1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiểu biết và nhu cầu đào tạo của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng về khuyết tật giao tiếp và nuốt tại tỉnh tây ninh

103 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiểu Biết Và Nhu Cầu Đào Tạo Của Nhân Viên Phục Hồi Chức Năng Dựa Vào Cộng Đồng Về Khuyết Tật Giao Tiếp Và Nuốt Tại Tỉnh Tây Ninh
Tác giả Hoàng Thị Huyền Trang
Người hướng dẫn PGS.TS. Đỗ Văn Dũng, GS. Lindy McAllister
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ Thuật Phục Hồi Chức Năng
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (11)
    • 1.1 Tổng quan về khuyết tật giao tiếp và nuốt (0)
    • 1.2 Tổng quan về chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (14)
    • 1.3 Tổng quan về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho khuyết tật giao tiếp và nuốt (24)
    • 1.4 Một số đặc điểm về hệ thống y tế và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Tây Ninh (30)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.1 Thiết kế nghiên cứu (33)
    • 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu nghiên cứu (33)
    • 2.3 Đối tượng nghiên cứu (33)
    • 2.4 Liệt kê, định nghĩa các biến số nghiên cứu (34)
    • 2.5 Thu thập dữ liệu nghiên cứu (39)
    • 2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số (41)
    • 2.7 Phương pháp quản lý và phân tích dữ liệu (41)
    • 2.8 Các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (42)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (43)
    • 3.1 Đặc điểm chung của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (0)
    • 3.2 Hoạt động của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng về khuyết tật giao tiếp và nuốt (0)
    • 3.3 Nhu cầu đào tạo của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt (58)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (62)
    • 4.1 Đặc điểm chung của nhân viên Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (62)
    • 4.2 Hoạt động của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt (67)
    • 4.3 Nhu cầu đào tạo của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt (70)
  • KẾT LUẬN (73)
  • PHỤ LỤC (86)

Nội dung

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHHOÀNG THỊ HUYỀN TRANG HIỂU BIẾT VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO CỦA NHÂN VIÊN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VỀ KHUYẾT TẬT GIAO TIẾP VÀ NUỐT TẠI TỈNH TÂY NIN

Trang 1

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HOÀNG THỊ HUYỀN TRANG

HIỂU BIẾT VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO CỦA NHÂN VIÊN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

VỀ KHUYẾT TẬT GIAO TIẾP VÀ NUỐT

TẠI TỈNH TÂY NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HOÀNG THỊ HUYỀN TRANG

HIỂU BIẾT VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO CỦA NHÂN VIÊN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

VỀ KHUYẾT TẬT GIAO TIẾP VÀ NUỐT

TẠI TỈNH TÂY NINH

NGÀNH: KỸ THUẬT PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳcông trình nào khác.

Tác giả

HOÀNG THỊ HUYỀN TRANG

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Lời cam đoan

Mục lục i

Danh mục các chữ viết tắt iii

Danh mục các bảng iv

Danh mục các biểu đồ v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan về khuyết tật giao tiếp và nuốt 3

1.2 Tổng quan về chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 6

1.3 Tổng quan về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho khuyết tật giao tiếp và nuốt 16

1.4 Một số đặc điểm về hệ thống y tế và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Tây Ninh 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Thiết kế nghiên cứu 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu nghiên cứu 25

2.3 Đối tượng nghiên cứu 25

2.4 Liệt kê, định nghĩa các biến số nghiên cứu 26

2.5 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 31

2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số 33

Trang 5

2.7 Phương pháp quản lý và phân tích dữ liệu 33

2.8 Các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Đặc điểm chung của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 35

3.2 Hoạt động của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng về khuyết tật giao tiếp và nuốt 43

3.3 Nhu cầu đào tạo của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt 50

Chương 4 BÀN LUẬN 54

4.1 Đặc điểm chung của nhân viên Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 54

4.2 Hoạt động của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt 59

4.3 Nhu cầu đào tạo của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt 62

KẾT LUẬN 65

KHUYẾN NGHỊ 66

HẠN CHẾ NGHIÊN CỨU 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Tổ chức y tế thế giớiHội hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Ma trận phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 8Bảng 1.2 Vai trò và chức năng thực hiện phục hồi chức năng dựa vào

cộng đồng theo từng cấp 13Bảng 2.1 Mô tả các biến số nghiên cứu 27Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi, giới, nghề nghiệp và trình độ học vấn của

nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 35Bảng 3.2 Phân bố số năm kinh nghiệm, cấp độ và mức độ hoạt động phục

hồi chức năng dựa vào cộng đồng 36Bảng 3.3 Phân bố nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đã

tham gia các khóa đào tạo theo cấp độ làm việc 37Bảng 3.4 Thời gian và số lượng địa điểm tổ chức của các lớp đào tạo

nhân viên đã tham gia 38Bảng 3.5 Nội dung các lớp đào tạo nhân viên phục hồi chức năng dựa vào

cộng đồng đã tham gia 40Bảng 3.6 Phân bố các dạng khuyết tật nhân viên phục hồi chức năng dựa

vào cộng đồng làm việc và tiếp xúc 43Bảng 3.7 Phân bố tần suất và nhóm tuổi của người khuyết tật giao tiếp và

người khuyết tật nuốt mà nhân viên làm việc 45Bảng 3.8 Phân bố những khó khăn ảnh hưởng hoạt động của nhân viên

đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt 49Bảng 3.9 Phân bố nhu cầu đào tạo và hình thức đào tạo của nhân viên đối

với khuyết tật giao tiếp và nuốt 50Bảng 3.10 Đề xuất nội dung đào tạo phục hồi chức năng dựa vào cộng

đồng đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt 53

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Nơi tổ chức đào tạo nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng

đồng đã tham gia 39Biểu đồ 3.2 Lĩnh vực hoạt động của nhân viên theo ma trận phục hồi chức năng

dựa vào cộng đồng 41Biểu đồ 3.3 Mức độ hài lòng của của nhân viên theo các lĩnh vực trong ma trận

phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 42Biểu đồ 3.4 Mức độ hài lòng của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng

đồng khi làm việc với các nhóm khuyết tật khác nhau 44Biểu đồ 3.5 Phân bố hiểu biết nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

đối với khuyết tật giao tiếp và khuyết tật nuốt 46Biểu đồ 3.6 Phân bố các loại dịch vụ nhân viên đã cung cấp cho người khuyết tật

giao tiếp tại cộng đồng 47Biểu đồ 3.7 Phân bố các loại dịch vụ nhân viên đã cung cấp cho người khuyết tật

nuốt tại cộng đồng 48Biểu đồ 3.8 Phân bố những đối tượng người khuyết tật giao tiếp nhân viên cần

đào tạo 51Biểu đồ 3.9 Phân bố những đối tượng người khuyết tật nuốt nhân viên cần đào

tạo 52

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) ước tính 15 % dân số thế giới, tương đươnghơn 1 tỷ người, đang sống với ít nhất một dạng khuyết tật [72] Trong đó nhiều người bịkhuyết tật giao tiếp, tức là khó nói và khó hiểu [73] Khuyết tật nuốt, còn được gọi làchứng khó nuốt được báo cáo là xảy ra ở 13 % dân số từ 65 tuổi trở lên [66] Tại ViệtNam, Điều tra Quốc gia về người khuyết tật (NKT) năm 2016 cho biết có hơn 6,2 triệuNKT và gần 12 triệu người sống trong các hộ gia đình có người khuyết tật Trong số này,khuyết tật giao tiếp đứng thứ ba sau khuyết tật vận động và khuyết tật tâm thần với836.247 người [18] Tỷ lệ mắc chứng khó nuốt ở người cao tuổi tại Việt Nam ngày cànggia tăng do số người từ 65 tuổi trở lên dự kiến sẽ tăng 7,8 % vào năm 2015 lên 17,8 %vào năm 2050 [14] NKT giao tiếp phải đối mặt với sức khỏe tinh thần kém, thách thứclớn nhất là được "nghe tiếng” do đó hạn chế cơ hội tham gia vào xã hội và thực hiện cácquyền cơ bản của con người [21] Khuyết tật nuốt ảnh hưởng trực tiếp đến dinh dưỡng,phát triển và chất lượng cuộc sống Tai biến thường gặp ở NKT nuốt là tình trạng hít sặc,

co thắt phế quản và viêm phổi, nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong [58], [63]

Ngôn ngữ trị liệu (NNTL) là ngành nghề tập trung giải quyết vấn đề về giao tiếp

và nuốt Tuy nhiên, tình trạng hiện nay là dịch vụ NNLT cho NKT giao tiếp và nuốt ởViệt Nam vẫn là ưu tiên thấp và không đáp ứng nhu cầu NKT giao tiếp và nuốt gặp khókhăn khi truy cập các dịch vụ NNTL một cách kịp thời, đầy đủ và công bằng [1]

Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCNDVCĐ) là một chiến lược sử dụngnguồn nhân lực được đào tạo ngay tại địa phương để cung cấp các dịch vụ phục hồi chứcnăng (PHCN) cho NKT [17] Bộ Y tế Việt Nam coi PHCNDVCĐ là chiến lược phù hợpnhất để giải quyết tình trạng khuyết tật Kế hoạch phát triển PHCN Việt Nam đến năm

2020 ước tính có khoảng 100% các tỉnh, thành phố trên toàn quốc thực hiện chương trìnhPHCNDVCĐ [5] Phát triển PHCNDVCĐ cho NKT giao tiếp và nuốt tại Việt Nam làcần thiết vì một số lý do Thứ nhất, Việt Nam là nước đang phát triển nên còn thiếu hụtnguồn nhân lực y tế được đào tạo chính quy, có trình độ chuyên môn Các chuyên viên

