VXH do nấm chiếmkhoảng 10% các trường hợp VXH nói chung [31], thường biểu hiện ở mộtxoang và một bên duy nhất, đa số phải điều trị phẫu thuật nội soi mũi xoang để lấy hết tổ chức nấm tro
TỔNG QUAN
Lịch sử nghiên cứu
Năm 2004, hai tác giả người Mỹ là Kaplan và Kountakis nghiên cứu 64
BN về chẩn đoán và GPB của bệnh lý XH một bên ghi nhận: Số BN bị VMX
MT không có polyp chiếm 42%, VMX MT có polyp chiếm 19%, nấm chiếm 3%, còn lại là các nguyên nhân khác [37].
Năm 2001, Slack nghiên cứu trên 190 trẻ em đã trình bày các loại vi khuẩn gây viêm xoang thường gặp: Haemophilus influenzae (24%), Streptococcus pneumoniae (19%), Moraxella catarrhalis (17%) [13].
Năm 2015 tác giả Troeltzsch M và cộng sự nghiên cứu ở 174 ca VXH một bên nhận thấy có VXH do răng và VXH do nguyên nhân khác [87].
Lê Công Định đã tiến hành nghiên cứu 31 trường hợp viêm xoang mủ ở trẻ em tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương trong giai đoạn 1987-1993, với tỷ lệ dương tính đạt 48.38% Trong số đó, Streptococcus pneumoniae là tác nhân phổ biến nhất, chiếm 37.5%, tiếp theo là Haemophilus influenzae với tỷ lệ 25%.
Năm 2009, Nguyễn Thị Linh Chi từ Đại học Y Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu về viêm hệ thống xoang trước một bên và phát hiện rằng có 31 trong số 57 ca mắc VXH đơn thuần một bên, nguyên nhân chủ yếu là do nấm và răng.
Năm 2014, Nguyễn Hoàng Thùy Dung (ĐHYD TPHCM) nghiên cứu
Trong một nghiên cứu trên 63 bệnh nhân VXH một bên có chỉ định phẫu thuật, kết quả giải phẫu bệnh cho thấy 58,7% trường hợp mắc VXH mạn tính, trong đó có 46% là VX mạn không polyp và 12,7% là VX có polyp Ngoài ra, bệnh VXH do nấm chiếm 39,7%, với nấm được xác định là Aspergillus.
VXH do răng chỉ chiếm 1,6% [8].
Năm 2018, Bùi Thế Hưng (ĐHYD TPHCM) đã tiến hành nghiên cứu trên 95 bệnh nhân mắc bệnh viêm mũi xoang (VMX MT) có chỉ định phẫu thuật Kết quả cho thấy, trong số các mẫu dịch mủ được lấy từ các xoang, có 24,2% mẫu cấy dương tính với vi khuẩn, trong đó 78,3% là chủng Gram dương và 21,7% là chủng Gram âm.
Đặc điểm giải phẫu xoang hàm
Xoang hàm hoàn thiện vào khoảng 6 tuổi và ngừng phát triển khi đến tuổi trưởng thành Đây là một hốc rỗng nằm trong xương hàm trên, có hình tháp với ba mặt, một đáy và một đỉnh mở rộng đến củ gò má của xương hàm trên.
Lỗ thông xoang hàm là một ống nhỏ, thuộc phần mê đạo sàng, có kích thước khoảng 2,5 mm Nó nằm ở vị trí 1/4 sau-trên, tức là ở góc cao của xoang, và đổ vào hốc mũi tại đầu dưới phễu sàng, vùng PHLN Khoảng 10 – 40% trường hợp có một hoặc vài lỗ thông xoang phụ do niêm mạc bị khuyết ở vùng fontanelles, tuy nhiên, các lỗ thông này không phải là đường dẫn lưu sinh lý bình thường.
Ngách mũi giữa là khu vực quan trọng nằm trước, được giới hạn bởi các xoang sàng trước, cuốn giữa và mỏm móc Khu vực này chủ yếu bao gồm ngách trán - sàng và khe bán nguyệt, nơi có lỗ thông của các xoang hàm, xoang trán và xoang sàng trước Đây được xem là điểm giao thông chính cho sự dẫn lưu của các xoang vào hốc mũi Bất kỳ cản trở nào tại khu vực này đều có thể gây tắc nghẽn dẫn lưu của các xoang, dẫn đến viêm xoang (VX).
Naumann (Amsterdam-1965) đã đề xuất đặt tên cho vùng giải phẫu quan trọng này là PHLN (complex ostiomeatal), vì nó đóng vai trò then chốt trong cơ chế sinh bệnh của viêm mũi xoang (VMX), bao gồm cả viêm xoang hàm (VXH).
Hình 1.1 Phức hợp lỗ - ngách [62]
Đặc điểm sinh lý xoang hàm
1.3.1 Cấu tạo niêm mạc xoang hàm
Niêm mạc mũi xoang là biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển, bao gồm tế bào trụ có lông chuyển, tế bào đáy và tế bào đài với tỷ lệ một tế bào đài trên năm tế bào trụ Tế bào đáy có chức năng sinh sản tế bào biểu mô, trong khi tế bào đài tiết nhầy tạo lớp gel, số lượng thay đổi theo tình trạng viêm nhiễm Dưới lớp biểu mô là lớp đệm mô liên kết thưa chứa tuyến nhầy tiết ra lớp loãng Chất nhầy gồm hai lớp: lớp gel ở trên và lớp sol ở dưới, với nhiều men muramidase có khả năng tiêu diệt vi trùng Nhờ những đặc điểm này, niêm mạc mũi xoang thực hiện chức năng bảo vệ, làm ấm, làm ẩm không khí, lọc bụi và tạo luồng khí xoáy, tăng cường chức năng của niêm mạc.
Hình 1.2 Cấu trúc niêm mạc mũi xoang [20]
1.3.2 Sự vận chuyển niêm dịch trong lòng xoang hàm
Messerklinger đã nghiên cứu hoạt động của hệ thống lông chuyển trên các mẫu tử thi sau 24 đến 48 giờ, thời gian mà các tế bào lông vẫn duy trì hoạt động và hướng vận động Ông phát hiện rằng dịch tiết trong xoang không được vận chuyển ngẫu nhiên đến LTMX mà theo một con đường nhất định, tùy thuộc vào từng xoang, và tất cả đều hướng về lỗ thông tự nhiên của xoang.
Hình 1.3 Sơ đồ vận chuyển niêm dịch trong xoang hàm [20]
Bệnh học viêm mũi xoang mạn tính
VMX mạn tính là một nhóm bệnh lý phát sinh từ quá trình viêm phức tạp do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong khi VMX cấp tính chủ yếu liên quan đến nhiễm trùng Quan điểm về đường thở hợp nhất nhấn mạnh sự tương tác giữa hô hấp trên và dưới, cùng với việc chia sẻ các hóa chất trung gian gây viêm như cytokine IL-4, IL-5 và IL-3, cũng như các dòng bạch cầu đặc biệt là eosinophile Sự kích hoạt VMX mạn tính có thể đến từ nhiều yếu tố, bao gồm yếu tố vi sinh, môi trường và kí chủ.
Cơ chế bệnh sinh của viêm xoang hàm một bên
LTMX đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của viêm mũi xoang (VMX) và viêm xoang (VXH) Khi lỗ thông này bị tắc, sự thông khí giữa mũi và xoang bị mất, dẫn đến giảm oxy trong xoang, làm giảm áp lực và gây phù nề niêm mạc LTMX không chỉ quan trọng cho thông khí mà còn cho dẫn lưu, là lỗ thông duy nhất đảm bảo sự dẫn lưu từ xoang ra mũi Khi bị tắc, chất xuất tiết ứ đọng trong xoang làm rối loạn chức năng của hệ thống lông nhầy, khiến niêm mạc xoang càng phù nề Áp lực âm trong xoang tạo điều kiện cho sự di chuyển ngược chiều của dịch từ mũi vào xoang, mang theo vi khuẩn và chất bẩn, tạo điều kiện cho sự phát triển của virus và vi khuẩn, dẫn đến vòng luẩn quẩn bệnh lý Tóm lại, cơ chế bệnh sinh chính của VMX là phù nề niêm mạc mũi – xoang gây bít tắc, ngoại trừ trường hợp VXH do nấm, được phân loại là thứ phát theo EPOS 2020.
Chẩn đoán viêm xoang mũi xoang mạn tính
Một số định nghĩa và phân loại VMX mạn tính theo EPOS 2020 [53]:
- VMX mạn tính: có 2 hoặc nhiều hơn các triệu chứng mà 1 trong số đó là ngạt, tắc mũi hoặc chảy dịch mũi (trước hoặc sau):
• (±) Đau nhức mặt, nặng mặt
+ Nội soi mũi: khe mũi giữa có mủ / phù nề niêm mạc / polyp mũi.+ Và/ hoặc: CLVT mũi xoang có mờ phức hợp lỗ ngách, xoang.
Các nguyên nhân gây viêm xoang hàm một bên
Theo Parson D.S, nguyên nhân phổ biến nhất của viêm mũi xoang (VMX) là sự phù nề niêm mạc mũi xoang Bất kỳ yếu tố nào gây phù nề niêm mạc mũi - xoang đều có thể dẫn đến viêm xoang (VX) Trong trường hợp viêm xoang hai bên, nguyên nhân thường liên quan đến các yếu tố toàn thân, trong khi viêm xoang một bên thường do các dị hình trong hốc mũi hoặc các yếu tố tại chỗ như chấn thương vùng xoang hoặc bít tắc dẫn lưu.
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào các nguyên nhân gây viêm xoang hàm cấp và mạn tính, bao gồm dị vật, yếu tố viêm do răng, và nấm Các nguyên nhân này có thể được phân loại thành nhiều nhóm khác nhau.
1.7.1 Viêm xoang hàm do nhiễm trùng
Virus có thể xuất hiện sau các đợt cúm hoặc sởi, với các tác nhân như Rhinovirus, Coronavirus, Influenza virus và Virus hợp bào đường hô hấp Những bệnh này gây viêm mũi cấp tính, làm phù nề niêm mạc và bít tắc lỗ dẫn lưu, dẫn đến ứ đọng dịch trong xoang và ảnh hưởng đến hoạt động của hệ lông chuyển Quá trình này có thể lan tới xoang và gây viêm xoang.
Vi khuẩn (trong VXH mạn): thường gặp là Streptococcus pneumoniae,
Streptococcus constellatus, Staphylococcus aureus, Streptococcus hemolyticus, Pseudomonas aeruginosa và một số VK gram âm khác [5].
S aureus là những cầu khuẩn Gram dương, đường kớnh từ 0.8-1 àm, thường không có vỏ, không có lông và không nha bào, tụ với nhau tạo thành từng cụm giống chùm nho Chúng là VK kỵ khí, có thể sinh trưởng và phát triển mà không cần oxy, dương tính với quá trình khử catalase, nitrat [70] S. aureus thuộc họ Firmicutes và được xem như một phần tử của hệ VSV thường trú trên cơ thể người, ước tính có khoảng 20-30% dân số là người mang trùng, nhưng cũng có thể trở thành mầm bệnh cơ hội do tạo ra các độc tố protein bề mặt tế bào liên kết và làm bất hoạt các kháng thể Chúng là nguyên nhân phổ biến của nhiễm trùng da, đường hô hấp và ngộ độc thực phẩm Sự xuất hiện của các chủng S aureus kháng KS như S aureus kháng methicillin (MRSA) là một vấn đề y học lâm sàng trên toàn thế giới [66].
S aureus có thể được tìm thấy trên da, trong mũi [44] và đường sinh dục nữ [120], gây ra các bệnh nhiễm trùng da và mô mềm [85], đặc biệt khi hàng rào da hoặc niêm mạc bị phá vỡ như mụn nhọt, chốc lở, viêm mô tế bào, áp xe, viêm nang lông, hội chứng bong vảy da đến các bệnh đe dọa tính mạng như viêm phổi, viêm màng não, viêm tủy xương Nhiễm trùng S aureus có thể lây lan qua tiếp xúc với mủ từ vết thương, da kề da hoặc với các đồ vật mà
BN sử dụng như khăn tắm, ga giường, quần áo Mỗi năm, khoảng 500.000
Bệnh nhân tại các bệnh viện Hoa Kỳ thường mắc bệnh nhiễm trùng tụ cầu, chủ yếu do vi khuẩn S aureus, dẫn đến khoảng 50.000 ca tử vong mỗi năm Trước những năm 1940, nhiễm trùng S aureus thường gây tử vong cho nhiều bệnh nhân, nhưng sau đó, penicillin đã được sử dụng để điều trị hiệu quả Tuy nhiên, vào cuối những năm 1940, tình trạng kháng penicillin đã trở nên phổ biến, dẫn đến sự bùng phát của các chủng vi khuẩn kháng thuốc.
Staphylococcus epidermidis là một loại cầu khuẩn Gram dương kỵ khí, âm tính với catalase, và là vi khuẩn phổ biến nhất trong nhóm Staphylococcus âm tính với men coagulase (CoNS) trên bề mặt biểu mô người Đây là tác nhân chính gây nhiễm trùng bệnh viện, đặc biệt trong các trường hợp liên quan đến thiết bị y tế Vi khuẩn này có khả năng hình thành màng sinh học mạnh mẽ, ức chế các cơ chế bảo vệ của vật chủ và sản xuất nhiều polyme cùng exoenzyme bảo vệ bề mặt S epidermidis có khả năng tiết ra các chất phân giải tế bào như modulin hòa tan phenol (PSM), đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của màng sinh học Ngoài ra, vi khuẩn này còn chứa gen độc lực có khả năng chuyển giao các yếu tố kháng miễn dịch và kháng kháng sinh sang S aureus, đồng thời giúp cân bằng hệ vi sinh vật trên bề mặt biểu mô người bằng cách kiểm soát sự phát triển của các vi khuẩn có hại như S aureus.
Staphylococcus haemolyticus là cầu khuẩn Gram dương, kỵ khí tùy nghi, không di động và không hình thành bào tử, có đường kính 0,8-1,3 mm, thường phân bố thành các cụm và phát triển tốt trong môi trường nuôi cấy bằng máu ở nhiệt độ từ 18°C - 45°C, tối ưu là 37°C Đây là loài Staphylococci âm tính với CoNS đứng thứ hai gây nhiễm trùng bệnh viện và nhiễm trùng huyết, chỉ sau S epidermidis Nghiên cứu cho thấy S haemolyticus có sự hiện diện của các enzym, cytolysin và các chất bề mặt khác nhau ảnh hưởng đến độc lực, nhưng yếu tố quyết định vẫn chưa được xác định Đặc biệt, loài này có khả năng kháng các chất kháng khuẩn, đặc biệt là glycopeptide, và thường xuyên điều chỉnh DNA, với báo cáo kháng cao đối với methicillin.
Staphylococcus quyết định khả năng kháng tất cả các loại kháng sinh b-lactam, bao gồm penicillin, cephalosporin, carbapenems và monobactams S haemolyticus có khả năng tồn tại và thích nghi tốt trong môi trường bệnh viện, đặc biệt trên các thiết bị y tế như ống thông tĩnh mạch, shunt CSF, ống thông thẩm phân phúc mạc, ống thông tiểu và vật liệu khâu Điều này khiến nó trở thành một yếu tố quan trọng trong các nhiễm trùng bệnh viện do tụ cầu đa kháng, như nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng vết thương ở bệnh nhân tiểu đường, nhiễm trùng nhãn khoa sau phẫu thuật, viêm tủy xương và viêm màng não.
Nhóm Streptococcus bao gồm ba loại: Streptococcus intermedius, Streptococcus constellatus và Streptococcus anginosus [32] Là cầu khuẩn
S constellatus là vi khuẩn gram dương, không sinh bào tử, không di động, có kích thước tế bào từ 0,5-1μm và thường tạo thành chuỗi ngắn Chúng phát triển tốt trong điều kiện có CO2, nhưng giảm sinh trưởng trong môi trường hiếu khí, một số chủng cần điều kiện kỵ khí để phát triển Là vi sinh vật thường trú trong khoang miệng, vùng sinh dục và đường ruột của con người, S constellatus có khả năng gây nhiễm trùng sinh mủ, hình thành áp xe ở nhiều bộ phận khác nhau, dẫn đến các mức độ nhiễm trùng khác nhau Về mặt lâm sàng, chúng liên quan đến sự hình thành áp xe ở phần trên cơ thể và đường hô hấp, đặc biệt là trong các đợt cấp ở bệnh nhân xơ nang phổi, có thể dẫn đến sốc nhiễm độc.
Klebsiella pneumoniae thuộc họ Enterobacteriaceae, là trực khuẩn
K pneumoniae là một loại vi khuẩn Gram âm, có hình dạng cầu hoặc dài, không di động và không sinh nha bào, có khả năng lên men lactose Đây là một trong ba loài thuộc chi Klebsiella, còn được gọi là phế trực khuẩn Friedlande K pneumoniae là mầm bệnh cơ hội, thường tấn công khi hệ miễn dịch suy yếu, và gây ra 70% ca nhiễm khuẩn, đặc biệt là bội nhiễm ở đường hô hấp Loại vi khuẩn này chủ yếu cư trú ở đường tiêu hóa, da và vòm họng của con người.
Từ những năm 1970, dịch tễ nhiễm khuẩn do K pneumoniae đã có sự thay đổi đáng kể, khi vi khuẩn này xuất hiện trong bệnh viện và trở thành nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện ở những bệnh nhân có sức khỏe yếu và nhiều bệnh nền.
Nhiễm khuẩn bệnh viện do K pneumoniae không chỉ gây ra viêm phổi và nhiễm khuẩn tiết niệu mà còn có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết, nhiễm khuẩn vết thương, nhiễm khuẩn đường mật, ổ bụng và viêm màng não.
Klebsiella aerogenes, formerly known as Enterobacter aerogenes, is a Gram-negative, rod-shaped bacterium that is oxidase and indole negative, but catalase and citrate positive It typically measures about 1-3 μm in length and exhibits motility through its flagella.
K aerogenes thường được tìm thấy trong đường tiêu hóa người và là tác có cơ chế kháng thuốc phức tạp, nhanh chóng kháng với KS tiêu chuẩn, biểu hiện khả năng kháng thuốc KS beta-lactam đáng kể trong quá trình điều trị.
Giải phẫu bệnh của viêm xoang hàm một bên
1.8.1 Vi thể học niêm mạc mũi bình thường
Hốc mũi được lót bởi lớp biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển, bao gồm các tế bào trụ có lông chuyển và tế bào đài tiết nhầy Các xoang cạnh mũi cũng được phủ lớp biểu mô tương tự, nhưng có nhiều tế bào vuông hơn và có tế bào đài tiết nhầy Dưới lớp biểu mô là lớp đệm gồm mô sợi và mô chun, cùng với các tế bào tiết thanh dịch giúp làm ẩm không khí Tuyến nhầy chế tiết nhầy để bắt giữ dị vật, trong khi đám rối mạch máu sâu cung cấp dinh dưỡng và độ ẩm cho không khí hít vào Ở trần hốc mũi, niêm mạc khứu giác chứa nhiều tế bào thần kinh khứu giác, cùng với các tế bào nâng đỡ và ít tuyến nhầy khứu giác hòa tan phân tử mùi.
1.8.2 Vi thể học viêm mũi xoang
Viêm mũi xoang cấp là tình trạng niêm mạc mũi bị phù nề, dẫn đến tắc nghẽn các lỗ thông mũi xoang và gây ra bội nhiễm vi khuẩn Biểu hiện của bệnh bao gồm viêm cấp tính không đặc hiệu, sự thâm nhiễm của bạch cầu neutrophil, sự xuất hiện của mủ hoặc lớp fibrin trên bề mặt niêm mạc xoang, cùng với hiện tượng sung huyết và xuất huyết, có sự hiện diện của đại thực bào.
Viêm mũi xoang mạn tái phát là tình trạng viêm cấp hoặc bán cấp, trong đó mô đệm chứa nhiều lympho bào cùng với tế bào neutrophil và eosinophil Tình trạng này có thể kèm theo loét và lớp fibrin phủ trên bề mặt, tương tự như trong viêm cấp tính.
Viêm xoang polyp mũi là tình trạng xuất hiện polyp mũi mềm, dai, có màu nâu nhạt hoặc tím và trong suốt Vi thể của polyp bao gồm mô đệm phù nề với mô đệm nhầy, không có mạch máu và hệ thống bạch huyết dãn rộng Lớp niêm mạc bề mặt chứa nhiều tế bào đài tăng sản, không có lông chuyển và màng đáy bị mất liên tục Trong lớp mô đệm, có nhiều tế bào viêm mạn, bao gồm cả tế bào eosinophil, tương bào và mô bào Polyp lâu ngày có thể dẫn đến xơ hóa hoặc tăng sản sừng trên bề mặt.
VX do nấm chiếm khoảng 10% bệnh nhân phẫu thuật vùng mũi xoang và được định nghĩa là bệnh lý của viêm mũi xoang có liên quan đến sự hiện diện của nấm Dựa trên lâm sàng và bằng chứng bệnh học về sự xâm lấn mô, VX do nấm được chia thành hai nhóm chính: VX do nấm không xâm lấn và VX do nấm xâm lấn Một số loại nấm như Aspergillus liên quan đến nhiễm trùng xoang.
Bipolaris và Rhizopus là thường gặp.
1.8.3.2 Phân lọai viêm xoang do nấm
VX do nấm không xâm lấn gồm: VX dị ứng do nấm và u nấm.
VX do nấm xâm lấn gồm: VX do nấm xâm lấn cấp tính, VX do nấm xâm lấn mạn tính, VX u hạt xâm lấn do nấm.
1.8.3.3 Chẩn đoán mô bệnh học vi nấm
Xét nghiệm mô bệnh học có độ chính xác cao trong việc chẩn đoán và phân biệt các bệnh lý liên quan đến xoang Thông thường, tiêu bản mô bệnh học chỉ xác định được giống nấm gây bệnh, mà hiếm khi xác định được chủng nấm cụ thể.
Trong quá trình phẫu thuật mũi xoang, có thể quan sát thấy những khối giống như dung nham núi lửa màu nâu đen hoặc bùn màu xanh đen, điều này gợi ý đến sự hiện diện của nấm Khi quan sát dưới kính hiển vi, có thể phát hiện những sợi nấm và bào tử nấm xâm nhập vào các lớp niêm mạc xoang.
Xác định giống nấm Aspergillus gây bệnh:
Trong mụ sinh thiết, có thể quan sát thấy các sợi nấm rộng từ 4-5 µm, với một số trường hợp xuất hiện sợi nấm hình quăn queo Các sợi nấm này có vách ngăn và nhiều nhánh, thường tạo thành góc 45° với sợi chính Đôi khi, trong mô cũng có thể thấy các thành phần của đầu nấm như đính bào đài, đính bào tử và túi nấm.
- Các tổn thương viêm do Aspergillus kèm theo như sung huyết, loét, hoại tử và có các mô hạt viêm [24].
1.8.4 Viêm xoang hàm do răng [8]
Viêm các xoang cạnh mũi có thể do nhiễm trùng răng miệng lan trực tiếp lên xoang, thường là kết quả của viêm xoang thứ phát Nhiễm trùng chân răng, đặc biệt là ở các răng số 4, 5, 6, có thể ăn mòn và chọc thủng thành xoang Viêm xoang thứ phát do răng thường xảy ra chủ yếu ở người lớn Răng sâu hoặc mảnh vỡ tại chân răng có thể xâm nhập vào xoang trong quá trình nhổ răng, kích thích nhiễm trùng ở viêm xoang Đặc điểm của bệnh này là viêm xoang chỉ khu trú ở một bên.
VX do răng thường biểu hiện dưới 3 thể :
Viêm mủ xoang hàm do răng có triệu chứng tương tự như viêm xoang cấp tính, bao gồm đau mặt nặng nề, sốt, mùi hôi thối và chảy mủ từ lỗ mũi của xoang bị ảnh hưởng Niêm mạc xoang sẽ bị viêm, và nếu không được điều trị kịp thời, tình trạng viêm có thể chuyển sang mạn tính.
VXH cấp thường xảy ra do viêm quanh răng hàm lớn có mủ, viêm tủy răng hoại thư, hoặc do tai nạn trong quá trình nhổ răng, dẫn đến việc chân răng bị nhiễm khuẩn vào xoang.
Bệnh nhân thường trải qua triệu chứng sốt cao, nhức đầu, mất ngủ và cảm giác vật vã Cơn đau xuất hiện từng cơn, lan rộng đến hàm trên, mắt, thái dương và trán, và có xu hướng tăng lên khi cử động mạnh hoặc cúi đầu Đau có thể lan đến các răng hàm trên, gây cảm giác đau nhói khi chạm vào, và ấn vào vùng dưới ổ mắt cũng làm tăng cường độ đau Dịch mũi chảy ra từ bên xoang bị bệnh ban đầu loãng, sau đó chuyển thành nhầy mủ với mùi hôi thối.
VXH mạn tính thường xuất phát từ các nguyên nhân như viêm mũi xoang (VMX), viêm xoang cấp tính chuyển sang mạn tính, hoặc do ổ nhiễm khuẩn răng không được điều trị Bệnh nhân có thể cảm thấy mệt mỏi, nhức đầu, và chảy mủ màu vàng xanh từ xoang bị ảnh hưởng Ngoài ra, có thể xảy ra các triệu chứng như viêm thanh quản, viêm họng, và tiêu chảy do nuốt phải mủ, cùng với các biến chứng nghiêm trọng như viêm xoang sàng, viêm xoang trán, áp xe ổ mắt, viêm thần kinh thị, và viêm tắc tĩnh mạch xoang.
Điều trị viêm xoang hàm một bên
Mục tiêu làm giảm triệu chứng, kiểm soát nhiễm trùng và điều trị căn nguyên thì việc điều trị tuân thủ theo nguyên tắc:
- Đảm bảo sự dẫn lưu.
- Đảm bảo sự thông khí.
1.9.2 Phương pháp điều trị nội khoa
- Toàn thân: kháng sinh, kháng viêm, giảm đau, loãng nhầy, co mạch, corticoid…
- Tại chỗ: rửa mũi, hút mũi, khí dung…
1.9.3 Phương pháp điều trị phẫu thuật
Mổ nội soi mũi xoang có thể thực hiện đơn thuần hoặc kết hợp với phương pháp mở xoang cổ điển, nhằm kiểm tra và loại bỏ hoàn toàn các bệnh tích trong xoang, đặc biệt là nấm và polyp.
1.9.4 Điều trị phối hợp các chuyên khoa
Giải quyết nguyên nhân gây viêm xoang hàm (VXH) xuất phát từ răng miệng là rất quan trọng Cần kết hợp với chuyên khoa Răng hàm mặt trong quá trình điều trị, bao gồm các biện pháp như nhổ răng, điều trị tủy và khâu đóng lỗ thông xoang – miệng.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca tiến cứu.
Cỡ mẫu: chọn mẫu thuận tiện, lấy tất cả các BN thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh và không có tiêu chuẩn loại trừ (N = 40).
Chúng tôi đã chọn mẫu thuận tiện từ tất cả bệnh nhân được chẩn đoán xác định viêm xoang mũi một bên, có chỉ định phẫu thuật nội soi mũi xoang và đã được phẫu thuật tại bệnh viện Bệnh phẩm được lấy trong quá trình mổ để thực hiện vi trùng học và giải phẫu bệnh từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021.
2.2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Khoa TMH - Bệnh viện ĐHYD TPHCM.
Dụng cụ khám nội soi: Optic Karl-Storz loại 0° và 30°, dây sáng, nguồn sáng, camera và màn hình.
Hình 2.1 Máy nội soi Tai Mũi Họng và Optic nội soi
(Nguồn: Bệnh viện ĐHYD TPHCM)
- Dụng cụ PT NSMX: banh mũi, ống hút cứng, kẹp khuỷu, spatula, que thăm dò, dao liềm, backbite, through-cutting, blakesley.
Hình 2.2 Dụng cụ phẫu thuật nội soi mũi xoang
(Nguồn: Bệnh viện ĐHYD TPHCM)
Vật liệu cần thiết cho xét nghiệm vi khuẩn (VK) và giám định phẩm bệnh (GPB) bao gồm bơm tiêm vô trùng từ 5ml đến 10ml, ống hút cứng, tăm bông vô trùng để lấy mẫu bệnh phẩm, ống đựng bệnh phẩm vô trùng, lam kính, dụng cụ nhuộm gram, kính hiển vi, môi trường để thử nghiệm tính chất sinh vật và hóa học của vi khuẩn, giấy chỉ thị, hệ thống máy định danh vi khuẩn và kháng sinh đồ, cùng với kính hiển vi quang học.
- Máy định danh trong nghiên cứu:
Máy định danh VITEK 2 Compact
Nguyên tắc của phương pháp này là sử dụng đo màu để xác định các tính chất sinh vật hóa học của sinh vật Điều này được thực hiện thông qua sự thay đổi màu sắc của các giếng môi trường có sẵn trong thẻ.
Máy Vitek 2 Compact có khả năng định danh 159 loài vi khuẩn Gram âm với độ chính xác 94% trong thời gian từ 2-10 giờ, và 123 loài vi khuẩn Gram dương với độ chính xác 93% trong khoảng 2-8 giờ Đặc biệt, máy đạt độ chính xác 96% cho nhóm Staphylococci/Micrococci trên 42 loài.
VK Gram dương có khả năng hình thành bào tử trong 14 giờ với độ chính xác 87%, trong khi nhóm Neisseria/Haemophilus và các nhóm khác có thể được phát hiện trong vòng 6 giờ với độ chính xác 96.5% Thời gian trung bình để nhận kết quả là từ 6-8 giờ.
Máy định danh MALDI-TOF
Nguyên lý hoạt động của máy MALDI-TOF (Matrix Assisted Laser
Desorption Ionisation-Time of Flight (DESI-TOF) là phương pháp sử dụng nguồn laser để ion hóa chất nền và mẫu xét nghiệm Phân tích các ion được tạo ra dựa trên thời gian bay của các phân tử tích điện, từ đó đo tỷ lệ khối lượng trên điện tích để định danh các loài.
VK, vi nấm, được thực hiện bằng cách ghi nhận và phân tích các dải quang phổ, so sánh sự tương đồng của phổ protein từ mẫu VSV mục tiêu với cơ sở dữ liệu gần 6000 chủng VSV khác nhau Thời gian trung bình để nhận kết quả là từ 1-2 giờ.
2.2.6 Các bước tiến hành nghiên cứu
- Bước 1: BN VXH mạn tính một bên có chỉ định PT NSMX tại khoa TMH bệnh viện ĐHYD TPHCM được ghi nhận các kết quả thăm khám gồm:
Bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng và kết quả nội soi TMH cho thấy sự hiện diện của dịch, mủ hoặc polyp trong hốc mũi hoặc ngách mũi, nghi ngờ nhiễm nấm Kết quả CT scan mũi xoang cho thấy tình trạng viêm xoang một bên.
+ Chẩn đoán xác định VXH mạn tính một bên theo EPOS 2020.
Bước 2: Tham gia vào quá trình phẫu thuật và thu thập dữ liệu trong lúc mổ, đồng thời lấy mẫu bệnh phẩm từ dịch tiền đình mũi và trong xoang hàm bên để thực hiện xét nghiệm cấy định danh vi khuẩn (dịch, mủ) và giải phẫu bệnh (tổ chức nghi ngờ nấm, niêm mạc lòng xoang).
- Bước 3: Đánh giá, phân tích thống kê các số liệu đã thu thập được.
Khai thác bệnh sử, thời gian mắc bệnh, nguyên nhân đi khám để phát hiện các triệu chứng VXH một bên.
Phương pháp vô cảm: BN được thực hiện gây tê tại chỗ bằng dùng những đoạn meche ngắn tẩm Otrivin 0,1% đặt vào hốc mũi.
Kỹ thuật nội soi: thực hiện với ống nội soi ánh sáng lạnh, gồm 2 thì:
Trong quá trình thăm khám mũi, cần thực hiện quan sát tổng quát từ sàn mũi đến toàn bộ chiều dài và bờ tự do của cuốn dưới Tiếp theo, quan sát bờ tự do cuốn giữa, cuốn trên và lên đến trần hốc mũi Đưa ống soi ra phía sau và dưới để kiểm tra đuôi các cuốn, khe bướm sàng, lỗ mũi sau, loa vòi, trần vòm, hố Rosenmuller và toàn bộ vòm mũi họng Đồng thời, cần đánh giá tình trạng niêm mạc mũi và vách ngăn, xem xét các yếu tố như thẳng, lệch, vẹo hay có gai.
Trong quá trình đánh giá Thì 2, cần quan sát chi tiết tình trạng cuốn giữa từ sau ra trước, xác định chiều cong có bình thường hay đảo ngược, cũng như tình trạng sung huyết, phù nề hay thoái hóa Cần xem xét khe giữa để đánh giá độ thông thoáng, có chật hẹp hay không, và kiểm tra sự hiện diện của dịch mủ Đánh giá mỏm móc và bóng sàng cũng rất quan trọng, cần xác định niêm mạc có bình thường hay bị phù nề, sung huyết hoặc quá phát Ngoài ra, cần phát hiện các tình trạng bệnh lý ở ngách mũi giữa và ngách mũi trên như ứ dịch, mủ, phù nề niêm mạc, quá phát hoặc thoái hóa polyp, cũng như bất thường giải phẫu.
Bảng 2.1 Đánh giá bệnh tích qua nội soi của Kennedy [18]
Xoang bướm Điểm tổng cộng
Thang điểm quan sát tổn thương đại thể trong lúc mổ:
0: không hoặc có thám sát, mở kiểm tra nhưng niêm mạc bình thường 1: dày niêm mạc
2: phù nề, thoái hóa polyp, mucocele
3: polyp +1: có nhầy, mủ, nấm trong xoang
2.2.7.3 Khám răng miệng Đánh giá tổn thương răng hàm trên có liên quan đến XH cùng bên:kiểm tra có răng sâu hoặc sứt mẻ, đã hàn hoặc bị mất răng hàm trên? Lợi có viêm? Rãnh tiền đình giữa lợi và má có phù nề đóng bánh? Gõ vào các răng hàm trên (4,5,6) nghi ngờ có cảm giác đau nhói không?
2.2.7.4 Chẩn đoán hình ảnh Đánh giá các thông số tổn thương XH một bên và các cấu trúc liên quan trên CLVT: Mờ một phần hay mờ toàn bộ XH? Có tắc lỗ thông khe? Có hình ảnh nốt vôi hóa trong đám mờ không? Có hình ảnh nghi ngờ dị vật cản quang hay răng lạc chỗ trong XH không? Có hình ảnh hủy xương hay xâm lân cơ quan khác không?
Bảng 2.2 Đánh giá CT Scan theo phân độ của Lund-Mackay 1993 [90]
Xoang trán X X Điểm tổng cộng
Thang điểm cho phức hợp lỗ ngách:
0: không tắc nghẽn1: tắc nghẽn bán phần
Thang điểm cho các xoang:
0: xoang bình thường, thông thoáng 1: mờ 1 bán phần
Bảng 2.3 Đánh giá bất thường cấu trúc mũi xoang qua CT Scan:
Quá phát bóng sàng Điểm tổng cộng
0: không có bất thường giải phẫu.
1: có bất thường giải phẫu.
Bệnh phẩm được lấy là dịch hoặc mủ ở tiền đình mũi và trong XH bên bệnh lý để nuôi cấy mủ định danh VK.
Lấy bệnh phẩm dịch tiền đình mũi bên bệnh lý bằng cách sử dụng tăm bông vô trùng để quệt dịch ở vùng tiền đình mũi Sau đó, đặt que tăm bông vào ống đựng bệnh phẩm vô trùng để bảo quản.
Lấy bệnh phẩm dịch hoặc mủ ở XH bên tổn thương:
Sau khi xác định lỗ thông và dịch mủ trong quá trình phẫu thuật, sử dụng ống hút cứng theo hướng dẫn của nội soi để đưa đến vị trí có dịch chảy ra Kết nối ống hút với bơm tiêm và tiến hành hút dịch mủ vào trong bơm tiêm.
- Lấy bơm tiêm ra, tháo piston ra khỏi bơm tiêm, dùng que tăm bông vô khuẩn phết lấy dịch mủ trong lòng ống bơm tiêm.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo giới tính
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới tính đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Trong bệnh lý VXH một bên, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ là 62,5%
(25 ca), nam là 37,5% (15 ca), tỷ lệ nữ/nam gần 1,67.
3.1.2 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi
Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất thuộc về nhóm tuổi 46-60, chiếm 40% với 16 ca Nhóm tuổi 31-45 đứng thứ hai với 30% (12 ca), tiếp theo là nhóm trên 60 tuổi chiếm 25% (10 ca) Nhóm tuổi 18-30 có tỷ lệ thấp nhất, chỉ chiếm 5% với 2 ca Tuổi mắc bệnh trung bình là 51,88, trong khi tuổi mắc bệnh thấp nhất là 28 và cao nhất là 81.
Biểu đồ 3.2 Phân bố theo nhóm tuổi đối tượng nghiên cứu
3.1.3 Phân bố bệnh nhân theo lý do nhập viện
Biểu đồ 3.3 Lý do nhập viện của đối tượng nghiên cứu
Trong một nghiên cứu về lý do nhập viện, nhức đầu là nguyên nhân chính, chiếm 42,5% với 17 ca Tiếp theo, chảy mũi đục chiếm 22,5% (9 ca), và nhức nặng mặt chiếm 17,5% (7 ca) Các triệu chứng nghẹt mũi và chảy mũi trong đều chiếm 7,5% (3 ca), trong khi giảm mùi chỉ chiếm 2,5% (1 ca).
Trong bệnh lý VXH mạn, lý do nhập viện hay gặp là nhức đầu, nhức nặng mặt và nghẹt mũi cùng chiếm tỷ lệ 25% (3 ca), chảy mũi đục chiếm
Nhức đầu Chảy mũi đục Nhức nặng mặt Nghẹt mũi Chảy mũi trong
16,7% (2 ca), chảy mũi trong chiếm 8,3% (1 ca), không ghi nhận triệu chứng giảm mùi.
Trong nghiên cứu về viêm xoang do nấm, 51,9% bệnh nhân nhập viện do nhức đầu, trong khi các triệu chứng khác như chảy mũi đục chỉ chiếm 22,2%, nhức nặng mặt 14,8%, và chảy mũi trong 7,4%.
(2 ca), giảm mùi chiếm 3,7% (1 ca), không ghi nhận triệu chứng nghẹt mũi.
Có duy nhất 1 ca VXH do răng nhập viện vì chảy mũi đục chiếm 100%.
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
3.2.1 Triệu chứng lâm sàng chính
Biểu đồ 3.4 Triệu chứng lâm sàng chính của đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, các bệnh nhân đều có triệu chứng xoang bên bệnh, với biểu hiện lâm sàng có thể xuất hiện ở một hoặc hai bên Điểm đau hố nanh là triệu chứng phổ biến nhất, chiếm 87,5% (35 ca), tiếp theo là nhức đầu với 82,5% (33 ca), nghẹt mũi 65% (26 ca), khạc đàm đục 57,5% (23 ca), chảy mũi trước 42,5% (17 ca), ngửi hôi 5% (2 ca), và đau nhức răng 2,5% (1 ca).
Nhức đầu Điểm đau hố nanh
Chảy mũi trước Đau nhức răng
3.2.2 Hình ảnh nội soi trong chẩn đoán và phẫu thuật
Biểu đồ 3.5 Phân bố theo hình ảnh nội soi chẩn đoán
Hình ảnh nội soi cho thấy nhầy đục khe giữa chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,5% (19 ca), tiếp theo là phù nề mỏm móc 15% (6 ca), polyp mũi 5% (2 ca), phù nề bóng sàng 2,5% (1 ca), và có mẫu nghi nấm cũng 2,5% (1 ca).
Trong nghiên cứu về viêm xoang mạn tính, hình ảnh nội soi phổ biến nhất là nhầy đục khe giữa, chiếm 58,3% (7 ca) Phù nề mỏm móc ghi nhận 16,7% (2 ca), trong khi polyp mũi và phù nề bóng sàng có tỷ lệ bằng nhau, mỗi loại chiếm 8,3% (1 ca) Đặc biệt, không có ca nào được ghi nhận có mẫu nghi nấm.
Hình ảnh nội soi trong VXH do nấm nhầy đục khe giữa chiếm 44,4%
(12 ca), phù nề mỏm móc 14,8% (4 ca), polyp mũi và có mẫu nghi nấm cùng chiếm tỷ lệ bằng nhau 3,7% (1 ca), không thấy hình ảnh phù nề bóng sàng.
Nhầy đục khe giữa Phù nề mỏm móc
Polyp mũi Có mẫu nghi nấm
VXH do răng hình ảnh nội soi chỉ thấy nhầy trong khe giữa và polyp khe giữa chiếm tỷ lệ 100%.
Hình ảnh nội soi mũi xoang trong lúc phẫu thuật:
Hình 3.1 Mủ khe giữa (BN Nguyễn Thị Thu H - 44 tuổi) Bảng 3.1 Bảng điểm Kennedy bệnh tích niêm mạc mũi xoang qua nội soi
VXH mạn VXH do nấm VXH do răng
Trong nghiên cứu của chúng tôi, quan sát đại thể dưới nội soi cho thấy bệnh tích niêm mạc xuất huyết (XH) trong viêm xoang hàm mạn tính có điểm trung bình là 1,83 Đối với bệnh tích khe giữa, điểm trung bình ghi nhận là 0,75 Ở nhóm viêm xoang hàm do nấm, bệnh tích niêm mạc XH có điểm trung bình cao hơn, đạt 2,63, trong khi bệnh tích niêm mạc khe giữa có điểm trung bình là 2,07 Đặc biệt, ở nhóm viêm xoang hàm do răng, bệnh tích niêm mạc ở khe giữa và XH có điểm trung bình là 3.
Vị trí xoang bị tổn thương:
Biểu đồ 3.6 Phân bố vị trí xoang bị tổn thương
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tổn thương xuất huyết bên phải chiếm ưu thế với tỷ lệ 57,5% (23 ca), trong khi tổn thương bên trái chỉ chiếm 42,5% (17 ca) Tỷ lệ tổn thương bên phải so với bên trái là 11:9.
3.2.3 Hình ảnh CT Scan trong chẩn đoán
Bảng điểm bệnh tích đánh giá qua CT Scan theo thang điểm của Lund Mackay
Bảng 3.2 Phân bố theo thang điểm Lund Mackay
VX mạn VX do nấm VX do răng
Xoang hàm phải Xoang hàm trái
Trong nghiên cứu về bệnh VXH, chúng tôi nhận thấy rằng bệnh tích do nấm nặng hơn so với bệnh tích VXH mạn tính Cụ thể, trong VXH mạn tính, điểm trung bình bệnh tích ở XH là 1,25, cao hơn so với PHLN với 1,16 Đối với nhóm VXH do nấm, bệnh tích nặng nhất được ghi nhận ở PHLN với điểm trung bình là 1,85, trong khi bệnh tích ở XH chỉ đạt 1,67 Đối với VXH do răng, điểm trung bình bệnh tích ở PHLN là 2, trong khi ở XH chỉ là 1.
Biểu đồ 3.7 Phân bố theo hình ảnh CT Scan
Dựa trên kết quả CT Scan, chúng tôi ghi nhận rằng 100% các trường hợp đều có tỷ lệ mờ xoang, trong đó 70% là mờ xoang hoàn toàn (28 ca) và 30% là mờ xoang một phần (12 ca) Tỷ lệ tắc lỗ thông khe đạt 85% (34 ca), nốt vôi hóa chiếm 67,5% (27 ca), trong khi hủy xương và răng lạc chỗ đều chỉ chiếm 2,5% (1 ca mỗi loại) Không có trường hợp nào ghi nhận xâm lấn các cơ quan khác.
Mờ xoang không hoàn toàn
Nốt vôi hóa Hủy xương Răng lạc chỗ
Hình ảnh CT Scan theo kết quả giải phẫu bệnh:
Bảng 3.3 Phân bố hình ảnh CT Scan theo giải phẫu bệnh
Hình ảnh CT Scan VXH mạn VXH do nấm VXH do răng n % n % n %
Xâm lấn cơ quan khác 0 0 0 0 0 0
Trong nghiên cứu về viêm xoang mạn tính, hình ảnh mờ xoang trên CT Scan xuất hiện ở 100% trường hợp, trong đó mờ xoang hoàn toàn chiếm 58,3% và mờ xoang một phần chiếm 41,7% Ngoài ra, tắc lỗ thông khe cũng chiếm 58,3%, trong khi nốt vôi hóa chiếm 16,7% Không ghi nhận sự hiện diện của răng lạc chỗ, hủy xương hay xâm lấn vào các cơ quan khác.
Trong viêm xoang do nấm, hình ảnh mờ xoang xuất hiện ở 100% bệnh nhân, trong đó mờ xoang hoàn toàn chiếm 59,3% và mờ xoang một phần chiếm 40,7% Tỷ lệ hình ảnh tắc lỗ thông khe rất cao, đạt 96,3% Đặc biệt, hình ảnh nốt vôi hóa chiếm 92,6%, trong khi hủy xương chỉ chiếm 3,7% Không ghi nhận hình ảnh răng lạc chỗ và xâm lấn vào các cơ quan khác.
Một ca viêm xoang hàm do răng trên CT Scan cho thấy hình ảnh mờ hoàn toàn của xoang, tắc lỗ thông khe, và đặc biệt là sự hiện diện của răng lạc chỗ với tỷ lệ 100%.
Bảng 3.4 Phân bố theo bất thường cấu trúc giải phẫu
Trong 40 mẫu nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận 55% trường hợp vẹo vách ngăn, trong đó vẹo sang phải chiếm 17,5%, sang trái 32,5% và cả hai bên là 5% Ngoài ra, 37,5% mẫu có concha bullosa cuốn giữa, với bên phải chiếm 10% và bên trái 15%.
2 bên 12,5%) Quá phát bóng sàng chiếm 5% (bên trái và 2 bên cùng chiếm tỷ lệ 2,5%) Tế bào Haller có 5%, (bên phải và bên trái cùng chiếm 2,5%).
Bất thường cấu trúc giải phẫu theo giải phẫu bệnh
Bảng 3.5 Phân bố theo bất thường cấu trúc giải phẫu theo giải phẫu bệnh
VXH mạn VXH do nấm VXH do răng n % n % n %
Nhận xét: Trong VXH mạn tính, vẹo vách ngăn chiếm tỷ lệ cao nhất 58,3%, tiếp theo là concha bullosa cuốn giữa chiếm 50%, quá phát bóng sàng chiếm tỷ lệ 16,7%.
Trong viêm xoang hàm do nấm, vẹo vách ngăn chiếm tỷ lệ cao nhất với 51,9%, tiếp theo là concha bullosa cuốn giữa với tỷ lệ 33,3% Không ghi nhận hình ảnh quá phát bóng sàng và tế bào Haller.
Có 1 ca VXH do răng ghi nhận vẹo vách ngăn chiếm tỷ lệ 10%.
3.3 Kết quả nuôi cấy và định danh vi khuẩn dịch tiền đình mũi bên xoang hàm bệnh lý
3.3.1 Kết quả nuôi cấy dịch tiền đình mũi
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn dịch tiền đình
Trong nghiên cứu với 40 bệnh nhân, 37 mẫu bệnh phẩm từ dịch vùng tiền đình mũi bên XH bệnh lý đã cho kết quả cấy dương tính với vi khuẩn, đạt tỷ lệ 92,5%.
Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ vi khuẩn gram dương và gram âm
3.3.2 Kết quả định danh vi khuẩn dịch tiền đình mũi
Bảng 3.6 Tỷ lệ các vi khuẩn dịch tiền đình mũi phân lập được
Nhận xét: Trong 40 trường hợp nuôi cấy thì S aureus gặp nhiều nhất có
Trong nghiên cứu, 11 mẫu chiếm 27,5% tổng số mẫu, tiếp theo là S haemolyticus với 7 mẫu, chiếm 17,5% K pneumoniae có 6 mẫu, tương đương 15,0%, trong khi P aeruginosa có 5 mẫu, chiếm 12,5% Cuối cùng, S epidermidis có 4 mẫu, chiếm 10% Các chủng vi khuẩn khác xuất hiện với tần suất thấp hơn.
K aerogenes và Enterobacter cloacae cùng có 3 mẫu chiếm 7,5% Chiếm tỷ lệ thấp nhất là các chủng Klebsiella ozaenae, Morganella morganii, Serratia marcescens và Proteus mirabilis cùng có 1 mẫu chiếm 2,5%.
Bảng 3.7 Tỷ lệ các vi khuẩn dịch tiền đình mũi chia theo kết quả GPB
Vi khuẩn VXH mạn VXH do nấm VXH do răng n % n % n %
In chronic venous stasis, Staphylococcus aureus is the most frequently encountered pathogen, accounting for 33.3% of samples Following this, Staphylococcus epidermidis and Klebsiella pneumoniae each represent 16.7% of the samples Other strains, including Staphylococcus haemolyticus, Klebsiella aerogenes, Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter cloacae, and Proteus mirabilis, each make up 8.3% of the samples Notably, no samples of Klebsiella ozaenae, Morganella morganii, or Serratia marcescens were recorded.
Kết quả nuôi cấy và định danh vi khuