

Management, 2021) phương pháp xử lý phế thải xây dựng hợp lý

7 Review of construction and demolition waste management in

Nghiên cứu so sánh giữa Mỹ và Trung Quốc về quản lý phế thải xây dựng cho thấy Mỹ có hệ thống quản lý hiệu quả hơn Bài viết phân tích các khía cạnh như pháp luật, thị trường và thách thức trong lĩnh vực này Đồng thời, đề xuất một số biện pháp nhằm hỗ trợ Trung Quốc cải thiện quản lý phế thải xây dựng trong tương lai.

8 Management of construction and demolition waste using GIS tools

Tình hình quản lý và phát triển nghiên cứu CDW ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nhiều công trình xây dựng cũ như nhà ở, chung cư và công trình công cộng đã xuống cấp nghiêm trọng, không còn đảm bảo an toàn cho người sử dụng Do đó, việc phá dỡ các công trình này trở thành một giải pháp cần thiết, trừ những công trình cũ được bảo tồn theo chính sách.

CDW được tạo ra nhiều ở các khu vực đô thị và chiếm 25% chất thải rắn đô thị tại

TP Hồ Chí Minh và TP Hà Nội có tỷ lệ xuống cấp khoảng 12-13%, trong khi các địa phương khác như Bắc Giang, Hải Phòng, An Giang trung bình là 10-15% Từ năm 1970 đến 1980, khoảng 2200 công trình (tương đương 6 triệu m²) đã được xây dựng, nhưng hiện tại 90% trong số đó đang bị xuống cấp nghiêm trọng.

CDW có thể được sử dụng để lấp chỗ trũng và rải đường, nhưng việc thiếu sự phối hợp giữa các Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng và URENCO 3 tại các tỉnh và thành phố đã dẫn đến tình trạng CDW bị đổ bừa bãi ra môi trường Hơn nữa, người dân thường thuê dịch vụ thu gom CDW từ tư nhân, góp phần làm tình hình trở nên nghiêm trọng hơn.

Chung cư cũ lâu năm tại Hà Nội tiềm ẩn nhiều nguy cơ, đặc biệt là về sự an toàn của người dân Hiện nay, thành phố có khoảng 1600 nhà chung cư cũ, chủ yếu có quy mô từ 2-5 tầng và được xây dựng từ nhiều năm trước.

1960 đến cuối những năm 1990 [23], diện tích các hộ phần lớn từ 30-50m 2 /căn Theo thống kê, có 4 khu tập thể cũ cần phải nhanh chóng di dân bao gồm: Giảng

Khu tập thể Giảng Võ, Thành Công, Bộ Tư pháp và Ngọc Khánh, bao gồm nhà C8 – G6A – A, đã được đưa vào sử dụng từ năm 1987 Sau gần 40 năm, khu nhà G6A Thành Công đã xuất hiện nhiều vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng sụt lún của 2 đơn nguyên với khe nứt rộng hơn 30cm Hiện tại, tòa nhà đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng.

Tại TP Hồ Chí Minh, có khoảng 400 chung cư cũ được xây dựng từ trước năm

Tính đến năm 1975, thành phố hiện có 14 chung cư cũ cấp D trong kế hoạch cải tạo và xây mới Một số chung cư này nằm trong nội thành, bao gồm 128 Hai Bà Trưng và 23 Lý Tự Trọng ở Quận 1, Vĩnh Hội ở Quận 4, cùng với 440 Trần Hưng Đạo ở Quận 5.

3 Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội (Ha Noi Urban Environment Company)

Hình 2-1 Khu nhà G6A Thành Công (Ba Đình, TP Hà Nội) [24]

Hình 2-2 Khe nứt giữa 2 đơn nguyên nhà G6A Thành Công [26]

Hình 2-3 Chung cư 440 Trần Hưng Đạo (Quận 5) [25]

Chương trình chỉnh trang đô thị và cải tạo chung cư cũ tại TP Hồ Chí Minh được khởi động từ năm 2016, với mục tiêu cải tạo, sửa chữa hoặc xây mới khoảng 50% số chung cư xuống cấp và hư hỏng vào năm 2020 Tuy nhiên, đến tháng 01/2022, chỉ có 2 chung cư được cải tạo và xây mới.

Việc cải tạo và xây mới chung cư, công trình dân dụng tại TP HCM diễn ra chậm, không đạt mục tiêu đề ra Chất lượng công trình ngày càng xấu đi, gia tăng nguy cơ mất an toàn cho cư dân Tình trạng này khiến cho việc cải tạo, xây mới hoặc phá dỡ gặp nhiều khó khăn.

2.3.2 Các nghiên cứu và ứng dụng

Các dự án nghiên cứu và phát triển (R&D) cần một giai đoạn ứng dụng quan trọng để các kết quả nghiên cứu có thể can thiệp vào thực tế Tuy nhiên, tại Việt Nam, vấn đề này vẫn còn tồn tại do các nghiên cứu chưa được đầu tư đúng mức.

Một số dự án cũng đã được thực hiện tại các Bộ liên quan của Việt Nam và đang dừng ở quy mô nghiên cứu [3]:

• “Điều tra hệ thống quản lý phế thải xây dựng tại các khu đô thị” – Hiệp hội các khu công nghiệp và môi trường đô thị Việt Nam (2010 – 2014)

• “Đầu tư dây chuyền tái chế phế thải xây dựng để sản xuất vật liệu xây dựng” – Bộ Xây dựng (2010 – 2012)

• “Xử lý và tái chế chất thải rắn trong thi công dự án hạ tầng đường bộ” – Bộ Giao thông vận tải (2010 – 2014)

Vào năm 2017, Việt Nam đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tái chế chất thải xây dựng (CDW) lên 50% vào năm 2025 thông qua việc áp dụng công nghệ và mô hình kinh doanh phát triển tái chế Để đạt được mục tiêu này, một dự án hợp tác mới giữa Việt Nam và Nhật Bản mang tên “Dự án thành lập cơ quan quản lý hợp lý về mặt môi trường đối với phế thải xây dựng” đã được khởi động Dự án nhằm thúc đẩy tái chế CDW tại Việt Nam với các mục đích cụ thể.

Phát triển công nghệ mới nhằm sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải xây dựng (CDW) là một bước tiến quan trọng Đồng thời, việc xây dựng tiêu chuẩn chất lượng cho các vật liệu tái chế này sẽ đảm bảo tính bền vững và hiệu quả trong ứng dụng.

• Thiết lập hướng dẫn cần thiết cho quản lý CDW thân thiện với môi trường

Mô hình kinh doanh chiến lược được đề xuất nhằm thúc đẩy tái chế chất thải xây dựng (CDW) tại Việt Nam sẽ được kiểm tra tính khả thi thông qua các dự án thí điểm tại chỗ.

Hầu hết các dự án nghiên cứu hiện nay vẫn chưa có ứng dụng thực tiễn, gây khó khăn cho quá trình phát triển và triển khai Điều này dẫn đến việc thiếu hụt thông tin về công nghệ phá dỡ, phân loại tái chế, cũng như các tiêu chuẩn cho cốt liệu tái chế tại Việt Nam.

Theo Minh (2015) đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rác thải xây dựng tại TP Hồ Chí Minh, bao gồm tăng cường công tác thanh tra quản lý rác thải, quy hoạch bãi đổ rác thải và đầu tư nghiên cứu về quản lý chất thải rắn xây dựng.

The project aims to establish an environmentally sound management system for construction and demolition waste in Vietnam, focusing on its effective utilization to control environmental pollution and promote the development of new recycled construction materials.

Tình hình quản lý CDW và nghiên cứu trên thế giới

Ngành xây dựng đã trải qua sự phát triển đáng kể trong thời gian dài, đặc biệt là trong việc xử lý chất thải rắn sau xây dựng Theo thống kê của Sandler, việc quản lý chất thải này ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Swingle (2006), khoảng 136 triệu tấn CDW được tạo ra trên toàn cầu nhưng chỉ khoảng 30% trong đó là được tái chế [15]

Tốc độ phát triển của các quốc gia khác nhau dẫn đến sự biến đổi trong lượng chất thải xây dựng (CDW) phát sinh Tại Anh, CDW chiếm khoảng 10-15% tổng lượng chất thải rắn, trong khi tại Úc, tỷ lệ này là 16-40% (năm 2000) Ở Hong Kong (năm 2003), CDW đã chiếm hơn 40% chất thải thu gom để lấp đất, và trong giai đoạn 2002-2007, nhu cầu phát triển kinh tế và đầu tư xây dựng tăng cao Tại Trung Quốc, lượng CDW hàng năm vượt quá 1.5 tỷ tấn, chiếm khoảng 40% tổng lượng chất thải, với tỷ lệ tái chế chỉ khoảng 5% từ năm 2009 Theo thống kê của Ủy ban Châu Âu (2019), CDW chiếm từ 25-30% tổng lượng chất thải tại châu Âu.