Trang 10

cung cấp dịch vụ NNTL không có sẵn hoặc chỉ cung cấp với số lượng rất nhỏ [1] Thứhai, các dịch vụ và nguồn nhân lực hiện có về NNTL chủ yếu tập trung ở thành thị vàkhông thể tiếp cận được với nhiều NKT sống ở nông thôn NKT thường có tỷ lệ sống ởnông thôn cao và cơ hội việc làm thấp [18] Bên cạnh chi phí y tế, chi phí di chuyển cũng

là một rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ NNTL đối với NKT tại cộng đồng [31], [54]

Phục hồi chức năng phần lớn là do chính sự nỗ lực của con người Kỹ năng, độnglực và sự hiểu biết của nhân viên PHCNDVCĐ là yếu tố quan trọng đối với sự thànhcông của chiến lược PHCNDVCĐ [38], [73] Tuy nhiên, trình độ của mỗi nhân viênkhông giống nhau, trong đó kiến thức, thái độ và thực hành không được đánh giá đúng.Đồng thời việc thực hiện các khóa đào tạo là không đồng đều giữa các địa phương [67].Nhân viên PHCNDVCĐ phải đối mặt với những thách thức liên quan đến hạn chế kiếnthức, tài chính, thời gian và sự đa dạng của khuyết tật [49], [54] Tìm hiểu về sự hiểubiết và nhu cầu đào tạo của nhân viên đóng vai trò quan trọng là bước đầu tiên để cungcấp thông tin cho các cơ quan có liên quan về chính sách và phát triển các dịch vụ phùhợp cho NKT giao tiếp và nuốt Đồng thời, đóng góp khi Việt Nam đang lên kế hoạch

và tìm cách phát triển một dịch vụ NNTL bền vững và phù hợp, đáp ứng nhu cầu của bốicảnh địa phương [5] Có nhiều tác giả nghiên cứu PHCNDVCĐ, nhưng các nghiên cứuchỉ tập trung vào vai trò và tiện ích của PHCNDVCĐ trong việc cung cấp vật lý trị liệu

và đào tạo nghề cho NKT nói chung [8], [16] chưa tìm thấy nghiên cứu về sự hiểu biết

và nhu cầu đào tạo của nhân viên PHCNDVCĐ đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt Do

đó, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu "Hiểu biết và nhu cầu đào tạo của nhân viênPHCNDVCĐ về khuyết tật giao tiếp và nuốt tại tỉnh Tây Ninh” với ba mục tiêu chính:

1 Mô tả đặc điểm chung của nhân viên PHCNDVCĐ tại tỉnh Tây Ninh

2 Tìm hiểu sự hiểu biết của nhân viên PHCNDVCĐ về khuyết tật giao tiếp và nuốttại tỉnh Tây Ninh

3 Xác định nhu cầu đào tạo của nhân viên PHCNDVCĐ để làm việc với NKT giaotiếp và nuốt tại tỉnh Tây Ninh

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về khuyết tật giao tiếp và nuốt

Khuyết tật là một khái niệm có tính phát triển và là kết quả từ sự tương tác củanhững người có khiếm khuyết với những rào cản trong thái độ và môi trường, gây cảntrở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội dựa trên nền tảng bình đẳng vớinhững người khác [39]

Khuyết tật giao tiếp và khuyết tật nuốt là nhóm đối tượng được hỗ trợ can thiệpchủ yếu bởi chuyên viên Ngôn ngữ trị liệu Chuyên viên NNTL chẩn đoán và điều trịcho trẻ em và người lớn có khó khăn về khả năng nói, nghe, hiểu, sử dụng ngôn ngữ,tương tác xã hội, đọc và viết, giọng nói và sự trôi chảy Chuyên viên NNTL cũng đồngthời trợ giúp cho những người có khó khăn về nuốt, ăn và uống Chuyên ngành Ngônngữ trị liệu nhằm mục đích giúp mọi người giao tiếp và nuốt hiệu quả để họ có thể họctập và tham gia vào các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, qua đó tạo điều kiện cho họ nângcao trình độ học vấn, năng lực làm việc và hòa nhập xã hội, góp phần duy trì và nângcao chất lượng cuộc sống [1] [52]

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Khuyết tật giao tiếp

Khuyết tật giao tiếp là tình trạng suy giảm giao tiếp xảy ra khi có giới hạn về khảnăng nhận, gửi, xử lý và hiểu các hệ thống ký hiệu bằng lời nói, phi ngôn ngữ và hìnhảnh (Hiệp hội Nghe-Nói-Ngôn ngữ Hoa Kỳ, 1993) [23]

Khuyết tật giao tiếp có thể được gây ra bởi các điều kiện y sinh như chấn thương,bệnh lý về dây thanh âm Các khuyết tật về giao tiếp có thể xuất phát từ các tình trạngbẩm sinh như hội chứng Down, bại não… hoặc do các tình trạng mắc phải như đột quỵ,ung thư, chấn thương đầu… ảnh hưởng chất lượng cuộc sống và sự tham gia Nhữngngười gặp khó khăn trong giao tiếp có thể khác nhau về mức độ nghiêm trọng hoặc tácđộng của khuyết tật Các cá nhân gặp khó khăn trong giao tiếp sẽ không được coi là bị

Trang 12

khuyết tật giao tiếp nếu họ là những người giao tiếp có năng lực, tham gia hiệu quả vàocác vai trò trong xã hội và nghề nghiệp Chính thực tế sống khác biệt sẽ xác định xem ai

đó có khuyết tật giao tiếp hay không [29], [39]

Khuyết tật giao tiếp có thể dẫn đến hậu quả lâu dài bao gồm khó khăn trong “Họcviết và đọc, tập trung và suy nghĩ, tính toán, giao tiếp, di chuyển, tự chăm sóc bản thân,các mối quan hệ với bạn bè, quan hệ cha mẹ con cái, mối quan hệ với các anh chị em,học tập tại trường học, tìm kiếm và duy trì việc làm” (p 168) [53]

Khuyết tật giao tiếp ở trẻ nhỏ, nếu không được điều trị, có thể kéo dài đến tuổitrưởng thành, ảnh hưởng đến trình độ học vấn, công việc, hòa nhập xã hội và sức khỏetinh thần Những người gặp khó khăn trong giao tiếp thường có khả năng thất nghiệp cao

rõ bên ngoài như cụt tay, chân, liệt, hành vi thần kinh… Nên khuyết tật nuốt thường bị

bỏ qua, không được chú trọng nhiều trong hệ thống chính sách và hỗ trợ NKT [59]

1.1.2 Dịch tễ học

1.1.2.1 Tình hình khuyết tật giao tiếp trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới, nhiều người gặp khó khăn trong giao tiếp, nhưng thiếu nhận thức

về khuyết tật giao tiếp, cũng như khuyết tật trong giao tiếp đôi khi đi kèm với các khuyết

Trang 13

tật khác như vận động và trí tuệ, có nghĩa là số lượng NKT giao tiếp thực tế được ghinhận vẫn còn hạn chế [68], [73] Số NKT giao tiếp có thể cao hơn Số liệu về tỷ lệ NKTgiao tiếp rất khác nhau giữa các quốc gia, tùy thuộc vào cách thu thập và phân loại thôngtin Có thể số lượng NKT giao tiếp không được thống kê chính xác.

Tại Việt Nam, Điều tra Quốc gia về Người khuyết tật năm 2016 đã báo cáo cóhơn 6,2 triệu NKT và gần 12 triệu người đang sống trong các hộ gia đình có NKT, trong

đó 836.247 bị khuyết tật giao tiếp [18] Xem xét mức độ phổ biến của NKT theo các loạikhuyết tật: Các vấn đề về chức năng vận động là phổ biến nhất, tiếp theo là tâm thần vàgiao tiếp [16] Tỷ lệ khuyết tật khu vực nông thôn cao hơn gần 1,5 lần khu vực thành thị

Tỷ lệ khuyết tật có xu hướng tăng lên theo tuổi, tỷ lệ của nữ cao hơn nam Khảo sát dànhcho Cán bộ quản lý và những người làm lâm sàng tham gia cung cấp thông tin về tỷ lệphần trăm bệnh nhân tại khoa của họ có nhu cầu hỗ trợ về giao tiếp và nuốt Những ngườinày ước tính tỷ lệ trung bình là 41% những người đang tiếp cận các dịch vụ phục hồichức năng là người có các nhu cầu về NNTL (với khoảng dao động từ 15 % đến 100 %tùy thuộc vào tính chất của từng khoa) [1] Tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ thu được từcác nước như Pakistan, Uganda, và Zimbabwe với khoảng 38 %– 49 % người khuyết tậtcần dịch vụ phục hồi chức năng là người có các khó khăn về giao tiếp [42]

1.1.2.2 Tình hình khuyết tật nuốt trên thế giới và Việt Nam

Chứng khó nuốt là một vấn đề lâm sàng tương đối phổ biến và ngày càng tăng.Chứng khó nuốt có tỷ lệ mắc là 22 % ở nhóm người lớn được chăm sóc chính tại bệnhviện và 13,5 % ở dân số nói chung [69] Những người trên 65 tuổi có đến 13% số ngườimắc chứng khó nuốt [66] Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh từ 50 % trở lên được báo cáo ởnhững người cao tuổi được chăm sóc tại nhà [61] Hơn nữa, nhóm dân số này đang giatăng nhanh chóng: Trong thập kỷ qua, số người trên 65 tuổi đã tăng 28 %, trong khi phầndân số còn lại chỉ tăng 0,8 % [32] Chứng khó nuốt cũng phổ biến hơn ở bệnh nhân tràongược dạ dày thực quản so với những người không bị [48] Các tình trạng y tế khác cóthể ảnh hưởng đến việc nuốt bao gồm đột quỵ, bệnh Alzheimer, bệnh đa xơ cứng Một

Trang 14

tổng quan hệ thống chỉ ra rằng chứng khó nuốt ảnh hưởng đến 8,1 % - 80 % bệnh nhânđột quỵ, 11 % - 81 % bệnh nhân Parkinson và 27 % - 30 % bệnh nhân chấn thương sọnão, 91,7 % viêm phổi mắc phải tại cộng đồng [63].

