Tại Việt Nam, trong báo cáo “Khảo sát quốc gia về phòng chống mù lòa”của Bộ Y tế năm 2015, glôcôm là nguyên nhân gây giảm thị lực xếp hàng thứnăm [49] Cơn góc đóng cấp nguyên phát là một
Trang 1ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ NGỌC TIÊN
KHẢO SÁT MẠCH MÁU QUANH GAI THỊ SAU CƠN GÓC ĐÓNG CẤP
NGUYÊN PHÁT
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 2ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ NGỌC TIÊN
KHẢO SÁT MẠCH MÁU QUANH GAI THỊ SAU CƠN GÓC ĐÓNG CẤP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các sốliệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả
PHẠM THỊ NGỌC TIÊN
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan
Danh mục từ viết tắt
Danh mục thuật ngữ anh việt
Danh mục hình
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục sơ đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về giải phẫu – sinh lý 4
1.2 Góc đóng nguyên phát 11
1.3 Cơ chế tổn thương gai thị 14
1.4 Máy OCT-A 16
1.5 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.2 Đối tượng nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4 Tiến hành nghiên cứu 30
2.5 Y đức 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 34
3.2 Đặc điểm về mạch máu quanh gai thị 42
3.3 Tương quan giữa các thông số mao mạch quanh gai thị với nhãn áp và thời gian kéo dài cơn 47
Chương 4: BÀN LUẬN 49
4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 49
4.2 Đặc điểm mạch máu mao mạch quanh gai thị 60
4.3 Tương quan giữa các thông số tưới máu mao mạch quanh gai thị với nhãn áp và thời gian kéo dài cơn 66
Trang 5KẾT LUẬN 70 KIẾN NGHỊ 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH VIỆT
F Peripapillary retinal vessel flux
index
Chỉ số dòng chảy mao mạchquanh gai thị
OCT Optical coherence tomography Chụp cắt lớp cố kết quang họcOCT-A Optical coherence tomography
angiography
Chụp cắt lớp hệ mạch máu võngmạc
P Peripapillary retinal vessel
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mô học đầu thần kinh thị 4
Hình 1.2: Mạng lưới mao mạch hình tia quanh gai thị 6
Hình 1.3: Tưới máu đầu thần kinh thị 8
Hình 1.4: Các cấu trúc của góc tiền phòng 9
Hình 1.5: Phân độ góc tiền phòng theo Scheie 10
Hình 1.6: Hai cơ chế gây góc đóng 12
Hình 1.7: Nguyên lý hoạt động của OCT-A 17
Hình 1.8: Hình ảnh lớp mạch máu nông tại gai thị 19
Hình 1.9: Quá trình phân tích mạch máu quanh gai 20
Hình 2.1: Thông số tưới máu ở bốn góc phần tư 29
Hình 2.2: Máy CIRRUS HD-OCT 5000 30
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Đặc điểm nền của mẫu nghiên cứu (n = 22) 34
Bảng 3.2: Các chỉ số huyết áp của mẫu nghiên cứu (n = 22) 35
Bảng 3.3: Nhãn áp trung bình (mmHg) của các nhóm (n = 22) 39
Bảng 3.4: Chiều dày lớp sợi thần kinh (µm) của mẫu nghiên cứu 41
Bảng 3.5: Mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thị (%) giữa hai nhóm 42
Bảng 3.6: Chỉ số dòng chảy mao mạch quanh gai thị giữa hai nhóm 44
Bảng 3.7: Tương quan giữa các thông số mao mạch quanh gai thị với nhãn áp 47
Bảng 3.8: Tương quan giữa các thông số mao mạch quanh gai thị với thời gian kéo dài cơn 48
Bảng 4.1: Độ tuổi (năm) trong các nghiên cứu 50
Bảng 4.2: Tỉ lệ giới tính trong các nghiên cứu 51
Bảng 4.3: Nhãn áp (mmHg) ở thời điểm nhập viện trong các nghiên cứu 52
Bảng 4.4: Nhãn áp (mmHg) khi chụp OCT-A trong các nghiên cứu 53
Bảng 4.5: Các thông số liên quan đến tưới máu nhãn cầu (mmHg) 55
Bảng 4.6: Chiều dày lớp sợi thần kinh trung bình (µm) trong các nghiên cứu 57
Bảng 4.7: So sánh mật độ tưới máu mao mạch quanh gai trung bình (%) 61
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Số thuốc hạ nhãn áp bệnh nhân đã dùng trước nhập viện 36
Biểu đồ 3.2: Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc hạ nhãn áp bằng dung dịch ưu trương đường toàn thân khi nhập viện 37
Biểu đồ 3.3: Thị lực của các nhóm trong mẫu nghiên cứu 38
Biểu đồ 3.4: Áp lực tưới máu nhãn cầu trung bình của hai nhóm 40
Biểu đồ 3.5: Chiều dày lớp sợi thần kinh ở bốn góc phần tư 41
Biểu đồ 3.6: Mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thị ở bốn góc phần tư 43
Biểu đồ 3.7: Chỉ số dòng chảy mao mạch quanh gai thị ở bốn góc phần tư 45
Biểu đồ 3.8: Giá trị các thông số mạch máu quanh gai theo từng góc phần tư 46
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Các bước thực hiện nghiên cứu 31
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Glôcôm là bệnh mắt gây tổn thương thần kinh thị tiến triển dẫn đến mùlòa nếu không được phát hiện và điều trị đúng mức Theo một nghiên cứu năm
2014 của tác giả Tham và cộng sự, có khoảng hơn 23 triệu người trên thế giới
bị glôcôm góc đóng nguyên phát (PACG) ở năm 2020, ước tính con số này tănglên khoảng hơn 32 triệu người vào năm 2040 [45] Trong các trường hợp mấtthị lực do bệnh glôcôm trên toàn thế giới, PACG chiếm gần một nửa nguyênnhân, với tỉ lệ xuất hiện ở người da vàng cao hơn so với người da trắng hayngười da đen và 66 – 75% tiến triển tự nhiên của bệnh là không triệu chứng[34] Tại Việt Nam, trong báo cáo “Khảo sát quốc gia về phòng chống mù lòa”của Bộ Y tế năm 2015, glôcôm là nguyên nhân gây giảm thị lực xếp hàng thứnăm [49]