Dự báo dân số thành thị toàn cầu sẽ tăng thêm 1.5 tỷ người vào năm 2035, nâng tỷ lệ đô thị lên 68% vào năm 2050 Việc xây dựng dân dụng vẫn rất cần thiết trong các đô thị lớn, tuy nhiên, lượng chất thải rắn xây dựng (CDW) cũng sẽ gia tăng Tình hình CDW trên toàn thế giới có xu hướng tăng theo sự phát triển kinh tế - xã hội, và mỗi quốc gia đều có chiến lược riêng để đối phó với vấn đề này, đặc biệt là sau khi công trình bị phá dỡ.

2.4.2 Các nghiên cứu và ứng dụng

Mặc dù chôn lấp là phương pháp phổ biến nhất để xử lý chất thải, nhưng nó không bền vững do nguồn tài nguyên đất có hạn Để ứng phó với tình trạng môi trường ngày càng xấu đi, cần phải giảm thiểu chất thải và tăng cường tỷ lệ tái sử dụng cũng như tái chế Các nghiên cứu toàn cầu đã đóng góp vào việc phát triển các giải pháp hiệu quả cho việc xử lý chất thải xây dựng (CDW) tại nhiều quốc gia.

Tại Hong Kong, System Dynamic được áp dụng trong thị trường năng động và phức tạp, nhằm tích hợp các vấn đề quản lý chất thải xây dựng (CDW) vào các dự án xây dựng Mục tiêu là cải thiện hiệu quả tổng thể của việc quản lý CDW một cách bền vững.

Tại Trung Quốc, việc quản lý các khía cạnh trong đời sống xã hội là một thách thức lớn Để giải quyết vấn đề này trong xây dựng, Benijia Huang và cộng sự đã đề xuất mô hình phân tích quản lý chất thải xây dựng (CDW) dựa trên nguyên lý 3R Các giải pháp bao gồm thiết kế mô hình kinh tế hiệu quả, kiểm soát nguồn, giám sát quá trình tạo ra CDW, xử lý hành vi bất hợp pháp, rút ngắn thời gian đăng ký vay và giảm tiền thuê đất cho các doanh nghiệp quản lý CDW.

Tại Ý, việc chôn lấp chất thải xây dựng (CDW) từng rất phổ biến, nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng CDW có thể được chuyển đổi thành nguyên liệu thứ cấp, gọi là “cốt liệu tái chế” Những nghiên cứu này không chỉ thúc đẩy việc xử lý và tái chế CDW mà còn hạn chế các phương pháp xử lý truyền thống, từ đó giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

Tại Úc, chất thải xây dựng (CDW) chiếm khoảng 40% tổng lượng rác thải hàng năm Do thuế chôn lấp rác thải cao, việc phát triển bền vững và tái sử dụng cốt liệu tái chế từ bê tông ngày càng được chú trọng Một trong những ứng dụng đáng kể là sử dụng cốt liệu tái chế bê tông (RCA) để xây dựng vỉa hè, nơi mà RCA có thể thay thế hoàn toàn cốt liệu tự nhiên ở lớp nền và nền lót.

Việc đổ rác thải bừa bãi phổ biến hơn ở các nước đang phát triển so với các nước đã phát triển Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là công cụ quan trọng trong quản lý rác thải xây dựng, hỗ trợ quyết định cho nhà quản lý GIS tự động lưu trữ, phân tích và vận dụng dữ liệu địa lý, trong đó vị trí địa lý là yếu tố cần thiết cho phân tích Thông qua GIS, có thể phát hiện địa điểm đổ rác thải xây dựng bừa bãi, phân tích nguy cơ môi trường và xác định vị trí thích hợp cho nhà máy tái chế chất thải rắn xây dựng.

Hành lang pháp lý liên quan đến xử lý CDW

Tại Việt Nam, khi tới niên hạn công trình sẽ cần hành động giải quyết Một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan:

• Giải pháp cải tạo và tái thiết các chung cư bị hư hỏng và xuống cấp (Nghị quyết 34/2007/NQ-CP)

• Phá dỡ công trình xây dựng (Khoản 44, Điều 1, Luật Xây dựng sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 118 Luật xây dựng 2014)

• Đánh giá và quản lý chất lượng cho các công trình hết thời hạn sử dụng (Điều 41 Nghị định 06/2021/NĐ-CP)

Cùng với việc xử lý chất thải xây dựng (CDW), cần thiết phải có các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cơ sở hạ tầng để quản lý CDW, vì CDW cũng được coi là một dạng chất thải rắn.

Thông tư Liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD, ban hành ngày 18/01/2001, hướng dẫn các quy định liên quan đến bảo vệ môi trường trong việc lựa chọn địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn.

Thông tư số 10/2000/TTBXD của Bộ Xây dựng, ban hành ngày 08/08/2000, hướng dẫn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các đề án quy hoạch xây dựng, bao gồm cả việc quản lý chất thải rắn sau khi xây dựng.

• Quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng số 29/1999/QĐ-BXD ngày 22/10/1999 ban hành quy chế bảo bệ môi trường ngành xây dựng

Thông tư số 1817/1999/TT-BKHCNMT của Bộ KHTNMT, ban hành ngày 21/10/1999, hướng dẫn xác nhận các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư theo quy định tại khoản 7, mục I, phụ lục I của Nghị định 10/1998/NĐ-CP Nghị định này đề ra các biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt liên quan đến bảo vệ môi trường, phục hồi môi trường, tái sử dụng và tái chế chất thải.

Việc phá dỡ đánh dấu giai đoạn cuối cùng trong chu trình của một dự án xây dựng, khẳng định sự tồn tại và vai trò của công trình Đối với nhà ở, quá trình này trải qua các giai đoạn bảo hành, bảo trì và cải tạo Khi các phương án này không còn khả thi, kế hoạch phá dỡ sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Nhà ở 2014.

Phá dỡ công trình tại Việt Nam hiện đang gặp khó khăn do hành lang pháp lý lỏng lẻo và thiếu quy chuẩn cụ thể Số lượng công trình dân dụng, đặc biệt là chung cư, ngày càng gia tăng, dẫn đến nhu cầu bảo dưỡng và cải tạo gần đạt giới hạn, buộc phải chuyển sang giai đoạn phá dỡ Tuy nhiên, tốc độ triển khai bảo dưỡng cải tạo vẫn chậm, khiến việc thiết lập quy định hợp lý cho phá dỡ trở nên xa vời Sự gia tăng đô thị hóa trong những năm gần đây đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng tạo ra áp lực lên môi trường và gây ra sự phát triển không bền vững.

Sự thiếu rõ ràng trong các quy định pháp luật, sự chồng chéo trong hệ thống quản lý và thiếu đầu tư đồng bộ đã gây ra nhiều bất cập và khó khăn, dẫn đến hiệu quả triển khai công tác chưa đạt như mong muốn.

Một lý do khác là sự thiếu hụt đầu mối chung trong quản lý chất thải xây dựng (CDW), dẫn đến việc nhiều bộ ngành ban hành các quy định riêng lẻ Nhiều vấn đề vẫn chưa được quy định cụ thể, đặc biệt là về mục tiêu quản lý CDW thông thường.

Các tổ chức và cá nhân cần đáp ứng các quy định về điều kiện năng lực để được phép thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng, xử lý và tiêu hủy chất thải xây dựng (CDW) thông thường.

• Quy định thẩm định công nghệ xử lý CDW sinh hoạt do nước ngoài đầu tư

Hiện tại, chưa có cơ quan nào đảm nhận việc quản lý tập trung thông tin và dữ liệu liên quan đến quản lý CDW ở cả cấp trung ương và địa phương.