Người cao tuổi là phân khúc dân số tăng nhanh nhất tại Việt Nam Số người ViệtNam từ 65 tuổi trở lên dự kiến sẽ tăng từ 7,8 % năm 2015 lên 17,8 % vào năm 2050 [14].Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo độ tuổi Một số nghiên cứu trước đây về bệnh nhân độtquỵ cấp ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc chứng khó nuốt khá cao, dao động từ 33-81%[10], [12]

Khuyết tật nuốt liên quan trực tiếp đến dinh dưỡng, sự phát triển và chất lượngcuộc sống Có tới 43 % - 54 % bệnh nhân, sau não cấp tính bị hít sặc, 30 % bệnh nhân

sẽ hít sặc sẽ dẫn đến viêm phổi Viêm phổi do hít sặc gây tử vong 3 % - 6 % bệnh nhântrong năm đầu tiên [50] Các biến chứng khác của rối loạn nuốt bao gồm sụt cân, mấtnước, suy dinh dưỡng, thay đổi thói quen ăn uống, trầm cảm và giảm hòa nhập xã hội[58], [61]

Trẻ sơ sinh và trẻ lớn hơn cũng có thể có biểu hiện khó nuốt Người ta ước tínhrằng chứng khó nuốt xảy ra ở khoảng 1 % trẻ em trong dân số nói chung, mặc dù trongmột số dân số lâm sàng tỷ lệ mắc bệnh cao hơn [32] Không giống như người lớn, hệthống của trẻ phát triển rất nhanh và thậm chí các vấn đề nuốt tạm thời có thể cản trở sựphát triển bình thường và gây ra các di chứng nặng nề, lâu dài Trẻ thường gặp vấn đề

về nuốt là trẻ bị bại não, tổn thương não / chấn thương, rối loạn thần kinh cơ khác, dị tật

sọ não, rối loạn hô hấp, bệnh tim bẩm sinh, trẻ sinh non và trẻ bị bệnh đường tiêu hóa

1.2 Tổng quan về chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

1.2.1 Định nghĩa

Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng được Tổ chức Y tế Thế giới khởi xướngdựa trên Tuyên bố Alma-Ata năm 1978 Chương trình được đẩy mạnh như một chiếnlược để cải thiện sự tiếp cận các dịch vụ PHCN cho NKT ở các nước có thu nhập thấp

và trung bình bằng cách sử dụng tối đa các nguồn lực địa phương Thông qua sự nỗ lực

Trang 15

hợp tác của các tổ chức Liên Hiệp quốc, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức của NKT,PHCNDVCĐ đã mở ra một chiến lược đa ngành để giải quyết nhu cầu đa dạng hơn củaNKT, đảm bảo sự tham gia, hòa nhập trong xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống

của NKT [17], [71].

Năm 2004, TCYTTT, Liên đoàn Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Giáo dục,Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thống nhất định nghĩa vềPHCNDVCĐ: “PHCNDVCĐ là một chiến lược nhằm thúc đẩy phục hồi, cải thiện vàhòa nhập xã hội của tất cả những NKT” (tr 2) Qua sử dụng nguồn nhân lực ngay tạicộng đồng đã được đào tạo, các chuyên viên PHCN có thể phổ biến các dịch vụ PHCNrộng hơn và liên quan trực tiếp đến cộng đồng địa phương [45]

1.2.2 Mục tiêu của phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Mục tiêu của PHCNDVCĐ đảm bảo rằng NKT có thể phát huy tối đa khả năngthể chất và tinh thần để có cơ hội tham gia các hoạt động, trở thành người đóng góp tíchcực đến cộng đồng và xã hội Mục tiêu thứ hai là thúc đẩy và bảo vệ quyền của NKTthông qua những thay đổi trong cộng đồng nhằm xóa bỏ các rào cản đối với việc thamgia vào các hoạt động xã hội đối với NKT [4], [17]

PHCNDVCĐ không đơn thuần chỉ là lĩnh vực y tế Năm 2004, Ma trậnPHCNDVCĐ đã được đưa ra để cung cấp một khung can thiệp chung cho các chươngtrình [45] Ma trận bao gồm năm hợp phần chính: y tế, giáo dục, nghề nghiệp, xã hội vàtrao quyền (xem Bảng 1.1) Các chương trình PHCNDVCĐ không mong đợi sẽ thựchiện tất cả các hợp phần và thành tố của ma trận PHCNDVCĐ Ma trận PHCNDVCĐ

đã được thiết kế để cho phép các chương trình tùy chọn những giải pháp đáp ứng tốt nhấtnhu cầu, ưu tiên và nguồn lực tại địa phương Ngoài việc thực hiện các hoạt động cụ thểcho người khuyết tật, các chương trình PHCNDVCĐ sẽ cần phải phát triển quan hệ đốitác và liên minh với các ngành khác không nằm trong chương trình PHCNDVCĐ để đảmbảo cho những người khuyết tật và các thành viên gia đình NKT được hưởng lợi, pháttriển một cách toàn diện nhất

Trang 16

Bảng 1.1 Ma trận phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (TCYTTG, 2004)

Vận động sựủng hộ

Phòng ngừa Tiểu học Tạo việc làm

Các quan hệ,hôn nhân và giađình

Huy động cộngđồng

Chăm sóc y tế Trung học hoặc

cao hơn

Làm công ănlương

Văn hoá vànghệ thuật

Tham gia chính

trịPhục hồi chức

năng

Không chínhquy

Dịch vụ tàichính

Vui chơi, giảitrí và thể thao Các nhóm tự lựcThiết bị trợ

giúp Học tập suốt đời An sinh xã hội Tư pháp

Các tổ chức củaNKT

1.2.3 Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng trên thế giới và Việt Nam hiện nay 1.2.3.1 Trên Thế giới

Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng ban đầu đã được hình thành và phát triểndịch vụ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực y tế Sau đó, TCYTTG đã khuyến nghị rằngPHCNDVCĐ được lồng ghép vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu và được thiết lậptốt ở nhiều nước đang phát triển [71] Các chương trình PHCNDVCĐ ban đầu có xuhướng tập trung vào việc phục hồi chức năng cho NKT, để phù hợp với họ và cộng đồng

Trang 17

Trong những năm 1980 và 1990, số lượng các chương trình PHCNDVCĐ ở cácnước đang phát triển đã tăng lên đáng kể Cùng với sự tăng trưởng về số lượng, cũng cónhững thay đổi lớn trong cách nó được khái niệm hóa, một trong những thay đổi sớm là

sự thay đổi từ trọng tâm y tế sang cách tiếp cận toàn diện hơn Nhận thức được rằng cáccan thiệp y tế độc lập không hoàn thành quá trình phục hồi chức năng, các chương trìnhPHCNDVCĐ dần dần bắt đầu bổ sung vào các can thiệp như giáo dục, nghề nghiệp, traoquyền và xã hội (Bảng 1.1) [45] Qua quá trình phát triển liên tục PHCNDVCĐ đangchuyển từ cách tiếp cận đơn ngành y tế, một phía, chuyển sang tiếp cận tập trung với mộtchiến lược đa ngành về PHCN, bình đẳng các cơ hội cho NKT Cùng với việc công nhậnPHCNDVCĐ, cần phải giải quyết các vấn đề liên quan đến NKT, cuộc sống của NKT

và thay đổi không chỉ các cá nhân khuyết tật mà còn cả bối cảnh mà NKT đang sống.Thay đổi các yếu tố bối cảnh liên quan đến việc giúp người không khuyết tật trong cộngđồng có thể chấp nhận NKT, thúc đẩy họ hòa nhập xã hội và bình đẳng tiếp cận giáo dục

và việc làm, như với người không khuyết tật

Qua nhiều thập kỷ triển khai và nghiên cứu về PHCNDVCĐ, chứng minh đây làmột hình thức PHCN rất có hiệu quả, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của các nước đangphát triển Trong một cuộc khảo sát của TCYTTG thực hiện năm 2007, các dự án vàchương trình PHCNDVCĐ đã có mặt ở 92 quốc gia: 35 quốc gia châu Phi, 26 quốc giachâu Á, 24 quốc gia châu Mỹ Latinh và 7 quốc gia châu Âu Hơn 90 quốc gia trên thếgiới tiếp tục phát triển và tăng cường các chương trình PHCNDVCĐ [17]

1.2.3.2 Tại Việt Nam

Việt Nam bắt đầu thực hiện chương trình PHCNDVCĐ với sự tài trợ của Quỹ Cứutrợ Trẻ em Thụy Điển tại tỉnh Tiền Giang (1987) và sau đó là tại Hải Dương (1988) vàVĩnh Phúc (1989) Chương trình PHCNDVCĐ ở Việt Nam phát triển tương đối nhanh,

từ 6 tỉnh giai đoạn 1987-1992 lên 14 tỉnh giai đoạn 1993-1997 và 21 tỉnh giai đoạn

1998-2004 Cùng với sự phát triển của các chương trình PHCNDVCĐ, số lượng các cơ sởphục hồi chức năng trong cả nước tăng lên nhanh chóng Sự phát triển của lực lượng lao

Trang 18

động phục hồi chức năng cũng tăng lên đáng kể Mạng lưới lao động PHCNDVCĐ ngàycàng phát triển, với hệ thống chỉ đạo từ Trung ương (Bộ Y tế và các Bộ ngành) đến cấp

xã / phường, với sự tham gia quan trọng của nhiều nguồn nhân lực [2], [3], [4]

Nhiều nghiên cứu về các lĩnh vực PHCNDVCĐ ở Việt Nam đã được thực hiện Cóthể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thủy và cộng sự về mô hình quản lý, chămsóc sức khỏe và phục hồi chức năng cho người tàn tật dựa vào cộng đồng [16]; Nghiêncứu của Phạm Thị Nhuyên về thực trạng gia đình người khuyết tật ở Việt Nam; Phục hồichức năng dựa vào cộng đồng ở tỉnh Hải Dương [13] Theo nghiên cứu của Trần TrọngHải, Trần Thị Thu Hà, Trần Văn Chương năm 2004, đã có 48 tỉnh / thành phố có chươngtrình PHCNDVCĐ mang lại hiệu quả thiết thực cho NKT, làm thay đổi nhận thức củacộng đồng về người khuyết tật Sự thay đổi trong nhận thức của cộng đồng về NKT đãdẫn đến những thay đổi trong thái độ và hành động đối với NKT [8] Tất cả các nghiêncứu đều chỉ ra sự cần thiết của PHCNDVCĐ đối với NKT và tầm quan trọng củaPHCNDVCĐ ở Việt Nam Đã có nhiều hội nghị quốc tế về PHCNDVCĐ trong khu vực

và trên thế giới TCYTTG đã chính thức công nhận Việt Nam thành công trong việc thựchiện chương trình PHCNDVCĐ

Kế hoạch quốc gia về phát triển PHCN giai đoạn 2014-2020 của Bộ Y tế Việt Nam.Đẩy mạnh công tác PHCNDVCĐ, chú trọng công tác phòng ngừa khuyết tật, phát hiệnsớm, can thiệp sớm khuyết tật để cải thiện chất lượng cuộc sống của người khuyết tật vềmọi mặt, phấn đấu đến năm 2020 [5] Theo kế hoạch này, 100 % các cơ sở PHCN cóhoạt động tuyên truyền về phòng ngừa khuyết tật, về PHCNDVCĐ, góp phần nâng caonhận thức về các nội dung này vào cộng đồng; 100 % các tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương triển khai và duy trì chương trình PHCNDVCĐ tại ít nhất 40 % sốxã/phường/thị trấn của tỉnh/thành phố Tuyên truyền, nâng cao nhận thức vềPHCNDVCĐ cho các cấp lãnh đạo, từ đó tập trung đầu tư đúng mức cho PHCNDVCĐ,thông qua các hoạt động chính là hội thảo, tập huấn, tham quan, học tập các mô hìnhPHCNDVCĐ trong và ngoài nước

Trang 19

1.2.4 Nhân viên Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Khi triển khai chương trình PHCNDVCĐ cho thấy sự cần thiết phải có nhân lực

có chất lượng và bền vững tại cộng đồng trong lĩnh vực PHCN, vì mỗi NKT có nhu cầuriêng về môi trường, về sự tham gia Sự tham gia của nhân viên trong chương trìnhPHCNDVCĐ là thành phần cốt lõi, đảm bảo sự bền vững của các chương trìnhPHCNDVCĐ [51] Đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở nông thôn, việc sử dụngcác chuyên gia y tế được đào tạo là không hiệu quả vì thiếu nhân lực thực hiện, đào tạochuyên gia y tế tốn kém, họ đã quen với làm việc trong các cơ sở chuyên môn, khó khănkhi làm việc ở môi trường cộng đồng [41], [42] Do đó, lý tưởng nhất là sử dụng lựclượng PHCN ở cộng đồng ngay nơi họ làm việc

Để đạt được các mục tiêu của PHCNDVCĐ thì các nhân viên PHCNDVCĐ đóngvai trò quan trọng trong sự phát triển và hỗ trợ năng lực cho người khuyết tật tại cộngđồng, là những người có trách nhiệm cung cấp các hỗ trợ cơ bản cho NKT trong nămlĩnh vực của Ma trận [2], [17] Nhiệm vụ nhân viên là đào tạo NKT và các thành viêngia đình NKT về PHCN cơ bản và quản lý các hoạt động đời sống hàng ngày, tạo điềukiện liên hệ với các dịch vụ chuyên ngành, thúc đẩy quyền bình đẳng và các cơ hội củaNKT Hơn nữa, Nhân viên PHCNDVCĐ là tác nhân chính trong việc thúc đẩy nhận thứccủa cộng đồng, sự tham gia và huy động cộng đồng đối với NKT Các kỹ năng, độnglực, sự hiểu biết của Nhân viên PHCNDVCĐ là yếu tố quyết định sự thành công củachiến lược PHCNDVCĐ, điều này đã được thể hiện trong các nghiên cứu về vai trò, thái

độ và nhu cầu đào tạo của nguồn nhân lực để tiến hành các hoạt động PHCNDVCĐ cóhiệu quả [67]

Hiện nay nguồn nhân lực của chương trình PHCNDVCĐ có thể phân thành nhữngnhóm người có cùng chức năng nhiệm vụ và theo từng cấp [2], [3] như trong Bảng 1.2

Trang 20

Bảng 1.2 Vai trò và chức năng thực hiện Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

theo từng cấp (Bộ Y Tế, 2008)

Quốc gia

Bộ Y tế, Cục quản lýkhám chữa bệnh, nhómgiảng viên cốt cán,chuyên gia, nhà hoạchđịnh chính sách

Xây dựng chính sách và tài liệu, can thiệp,đào tạo và nghiên cứu dựa vào viện

Tỉnh

Ban điều hành, cán bộquản lý/chuyên tráchchương trình, giảng viên,chuyên gia

Xây dựng chính sách, phân bố nguồn lực,can thiệp dựa vào viện, điều phối và quản

lý toàn bộ, theo dõi và đánh giá, hỗ trợ choPHCN, chẩn đoán, đánh giá và huấn luyệntại nhà

Huyện

Ban điều hành, quản lýchương trình, giảng viên

và chuyên gia PHCN

Quản lý và điều phối, theo dõi, báo cáo,

hỗ trợ cho PHCN, chẩn đoán, đánh giá vàhuấn luyện tại nhà, phân bố nguồn lực

Ban điều hành chươngtrình, cán bộ chuyêntrách về PHCNDVCĐ

Quản lý, điều phối và hỗ trợ cho các hoạtđộng của cộng tác viên PHCNDVCĐ, báocáo, huy động và phân bố nguồn lực, thựchiện PHCN tại nhà, tạo thuận lợi cho sựhình thành các nhóm tự lực

Thôn, ấp Cộng tác viên

Phát hiện sớm, tập luyện, chuyển tuyến vàtheo dõi, thu thập dữ liệu và báo cáo, tăngcường nhận thức cộng đồng về khuyết tật,khuyến khích, vận động, tuyên truyền lợiích cho NKT và gia đình

Trang 21

Tuy nhiên, lao động PHCNDVCĐ là một nhóm đa dạng và sự khác biệt về vaitrò giữa các cấp không phải lúc nào cũng rõ ràng, đặc biệt là giữa cấp thôn/ấp và xã Cảnhân viên PHCNDVCĐ cấp xã và thôn/ấp đều có thể làm việc trực tiếp với NKT và cộngđồng của họ để thúc đẩy khả năng tiếp cận và hòa nhập Cả hai đều tham gia vào việcphát hiện, đánh giá chức năng, can thiệp tại nhà, cung cấp thông tin, giáo dục NKT vàgia đình của họ trong các công việc, giao tiếp hàng ngày, cung cấp thiết bị cơ bản, phụchồi thể chất, cũng như vận động, liên lạc với cộng đồng và giới thiệu đến các dịch vụchuyên môn phù hợp Sự khác biệt chính được xác định bởi số lượng đào tạo và mức độ

1.2.4.1 Thực trạng nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng trên thế giới

Trang 22

Trong hội thảo quốc tế về PHCNDVCĐ vào năm 1998, các đại biểu đã thảo luận

về những thách thức lớn nhất của chương trình PHCNDVCĐ Các vấn đề liên quan đếnnguồn nhân lực PHCNDVCĐ đều được mọi người xác định là một trong những vấn đềquan trọng: vấn đề khó khăn trong việc duy trì một lực lượng PHCNDVCĐ, sự thiếu hụtnguồn lực, nhân viên bỏ việc, cần thêm nguồn lực cho việc đào tạo liên tục nhân viênmới, thiếu động lực, và tài chính hỗ trợ cho nguồn nhân lực [41], [42]

Các nghiên cứu về các chương trình PHCNDVCĐ ở Mông Cổ [28], Thái Lan[27], khu vực Châu Á Thái Bình Dương [25] và Châu Phi [64], [65] đã xác định một loạtcác rào cản hạn chế công việc của nhân viên PHCNDVCĐ Những rào cản này bao gồmkhoảng cách từ các dịch vụ, thiếu phương tiện đi lại, mật độ dân số thấp, điều kiện khíhậu khắc nghiệt, năng lực và đào tạo nguồn nhân lực PHCNDVCĐ không đầy đủ, thiếukinh phí, thái độ tiêu cực về người khuyết tật và sự thiếu hợp tác của chính quyền địaphương

Hợp tác quốc tế hỗ trợ PHCNDVCĐ ở các nước đang phát triển đã mang lại kếtquả, nhưng có một số thách thức để duy trì nó, chẳng hạn như PHCNDVCĐ ở Ghana:một chương trình PHCNDVCĐ cho khu dân cư được hỗ trợ bởi các tổ chức phi chínhphủ từ Ý và Liên minh Châu Âu tập trung vào 4 lĩnh vực: tuyển dụng và đào tạo cộngtác viên, các nguồn lực hỗ trợ cộng đồng, thu nhập cho người khuyết tật và các tổ chứccủa người khuyết tật Cộng tác viên được đào tạo về phục hồi chức năng cơ bản trong

150 giờ, số lượng cộng tác viên tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, khi không còn kinhphí dẫn đến không thể đào tạo và tuyển dụng thêm cộng tác viên, chương trình khôngthể duy trì được hiệu quả như ban đầu [62]

Vấn đề “tiền lương” được coi là một nhu cầu cấp thiết để có thể duy trì hoạt độngcủa các cộng tác viên, nhất là khi các chương trình PHCNDVCĐ chủ yếu ở các nướcđang phát triển Ở các nước nghèo hơn, hầu hết mọi người không có khả năng làm việcnếu họ không được nhận lương sẽ rất khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ trong thời giandài vì họ vẫn phải kiếm sống và dần dần họ sẽ không có động lực làm việc Ở một số nơi

Trang 23

thuộc Châu Á, việc tuyển cộng tác viên cho cộng đồng rất dễ dàng Tuy nhiên, về lâu dàivẫn cần có những ưu đãi cho cộng tác viên Xu hướng hiện nay là khuyến khích đào tạo

và bồi dưỡng cho bản thân người khuyết tật hoặc các thành viên trong gia đình họ trởthành cộng tác viên PHCNDVCĐ [31], [67]

1.2.4.2 Thực trạng Nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại Việt Nam

Ở Việt Nam PHCN có nhiều hạn chế, tỷ lệ phân bố NKT tại các cấp và phân bốcán bộ PHCN tại các cấp bất hợp lý Cán bộ PHCN chủ yếu tập trung tại cấp tỉnh và cấptrung ương, 75 % - 80 % NKT sống tại cộng đồng nhưng hầu như không có cán bộchuyên khoa PHCN, vì vậy vai trò của PHCNDVCĐ là đặc biệt quan trọng [2], [3]

Theo hướng dẫn PHCNDVCĐ, Bộ Y tế đã xác định các rào cản đối với hoạt độngPHCNDVCĐ ở Việt Nam bao gồm [2], [3], [54]:

1.Thực tế nhân viên PHCNDVCĐ thiếu năng động và kiêm nhiệm nhiều côngviệc Nền kinh tế tập trung, bao cấp trong nhiều năm ở Việt Nam tạo cho con người sức

ỳ về suy nghĩ, tác phong thiếu năng động và hay trông chờ mệnh lệnh của cấp trên Cácnhân viên PHCNDVCĐ nói chung một mặt chưa chủ động lập kế hoạch cho các hoạtđộng PHCNDVCĐ, một mặt thường phải kiêm nhiệm nhiều việc khác nên chưa thể tậptrung cho chương trình Do vậy cần lập kế hoạch cụ thể cho các hoạt động của chươngtrình, gặp gỡ, trao đổi để giảm bớt khó khăn của nhân viên PHCNDVCĐ

2 Ngân sách từ Trung ương phân bổ xuống địa phương chậm Kinh tế địaphương kém phát triển, không có nguồn thu Nhiều địa phương do kinh phí bị trì hoãnnên khó có khả năng động viên các nhân viên của chương trình

3 Năng lực nhân viên và của người quản lý hoạt động PHCNDVCĐ còn yếu.Nhân viên PHCNDVCĐ còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng để huấn luyện NKT Cónhiều nhân viên tham gia chương trình PHCNDVCĐ chưa qua đào tạo chuyên môn,hoặc trình độ văn hoá của nhân viên ở một số vùng sâu vùng xa còn hạn chế Đây làtrở ngại khiến họ khó tham gia vào mọi hoạt động của chương trình Do vậy, nhân viên

Trang 24

PHCNDVCĐ cần được đào tạo về PHCNDVCĐ và được hỗ trợ tiếp tục để thực hiệnnhiệm vụ của mình.

4 Thiếu Kiến thức và Kỹ năng: nhân viên PHCNDVCĐ thấy khó khăn khi tiếnhành các bài tập PHCN và ý kiến rằng họ cần được đào tạo thêm về thực hành Nhiềunghiên cứu chỉ ra rằng nhân viên PHCNDVCĐ cần cung cấp kiến thức và kỹ năng về:PHCN, kỹ năng lượng giá và đào tạo, kỹ năng giảng dạy, kỹ năng giao tiếp, kỹ năngquản lý, làm thế nào để giúp NKT và gia đình họ lập được kế hoạch, hỗ trợ NKT vậnđộng, tương tác xã hội, quản lý tài chính, hướng dẫn về PHCN, tư vấn khuyến khíchcha mẹ và trẻ em khuyết tật Kỹ năng phối hợp Thiết lập nhóm, hỗ trợ về môi trường,

tổ chức

5 Điều kiện địa lý hoặc môi trường: Địa bàn thưa dân cư, khoảng cách đi lại xaxôi khiến mối liên lạc và giao lưu của người dân, nhân viên PHCNDVCĐ và các thànhviên cộng đồng bị trở ngại

1.3 Tổng quan về Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho khuyết tật giao tiếp

mà nguồn lực cho các dịch vụ y tế và xã hội thiếu hụt và cũng là những nơi mà conngười có thể trải nghiệm những rào cản (ví dụ: khoảng cách, kinh tế, văn hoá) khi tiếpcận dịch vụ và tham gia cộng đồng Các cộng đồng “dưới mức phục vụ” ở NKT giaotiếp và nuốt tồn tại trong cả các nước phát triển lẫn đang phát triển và nhu cầu cho cácdịch vụ thích hợp với bối cảnh văn hoá và cộng đồng đang gia tăng [73]

Trang 25

Một cuộc khảo sát tại bốn quốc gia Nam Phi chỉ ghi nhận 26 % - 55 % NKT báocáo nhận dịch vụ PHCN, nhưng chủ yếu là cho những người bị suy giảm khả năng vậnđộng [74].Theo thống kê có 5 triệu NKT gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ cần

để sống độc lập, ghi nhận 29,2 % trẻ em bị khuyết tật giao tiếp không thể đến trường

và 50,1% người lớn bị khuyết tật giao tiếp không làm việc [55]

Thiếu hụt lực lượng các chuyên viên NNTL, nguồn lực đánh giá, can thiệp phùhợp là một trong những thách thức lớn để NKT giao tiếp và nuốt trên toàn thế giới cóthể tiếp cận dịch vụ PHCN một cách công bằng [52] Tỷ lệ chuyên viên NNTL trên cưdân ở Ả Rập Saudi là 0,67 trên 100 000 người [47], Nam Phi đã báo cáo tỷ lệ chuyênviên NNTL trên cư dân là 0,227 trên 100 000 người [34] Từ đó cần có một chiến lượcphù hợp để giúp NKT giao tiếp và nuốt tiếp cận được dịch vụ PHCN trong bối cảnhthiếu nhân lực

1.3.1.2 Tại Việt Nam

Trong một thời gian dài, giống như ở nhiều nước đang phát triển, các dịch vụNNTL ở Việt Nam gần như không tồn tại, một số dịch vụ đơn lẻ và không liên tục vìđược cung cấp bởi các tình nguyện viên từ các nước phát triển hoặc thông qua các tổchức phi chính phủ Cung cấp các dịch vụ NNTL cho nhóm khuyết tật giao tiếp và nuốtvẫn là ưu tiên thấp NKT giao tiếp và nuốt khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ PHCNnhư: họ không biết tìm nơi cung cấp dịch vụ NNTL, các dịch vụ PHCN cung cấp cho

họ không phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu

Có một ước tính rằng tại Việt Nam, cứ trung bình 1,5 triệu dân thì có 01 chuyênviên Ngôn ngữ trị liệu, tuy nhiên, gần một nửa những chuyên viên này được đào tạo đểlàm việc chuyên về bệnh nhi [1] Không có chương trình đào tạo NNTL chính thức nàotại Việt Nam cho đến năm 2009 khi Tổ chức Trinh Foundation Australia bắt đầu hỗ trợtrường Đại học Y Phạm Ngọc Thạch tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức được khóahọc đào tạo về NNTL cho 65 người đến từ các tỉnh khác nhau bao gồm Hà Nội, Huế,

và Đà Nẵng Hiện nay tại Việt Nam, lực lượng hành nghề về NNTL là không đủ và

Trang 26

không có các tiêu chuẩn hành nghề Các cựu học viên của các khóa đào tạo Ngôn ngữtrị liệu hiện tại không thể hành nghề đến hết khả năng của họ vì chưa được cấp phéphành nghề Năm 2019 khoá đào tạo cử nhân NNTL và thạc sĩ NNTL đã được tổ chứctại trường Đại Học Y Đà Nẵng và Trường Đại Học Y dược Thành Phố Hồ Chí Minh.Tuy nhiên, số lượng sinh viên hoàn thành các khóa học này là 34 và con số này không

đủ để đáp ứng nhu cầu

Đối với PHCN tại viện (Bệnh viện, các trung tâm y tế, phòng khám ): Hiệnnay, Việt Nam đang có hơn 120 cơ sở y tế, bao gồm 36 bệnh viện PHCN, 63 khoaPHCN của 63 bệnh viện đa khoa tại 63 tỉnh thành và hơn 21 bệnh viện chuyên khoacấp trung ương cung cấp dịch vụ PHCN Tuy nhiên, sư thật chỉ có 1 số ít các bệnh viện

có nguồn nhân lực về NNTL Nguồn lực và các cơ sở NNTL chủ yếu tập trung tại một

số bệnh viện lớn thuộc các thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng, Thành Phố Hồ Chí Minhhầu như ở các nơi khác thì chưa có hoặc phát triển thấp, nhân lực NNTL cho nhữngđơn vị này vẫn chưa được đào tạo một cách chuyên nghiệp và chính thống

Hiện nay Bộ Y tế Việt Nam đã nhận ra vai trò quan trọng của NNTL.Trong Kếhoạch Quốc gia về Phát triển Phục hồi 2014-2020, được phê duyệt trong Quyết định4039/QĐ-BYT, đã đặt ra mục tiêu 85 % bệnh viện PHCN và 100 % các khoa hoặc khoaPHCN của các trường y phải có NNTL Đây được coi là một chiến lược phát triển đàotạo phục hồi nói chung và lực lượng lao động NNTL nói riêng tại Việt Nam [5]

1.3.2 Chương trình Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho khuyết tật giao tiếp và nuốt

1.3.2.1 Trên thế giới

Báo cáo khuyết tật đã được Tổ chức y tế Thế Giới công bố vào năm 2011 chưađưa ra một con số cụ thể về khuyết tật giao tiếp và nuốt [72] Đây là một thách thức lớncủa các chuyên viên NNTL trong phát triển các dịch vụ phù hợp liên quan đến khuyếttật giao tiếp và nuốt Các chuyên gia đề xuất sự cần thiết phải có một cái nhìn rộng hơn

Trang 27

về khuyết tật giao tiếp, bao gồm chuyển trọng tâm từ đánh giá và can thiệp dựa trên cánhân hoặc rối loạn sang đánh giá và can thiệp dựa trên dân số [74].

Đảm bảo đủ số lượng chuyên viên NNTL để đáp ứng nhu cầu của tất cả NKT sẽmất rất nhiều thời gian đào tạo và do đó có thể không phải là cách thích hợp nhất đểđáp ứng nhu cầu của tất cả những NKT ở các quốc gia có nguồn nhân lực thấp Nhưngnghiên cứu (Wirz & Lichtig, 1998) khuyến nghị rằng PHCNDVCĐ có thể giải quyếttốt nhất những hạn chế này và tăng cường sự tham gia của khuyết tật giao tiếp và nuốttrong cộng đồng của họ, bằng cách xóa bỏ sự kỳ thị, thúc đẩy tiếp cận các dịch vụ côngcộng và kết hợp khuyết tật giao tiếp và nuốt vào các hoạt động cộng đồng [73]

Trong một nghiên cứu khám phá làm thế nào để cải thiện tình trạng của khuyếttật giao tiếp và nuốt, Wickenden (2013) đề xuất rằng các chuyên viên NNTL nên nắmbắt các phương pháp tiếp cận nhân quyền trong khuôn khổ phát triển cộng đồng rộnglớn hơn, sử dụng PHCNDVCĐ để cải thiện cuộc sống của những NKT giao tiếp vànuốt [68] Ngoài việc đáp ứng với một cá nhân, nhu cầu nhận thức và can thiệp củacộng đồng cũng đã được xác định [73] Các dịch vụ PHCN cho khuyết tật giao tiếp vànuốt nên được phát triển dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Quyền của NKT và tất

cả các khía cạnh của phân loại quốc tế về chức năng và sức khoẻ

1.3.2.2 Tại Việt Nam

Hiện nay chưa có báo cáo, nghiên cứu về tác động của PHCNDVCĐ đối với NKTgiao tiếp và nuốt nhưng PHCNCDVCĐ được coi là chiến lược phát triển phù hợp trongbối cảnh thiếu hụt nguồn nhân lực về NNTL ở Việt Nam Kế hoạch Quốc gia về Pháttriển Phục hồi chức năng 2014-2020 với mục tiêu đẩy mạnh công tác PHCNDVCĐ vềmọi mặt hướng tới 80 % NKT nói chung có nhu cầu được tiếp cận với các dịch vụ PHCNphù hợp để hòa nhập cộng đồng [5].Theo nghiên cứu dành cho của các học viên sau đạihọc về NNTL thì họ nhận định rằng chiến lược sử dụng Nhân viên và nguồn nhân lực y

tế - giáo dục ở cộng đồng hiện có để phát triển các dịch vụ, bền vững cho trẻ và ngườilớn mắc các rối loạn giao tiếp và nuốt là cần thiết [7]

Trang 28

Thực trạng một số vấn đề hiện nay: Sự thiếu hụt các lớp đào tạo bổ sung kiếnthức Cung cấp các dụng cụ, thiết bị hỗ trợ về PHCN cho NKT giao tiếp và nuốt tại cộngđồng còn thấp nhiều nơi không có Số lượng NKT giao tiếp và nuốt tham gia vào chươngtrình PHCNDVCĐ là rất nhỏ so với thực tế, được hưởng lợi từ chương trìnhPHCNDVCĐ rất ít, ảnh hưởng của PHCNDVCĐ đến NKT giao tiếp và nuốt vẫn cònhạn chế Chất lượng dịch vụ mà các nhân viên PHCNDVCĐ cung cấp, sự nhận diện vàcan thiệp sớm cho nhóm NKT này còn mức thấp và không đầy đủ Theo nghiên cứu đốitượng là những NKT giao tiếp không nằm trong hồ sơ quản lý NKT tại địa phươngnguyên nhân chủ yếu là họ không biết ở đâu, ai, những lợi ích và dịch vụ gì họ đượcnhận được khi có trong hồ sơ quản lý NKT [1].

1.3.3 Nhu cầu đào tạo nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt

Khi triển khai các chương trình PHCNDVCĐ, mối quan tâm lớn là duy trì hiệuquả của chương trình PHCNDVCĐ [38] Đề cập đến đào tạo nhân viên, ILO, UNESCO

và TCYTTG nhấn mạnh rằng nhân viên PHCNDVCĐ cần học các kỹ năng để đào tạoNKT, họ cần phải học để cung cấp các dịch vụ tốt nhất Nhân viên cũng cần được đàotạo để kết nối NKT và gia đình NKT, kết nối với lãnh đạo cộng đồng và cung cấp cácdịch vụ trong cộng đồng Các lĩnh vực nhân viên cần đào tạo bao gồm: Can thiệp PHCNtại nhà, tổ chức PHCN tại nhà và cộng đồng, kỹ năng giảng dạy, nhận thức về các chươngtrình và sự phối hợp của chính quyền [54] Một số nghiên cứu cho thấy nhân viên củaPHCNDVCĐ rất muốn được đào tạo về nghề nghiệp vì họ muốn có kiến thức để thựchiện tốt vai trò của mình và có động lực tham gia chương trình [31], [67]

Nghiên cứu ở Malaysia về nhu cầu đào tạo cho nhân viên PHCNDVCĐ đối vớikhuyết tật giao tiếp đã ghi nhận đào tạo trong lĩnh vực này rất quan trọng, nhân viênPHCNDVCĐ nhận thức được khó khăn của những NKT giao tiếp nhưng kiến thức hạnchế, họ không hiểu được hết được những khó khăn phức tạp liên quan và không biết cách

Trang 29

giúp đỡ Việc thiếu đào tạo có thể dẫn đến sự không hài lòng của nhân viên đối với côngviệc của họ [57].

Hình thức đào tạo và nội dung đào tạo cho nhân viên PHCNDVCĐ về NNTL rấtkhác nhau giữa các quốc gia và giữa các dự án Ví dụ, nhân viên PHCNDVCĐ ởMalaysia đã được cung cấp các khóa đào tạo cơ bản về PHCNDVCĐ, ngôn ngữ ký hiệu,phát triển trẻ em và nhu cầu của trẻ em khuyết tật, nhu cầu dinh dưỡng và chăm sóc trẻ

em khuyết tật [31] Trong khi có các chương trình PHCNDVCĐ cung cấp hai hoặc batuần đào tạo cơ bản cho nhân viên PHCNDVCĐ, thì cũng có những khóa học chính thứckhác có thể kéo dài tới 2 năm Một đánh giá chương trình giảng dạy về khóa học vănbằng hai năm cho nhân viên PHCNDVCĐ ở Ghana đã kết luận rằng chương trình đàotạo bị giới hạn trong việc trang bị cho người lao động đầy đủ kiến thức và kỹ năng liênquan đến việc thúc đẩy hòa nhập xã hội của NKT [69]

Nhu cầu đào tạo là quan trọng do tính chất đa ngành và năng động củaPHCNDVCĐ, nhân viên PHCNDVCĐ cần một loạt các kỹ năng để thực hiện hiệu quảcác chương trình PHCNDVCĐ Thực tế, đào tạo ban đầu là không đủ, nhân viênPHCNDVCĐ cần sự phát triển và hỗ trợ đào tạo liên tục trong công việc Trình độ kỹnăng của nhân viên PHCNDVCĐ rất khác nhau do đào tạo và kinh nghiệm làm việc đadạng và không có mô tả về vai trò nhất quán cho họ Đào tạo khác nhau phụ thuộc vàonhân viên làm việc ở từng cấp khác nhau, giữa các địa phương và nhóm NKT cụ thể màcác hoạt động PHCNDVCĐ được nhắm tới Ví dụ một chương trình tập trung vào trẻ

em khó khăn giao tiếp, sẽ tập trung các hoạt động đào tạo vào các nhu cầu cụ thể củachúng [69]

Mặc dù đào tạo tại địa phương là cần thiết để duy trì và phát triển chương trình,nhưng thực tế là các đào tạo này chưa được kiểm chứng hay đánh giá sẽ đảm bảo rằngnhân viên PHCNDVCĐ đạt được mức độ năng lực tối thiểu có thể trang bị cho họ các

kỹ năng cần thiết để cung cấp dịch vụ chất lượng, do đó sự cần thiết phải phát triển một

hệ thống đào tạo và hỗ trợ, mở rộng chương trình giảng dạy để nâng cao kỹ năng của

Trang 30

nhân viên PHCNDVCĐ Đào tạo kiến thức chỉ thật sự hiệu quả khi có áp dụng vào thực

tế và đáp ứng nhu cầu của người được đào tạo Trong phát triển chương trìnhPHCNDVCĐ tìm hiểu đặc điểm và nhu cầu của các nguồn lực là cấp thiết Hiện nay ViệtNam có rất ít thông tin về thành phần, vị trí, nhận thức và nhu cầu đào tạo của nguồnnhân lực này khi làm việc với khuyết tật giao tiếp và nuốt

1.4 Một số đặc điểm về hệ thống y tế và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Tây Ninh

1.4.1 Giới thiệu một số đặc điểm hệ thống y tế tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh là một tỉnh thuộc miền Đông nam bộ, giáp với thành phố Hồ Chí Minh

có đường biên giới giáp Campuchia dài 240 km Diện tích tự nhiên là 4.030 km2, dân số1.045.342 người Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Tây Ninh làvùng căn cứ địa cách mạng và là vùng trọng điểm đánh bom mìn, rải chất độc hóa họccủa Mỹ Hậu quả chiến tranh, bệnh tật đã làm cho tỉ lệ người tàn tật trong tỉnh tăng cao.Tây Ninh gồm 09 đơn vị hành chính: 01 Thành phố Tây Ninh, 02 thị xã Trảng Bàng,Hoà Thành và 06 huyện: Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu, Châu Thành, BếnCầu, Gò Dầu trong đó có 95 xã/ phường

Toàn tỉnh có 04 bệnh viện tuyến tỉnh, 09 trung tâm y tế tại các huyện và thànhphố, 95 trạm y tế Các bệnh viện đa khoa tỉnh, trung tâm y tế cấp huyện, thành phố đều

có khoa PHCN

1.4.2 Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Tây Ninh

Chương trình PHCNDVCĐ được triển khai tại tỉnh Tây Ninh trong những nămđầu thập kỷ 90, ngành PHCN của tỉnh gắn liền một số khoa của một số bệnh viện đặcbiệt là Bệnh viện đa khoa tỉnh Đến năm 1994 Làng Hòa bình Tây Ninh được thành lậpnhằm phục vụ trẻ em khuyết tật, mạng lưới PHCN được xây dựng, nguồn nhân lực thiếu

và yếu, đặc biệt cán bộ chuyên ngành PHCN thiếu nghiêm trọng, không đáp ứng đượcnhu cầu của người tàn tật Chương trình PHCNDVCĐ chưa được triển khai, mãi cho đếngiữa thập kỷ 90 thì trường Kỹ thuật Y tế Trung ương đến Tây Ninh đặt những nền móng

Trang 31

PHCNDVCĐ ở xã Bàu Năng-huyện Dương Minh Châu Đến năm 2019, mạng lướiPHCNDVCĐ đã được tăng cường từ tuyến tỉnh đến tuyến xã Ðến nay, toàn tỉnh có100% trung tâm y tế huyện, thành phố có bác sĩ, y sĩ, kỹ thuật viên được đào tạo, bồidưỡng kiến thức về chuyên ngành PHCN; 100% trạm y tế xã có cán bộ y tế phụ tráchcông tác PHCNDVCĐ Toàn tỉnh hiện có 117 cán bộ ở mỗi xã, phường, thị trấn đều cócán bộ chuyên trách về PHCNDVCĐ Tổng số nhân viên toàn tỉnh hiện là 542 người.

Năm 2020, theo phần mềm quản lý NKT của tỉnh Tây Ninh, đã điều tra và phânloại tất cả những NKT ở 95 xã, phường Kết quả khảo sát cho thấy toàn tỉnh có tất cả27.591 NKT, trong đó 15.601 NKT trong lĩnh vực y tế, 1.734 NKT giao tiếp, cao thứ 3sau khuyết tật vận động và khuyết tật thị giác [14]

Chương trình PHCNDVCĐ tại tỉnh Tây Ninh có sự tham gia từ nhiều nguồn nhân lực:

Nhân viên của khoa PHCN tại bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh, bệnh viện PHCNtỉnh Tây Ninh, nhân viên phụ trách PHCN Sở Y tế, Sở thương binh lao động – xã hội,lãnh đạo địa phương, cộng tác viên, gia đình NKT và NKT Trong đó Bệnh viện PHCNchịu trách nhiệm quản lý chính của chương trình Ngoài ra, chương trình PHCNDVCĐ,đang có sự phối hợp hỗ trợ với tổ chức quốc tế Hiệp hội hỗ trợ NKT Việt Nam (VNAH),đang triển khai các dự án cho NKT ở tỉnh Tây Ninh - Dự án trực tiếp (Tăng cường thựchiện các chính sách và điều trị cho NKT); trung tâm phát triển sức khoẻ bền vữngViethealth VNAH đã hỗ trợ các địa phương đào tạo và tăng cường nguồn nhân lực: năm

2019 có 16 bác sĩ và 26 kỹ thuật viên đã hoàn thành khóa đào tạo PHCN tại Thành phố

Hồ Chí Minh Đào tạo 60 cán bộ cơ sở toàn thời gian; tổ chức đào tạo chuyên ngànhPHCN và chuyển giao công nghệ về PHCN, cung cấp thiết bị PHCN cho bệnh viện vàtrung tâm y tế huyện, NKT tại cộng đồng

Có sự tham gia phối hợp của tất cả các cấp từ tỉnh đến xã, nhưng chương trìnhPHCNDVCĐ ở Tây Ninh vẫn còn một số hạn chế: Chương trình PHCNDVCĐ thực hiệntại các xã không đồng đều, hiệu quả chưa cao, tài liệu cung cấp không đầy đủ, chương

Trang 32

trình đào tạo và kiến thức bổ sung không liên tục, chất lượng báo cáo hàng tháng vềchương trình PHCNDVCĐ của nhân viên PHCNDVCĐ là không tốt.

Toàn tỉnh không có nguồn nhân lực về NNTL, NKT giao tiếp và nuốt không đượctiếp cận PHCN trong bệnh viện cũng như trong cộng đồng Bộ Y tế cung cấp cho nhânviên PHCNDVCĐ các tài liệu PHCNDVCĐ về nói lắp, chậm, mất giọng nói và các tàiliệu chăm sóc cho chứng khó nuốt ở trẻ bị bại não, đột quỵ, nhưng không có chuyên viênNNTL nào đào tạo kiến thức đó cho nhân viên PHCNDVCĐ, vì vậy thực tế làPHCNDVCĐ đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt ở Tây Ninh chưa mang lại hiệu quả

Sở Y tế đã đề ra chiến lược phát triển PHCNDVCĐ tại tỉnh Tây Ninh, trong đóđào tạo cán bộ PHCN bao gồm NNTL được chú trọng, hiện tại Tây Ninh được sự hỗ trợ

dự án Viethealth là một trong các tỉnh đầu tiên có bác sĩ và kỹ thuật viên học ngànhNNTL tại thành phố Hồ Chí Minh Đây là cơ sở tài nguyên để phát triển dịch vụPHCNDVCĐ cho các khuyết tật về giao tiếp và nuốt tại Tây Ninh [20]

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang sử dụng khảo sát để thu thập thông tin về đặc điểm, hiểubiết và nhu cầu đào tạo của nhân viên PHCNDVCĐ làm việc với các khuyết tật về giaotiếp và nuốt ở Tỉnh Tây Ninh tại 1 thời điểm

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021 tạiTỉnh Tây Ninh

2.3 Đối tượng nghiên cứu

𝑛

: Cỡ mẫu và bằng 175 nhân viên PHCNDVCĐ

𝑍

("#∝ %% & ): Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95 % được tính bằng 1,962

𝑝

= 0,131 : Nghiên cứu Yeap C.E và cộng sự (2017) về nhu cầu đào tạo về

khuyết tật giao tiếp có 13,1% nhân viên PHCNDVCĐ cần một số đào tạo [33]

Trang 34

𝑑

: Khoảng sai lệch mong muốn giữa 2 tỷ lệ thu được từ mẫu (p) và tỷ lệ củaquần thể (P) Trong trường hợp này được coi là tỷ lệ tuyệt đối, tức là hiệu của tỷ lệ P

01 thành phố Tây Ninh với tổng cộng 43 xã, phường, lấy toàn bộ nhân viên PHCNDVCĐlàm việc tại cấp xã và cấp thôn/ấp ở 4 địa điểm trên Tổng số người tham gia nghiên cứu

là 205 người

2.3.5 Tiêu chí chọn vào

Nhân viên PHCNDVCĐ cấp xã và cấp thôn/ấp thuộc thành phố Tây Ninh, 02huyện Châu Thành, Tân Biên và thị xã Hoà Thành có tên trong danh sách thực hiệnnhiệm vụ PHCNDVCĐ tại thời điểm nghiên cứu

Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.4 Liệt kê, định nghĩa các biến số

Các biến số nghiên cứu trong nghiên cứu này được liệt kê trong Bảng 2.1

Trang 35

Bảng 2.1 Mô tả các biến số nghiên cứu

Đặc điểm chung của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Tuổi của ĐTNC tính theo năm dương lịch chotới thời điểm khảo sát Bao gồm 03 giá trị

+ < 30 tuổi + 30- 50 tuổi+ > 50 tuổi

Giới tính Nhị giá Là giới tính của ĐTNC gồm 02 giá trị :

Nghề nghiệp Danh định

Là nghề nghiệp mang lại thu nhập chính choĐTNC gồm 05 giá trị :

+ Nhân viên y tế +Công chức

Trang 36

Đã được tham gia

đào tạo Nhị giá Có 2 giá trị : + Có +Không

Lĩnh vực hoạt động

Danh định

Lĩnh vực hoạt động theo quy định trong Ma trậnPHCNDVCĐ mà nhân viên tham gia tại thờiđiểm khảo sát gồm 05 giá trị:

Hoạt động của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt

Trang 37

Hiểu biết nhân viên

Trang 38

(Tham khảo bảng câu hỏi)

Nhu cầu đào tạo của nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

đối với khuyết tật giao tiếp và nuốt

Nhu cầu đào tạo

Danh định

Gồm có 03 giá trị:

+ Không;

+ Tôi cần một số đào tạo;

+ Tôi cần được đào tạo rất nhiều

Hình thức đào tạo

Danh định

Gồm có 03 giá trị:

+ Lớp đào tạo ngắn hạn+ Lớp đào tạo ngắn hạn;

(Tham khảo bảng câu hỏi)

Đề xuất nội dung

Gồm có 08 giá trị

(Tham khảo bảng câu hỏi)

Dữ liệu về nội dung khoá đào tạo, thời gian đào tạo, địa điểm đào tạo đã được tậphuấn đào tạo trước đó sẽ được phân loại theo các chủ đề dựa trên câu trả lời của đốitượng nghiên cứu

Trang 39

2.5 Thu thập dữ liệu nghiên cứu

2.5.1 Công cụ thu thập dữ liệu nghiên cứu

Công cụ: Bảng câu hỏi khảo sát có cấu trúc trắc nghiệm tự điền gồm 31 câu ( phụ lục 1)

Bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế dựa trên:

1 Tham khảo “Tài liệu hướng dẫn đào tạo nhân lực PHCNDVCĐ” của Bộ y tế(2008) về chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu nhận thức khuyết tật đối với các nhân viênPHCNDVCĐ ở cấp xã và cấp thôn/ấp [3],[4]; 2 Tham khảo bộ câu hỏi khảo sát trong

nghiên cứu Yeap C.E và cộng sự (2017) về nhu cầu đào tạo về khuyết tật giao tiếp của

nhân viên PHCNDVCĐ tại Malaysia [33]; 3 Nhận được phản hồi từ các giáo sư và hộiđồng nghiên cứu khoa học

Bảng câu hỏi đã được thử nghiệm thí điểm với 10 nhân viên PHCNDVCĐ ở cấp

xã và cấp thôn/ấp (những xã này không được đưa vào địa điểm nghiên cứu) xác địnhtính nhất quán của việc giải thích các câu hỏi, để làm rõ các mục không rõ ràng, thu thậpphản hồi về thiết kế và mức độ liên quan của các câu hỏi Những người tham gia đã thểhiện sự đồng ý của họ bằng cách ký vào mẫu đồng ý trước khi các bảng câu hỏi đượcphân phát Những người tham gia được yêu cầu nhận xét về các vấn đề được quan sátliên quan đến các câu hỏi trong nghiên cứu thí điểm bao gồm sự rõ ràng của các hướngdẫn và các mục của bảng câu hỏi, các thuật ngữ được sử dụng trong các câu hỏi, trình tựcâu hỏi, định dạng - bao gồm phông chữ và bố cục, cũng như khoảng thời gian hoànthành bảng câu hỏi Thời gian để giải thích nghiên cứu khoảng 3-5 phút, trong khi thờigian trả lời bảng câu hỏi mất khoảng 15-30 phút Hầu hết các câu hỏi được coi là chấpnhận được và dễ hiểu, những người tham gia được phép hỏi các nhà nghiên cứu trongtrường hợp có bất kỳ nghi ngờ nào Các thay đổi đã được thực hiện dựa trên các phảnhồi

Bảng câu hỏi khảo sát được chia thành 3 phần Cả câu hỏi đóng và câu hỏi mởđều được sử dụng để cung cấp dữ liệu định lượng và định tính Phần đầu tiên, đặc điểmchung bao gồm các câu hỏi có sự lựa chọn để lấy thông tin nhân khẩu học, kinh nghiệm

Trang 40

và mức độ hoạt động, các câu hỏi mở lấy thông tin về các khoá đào tạo mà nhân viênPHCNDVCĐ đã được đào tạo trước đó Phần thứ hai tập chung chủ yếu vào hoạt độngcủa nhân viên PHCNDVCĐ đối với nhóm khuyết tật giao tiếp và nuốt Nhân viên đượcyêu cầu đánh giá tần suất họ gặp những NKT, độ tuổi của NKT và dịch vụ PHCN mànhân viên đã cung cấp cho nhóm NKT trong địa phương của họ Một định nghĩa đã đượcđưa ra về người khuyết tật giao tiếp và người khuyết tật nuốt, nhân viên được yêu cầu tựđánh giá mức độ hiểu biết của họ đối với nhóm khuyết tật trên dựa vào 3 thang điểmmức độ “ tôi không có hiểu biết”, “tôi có ít hiểu biết”, “ tôi có hiểu biết tốt” Ngoài ra,nhân viên PHCNDVCĐ được hỏi về khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động của họ đối vớinhóm khuyết tật giao tiếp và khuyết tật nuốt các câu hỏi nhiều lựa chọn được đưa ra,đồng thời có phần nội dung khác để nhân viên có thể tự nêu ra các khó khăn của họ.Phần thứ 3 tập chung lấy thông tin về nhu cầu đào tạo, hình thức đào tạo, nội dung đàotạo phù hợp nhất đối với nhân viên PHCNDVCĐ về khuyết tật giao tiếp và khuyết tậtnuốt tại địa phương.

2.5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu

Sau khi nhận được sự chấp thuận của Hội đồng đạo đức, tiến hành gửi thư xinphép đến Sở Y tế Tây Ninh, Bệnh viện PHCN, Trung tâm y tế thuộc 02 huyện Tân Biên,Châu Thành, Thị Xã Hoà Thành, Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh

Thông qua danh sách và mail do phòng kế hoạch Bệnh Viện Phục Hồi Chức NăngTây Ninh cung cấp sẽ tiến hành gửi thông tin nghiên cứu đến các nhân viên qua mail cánhân hoặc mail của cơ quan Nhà nghiên cứu thu thập thông tin trực tiếp bằng cách sửdụng một cuộc khảo sát trắc nghiệm được thiết kế sẵn mà những người tham gia nghiêncứu hoàn thành một cách độc lập và gửi lại cho nhà nghiên cứu

Đối với người tham gia tại huyện Châu Thành, Tân Biên thông qua cuộc họp quý

IV tháng 11- 12/2020 do cán bộ tại 2 trung tâm hỗ trợ, nghiên cứu viên đã đến và tiếnhành lấy phiếu khảo sát

Ngày đăng: 10/04/2023, 21:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Hoàng Văn Minh (2020), Phương pháp chọn mẫu và Tính toán cỡ mẫu trong nghiên cứu khoa học sức khoẻ, Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội, tr 10- 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp chọn mẫu và Tính toán cỡ mẫu trong nghiên cứu khoa học sức khoẻ
Tác giả: Hoàng Văn Minh
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội
Năm: 2020
14. Quỹ dân số liên hợp quốc (2015), Người khuyết tật tại Việt Nam : Những phát hiện chính từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người khuyết tật tại Việt Nam : Những phát hiện chính từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2015
Tác giả: Quỹ dân số liên hợp quốc
Năm: 2015
15. Sở Lao động thương binh và xã hội Tây Ninh (2020), Phần mềm thống kê số liệu người khuyết tật Tây Ninh . Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phần mềm thống kê số liệu người khuyết tật Tây Ninh
Tác giả: Sở Lao động thương binh và xã hội Tây Ninh
Năm: 2020
17. Tổ chức Y tế Thế giới (2010), “Community-based rehabilitation: CBR guidelines”, Thư viện quốc gia Hoa Kỳ, tr. 21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Community-based rehabilitation: CBR guidelines
Tác giả: Tổ chức Y tế Thế giới
Nhà XB: Thư viện quốc gia Hoa Kỳ
Năm: 2010
18. Tổng cục Thống kê (2018), Điều tra quốc gia người khuyết tật, Nhà xuất bản thống kê , Hà Nội, tr. 14-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra quốc gia người khuyết tật
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2018
19. Trường đại học Y Hà Nội (2013), Phương pháp nghiên cứu sức khỏe cộng đồng.Giáo trình dùng cho bác sĩ y học dự phòng, Nhà xuất bản y học, Hà nội, tr. 157- 163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu sức khỏe cộng đồng
Tác giả: Trường đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2013
12. Nguyễn Thị Phương Nga, Phan Xuân Nam (2014), "Đánh giá rối loạn nuốt ở bệnh nhân đột quỵ não cấp bằng thang điểm Guss", Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(3), tr. 47-52 Khác
13. Phạm Thị Nhuyên (2011), "Nghiên cứu thực trạng gia đình người tàn tật trong Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hải Dương", Tạp chí Y học thực hành, 772, tr 43-45 Khác
16. Lương Thị Minh Thủy (2012), "Nghiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và Phục hồi chức năng cho người tàn tật dựa vào cộng đồng tại Quận Hoàng Mai, Hà Nội", Tạp chí Y học thực hành, 986, tr. 237 – 240 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w