Cơn góc đóng cấp nguyên phát là một tình trạng cấp cứu nhãn khoa thuộcphân nhóm glôcôm góc đóng nguyên phát Khởi phát đột ngột bởi sự đóng toàn
bộ 360o của góc tiền phòng, cơn góc đóng cấp nguyên phát gây tăng nhãn áp
có triệu chứng trên lâm sàng, làm thị lực giảm nhanh, thường không tự giới hạn
và cần được điều trị càng sớm càng tốt Theo tác giả David và cộng sự, việc trìhoãn khám bệnh và khoảng thời gian kiểm soát được bệnh dài gây ra những tácđộng xấu đến người bệnh như người bệnh cần sử dụng thuốc hạ nhãn áp trongthời gian dài, có những tổn thương thực thể của glôcôm và có thể cần đến phẫuthuật glôcôm về sau [36] Qua nghiên cứu, các tác giả Kass [17] và Satilmis[39] đã đưa ra kết luận nhãn áp tăng gây tổn thương cơ học trực tiếp đến đầuthị thần kinh Tuy nhiên, do có những bệnh nhân có nhãn áp trong giới hạn bìnhthường nhưng vẫn có tổn thương thị trường tiến triển, nên giả thuyết giảm tướimáu võng mạc góp phần vào quá trình sinh bệnh của glôcôm được đặt ra
Trang 13Hiện nay, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật đem đến cho chúng ta nhiềuphương pháp để khảo sát hệ mạch máu võng mạc, trong đó chụp cắt lớp hệmạch máu võng mạc (OCT-A) là một khảo sát nhanh chóng, khách quan, khôngxâm lấn và cung cấp một cách chính xác những thay đổi động học của vi tuầnhoàn võng mạc Bằng công cụ OCT-A, tác giả Penteado và cộng sự vào năm
2018 đã ghi nhận mật độ tưới máu ở vùng hoàng điểm trên bệnh nhân glôcômgiai đoạn nhẹ và giai đoạn trung bình-nặng giảm có ý nghĩa so với nhóm mắtbình thường và mắt nghi ngờ glôcôm; đồng thời sự giảm mật độ này có liênquan tương ứng tới mất thị trường trung tâm [32] Cũng vào năm này, tác giả
Li Zhu và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu trên bệnh nhân PACG và ghi nhậnđược sự giảm mật độ tưới máu quanh gai thị và vùng hoàng điểm trên mắtPACG so với mắt bình thường, trong đó sự giảm mật độ ở quanh gai thị nhiềuhơn so với vùng hoàng điểm Đồng thời, tác giả cũng ghi nhận mật độ tưới máuquanh gai có liên quan đến nhãn áp Ở nhóm bệnh nhân PACG kiểm soát nhãn
áp kém (nhãn áp > 21 mmHg), mật độ tưới máu và độ dày lớp sợi thần kinhthấp hơn so với nhóm kiểm soát nhãn áp tốt [53]
Như vậy, liệu rằng trong thể bệnh góc đóng cấp nguyên phát, mật độ tướimáu quanh gai thị có giảm không? Và có mối liên quan gì giữa mật độ tướimáu với nhãn áp và thời gian kéo dài cơn của bệnh nhân góc đóng cấp nguyên
phát không? Để trả lời hai vấn đề trên, nghiên cứu “Khảo sát mạch máu quanh
gai thị sau cơn góc đóng cấp nguyên phát” được thực hiện.
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đặc điểm mạch máu quanh gai thị trên OCT-A
2 So sánh đặc điểm mạch máu quanh gai thị giữa mắt đã lên cơn với mắt chưalên cơn tăng áp cấp
3 Xác định mối tương quan giữa đặc điểm mạch máu quanh gai thị với nhãn
áp và thời gian kéo dài cơn
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về giải phẫu – sinh lý
1.1.1 Gai thị [38]
Bắt đầu từ võng mạc, 1,2 triệu sợi trục của tế bào hạch tập hợp lại tại phíasau của nhãn cầu tạo thành thần kinh thị Gai thị là phần thần kinh thị đi trongthành nhãn cầu, tính từ bề mặt của đĩa thị đến bờ phía sau của củng mạc, có độdài khoảng 1 mm Ở đoạn này, các sợi trục thần kinh chưa được myelin hóa tậphợp thành từng chùm và được bao bọc bởi mô đệm khi xuyên qua củng mạc.Trên mô học, gai thị gồm 4 lớp theo thứ tự từ trước ra sau: lớp sợi thần kinhvõng mạc (RNFL), lớp trước lá sàng, lớp lá sàng và lớp sau lá sàng Trong đó,lớp sợi thần kinh là lớp có thể được quan sát trực tiếp bằng máy chụp cắt lớp
cố kết quang học (OCT)
Hình 1.1: Mô học đầu thần kinh thị
Nguồn: Salazar J và cộng sự (2018)
Trang 161.1.1.1 Lớp sợi thần kinh võng mạc (RNFL)
Lớp sợi thần kinh võng mạc là sự hội tụ của các sợi trục tế bào hạch tạiđĩa thị Để đến được đĩa thị, các sợi trục bề mặt tuân theo một trật tự sắp xếpnhất định để không ảnh hưởng đến vùng hoàng điểm Những sợi trục có nguồngốc từ phía mũi, phía trên và phía dưới do không có liên quan đến hoàng điểmnên đi thẳng trực tiếp đến đĩa thị Ở phía thái dương, nơi có sự tồn tại của hoàngđiểm, các sợi trục xuất phát từ phía mũi của vùng hoàng điểm đi trực tiếp đếnđĩa thị, tạo ra bó gai thị - hoàng điểm Còn lại, các sợi trục ở phía thái dươngcủa vùng hoàng điểm đi lên trên và dưới thành các vòng cung để đến đĩa thị
Do đó, tại đĩa thị, phía trên và phía dưới tập trung nhiều sợi trục hơn so với phíamũi và phía thái dương
Ở vùng này, sợi trục được bao bọc bởi các tế bào hình sao của mô thầnkinh đệm Những tế bào hình sao có thân mỏng và nhiều tua dài chạy song songvới sợi trục, có vai trò trong dinh dưỡng và duy trì sự ổn định của sợi trục.Những tế bào hình sao có thân dày và tua ngắn chịu trách nhiệm trong việcphân tách và bảo vệ sợi trục Do sự tương quan chặt chẽ giữa tế bào hình sao
và sợi trục, sợi trục sẽ bị tổn thương gây mất chức năng khi giảm tưới máu maomạch cho tế bào hình sao hoặc khi áp lực nội nhãn tăng tác động lực ép lên lớp
Trang 17thái dương trên và thái dương dưới ra ngoài 4 – 5 mm so với vị trí đầu gai thịrồi dừng lại ở gần hoàng điểm Mạng lưới này có đặc điểm đặc trưng dễ nhậnbiết là những mạch máu dài, nằm song song với nhau và có kích thước đồngđều trong lớp sợi thần kinh.