Khi quyết định phá dỡ hay cải tạo chung cư cũ, cần tính toán khả thi và lợi ích kinh tế Theo Bộ Xây dựng, từ năm 2010 đến 2020, chỉ có dưới 20 dự án cải tạo chung cư cũ, đạt dưới 3% tổng số cần thực hiện, với nhu cầu cao nhất tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Quy định yêu cầu 100% sự đồng thuận từ các hộ dân đã làm chậm quá trình cải tạo, trong khi chưa xác định rõ phương án nào mang lại hiệu quả cao hơn Dù lựa chọn nào, việc này cũng sẽ phát sinh chất thải xây dựng (CDW).

Cát và tình trạng sử dụng năng lượng

Bê tông là vật liệu nhân tạo phổ biến nhất toàn cầu, với cốt liệu chiếm khoảng 75% thành phần, ảnh hưởng lớn đến chất lượng Theo nghiên cứu của Joseph và Tretsiakova-McNally (2010), ngành xây dựng tiêu thụ 25% gỗ, 40% đá, cát, sỏi và 16% nước, đồng thời thải ra 50% khí thải gây hiệu ứng nhà kính và mưa acid.

Xây dựng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển toàn cầu và ảnh hưởng đến phát triển bền vững Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc năm 1987, "phát triển bền vững" là việc đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai Do đó, cần giảm lượng phát thải môi trường thông qua các phương pháp tiết kiệm năng lượng, tái sử dụng và tái chế vật liệu, thiết kế thân thiện với môi trường, và kiểm soát khí phát thải Chẳng hạn, EU đã đặt mục tiêu giảm 30% khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2020 so với năm 1990 tại các nước phát triển.

Hiệu quả vật liệu là yếu tố quan trọng trong nhóm vật liệu phát triển bền vững Ngoài ra, chi phí và yêu cầu xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn vật liệu xây dựng, bao gồm tính chất cơ học tốt, đặc tính thẩm mỹ, hiệu quả sức khỏe và khả năng xây dựng nhanh chóng.

2.6.2 Bê tông và sự ảnh hưởng đến môi trường

Vật liệu cho phát triển bền vững là những loại vật liệu giúp giảm thiểu tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường, và có khả năng gây hại thấp cho con người trong quá trình thi công cũng như trong suốt thời gian sử dụng, đồng thời đáp ứng các yêu cầu thiết kế.

Quy trình sản xuất bê tông gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường thông qua việc phát thải khí nhà kính và khai thác nguồn nguyên liệu thiên nhiên không tái tạo Đây là một thách thức lớn cần thời gian dài để tìm ra giải pháp hiệu quả.

Khí CO2 là chất khí phát thải chính gây hiệu ứng nhà kính, do đó, phát triển bền vững cho môi trường tập trung vào việc giảm lượng khí này trong sản xuất bê tông Xi măng, nguyên liệu chính trong sản xuất bê tông, có quy trình sản xuất tiêu tốn nhiều năng lượng và gây tác động lớn đến môi trường Mỗi loại nguyên liệu sản xuất bê tông thải ra lượng CO2 khác nhau, tùy thuộc vào quy trình sản xuất và thành phần nguyên liệu thô Đá vôi, nguồn nguyên liệu chính để sản xuất xi măng, khi bị khử carbonat và sử dụng nhiều nhiên liệu, sẽ thải ra lượng CO2 lớn vào khí quyển Theo thống kê, sản xuất một tấn xi măng thải ra khoảng một tấn CO2, dẫn đến việc toàn cầu đã phát thải 2 tỷ tấn CO2 vào năm 2004 (EFA, 2004).

Cốt liệu như đá, sỏi và cát có quy trình khai thác và sản xuất đơn giản hơn xi măng, do đó ít ảnh hưởng đến môi trường hơn về lượng CO2 Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng trong ngành xây dựng toàn cầu đã khiến việc khai thác cốt liệu trở thành một vấn đề sinh học nghiêm trọng ở nhiều nơi Khai thác quá mức đá, sỏi và đặc biệt là cát có thể dẫn đến mất cân bằng sinh thái theo nhiều hướng.

• Thiệt hại cục bộ đa dạng sinh học ở lân cận khu vực khai thác

• Gây ra sạt lở, xói mòn khu vực bờ sông

• Gây ô nhiễm nguồn nước do tăng độ bùn và các chất rắn lắng đọng

• Ảnh hưởng đến các hộ dân cư sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt

• Tăng lũ lụt, tiếng ồn và ô nhiễm bụi

• Tàn phá môi trường, tạo ra rác thải trong suốt quá trình khai thác và thi công

2.6.3 Cát tự nhiên và cát tái chế từ CDW

Cát tái chế từ chất thải bê tông (CDW) có thể thay thế cát tự nhiên trong bê tông truyền thống Quá trình sản xuất cát tái chế bao gồm nghiền, phân loại và xử lý bê tông phế phẩm Nhiều quốc gia đã xây dựng nhà máy tái chế để sản xuất cốt liệu từ vật liệu này Để tạo ra cốt liệu, bê tông thải được làm nhỏ và sau đó nghiền thành mảnh nhỏ hơn, được phân loại và sử dụng làm cốt liệu Chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào quy trình sản xuất và nguồn bê tông phế phẩm Bê tông gốc chất lượng cao sẽ tạo ra cốt liệu tái chế tốt hơn, nhưng việc kiểm định chất lượng bê tông phế thải là một thách thức Hai nguồn chính thu thập bê tông phế phẩm là từ công trình phá dỡ và phòng thí nghiệm, nhưng chúng khác nhau về số lượng và chất lượng.

Kinh tế chất thải

Kinh tế chất thải gắn liền với kinh tế môi trường, đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm thiểu ô nhiễm Mục tiêu chính của kinh tế học môi trường là tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và hạn chế xả thải Điều này đặc biệt quan trọng trong sản xuất, nhất là khi nguồn tài nguyên chưa được khai thác triệt để, như chất thải rắn xây dựng, vẫn đang bị xả thải bừa bãi và chưa được xử lý hiệu quả.

Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các sản phẩm đã qua sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm mới Trong nền kinh tế chất thải, tái chế đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu lượng rác thải và bảo vệ môi trường.

3 câu hỏi chính: Tại sao tái chế? Khi nào tái chế? Tái chế bao nhiêu?

Sự thất bại của thị trường trong tái chế xuất phát từ việc thiếu tín hiệu rõ ràng cho người sở hữu chất thải Người dân thường lựa chọn giữa thùng rác tái chế và thùng rác thải bỏ dựa trên sở thích và thói quen, thay vì dựa vào lợi ích kinh tế hay thông tin đầy đủ về chi phí và lợi ích xã hội Khi việc thải bỏ chất thải rắn vẫn miễn phí cho cá nhân, họ sẽ không có động lực kinh tế để quan tâm đến tái chế Do đó, mặc dù tái chế đã phát triển, nhưng thông tin về nó vẫn chưa được lan truyền rộng rãi trong cộng đồng.

Tái chế là một lựa chọn ưu việt hơn so với việc thải bỏ Bên cạnh lý do này, còn có bốn nguyên nhân khác dẫn đến sự thất bại của thị trường tái chế chất thải rắn.

Phần lớn thiết bị tái chế thuộc sở hữu hoặc được kiểm soát bởi chính quyền, và chúng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, như các nhà máy tái chế rác thải.

• Những thay đổi bất ổn định của thị trường

• Tác động của giá cả sai lệch và chi phí ngoại biên

Nhà sản xuất không thể thu lợi nhuận khi chi phí sản xuất sản phẩm từ nguyên vật liệu chính phẩm (nguyên liệu mới) cao hơn so với việc sử dụng nguyên vật liệu tái chế.

Nếu lựa chọn phương án tái chế, thì phương án này cần phải mang lại lợi ích tốt hơn, tức là chi phí xã hội ròng của tái chế phải thấp hơn chi phí xã hội ròng của việc thải bỏ.

Khi việc tái chế hiệu quả hơn so với việc sử dụng nguồn nguyên liệu chính phẩm

Trong bối cảnh hiện tại, khi không còn chỗ để chôn lấp chất thải, việc phát sinh chất thải rắn vẫn tiếp tục diễn ra song song với sự phát triển của xây dựng và kinh tế xã hội Vấn đề đặt ra là cần phân bổ nguồn lực một cách hợp lý cho phát triển, tiêu dùng và tái chế hàng năm, trong khi số lượng đơn vị chôn lấp ngày càng hạn chế và chi phí cho việc này ngày càng tăng.

Kinh tế chất thải tập trung vào đa dạng hóa các loại chất thải được tái chế, thay vì chỉ chú trọng vào lượng tái chế của một loại chất thải cụ thể Luận văn này sẽ xem xét khả năng tái chế các vật liệu xây dựng thải, đặc biệt là khả năng chuyển đổi chúng thành cát, mặc dù không thể trả lời câu hỏi này một cách rõ ràng.

Quy mô tái chế không hợp lý có thể dẫn đến lãng phí tài nguyên, với việc khai thác không hiệu quả và thải bỏ nhiều vật liệu chính phẩm Ngược lại, việc tái chế quá mức trong quy mô lớn cũng gây ra sự lãng phí.

Tổng kết chương

Chương 2 nêu lên tổng quát về một số vấn đề chung liên quan đến phá dỡ, phân loại và tái chế vật liệu trong công trình trên thế giới và tại Việt Nam Nhận thấy được vấn đề nghiên cứu là cần thiết, chương 3 tiếp theo sẽ trình bày những phương pháp nghiên cứu được áp dụng để tìm hiểu vấn đề chính Sau đó, một số phương pháp phân tích sẽ được áp dụng ở chương 4 để nghiên cứu bản chất vấn đề, làm cơ sở cho việc đề xuất ý kiến cho chương 5.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Giới thiệu chương

Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu đề cập đến một số nội dung sau:

• Đối tượng được đề xuất và nội dung đề xuất

• Thiết kế bảng câu hỏi

• Sơ đồ khối cho phương pháp nghiên cứu

• Giai đoạn thực hiện nghiên cứu

• Phương pháp phân tích dữ liệu

• Kết quả khảo sát thực tế

• Kết quả thu thập số liệu và xử lý sơ bộ

Đối tượng được đề xuất và nội dung đề xuất

3.2.1 Đối tượng mà nghiên cứu muốn đề xuất kết quả

Các yếu tố và nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phân loại và tái chế vật liệu xây dựng thải liên quan đến các khía cạnh thực tế trong đời sống, cùng với các đối tượng có liên quan trực tiếp đến công tác này, như được thể hiện trong Bảng 3-1 [19].

Bảng 3-1 Khía cạnh trong quản lý CDW

Nhận thức được tầm quan trọng của chính sách và luật pháp, việc đồng thuận với các thỏa thuận cần thiết là rất quan trọng để giải quyết xung đột lợi ích và triển khai các giải pháp khả thi cho vấn đề chất thải rắn.

Luật hỗ trợ củng cố nhu cầu thực tế trong việc cung cấp giải pháp cho chất thải rắn, đồng thời tạo điều kiện cho việc xác định và thực hiện các công cụ kinh tế nhằm thúc đẩy các quan điểm bảo vệ môi trường của các thành phần xã hội khác nhau.

Môi trường Luật chú ý đến việc quản lý chất thải rắn hiện hữu để giảm tối đa tác động đến môi trường

Văn hóa Mục tiêu phản ánh thói quen và giá trị của cư dân địa phương trong việc xác định các phương pháp và quy trình xử lý chất thải rắn.

Trong luận văn này, chúng tôi xem xét bốn nhóm đối tượng như được trình bày trong Bảng 3-2 Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng hai nhóm đối tượng "Chủ thể tạo ra CDW" và "Chủ thể thu gom CDW" có số lượng phổ biến hơn so với hai nhóm còn lại.

Do đó, tác giả diễn giải nội dung nghiên cứu dưới những góc nhìn theo nhóm tổng quát hơn và vẫn liên quan đến 4 nhóm đối tượng này

Bảng 3-2 Đối tượng liên quan đến quá trình phá dỡ

# Các đối tượng liên quan Mối quan tâm đến từ

1 Chủ thể tạo ra CDW Quận /

2 Chủ thể thu gom CDW

3 Chủ thể tái chế CDW

4 Chủ thể sử dụng CDW

Theo Luật Ban hành Văn bản pháp luật 2015, UBND cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có quyền ban hành nghị quyết để quy định chi tiết các điều, khoản trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, cũng như các chính sách và biện pháp nhằm đảm bảo thi hành Hiến pháp và luật Đồng thời, UBND các cấp có trách nhiệm quản lý các hoạt động liên quan đến chất thải rắn xây dựng, theo Điều 15 – Chương IV – Thông tư 08/2017/TT-BXD.

Đề tài này hướng tới việc đề xuất kết quả cho UBND TP Hồ Chí Minh, nhằm ảnh hưởng rộng rãi đến các đối tượng liên quan trong tỉnh/thành phố.

3.2.2 Loại vật liệu mà nghiên cứu muốn đề xuất

Nghiên cứu chọn cát tái chế từ CDW để làm đối tượng phân tích Việc chọn cát tái chế từ CDW đến từ một số lý do sau:

Việt Nam có tổng tài nguyên cát ước tính khoảng 2.3 tỷ m³, chủ yếu phục vụ cho xây trát và san nền, trong đó khoảng 30% được sử dụng để sản xuất bê tông Nhu cầu cát cho sản xuất bê tông đã tăng từ 92 triệu m³ vào năm 2015 lên 160 triệu m³ vào năm 2020 Hiện tại, chưa có thống kê chính xác về lượng cát được sử dụng cho các công trình xây dựng và giao thông không rõ nguồn gốc Với tình trạng sử dụng cát ngày càng gia tăng, nguồn tài nguyên này sẽ sớm cạn kiệt, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu cát trong tương lai.

Khai thác cát quá mức ở lòng sông có thể gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường, bao gồm thay đổi dòng chảy, xói mòn đất và ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái Việc hạn chế khai thác cát là cần thiết để bảo vệ môi trường và duy trì sự cân bằng sinh thái.

Cát tái chế từ chất thải xây dựng (CDW) có chất lượng tốt có thể thay thế một phần hoặc toàn bộ cát tự nhiên, giúp tiết kiệm chi phí và thời gian thi công cho các công trình.

TCVN 11969:2018 đã đề cập đến việc sử dụng cốt liệu lớn tái chế cho bê tông từ phế thải xây dựng, nhưng tài liệu về cát tái chế từ phế thải xây dựng vẫn còn hạn chế Nghiên cứu này nhằm đề xuất các ý kiến liên quan đến cát CDW, góp phần phát triển thông tin cho loại cát này, đặc biệt là tại TP HCM.

Thiết kế bảng câu hỏi

Nghiên cứu thông qua khảo sát là phương pháp phổ biến trong lĩnh vực sức khỏe và khoa học xã hội Trong quản lý, việc hiểu rõ vấn đề cốt lõi và mối liên hệ thực tiễn là rất quan trọng Nghiên cứu này sử dụng phiếu khảo sát với thang đo Likert 5 điểm để đánh giá.

Thang đo Likert, được phát minh bởi Rensis Likert vào năm 1932, là một công cụ quan trọng trong nghiên cứu tâm lý, xã hội và giáo dục Nó giúp định lượng các yếu tố không thể đo lường bằng các kỹ thuật thông thường, cho phép khảo sát thái độ, nhận thức và ý kiến của người tham gia thông qua bảng câu hỏi Việc sử dụng thang điểm Likert giúp "mã hóa" các phản hồi thành giá trị số, thuận tiện cho việc phân tích dữ liệu.

3.3.2 Thang đơn cực và thang lưỡng cực

Thang đo đơn cực sử dụng một đầu làm điểm mốc, trong khi các điểm còn lại được biểu diễn dựa trên điểm mốc này Một ví dụ điển hình là thang đo mức độ hài lòng đơn cực, thường được áp dụng trong các nghiên cứu khảo sát.

• Không đồng ý một chút nào (not at all agree)

• Đồng ý một chút (slightly agree)

• Đồng ý vừa phải (moderately agree)

• Hoàn toàn đồng ý (completely agree)

Thang đo lưỡng cực yêu cầu người tham gia thực hiện khảo sát 2 chiều Một thang đo lưỡng cực phổ biến thường bao gồm các lựa chọn sau [36]:

• Hoàn toàn phản đối (completely disagree)

• Hầu hết phản đối (mostly disagree)

• Một phần phản đối (somewhat disagree)

• Không phản đối cũng không ủng hộ (neutral)

• Một phần ủng hộ (somewhat agree)

• Hầu hết ủng hộ (mostly disagree)

• Hoàn toàn ủng hộ (completely agree)

Trong khảo sát, các câu hỏi chính được thiết kế theo thang Likert 5 điểm đơn cực, với 5 lựa chọn được mã hóa từ 1 đến 5.

• Điểm 2: Phần lớn không đồng ý

• Điểm 4: Phần lớn không đồng ý

Điểm 5 thể hiện sự đồng ý, trong khi điểm 1 được coi là điểm gốc Điểm 3, được gọi là "Trung lập", có nghĩa là ý kiến của người xem được hiểu là 50% không đồng ý và 50% đồng ý, nhằm tạo sự cân bằng giữa hai điểm đầu và cuối.

(1 và 5) của thang Likert Một cách hiểu khác, “Trung lập” ở đây không có nghĩa là

Khái niệm "không phản đối cũng không ủng hộ" xuất hiện trong thang Likert lưỡng cực, thể hiện trạng thái trung lập Trong bảng khảo sát, điểm 3 đại diện cho tình trạng này.

“không rõ/ không biết” của người tham gia khảo sát, và cũng được hiểu như trên

Có 2 lý do khác để tác giả chọn thang Likert đơn cực 5 điểm:

• Thứ nhất: nó thân thiện hơn với người khảo sát và giúp cho người tham gia khảo sát không phải suy nghĩ quá nhiều

• Thứ hai: tránh được những từ ngữ mang tính khẳng định mạnh mẽ như

Các từ như “tuyệt đối” và “hoàn toàn” có thể gây khó khăn cho người tham gia khảo sát khi họ cảm thấy mạnh mẽ về các điểm 1 và 5, nhưng lại băn khoăn không biết có nên chọn chúng hay không Khảo sát này liên quan đến kỹ thuật và xã hội, do đó, câu trả lời thường phụ thuộc vào hiểu biết, dự đoán và cảm xúc của người tham gia.

Sơ đồ khối cho phương pháp nghiên cứu

Hình 3-1 Sơ đồ khối phương pháp nghiên cứu

Giai đoạn thực hiện nghiên cứu

3.5.1 Giai đoạn 1 – Thành lập bảng câu hỏi phỏng vấn

Bảng câu hỏi phỏng vấn cho đề tài ở giai đoạn này có vai trò khảo sát thí nghiệm

“Pilot questionnaire” là thuật ngữ chỉ việc cải thiện bảng câu hỏi khảo sát thông qua việc thử nghiệm với những đối tượng có kinh nghiệm và góc nhìn đa dạng, nhằm đảm bảo tính khách quan và hiệu quả của khảo sát.

Pilot questionnaire giúp phát hiện các lỗi chính tả và định dạng không đáng có, đặc biệt khi khảo sát có bản giấy Những lỗi này cần được loại bỏ để đảm bảo chất lượng và tính chính xác của khảo sát.

Để đảm bảo hiệu quả của khảo sát đại trà, việc thiết kế bảng câu hỏi cần phải dễ đọc và dễ hiểu, nhằm thu hút sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau.

• Ngoài ra, yếu tố thẩm mỹ cũng nên cân nhắc do điều này sẽ tạo ấn tượng ban đầu với người tham gia khảo sát

• Nội dung: nhận góp ý từ những người có kinh nghiệm và kết hợp với 3 lưu ý phía trên để cải thiện bảng câu hỏi

Tổng hợp ý kiến từ các buổi phỏng vấn thí nghiệm, nghiên cứu và hoàn thiện bảng câu hỏi cho khảo sát đại trà là rất quan trọng Trong giai đoạn này, khảo sát thí điểm lấy ý kiến chuyên gia chưa đạt yêu cầu, đây là một điểm cần cải thiện trong nghiên cứu.

3.5.2 Giai đoạn 2 – Thu thập dữ liệu, phân tích

Sau khi giai đoạn 1 kết thúc, bảng câu khỏi khảo sát sẽ được phát đại trà Đối tượng và số lượng dự kiến trong Bảng 3-3:

Bảng 3-3 Dự kiến số lượng phát phiếu khảo sát

# Đối tượng khảo sát Số phiếu dự kiến

1 Tổ chức góp phần tạo ra vật liệu xây dựng thải (trước phá dỡ) 50

2 Tổ chức tiền xử lý vật liệu xây dựng thải (trong phá dỡ) 40

3 Tổ chức xử lý vật liệu xây dựng thải

Dữ liệu thu thập sẽ tiến hành phân tích, kết hợp với phân tích chính sách, kế hoạch và đề án để có cơ sở đề xuất kết quả.

Phương pháp phân tích dữ liệu

Phân tích dữ liệu định lượng được chọn làm phương pháp chính để xử lý các câu trả lời sau khi thu thập Phương pháp này cho phép phân tích dữ liệu số hoặc dữ liệu có thể chuyển đổi thành dạng số mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa Thông thường, phương pháp này được áp dụng cho ba mục đích chính.

• Đo lường sự khác nhau giữa các nhóm

• Tìm ra mối quan hệ giữa các biến khảo sát

• Kiểm định giả thuyết một cách chặt chẽ và khoa học

Phân tích định lượng liên quan chặt chẽ đến các phương pháp thống kê, tạo ra công cụ mạnh mẽ cho việc xử lý dữ liệu Từ những phép tính đơn giản như số trung bình và độ lệch chuẩn đến các phương pháp phức tạp như tương quan và hồi quy, thống kê cung cấp nền tảng vững chắc cho phân tích định lượng.

3.6.2 Thống kê mô tả và Thống kê suy luận

Quần thể (population) và mẫu (sample) là 2 khái niệm quan trọng:

• Quần thể: toàn bộ nhóm người mà nghiên đang hướng tới

Mẫu là một phần nhỏ của quần thể mà nhà nghiên cứu có thể tiếp cận Vì quần thể thường rất lớn, việc khảo sát toàn bộ quần thể gần như không khả thi.

Phân tích sử dụng 2 phương pháp thống kê [37]:

• Thống kê mô tả (descriptive statistics): tập trung diễn tả mẫu số liệu

• Thống kê suy luận (inferential statistics): tập trung suy luận để đưa ra suy đoán cho quần thể, dựa trên các phân tích từ mẫu

Thống kê mô tả là bước đầu quan trọng trong phân tích định lượng, giúp người khảo sát hiểu tổng quan về lượng mẫu thu thập Nó tập trung vào tính chất của dữ liệu quan sát được, phản ánh những thông tin "đúng theo nghĩa đen" từ bảng số liệu Các đại lượng số phổ biến trong thống kê mô tả bao gồm nhiều chỉ số khác nhau.

• Đại lượng đo lường mức độ tập trung

• Đại lượng đo lường mức độ phân tán

Thống kê suy luận giúp người nghiên cứu đưa ra những suy đoán, ước lượng ở quần thể Một số phương pháp thống kê suy luận phổ biến:

• Phân tích hồi quy: cho thấy sự liên quan của biến độc lập và biến phụ thuộc

Mô hình kiểm định giả thuyết bao gồm hai thành phần chính: giả thuyết không và giả thuyết đối Quá trình suy luận sẽ giúp xác định giá trị tới hạn, giá trị thống kê và độ tin cậy của kết quả.

3.6.3 Phân tích xếp hạng theo điểm trung bình Đại lượng đo lường độ tập trung phổ biến thường gặp là Trung bình cộng và Độ lệch chuẩn - một đại lượng đo lường độ phân tán được sử dụng phổ biến nhất

Khi sử dụng thang đo Likert 5 điểm để đánh giá quan điểm của người tham gia khảo sát, các ý kiến sẽ được mã hóa thành các con số trong thang khoảng cách Để thuận tiện cho việc tính toán, hai giả định sau đây sẽ được áp dụng.

Khoảng cách giữa các đánh giá 1 và 2 tương đương với khoảng cách giữa 2 và 3, và điều này cũng áp dụng cho các khoảng cách khác Giả định rằng các khoảng cách này hoàn toàn giống nhau giữa hai nhóm khác nhau khi thực hiện so sánh Mặc dù về mặt số học, điều này có vẻ hợp lý, nhưng thực tế cho thấy rằng một điểm khác biệt giữa các lựa chọn có thể không phản ánh đúng sự tương đồng này.

Sự khác biệt giữa "Không đồng ý" và "Phần lớn không đồng ý" không chỉ đơn thuần là một điểm mà còn phụ thuộc vào cảm xúc và đánh giá cá nhân, điều này có thể làm cho hai lựa chọn này không hoàn toàn tương đương.

Tác giả đã định nghĩa các lựa chọn số trong phần hướng dẫn của thư giới thiệu trong bảng khảo sát nhằm giúp người tham gia hiểu rõ hơn về các định nghĩa này Mục tiêu là giảm thiểu sự khó hiểu và hướng dẫn suy nghĩ của người tham gia theo cùng một định nghĩa Khi một người chọn số 4, điều này sẽ góp phần vào việc thống nhất cách hiểu trong khảo sát.

“Phần lớn đồng ý”, có thể cho rằng họ có cùng cảm nhận như một người khác cũng chọn số 4 trong cùng một câu hỏi

Phân tích điểm trung bình kết hợp với kiểm định giả thuyết tham số nhằm kiểm tra các giả thuyết liên quan đến số liệu khảo sát đại diện cho các yếu tố ảnh hưởng.

3.6.4 Kiểm định giả thuyết thống kê

Kiểm định giả thuyết thống kê là một kỹ thuật trong thống kê suy luận, nhằm xác định xem dữ liệu hiện có có đủ cơ sở để ủng hộ một giả thuyết cụ thể hay không.

Nghiên cứu này cho phép đưa ra các kết luận xác suất về các tham số của quần thể thông qua việc sử dụng hai loại kiểm định khác nhau.

• Kiểm định giả thuyết về trung bình tổng thể: đánh giá tất cả các yếu tố ảnh hưởng trên toàn bộ mẫu

Kiểm định giả thuyết giúp xác định sự khác biệt giữa hai trung bình tổng thể, nhằm đánh giá xem hai nhóm đối tượng có quan điểm giống nhau hay khác nhau về một vấn đề cụ thể hay không.

Mục đích của kiểm định này là so sánh điểm trung bình của dữ liệu với một giá trị cụ thể, trong đó điểm trung bình được xác định là 3, nhằm đánh giá ảnh hưởng của các biến quan sát đến chủ đề nghiên cứu.

Kết quả khảo sát thực tế

Tác giả đã ghi lại những điểm quan trọng trong quá trình thu thập dữ liệu nhằm cung cấp cái nhìn tổng quát về các địa điểm và đối tượng đã đóng góp vào nghiên cứu trong luận văn.

Để thu thập dữ liệu khảo sát hiệu quả, bạn cần có một bảng câu hỏi rõ ràng và ngắn gọn, đồng thời phải hiểu rõ nội dung để giải thích cho người tham gia khi cần Phương thức chuyển phiếu khảo sát đến người nhận và địa điểm khảo sát cũng ảnh hưởng đến khả năng thành công trong việc lấy mẫu.

Khả năng thuyết phục và một chút may mắn là yếu tố quan trọng Chuẩn bị kỹ lưỡng một phiếu khảo sát với nhiều cách tiếp cận là điều cần thiết để đạt được kết quả tốt.

120 mẫu theo dự kiến thì thu được 94 mẫu có thể sử dụng được với tỷ lệ 78.3%

Tác giả chuẩn bị một bộ phiếu khảo sát gồm có:

• Thư giới thiệu: cho biết nội dung phiếu khảo sát tổng quát là gì

• Phiếu khảo sát dạng bản cứng

• QR (Quick Response code) và URL (Uniform Resource Locator, đường dẫn tới bản khảo sát online)

Hai cách chuẩn bị này có thể nâng cao khả năng thu thập mẫu khảo sát Sau đó, áp dụng các phương pháp khác nhau để tiếp cận đối tượng khảo sát.

Có nhiều phương pháp để gửi phiếu khảo sát đến người nhận Tác giả đã sử dụng ba cách chính để liên lạc trong quá trình thu thập dữ liệu: qua email, qua điện thoại và thực hiện khảo sát trực tiếp tại địa điểm.

Mail là một trong những phương thức liên lạc phổ biến nhất hiện nay, với hầu hết mọi người đều đã từng gửi hoặc nhận mail Tuy nhiên, hiệu quả của việc sử dụng mail thường không cao.

Tác giả đã gửi hơn 90 email đến từng người nhận một cách riêng biệt, không sử dụng Carbon Copy (CC) hay Blind Carbon Copy (BCC) vì ba lý do.

Kiểm soát đối tượng nhận email là rất quan trọng; tác giả cần lọc kỹ thông tin địa chỉ email và gửi đến từng người để đảm bảo rằng email được gửi đúng nơi mong muốn Nếu bạn đã từng gửi email nhầm địa chỉ, hãy nhớ rằng không phải lúc nào cũng có thể thu hồi email đó.

Nội dung email nên được tùy biến theo từng người nhận để tăng khả năng phản hồi Bằng cách soạn thảo một bảng câu hỏi và thư giới thiệu một cách cẩn thận, bạn có thể thu hút sự chú ý và giá trị của người nhận.

Hạn chế gửi trùng địa chỉ để tránh gây phiền toái cho người nhận, vì việc nhận thư rác ngày càng phổ biến Tác giả khuyến nghị nên gửi thông điệp một cách cá nhân hóa, vừa đảm bảo sự riêng tư tối thiểu, vừa thể hiện sự chú ý và tập trung vào người nhận.

Số lượng phản hồi qua biểu mẫu khảo sát chỉ đạt 5, tương ứng với 5.4%, cho thấy việc gửi email không còn hiệu quả trong thời đại công nghệ số hiện nay Theo thống kê, 81% email được mở và đọc trên điện thoại, tăng đáng kể so với 27% vào năm 2011 Mặc dù tỷ lệ mở email trung bình trong năm 2019 là khoảng 20.8% cho tất cả các lĩnh vực, nhưng con số 5.4% từ khảo sát cho thấy sự kém hiệu quả trong việc tiếp cận người nhận qua email.

Kinh nghiệm rút ra là nên gửi mail theo cách mà bạn có thể kiểm soát được

Gọi điện thoại là một phương pháp phổ biến để thu thập ý kiến khảo sát, tương tự như việc gửi email Tác giả đã thực hiện cuộc gọi để thu thập thông tin từ 5 đối tượng tiềm năng, bao gồm cả những cuộc trao đổi chung không nằm trong diện khảo sát trực tiếp Kết quả thu được từ các cuộc gọi này có hai hướng khác nhau.

• Có trả lời nhưng không đi đến kết quả mong muốn

Việc kiểm soát cuộc nói chuyện với người lạ gặp khó khăn do vấn đề trao đổi thông tin liên lạc Khi người nghe đang bận rộn với công việc, một cuộc điện thoại không liên quan có thể làm gián đoạn, và tùy thuộc vào tính chất cuộc gọi, họ sẽ có những phản ứng khác nhau Đôi khi, việc trả lời chỉ vì phép lịch sự cũng là một lựa chọn.

3.7.3 Lấy mẫu tại nơi khảo sát

Phương pháp này mang lại tỷ lệ phản hồi khảo sát cao nhất, bao gồm việc phát phiếu khảo sát tại chỗ và phỏng vấn, nhưng phần lớn người tham gia thường tự thực hiện khảo sát Điểm chung của các hình thức này là giao tiếp trực tiếp, mang lại nhiều ưu điểm.

• Dễ thuyết phục hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn

• Tạo tâm lý kết nối mạnh mẽ hơn

• Thuận lợi hơn giao tiếp không lời

Tuy nhiên, việc thuyết phục đối tượng tiềm năng không phải lúc nào cũng thành công, với tỷ lệ tác giả bị từ chối khảo sát dao động từ 20% đến 25% Một số lý do dẫn đến tình trạng này bao gồm:

• Đối tượng nghĩ tác giả là người giới thiệu, bán hàng, nhà báo

• Đối tượng ở những nơi như công trường sẽ khá bận rộn và không có thời gian rảnh rỗi để giúp làm khảo sát

Kết quả thu thập số liệu và xử lý sơ bộ

3.8.1 Tóm tắt nội dung chính phiếu khảo sát

Những phân tích về sau sẽ đề cập các yếu tố dưới dạng từ khóa Bảng 3-7 tóm tắt phiếu khảo sát đơn giản dưới dạng mã và từ khóa

Bảng 3-7 Tóm tắt phiếu khảo sát

# Mã Từ khóa Câu hỏi & Nhận định

1 A1 Công ty và Tổ chức

Vai trò hiện tại của công ty/ tổ chức của Anh/ Chị là gì?

2 A2 Vai trò người tham gia

Vai trò hiện tại của Anh/ Chị trong công ty/ tổ chức đó là gì?

Thời gian công tác của Anh/ Chị trong lĩnh vực phá dỡ công trình/ tái chế chất thải rắn xây dựng?

Liên quan đến 2 dự án gần đây nhất đã/ đang tham gia về quản lý vật liệu xây dựng thải, Anh/ Chị có đánh giá như thế nào?

5 A5 Đánh giá quy trình của tổ chức

Liên quan đến quy trình quản lý vật liệu xây dựng thải của tổ chức đang tham gia, Anh/ Chị có đánh giá như thế nào?

6 B1 Rào cản cát CDW Cát tái chế từ vật liệu xây dựng thải khi đem tiêu thụ còn gặp nhiều khó khăn và rào cản [20], [21]

7 B2 Quy trình QC Quy trình quản lý chất lượng cát tái chế từ vật liệu xây dựng thải chưa đạt kết quả cao

Hệ thống đánh giá công trình xanh LEED có thể giúp tăng khả năng sử dụng cát tái chế từ vật liệu xây dựng thải [10]

Nhu cầu về cát tái chế từ vật liệu xây dựng thải chưa cao [20]

10 B5 Ứng dụng cát Ứng dụng của cát tái chế từ vật liệu xây dựng thải

# Mã Từ khóa Câu hỏi & Nhận định

CDW vẫn còn hạn chế tại Việt Nam [20], [21]

Cát tái chế có khả năng tiêu thụ cao hơn tại khu đông dân cư so với khu ít dân cư [21]

12 B7 Chất lượng công trình có cát CDW

Chất lượng công trình mới không đảm bảo nếu sử dụng cát tái chế từ vật liệu xây dựng thải [20], [21]

13 B8 Sự không an toàn của cát CDW

Sử dụng cát tái chế từ vật liệu xây dựng thải tạo cảm giác “không an toàn” cho chủ thể sử dụng

Chi phí chôn lấp vật liệu xây dựng thải có ảnh hưởng lớn đến việc phân loại và tái chế loại vật liệu này

15 B10 Chi phí vận hành phân loại CDW

Chi phí vận hành phân loại tái chế vật liệu xây dựng thải cao, biến đổi thất thường và khó có thể kiểm soát [20], [21]

16 B11 Quy định liên quan phá dỡ

Việc phá dỡ công trình chưa được quy định chặt chẽ trong các Văn bản Quy phạm pháp luật tại Việt Nam

17 B12 Công tác vận chuyển CDW

Việc vận chuyển vật liệu xây dựng thải đến các nhà máy phân loại và tái chế không thuận lợi

Công tác thu gom rác, dọn vệ sinh, chuẩn bị mặt bằng trước khi phá dỡ công trình chưa tốt

19 B14 Xử lý tại công trường

Việc xử lý hoặc phân loại rác thải xây dựng tại công trường rất khó trong điều kiện tại Việt Nam

20 B15 Nhận thức các bên tham gia

Nhận thức và vai trò của các bên tham gia về phân loại và tái chế vật liệu xây dựng thải chưa cao [10]

21 B16 Kiến thức của việc phá dỡ

Việc phá dỡ công trình không liên quan nhiều đến kiến thức mà liên quan đến hậu cần

22 B17 Nhận thức của kỹ sư

Nhận thức của người kỹ sư về quản lý vật liệu xây dựng thải là rất quan trọng [10]

Chiến lược phát triển của các tổ chức trong mảng phân loại và tái chế vật liệu xây dựng thải chưa rõ ràng [10]

Sự quan tâm đến “Design for Deconstruction” chưa cao [20], [21]

# Mã Từ khóa Câu hỏi & Nhận định

Công nghệ phá dỡ ảnh hưởng nhiều đến chất lượng phá dỡ, công tác phân loại và tái chế vật liệu xây dựng thải

26 B21 Phát triển tổ chức cho CDW

Kế hoạch của TP HCM trong việc phát triển các tổ chức để phân loại và tái chế vật liệu xây dựng thải chưa đạt hiệu quả cao

27 B22 Cơ sở hạ tầng cho

Cơ sở hạ tầng dành riêng cho việc tiếp nhận xử lý vật liệu xây dựng thải chưa được đầu tư đúng mức tại thành TP HCM

Công nghệ dùng trong việc phân loại và tái chế vật liệu xây dựng thải chưa đủ đáp ứng nhu cầu của TP HCM

3.8.2 Xử lý nhóm câu hỏi phân loại

Có 3 câu hỏi phân loại ở phần A là A1 “Công ty và Tổ chức”, A2 “Vai trò người tham gia” và A3 “Thời gian công tác”

Trong số 94 mẫu thu được, hơn 70% đối tượng chọn lựa chọn “Khác” cho câu hỏi phân loại A1 về vai trò hiện tại của công ty/tổ chức Sau khi tổng hợp, các nhóm sẽ được tổ chức theo tiêu chí trạng thái tồn tại của vật liệu xây dựng thải và phân chia thành các nhóm như trình bày trong Bảng 3-8.

Bảng 3-8 Phân loại theo vai trò của tổ chức (A1)

# Mã Tên nhóm Thành phần

Tổ chức góp phần tạo ra vật liệu xây dựng thải (trước phá dỡ)

Tư vấn xây dựng Thiết kế/ Tư vấn thiết kế

Chủ đầu tư Quản lý dự án Sản xuất/ Kinh doanh vật liệu xây dựng

Tổ chức tiền xử lý vật liệu xây dựng thải (trong phá dỡ)

Tổ chức thu gom vật liệu xây dựng thải Thí nghiệm/ Kiểm định vật liệu xây dựng

Nhà thầu phá dỡ công trình

# Mã Tên nhóm Thành phần

Tổ chức xử lý vật liệu xây dựng thải (sau phá dỡ)

Tổ chức tái chế vật liệu xây dựng thải

Tổ chức sử dụng vật liệu xây dựng thải

Tổ chức giáo dục (nghiên cứu)

Các thành phần tham gia trong câu hỏi phân loại A2 cũng đa dạng như nhóm A1 Bảng 3-9 thể hiện các vai trò của những đối tượng tham gia khảo sát, được phân chia theo tiêu chí các cấp quản lý.

• Top-level management: quản lý cấp cao

• Middle-level management: quản lý cấp trung

• Lower-level management: quản lý cấp thấp

Bảng 3-9 Phân loại theo vai trò đối tượng tham gia (A2)

# Mã Tên nhóm Thành phần

Ban Giám đốc/ Ban Chỉ huy Ban Quản lý dự án Chủ cửa hàng vật liệu xây dựng

Giảng viên Nghiên cứu sinh

3 A2-3 Quản lý cấp thấp Kỹ sư/ Kỹ thuật viên

Số lượng các nhóm phân chia tương đối đồng điệu với các nhóm trong A1

Thời gian công tác (A3) của các đối tượng tham gia khảo sát (A2) từ các tổ chức (A1) được trình bày trong Bảng 3-10 Nhóm "Từ" đã có sự thay đổi đáng kể.

3 đến dưới 4 năm” gộp với nhóm “Từ 4 đến dưới 7 năm” để thành nhóm A3-2 “Từ

3 đến dưới 7 năm” Có 3 lý do:

• Đồng bộ số lượng nhóm phân loại với 2 nhóm A1, A2

• Nới rộng khoảng thời gian (khá phù hợp với thời gian làm việc của nhóm Quản lý cấp trung)

• Giảm số lượng nhóm để dễ hơn cho phân tích

Bảng 3-10 Phân loại theo thời gian công tác (A3)

Sau khi gộp, nhóm A2-3 có số lượng mẫu gộp từ nhóm “Từ 3 đến dưới 4 năm” và

“Từ 4 đến dưới 7 năm” Nhận thấy rằng số năm kinh nghiệm có xu hướng tăng dần theo các cấp quản lý từ thấp đến cao.

Phân tích chính sách

Phân tích chính sách là quá trình đánh giá và so sánh các mục tiêu, nội dung và ảnh hưởng của chính sách nhằm đưa ra những khuyến nghị dựa trên lợi ích xã hội.

3.9.2 Lý do cần phân tích chính sách

Quá trình phân tích cung cấp thông tin đầy đủ cho quyết định quản lý, tuy nhiên, do chính sách ảnh hưởng đến nhiều đối tượng trong xã hội và có tác động lâu dài đến hoạt động của tổ chức, chủ thể quản lý cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định.

Cụ thể hơn, phân tích chính sách giúp [41]:

• Thấy được những mục tiêu chính sách mà chủ thể dự kiến theo đuổi có thiết thực và khả thi hay không

• Để thấy được tính hệ thống của chính sách

Xem xét tính hệ thống của chính sách cần đánh giá ba khía cạnh chính Thứ nhất, cần xác định liệu chính sách mới ban hành có thực sự là một chính sách hiệu quả hay chỉ là biện pháp thực thi Thứ hai, cần xem xét sự phù hợp của chính sách mới với hệ thống hiện tại, cũng như khả năng xung khắc với các chính sách đã có Cuối cùng, chính sách mới cần được đánh giá về khả năng hỗ trợ hệ thống, bao gồm việc khắc phục những tồn tại hiện tại và thúc đẩy sự phát triển của hệ thống.

• Thấy được sự phù hợp giữa chính sách và môi trường

• Thấy được lòng tin của người thực hiện đối với chủ thể ban hành

Khi cả bên ban hành và bên thực hiện tin tưởng nhau, chính sách sẽ phát huy tác dụng và đạt hiểu quả tốt nhất

Phân tích cũng góp phần trả lời 5 thắc mắc sau [41]:

• Vấn đề chính sách đang cần giải pháp là gì?

• Nên chọn phương hướng hành động nào để giải quyết vấn đề đó?

• Những kết quả của việc chọn phương hướng hành động đó là gì?

• Việc đạt được những kết quả này có giúp giải quyết vấn đề đó hay không?

Nếu lựa chọn các phương hướng hành động khác, kết quả sẽ có sự khác biệt đáng kể Đối với đề án, việc phân tích chính sách có thể được thực hiện tương tự, dựa trên tính khả thi và khả năng áp dụng trong tương lai.

Tổng kết chương

Chương 3 ghi lại phương pháp nghiên cứu từ giai đoạn lên ý tưởng cho bảng câu hỏi cho đến lúc khảo sát thực tế, và kế hoạch sử dụng lượng dữ liệu thu được Chương 4, chương 5 tiếp theo phân tích các số liệu và đề xuất ý kiến theo các phương pháp đã đề cập phía trên.

PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VẬT LIỆU VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN LIÊN QUAN VẬT LIỆU XÂY DỰNG THẢI CHO TP HCM

Ngày đăng: 10/04/2023, 22:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Xây dựng. “Hướng dẫn đánh giá mức độ nguy hiểm của kết cấu nhà.” Việt Nam. TCVN 9381:2012, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn đánh giá mức độ nguy hiểm của kết cấu nhà
[2] Bộ Tài nguyên & Môi trường. Báo cáo môi trường quốc gia 2011: Chất thải rắn. NXB Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia 2011: Chất thải rắn
Nhà XB: NXB Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam
[3] K. T. Ngô et al., “Nghiên cứu hiện trạng quản lý phế thải xây dựng và phá dỡ ở Việt Nam,” Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng - ĐHXD, vol. 12, no. 7, pp. 107–116, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.", “Nghiên cứu hiện trạng quản lý phế thải xây dựng và phá dỡ ở Việt Nam,” "Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng - ĐHXD
[5] Z. Bao et al., “Implementing on-site construction waste recycling in Hong Kong: Barriers and facilitators,” Science Total Environment, vol. 747, p.141091, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.", “Implementing on-site construction waste recycling in Hong Kong: Barriers and facilitators,” "Science Total Environment
[6] C. Kibert. Sustainable Construction: A Guide on the Use of Recycled Materials. Singapore: BCA Publications Ltd., 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable Construction: A Guide on the Use of Recycled Materials
[7] Bộ Xây dựng. “Thông tư quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng.” Việt Nam. 08/2017/TT-BXD, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng
[8] The Law Revision Commision. “Environmental Public Health - The Statutes of the Republic of Singapore.” Republic of Singapore. Act 1987, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Public Health - The Statutes of the Republic of Singapore
[9] T. Noor et al., “Types, sources and management of urban wastes,” in Urban Ecology - Emerging Patterns and Social-Ecological Systems, 1 st ed., P.Verma, Ed. Elsevier, 2020, pp. 239-264 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.", “Types, sources and management of urban wastes,” in "Urban Ecology - Emerging Patterns and Social-Ecological Systems
[10] V. M. Nguyen. “Study on factors affecting construction waste management,” Master thesis, Ho Chi Minh city University of Technology, Vietnam, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Study on factors affecting construction waste management
[11] T. M. N. Châu. “Ứng dụng mô hình động học hệ thống (SD) đánh giá hiệu quả của chiến lược quản lý rác thải xây dựng,” Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng mô hình động học hệ thống (SD) đánh giá hiệu quả của chiến lược quản lý rác thải xây dựng
[12] H. V. Le et al., “Legal and Institutional Framework of Solid Waste Management in Vietnam,” Asian Journal on Energy and Environment, vol Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.", “Legal and Institutional Framework of Solid Waste Management in Vietnam,” "Asian Journal on Energy and Environment
[13] M. S. Aslam et al., “Review of construction and demolition waste management in China and USA,” Journal of Environment Management, vol.264, p. 110445, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.", “Review of construction and demolition waste management in China and USA,” "Journal of Environment Management
[14] SATREPS. “Establishment of Environmentally Sound Management of Construction and Demolition Waste and Its Wise Utilization for Environmental Pollution Control and for New Recycled ConstructionMaterials.” Internet:https://www.jst.go.jp/global/english/kadai/h2901_vietnam.html, May 28, 2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Establishment of Environmentally Sound Management of Construction and Demolition Waste and Its Wise Utilization for Environmental Pollution Control and for New Recycled Construction Materials
[15] H. Yuan and L. Shen. “Trend of the research on construction and demolition waste management,” Waste Management, vol. 31, no. 4, pp. 670–679, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trend of the research on construction and demolition waste management,” "Waste Management
[16] J. L. Hao et al., “A simulation model using system dynamic method for construction and demolition waste management in Hong Kong,” Construction Innovation, vol. 7, no. 1, pp. 7–21, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.", “A simulation model using system dynamic method for construction and demolition waste management in Hong Kong,” "Construction Innovation
[17] B. Huang et al., “Construction and demolition waste management in China through the 3R principle,” Resources, Conservation and Recycling, vol. 129, pp. 36–44, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.", “Construction and demolition waste management in China through the 3R principle,” "Resources, Conservation and Recycling
[18] S. Iodice et al., “Sustainability assessment of Construction and Demolition Waste management applied to an Italian case,” Waste Management, vol. 128, pp. 83–98, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.", “Sustainability assessment of Construction and Demolition Waste management applied to an Italian case,” "Waste Management
[19] D. H. F. Paz et al., “Management of construction and demolition waste using GIS tools,” in Advances in Construction and Demolition Waste Recycling, 1 st ed., Fernando Pacheco-Torgal, Ed. Elsevier Ltd., 2020, pp. 121 - 153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.", “Management of construction and demolition waste using GIS tools,” in "Advances in Construction and Demolition Waste Recycling
[20] P. Ghisellini et al., Advances in Construction and Demolition Waste Recycling. Elsevier Ltd., 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al., Advances in Construction and Demolition Waste Recycling
[21] L. Coudert et al., Handbook of Recycled Concrete and Demolition Waste. United Kingdom: Woodhead Publishing Ltd., 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al., Handbook of Recycled Concrete and Demolition Waste

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w