Hình 1.2: Mạng lưới mao mạch hình tia quanh gai thị
Nguồn: Flammer J và cộng sự (2002) [14]
Năm 1967, tác giả Henkind P đã chỉ ra rằng có sự liên quan giữa tổnthương mạng lưới mao mạch hình tia quanh gai thị với sự hình thành ám điểmBjerrum [15] Năm 1968, tác giả Kornzweig và cộng sự quan sát trên mô giảiphẫu bệnh của những mắt glôcôm thấy có teo lớp mao mạch hình tia này Nhómtác giả lý giải rằng lớp mao mạch hình tia quanh gai nằm nông nhất so với cáclớp mạch máu khác, với đường đi của mạch máu dài hơn và ít thông nối vớinhau nên không tạo thành mạng lưới như các mao mạch khác, do đó nguồn cấp
Trang 18máu hạn chế hơn các mao mạch khác Khi áp lực nội nhãn tăng so với bìnhthường, đặc biệt là trong một thời gian dài, sự đổ đầy của mao mạch hình tiaquanh gai thị sẽ bị ảnh hưởng dẫn đến tự thoái triển dần dần và cuối cùng là teolớp mao mạch này [19].
1.1.1.2 Lớp trước lá sàng
Lớp trước lá sàng là một phần của củng mạc Tại đây, các sợi trục thayđổi quỹ đạo, cong một góc 90o về phía giao thoa thị Lớp trước lá sàng có cấutrúc tương đối đàn hồi so với củng mạc, nhờ vậy nó góp phần bảo vệ các sợitrục khỏi tổn thương do chèn ép Các tế bào hình sao ở vùng này đặc biệt quantrọng trong bảo vệ và nâng đỡ sợi trục tại vị trí gập góc, đồng thời sắp xếp thànhcác ống thần kinh đệm ăn khớp với các lỗ lá sàng phía sau
Mạch máu nuôi dưỡng lớp trước lá sàng bắt nguồn từ hệ thống mạch máu
mi sau phân thành các nhánh mạch máu hắc mạc quanh gai thị, đôi khi là từnhững nhánh hướng tâm của vòng động mạch Zinn – Haller
1.1.1.3 Lớp lá sàng
Lá sàng là một dải mô liên kết chắc chứa nhiều lỗ thủng Lá sàng băng quachỗ hở của củng mạc ở cực sau nhãn cầu Thành phần cấu tạo của lá sàng gồmelastin, collagen loại I, III, IV, VI, laminin và heparan sulphate proteoglycan.Những thành phần này giúp lá sàng có khả năng hấp thu chấn động và co giãndưới một áp lực nhất định Ở người bình thường, lá sàng có trung bình khoảng
550 – 650 lỗ thủng cho sợi trục đi qua với đường kính các lỗ thủng dao động
từ 10 đến 100 µm Trong bốn góc phần tư, góc phần tư phía trên và phía dưới
có các lỗ thủng lớn hơn, ứng với số lượng sợi trục của lớp sợi thần kinh nhiềuhơn
Trang 19Hình 1.3: Tưới máu đầu thần kinh thị
Nguồn: Flammer J và cộng sự (2002) [14]
Lá sàng được cấp máu từ các nhánh hướng tâm của các động mạch mi saungắn hoặc từ vòng động mạch Zinn – Haller Động mạch mi sau là nhánh củađộng mạch mắt và đi vào nhãn cầu ở các phía trên, phía giữa hoặc bên cạnh sovới thần kinh thị Số lượng và vị trí đi vào nhãn cầu của động mạch mi sau ởmỗi người mỗi khác Các động mạch chia thành nhiều nhánh trước khi đi vàonhãn cầu, mỗi động mạch chịu trách nhiệm cấp máu cho một vùng võng mạcnhất định và kết thúc bằng các động mạch tận Do đó, tại vị trí giao thoa giữacác vùng, võng mạc dễ bị thiếu máu khi giảm tưới máu của một hoặc nhiềuđộng mạch tận Nếu một người có gai thị hoàn toàn nằm trọn trong vùng giaothoa, gai thị đó sẽ đặc biệt dễ bị thiếu máu Hai nhánh của động mạch mi sau làđộng mạch mi sau ngắn cạnh thần kinh thị đi vào nhãn cầu và bao quanh gaithị tạo thành cung động mạch Zinn – Haller, cấp máu cho hắc mạc quanh gaithị, lớp trước lá sàng và lá sàng
Trang 201.1.1.4 Lớp sau lá sàng
Lớp sau lá sàng nằm ngay sau nhãn cầu, là vị trí các bó sợi trục bắt đầuđược myelin hóa Tại đây, thần kinh thị được bao bọc bởi các lớp của màngnão, nên được cấp máu bởi các nhánh mạch máu từ màng nuôi và một phần từđộng mạch mi sau ngắn
Trang 21có độ rộng khoảng 750 µm kéo dài từ cựa đến đường Schwalbe và che phủ mặttrong của kênh Schlemm Khi sắc tố lắng đọng trên lưới bè, cấu trúc này sẽ đậmmàu hơn và dễ quan sát hơn khi soi góc tiền phòng Đường Schwalbe là giớihạn trước của góc tiền phòng và là vị trí kết thúc của màng Descemet Thỉnhthoảng đường Schwalbe có thể có sắc tố nhẹ.
Năm 1957, tác giả Scheie đề xuất một hệ thống phân loại sử dụng số La
Mã để mô tả độ mở góc tiền phòng dựa trên cấu trúc thấy được khi soi góc tiềnphòng [40] Theo đó, số càng lớn thì góc càng hẹp Thuật ngữ “mở” mô tả mộtgóc tiền phòng thấy được đầy đủ 4 thành phần khi soi góc Đồng thời, Scheiecũng mô tả sắc tố góc trên thang điểm từ 0 là không có sắc tố đến IV là có rấtnhiều sắc tố
Hình 1.5: Phân độ góc tiền phòng theo Scheiea: đường schwalbe, b: lưới bè, c: cựa củng mạc, d: dải thể mi, e: mống mắt
Nguồn: Scheie H G (1957) [40]
Trang 22Thủy dịch do thể mi tiết ra, vào hậu phòng, ra tiền phòng bằng lỗ đồng tử,rồi thoát ra ngoài theo góc tiền phòng Trước khi vào ống Schlemm, thủy dịchphải thấm qua vùng bè Bè củng giác mạc đảm bảo 83 – 96 % lưu lượng thoátthủy dịch Bằng hiện tượng không bào hóa của tế bào nội mô, thủy dịch vàoống Schlemm, rồi thoát ra ngoài bằng các ống tụ tập [42] Đây là đường đi
“thông thường” của thủy dịch Nếu tiền phòng nông, mống mắt ngoại vi có thểtiếp xúc với giác mạc làm tắc nghẽn đường thoát thông thường này Lúc đó,thủy dịch tích tụ lại trong nội nhãn làm nhãn áp tăng
1.2.1 Cơ chế bệnh sinh của góc đóng nguyên phát
Cơ chế bệnh sinh chính của góc đóng nguyên phát có thể chia ra thành hainhóm là cơ chế có nghẽn đồng tử (hình 1.6A) và cơ chế không có nghẽn đồng
tử (hình 1.6B)
Nghẽn đồng tử là nguyên nhân gây góc đóng thường gặp nhất Trong tìnhtrạng nghẽn đồng tử, sự lưu thông của thủy dịch từ hậu phòng ra tiền phòng bịchặn lại ở diện đồng tử, tạo ra chênh lệch áp lực giữa hậu phòng và tiền phòng,làm mống mắt chu biên bị đẩy ra trước che vùng lưới bè
Trang 23Hình 1.6: Hai cơ chế gây góc đóng
Nguồn: Lê Minh Thông, “Nhãn khoa lâm sàng” (2010) [3]
Nguy cơ nghẽn đồng tử cao nhất khi đồng tử giãn lưng chừng, là vị trí màmống mắt và thủy tinh thể tiếp xúc nhiều nhất Ở những mắt còn thủy tinh thể,
sự thay đổi của thủy tinh thể theo tuổi đóng vai trò quan trọng trong sự hìnhthành nghẽn đồng tử Khi mặt trước của thủy tinh thể ở trước so với mặt phẳngcủa cựa củng mạc, nguy cơ góc đóng tăng lên Các yếu tố nguy cơ khác củagóc đóng nguyên phát gồm có mống mắt dày, thể tích mống mắt lớn và tiềnphòng nhỏ [44]
Cơ chế góc đóng không có nghẽn đồng tử thường gặp nhất là do mốngmắt phẳng, do mống bám ra phía trước cựa củng mạc hơn bình thường, mốngmắt chu biên dày, hoặc do thể mi ngả trước Trong những tình trạng này, phầnmống mắt chu biên là vị trí che lưới bè gây đóng góc
1.2.2 Yếu tố nguy cơ góc đóng
Tuổi: Tỉ lệ góc đóng tăng theo mỗi thập kỉ sau tuổi 40, do sự thay đổi đặcđiểm độ dày và mặt phẳng của thủy tinh thể theo tuổi Góc đóng thường ít
Trang 24gặp ở người dưới 40 tuổi, và nếu có thì thường liên quan đến mống mắtphẳng hơn là nghẽn đồng tử [35].
Giới: Nữ giới thường gặp hơn nam giới, do nữ giới có xu hướng có tiềnphòng nhỏ hơn và trục nhãn cầu ngắn hơn nam giới
Chủng tộc: Chủng tộc châu Á có tỉ lệ mắc glôcôm góc đóng cao hơn cácchủng tộc khác, với 1,09% số người châu Á độ tuổi từ 40 – 80 tuổi [45]
Cấu trúc nhãn cầu: Các yếu tố quan trọng nhất làm tăng nguy cơ góc đóng
là tiền phòng nông, thủy tinh thể dày, bán kính cong mặt trước thủy tinh thểtăng, trục nhãn cầu ngắn, đường kính và bán kính cong của giác mạc nhỏ
Tiền căn gia đình: Tỉ lệ góc đóng nguyên phát tăng cao ở những người thântrực hệ với một bệnh nhân góc đóng Tỉ lệ này là từ 1% đến 12% ở người
da trắng, trong khi nghiên cứu trên dân số Trung Quốc cho thấy nguy cơnày tăng lên gấp 6 lần ở những người có tiền căn gia đình [37]
1.2.3 Phân loại góc đóng nguyên phát
Theo Hiệp hội Glôcôm Quốc tế (Societies Association of InternationalGlaucoma - AGIS) [51]:
Nghi ngờ góc đóng nguyên phát (Primary angle closure suspect - PACS):Tiếp xúc bè – mống ở 3 góc phần tư hoặc hơn, nhưng nhãn áp, gai thị vàthị trường bình thường, không có bằng chứng của dính góc chu biên
Góc đóng nguyên phát (Primary angle closure - PAC): Tiếp xúc bè – mống
ở 3 góc phần tư hoặc hơn, kèm theo tăng nhãn áp và/hoặc dính góc chubiên, gai thị và thị trường bình thường
Glôcôm góc đóng nguyên phát (Primary angle closure glaucoma - PACG):Tiếp xúc bè – mống ở 3 góc phần tư hoặc hơn, kèm theo bằng chứng tổnthương gai thị và thị trường do glôcôm
Trang 25Trong quá trình diễn tiến từ PACS đến PACG, nếu tiếp xúc bè – mốngdiễn ra cùng lúc ở 360o sẽ đưa đến tình trạng tắc nghẽn dẫn lưu thủy dịch hoàntoàn, gây tăng nhãn áp có triệu chứng lâm sàng, gọi là cơn góc đóng cấp nguyênphát.
Cơn góc đóng cấp nguyên phát được xác định khi có đồng thời các tìnhtrạng sau:
≥ 2 triệu chứng cơ năng: nhìn mờ, đau mắt, đau đầu, buồn nôn, nôn
≥ 3 triệu chứng thực thể: phù biểu mô giác mạc, cương tụ kết mạc, tiềnphòng nông, đồng tử giãn lưng chừng giảm phản xạ
Nhãn áp ≥ 21 mmHg
1.3 Cơ chế tổn thương gai thị
Hai giả thuyết chính về cơ chế tổn thương gai thị trong glôcôm là giảthuyết cơ học và giả thuyết tuần hoàn
1.3.1 Thuyết cơ học
Để các sợi trục của tế bào hạch phát triển và duy trì cấu trúc, cần có sự dichuyển của các hạt trong sợi trục, gọi là dòng bào tương dọc sợi trục Dòng bàotương này di chuyển theo hai hướng: thuận chiều từ thân tế bào đến sợi trục rồiđến xinap thần kinh và ngược chiều từ sợi trục về thân tế bào Nếu dòng bàotương bị gián đoạn, sợi trục sẽ trải qua một loạt các tổn thương dẫn đến phù nề
và hoại tử sợi trục [25]
Khi nhãn áp tăng, vị trí yếu nhất của thành nhãn cầu chịu nhiều tác độngnhất là khu vực lá sàng Do lực tác động, lá sàng bị kéo giãn cấu trúc và dầnlõm xuống Theo đó, sợi trục đi xuyên qua lá sàng cũng bị tổn thương trực tiếp
do gián đoạn dòng bào tương, hoặc gián tiếp do sự tái cấu trúc mô Về lâu dài,viền thần kinh quanh gai mỏng đi và lõm gai thị xuất hiện [14]
Trang 26Vai trò của nhãn áp, ngay cả trên bệnh nhân glôcôm nhãn áp bình thường,được củng cố thêm qua nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng AGIS tiến hành vàonăm 2000 Theo đó, việc giảm nhãn áp giúp làm giảm tiến triển của tổn thươngthị trường trên những bệnh nhân glôcôm góc mở không đáp ứng hạ nhãn ápbằng thuốc đơn thuần [16] Tuy vậy, không phải tất cả các bệnh nhân glôcômđều có nhãn áp tăng và việc hạ nhãn áp không phải luôn ngăn chặn được tiếntriển của bệnh.
1.3.2 Thuyết tuần hoàn
Sự chênh lệch áp lực giữa động mạch và tĩnh mạch trong các mạch máutại nhãn cầu gọi là áp lực tưới máu nhãn cầu Theo thuyết tuần hoàn, tổn thương
ở gai thị là do sự giảm tưới máu đầu thị thần kinh thông qua giảm áp lực tướimáu nhãn cầu Hậu quả này có thể là từ giảm dòng máu đến nhãn cầu (khi tănghuyết áp [46], co mạch [9]) hoặc từ tăng trở kháng tại chỗ (như tăng nhãn áp[43]) Kể cả ở bệnh nhân đái tháo đường, tình trạng rối loạn chức năng nội mômạch máu gây giảm tưới máu võng mạc cũng có thể làm tăng nguy cơ mắcglôcôm [26], dù vấn đề này đang còn gây tranh cãi
Tuần hoàn võng mạc được đặc trưng bởi lưu lượng dòng chảy thấp và nhucầu oxy mô cao, đồng thời có khả năng tự điều chỉnh, nghĩa là trong một phạm
vi nhất định lưu lượng không phụ thuộc vào áp suất tưới máu Trong điều kiệnbình thường, sự tự điều chỉnh phụ thuộc vào các cơ chế chuyển hóa, cơ học,thần kinh và hóc môn [48] Khi sự thay đổi vượt ngưỡng khả năng tự điều chỉnhnhư trong tình trạng giảm tưới máu nhãn cầu nặng và kéo dài, thiếu oxy mô dẫnđến sự tích tụ các gốc oxy hóa tự do, trong đó có metalloproteinase (MMP) vàendothelin-1 Đây là những chất chỉ điểm sinh học xuất hiện trong quá trình sựchết và tái tạo mô của tế bào hạch võng mạc Năm 2005, tác giả Moenkemann
H và cộng sự đã chứng minh nồng độ MMP-9 tăng lên trong máu của bệnh
Trang 27nhân glôcôm [27], còn tác giả Emre M và cộng sự quan sát thấy sự tăng nhẹcủa endothelin-1 [11].
1.4 Máy OCT-A
1.4.1 Nguyên lý hoạt động máy OCT-A
OCT là tên viết tắt tiếng Anh của từ Optical Coherence Tomography, hiểusang tiếng Việt là chụp cắt lớp cố kết quang học Về nguyên lý hoạt động, OCT
có đặc tính phản xạ mô phân giải theo chiều sâu, đạt được bằng cách phát hiệntín hiệu giao thoa của ánh sáng phản xạ từ gương tham chiếu với ánh sáng tán
xạ ngược từ các cấu trúc bên trong nhãn cầu Vị trí của gương tham chiếu thayđổi có thể phát hiện được cường độ ánh sáng tán xạ ngược khác nhau của cáccấu trúc có độ sâu khác nhau của võng mạc Một chuỗi các echo phát ra từ các
độ sâu khác nhau tạo thành một tập hợp theo dạng trục (lát cắt A) và dạng ngang(lát cắt B) sẽ được tập hợp bằng cách quét chùm OCT theo hướng ngang Cáctín hiệu được mã hóa theo thời gian và việc thu tín hiệu theo phương pháp nàyđược gọi là OCT miền thời gian (TD-OCT) Sau này khi kĩ thuật phát triển hơn,các máy OCT phát hiện tín hiệu tán xạ ngược bằng một nguồn sáng băng thôngrộng, máy ảnh có linh kiện tích điện kép và máy đo quang phổ (đối với OCTmiền quang phổ SD-OCT) hoặc bằng cách quét qua một loạt các tần số quanghọc (đối với OCT nguồn quét SS-OCT) Máy SD-OCT thường sử dụng ánhsáng có bước sóng 800 – 900nm và có tốc độ quét từ 40 – 100kHz, trong khimáy SS-OCT thường sử dụng ánh sáng bước sóng trên 1000nm và có tốc độquét ≥ 100kHz Trong cả hai loại máy này, thông tin của tín hiệu nhiễu từ tất
cả các độ sâu tại một vị trí nhất định có thể được thu thập mà không cần phải
di chuyển vị trí của gương tham chiếu Sau đó, thông tin này được chuyển đổithành biểu đồ cường độ bằng phép biến đổi Fourier – đại diện cho cấu hìnhphản xạ độ sâu của mô Việc sử dụng nguồn sáng băng thông rộng giúp nâng
Trang 28độ phân giải trục từ 10mm lên 2mm và việc sử dụng máy đo quang phổ hoặcnguồn quét giúp cải thiện tốc độ thu nhận hình ảnh từ 400 lát cắt A/giây lên26.000 – 100.000 lát cắt A/giây [10] Với những cải tiến về tốc độ quét và độphân giải này, hình ảnh ba chiều của các cấu trúc sâu trong võng mạc dần trởnên khả thi hơn và dễ dàng hơn với các máy OCT thế hệ mới Do đó, OCT càngngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá định lượng và định tínhcác cấu trúc giải phẫu của nhãn cầu, trở thành một công cụ chẩn đoán hình ảnhkhông thể thiếu trong thực hành lâm sàng hàng ngày.
OCT-A là kĩ thuật mới áp dụng cơ chế của OCT cho phép người dùngquan sát mạch máu về giải phẫu và chức năng Nguyên tắc của máy OCT-A làdùng sự biến đổi của tín hiệu OCT từ các phần tử chuyển động (ví dụ hồng cầu)làm nổi bật sự tương phản với cấu trúc tĩnh xung quanh Từ đó, hệ thống giúpquan sát được các mạch máu võng mạc [7] Hình 1.7 dưới đây thể hiện hai tínhiệu tán xạ ngược từ cấu trúc tĩnh và cấu trúc động là hồng cầu trong lòng mạch
Hình 1.7: Nguyên lý hoạt động của OCT-A
Nguồn: Chen C L.và cộng sự (2017) [7]
Tín hiệu từ mô tĩnh vẫn ổn định, trong khi tín hiệu từ mạch máu thay đổitheo thời gian do có các tế bào hồng cầu di chuyển liên tục Để phân biệt giữa
Trang 29mô tĩnh với mô có chuyển động, máy OCT-A sẽ quét nhiều lần tại cùng một vịtrí Những thay đổi tín hiệu theo thời gian trong các lần quét tiếp theo do sự dichuyển của hồng cầu tạo ra một kiểu chất cản quang, cho phép chúng ta quansát được mạch máu.
Theo lí thuyết này, bất kì hạt chuyển động nào cũng có thể tạo ra tín hiệucản quang Tuy nhiên, chuyển động trong mô võng mạc chủ yếu là từ hồng cầu.Quan trọng hơn là, vùng không tưới máu trên OCT-A không nhất thiết là vùngkhông có mạch máu, mà cũng có thể là vùng có mạch máu nhưng tại thời điểmquan sát, máy không thu nhận được tín hiệu di chuyển của hồng cầu Những tínhiệu này sau đó được chuyển đổi bằng phép biến đổi Fourier và trở thành tínhiệu OCT chứa thông tin về cường độ và pha, rồi được phân tích bằng nhữngthuật toán OCT-A khác nhau Các thuật toán này gồm 3 nhóm: OCT-A dựa trêntín hiệu pha, OCT-A dựa trên tín hiệu cường độ, và OCT-A dựa trên tín hiệuhỗn hợp Mỗi dòng máy OCT-A của các hãng sản xuất sử dụng một thuật toánkhác nhau
1.4.2 Các thông số máy
Hệ thống máy OCT-A được sử dụng trong nghiên cứu này là AngioPlex™(Carl Zeiss Meditec tại Dublin, Califonia, Hoa Kỳ) thuộc dòng máy CIRRUSHD-OCT 5000 Thiết bị này hoạt động ở bước sóng 840nm và tốc độ 68.000lát cắt A/giây Tất cả các lần quét được phân tích bằng phần mềm Cirrus OCT-
A (phần mềm AngioPlex, phiên bản 10.0; Carl Zeiss Meditec) với thuật toánOCT-A dựa trên tín hiệu hỗn hợp là thuật toán chụp vi mô quang học (OMAG).Nhờ việc sử dụng tín hiệu OCT hỗn hợp chứa thông tin về cả cường độ vàpha, thuật toán OMAG khắc phục được các nhược điểm của các thuật toán chỉ
sử dụng thông tin hoặc về cường độ hoặc về pha Do đó, OMAG có độ nhạycao hơn trong việc phát hiện các mao mạch võng mạc, hắc mạc và hệ mao mạch
Trang 30hình tia quanh gai thị [5] Công nghệ FastTrac giúp theo dõi và điều chỉnhchuyển động mắt, đảm bảo thu thập dữ liệu nhanh hơn, tạo sự thoải mái chobệnh nhân trong quá trình chụp, đặc biệt trên những bệnh nhân khô mắt hoặcđịnh thị kém [20].
Về mặt tưới máu, võng mạc được chia thành 3 phân lớp nhỏ: lớp mạchmáu nông, lớp mạch máu sâu và lớp vô mạch Hệ mao mạch hình tia quanh gaithị thuộc lớp mạch máu nông, là lớp được đánh giá đến trong nghiên cứu này
Hình 1.8: Hình ảnh lớp mạch máu nông tại gai thịĐường nét đứt màu tím: lớp mạch máu nông
Nguồn: Carl Zeiss Meditec (2018) [24]
Trong phần mềm AngioPlex, lớp mạch máu nông có giới hạn từ màng giớihạn trong đến gần lớp đám rối trong Trong đó, vị trí gần lớp đám rối trongđược ước tính dựa trên công thức:
Trang 31ZĐRT = ZMGHT + 70% × (TMGHT-ĐRN) [24]
Với:
ZĐRT: vị trí gần lớp đám rối trong
ZMGHT: vị trí màng giới hạn trong
TMGHT-ĐRN: độ dày giữa màng giới hạn trong và lớp đám rối ngoài
Hệ mao mạch hình tia quanh gai thị được đo đạc trong một hình vành khăntạo bởi hai vòng tròn đồng tâm tại gai thị có đường kính 2mm và 4,5mm Kếtquả được tính toán dựa trên phần mềm định lượng tự động và cho giá trị là 2thông số: mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thị (peripapillary retinal vesselperfusion density – kí hiệu P) và chỉ số dòng chảy mao mạch quanh gai thị(peripapillary retinal vessel flux index – kí hiệu F) Mỗi thông số gồm giá trị ởbốn góc phần tư tương ứng với bốn phía trên, dưới, mũi, thái dương và giá trịtrung bình
Hình 1.9: Quá trình phân tích mạch máu quanh gai
a: mạch máu quanh gai từ màng giới hạn trong đến lớp sợi thần kinh, b: hìnhảnh nhị phân mạch máu: các mạch máu lớn được loại bỏ, c: mật độ tưới máu
và chỉ số dòng chảy theo từng góc phần tư
Nguồn: Carl Zeiss Meditec, 2018 [24]
Trang 32Mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thị là toàn bộ vùng chứa mạch máuđược tưới máu trên một đơn vị diện tích trong vùng được đo đạc, tính bằng đơn
vị phần trăm (%) Chỉ số dòng chảy mao mạch quanh gai thị trung bình dựatrên độ mạnh của tín hiệu dòng chảy, đo bằng mức độ sáng của tín hiệu, tín hiệunày được chuẩn hóa từ 0 đến 1, giá trị này không có đơn vị
1.5 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.5.1 Trên thế giới
Bằng cách sử dụng OCT-A, nhiều tác giả trên thế giới đã và đang tiếnhành nghiên cứu đặc điểm mạch máu trên các đối tượng bệnh nhân glôcômkhác nhau Vào năm 2018, tác giả Penteado và cộng sự đã chứng minh mật độtưới máu ở vùng hoàng điểm trên bệnh nhân glôcôm giai đoạn nhẹ và giai đoạntrung bình-nặng giảm có ý nghĩa so với nhóm mắt bình thường và mắt nghi ngờglôcôm [32]
Trên bệnh nhân PACG vào năm 2018, tác giả Li Zhu và cộng sự cho thấy
có sự giảm mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thị và vùng hoàng điểm trênmắt PACG so với mắt bình thường, trong đó mật độ tưới máu ở quanh gai thịgiảm nhiều hơn so với ở vùng hoàng điểm Ở nhóm bệnh nhân PACG kiểmsoát nhãn áp kém (nhãn áp > 21 mmHg), mật độ tưới máu mao mạch quanh gaithị và độ dày lớp sợi thần kinh (RNFL) thấp hơn so với nhóm kiểm soát nhãn
áp tốt (nhãn áp < 21 mmHg) [53]
Ở đối tượng bệnh nhân có cơn góc đóng cấp nguyên phát, theo nghiên cứucủa tác giả Wang Xiaolei và cộng sự năm 2017, vào thời điểm trung bình là16,5 ngày sau cơn góc đóng cấp, mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thị trungbình ở mắt bệnh là 79,3 ± 8,2 %, thấp hơn có ý nghĩa so với giá trị của mắtkhông bệnh là 85,6 ± 4,9 % (p = 0.001) [50]
Trang 33Năm 2019, tác giả Xiaolu Zhu và cộng sự cũng thực hiện một nghiên cứukhác trên những bệnh nhân có cơn góc đóng cấp nguyên phát trên một mắt.Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả chia các bệnh nhân thành 2 nhóm: nhóm
A có thời gian từ lúc bắt đầu cơn góc đóng cấp đến lúc kiểm soát được cơn gócđóng < 24 giờ, nhóm B có thời gian kiểm soát cơn góc đóng ≥ 24 giờ Nhómtác giả ghi nhận tại thời điểm 1 tháng sau phẫu thuật kiểm soát bệnh, nhómbệnh nhân A có mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thị là 0,56 ± 0,02 caohơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm B là 0,41 ± 0,07 (p < 0,001) [54]
Cũng vào năm 2019, tác giả Moghimi và cộng sự thực hiện so sánh mắtcủa 28 bệnh nhân có cơn góc đóng cấp trên một mắt với 39 người bình thườngtại thời điểm 1 tuần và 6 tuần sau cơn góc đóng cấp Nhóm tác giả ghi nhận tạithời điểm 1 tuần, mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thị ở mắt góc đóng cấpcủa bệnh nhân là 56,3 ± 5,3 %, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với giá trị ởmắt người bình thường là 62,3 ± 5,0 % (p = 0,001) [28] Theo dõi sau 6 tuần,mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thị ở mắt góc đóng cấp giảm còn 53,5 ±7,5 % là giảm có ý nghĩa thống kê (p = 0,037)
Vào năm 2021, tác giả Nie Li và cộng sự quan sát trên 30 bệnh nhân gócđóng cấp nguyên phát ở thời điểm trung bình là 19,5 tháng sau cơn góc đóngcấp Nhóm tác giả ghi nhận mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thị trung bình
ở mắt bệnh là 41,9 ± 8,7 %, thấp hơn có ý nghĩa so với mắt không bệnh là 52,5
± 2,5 % (p < 0,001) [29]
1.5.2 Tại Việt Nam
Nghiên cứu tốc độ dòng chảy động mạch trung tâm võng mạc ở bệnh nhânglôcôm nguyên phát bằng siêu âm Doppler màu của tác giả Đỗ Hoàng Hà năm
2012 cho thấy: tốc độ dòng chảy động mạch trung tâm võng mạc giảm trênbệnh nhân glôcôm, biểu hiện bằng sự thay đổi các chỉ số vận tốc tâm thu (Vs),
Trang 34vận tốc tâm trương (Vd) và chỉ số kháng trở (RI) (Vs, Vd giảm, RI tăng) Trong
đó tăng nhãn áp làm giảm tốc độ dòng chảy của động mạch trung tâm võngmạc, đặc biệt ở giai đoạn sớm của bệnh Giai đoạn bệnh càng muộn, tổn hại thịgiác càng nhiều, sự giảm sút tốc độ dòng chảy của động mạch trung tâm võngmạc càng nhiều và sự hồi phục sau điều trị càng kém Ngoài ra sự thay đổi cácthông số huyết học không có sự khác biệt giữa bệnh nhân glôcôm góc mở vàglôcôm góc đóng [1]
Hiện tại, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào khảo sát sự thay đổi các chỉ
số của hệ mao mạch quanh gai thị sau cơn góc đóng cấp nguyên phát bằng máyOCT-A
Trang 35Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang, phân tích có nhóm chứng
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Dân số nghiên cứu
Bệnh nhân thỏa tất cả các tiêu chí sau:
Nhóm bệnh: Bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên được chẩn đoán góc đóng cấpnguyên phát trên một mắt
Nhóm chứng: Mắt còn lại chưa lên cơn góc đóng cấp của chính bệnh nhân
2.3.2 Tiêu chí loại trừ
Góc đóng thứ phát do: viêm màng bồ đào, chấn thương, thủy tinh thể, khối
u, glôcôm tân mạch, hội chứng nội mô – giác mạc – mống mắt
Tiền căn phẫu thuật nội nhãn, bệnh lý giác mạc và/hoặc võng mạc
Bệnh lý toàn thân bao gồm: tăng huyết áp, đái tháo đường, hoặc các bệnh
lý mạch máu (suy tim, xơ cứng động mạch,…)
Trang 36 Bệnh nhân đang dùng thuốc đường toàn thân ảnh hưởng đến kích thướcmạch máu (co mạch, giãn mạch).
Sau khi dùng các thuốc hạ nhãn áp tại khoa Glôcôm, nhãn áp > 21mmHg
Hình OCT-A chất lượng kém (chỉ số cường độ tín hiệu < 5, ảnh giả)
σ p là phương sai gộp, có công thức:Sp2 = (n1 −1)S1+(n2−1)S2
(n1−1)+ (n2−1)Z: trị số từ phân phối chuẩn
α: xác suất sai lầm loại I
β: xác suất sai lầm loại II, 1- β: độ mạnh của nghiên cứu
µ1, µ2: trị số trung bình của hai nhóm
n1, n2: dân số của hai nhóm
S1, S2: độ lệch chuẩn
Theo nghiên cứu năm 2017 của tác giả Wang Xiaolei và cộng sự trên 34bệnh nhân góc đóng cấp nguyên phát một bên, mật độ tưới máu mao mạchquanh gai thị trung bình ở mắt bệnh là 79,3 ± 8,2 %; ở mắt còn lại là 85,6 ± 4,9
% [50] Áp vào công thức, ta tính được phương sai gộp σp = 0,046 Để có 99%(α = 1%) sự tin tưởng rằng có 95% (β = 5%) cơ hội để khám phá mật độ tưới
Trang 37máu mao mạch quanh gai thị ở mắt góc đóng cấp so với mắt không bệnh khácbiệt nhau 5%, cỡ mẫu cho mỗi nhóm tối thiểu là:
n ≥ 2 x 0,046
2 x 19,84(0,793 − 0,856)2 = 21,1Vậy chọn cỡ mẫu 22 bệnh nhân
2.3.4 Biến số nghiên cứu
ĐNT X m (X tính bằng mét) = X
50
Giá trị thị lực được chuyển sang thị lực logMAR để tính thị lực trung bình(phụ lục 3) theo công thức:
Trang 38Thị lực logMAR= -log (thị lực thập phân)
2.3.4.5 Thời gian kéo dài cơn
Tính từ lúc bệnh nhân bắt đầu có triệu chứng bệnh đến lúc bệnh nhân nhậpviện
Biến thứ tự với các giá trị 0, 1, 2, 3, 4 ứng với số lượng thuốc
Đơn vị tính: không có
2.3.4.7 Phù gai thị
Xác định khi khám lâm sàng hoặc chụp hình màu đáy mắt
Biến nhị giá: không phù gai thị = 0, phù gai thị = 1
Trang 39 Đơn vị tính: không có.
2.3.4.8 Huyết áp tâm thu (HATT) – Huyết áp tâm trương (HATTg)
Đo trước thời điểm bệnh nhân chụp OCT-A 10 phút, ở tư thế ngồi nghỉ,bằng máy đo huyết áp tự động Omron HEM-7124 Các giá trị được đo 3lần, mỗi lần cách nhau 5 phút, sau đó lấy giá trị trung bình (làm tròn đếnhàng đơn vị)
Biến định lượng
Đơn vị tính: mmHg
2.3.4.9 Huyết áp động mạch trung bình (HATB)
Tính dựa trên công thức:
2.3.4.10 Áp lực tưới máu nhãn cầu (ALTM)
Tính dựa trên công thức:
ALTM = 2
3HATB – Nhãn áp
Biến định lượng
Đơn vị tính: mmHg
2.3.4.11 Mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thị
Gồm thông số ở bốn góc phần tư tương ứng với bốn phía trên, dưới, mũi,thái dương và thông số trung bình Đánh giá bằng chụp OCT-A gai thị vớimáy Cirrus HD-OCT 5000 (Carl Zeiss Meditec)
Trang 40 Biến định lượng.
Đơn vị tính: Phần trăm
Hình 2.1: Thông số tưới máu ở bốn góc phần tưP: mật độ tưới máu mao mạch quanh gai thịF: chỉ số dòng chảy mao mạch quanh gai thị
Nguồn: Carl Zeiss Meditec (2018) [24]
2.3.4.12 Chỉ số dòng chảy mao mạch quanh gai thị
Gồm thông số ở bốn góc phần tư tương ứng với bốn phía trên, dưới, mũi,thái dương và thông số trung bình Đánh giá bằng chụp OCT-A gai thị vớimáy Cirrus HD-OCT 5000 (Carl Zeiss Meditec)
Biến định lượng
Đơn vị tính: Không có
2.3.4.13 Chiều dày lớp sợi thần kinh (RNFL)
Độ dày lớp sợi thần kinh tại gai thị, gồm chỉ số RNFL trung bình và bốngóc phần tư phía trên, dưới, mũi, thái dương Đánh giá bằng chụp OCT gaithị với máy Cirrus HD-OCT 5000 (Carl Zeiss Meditec)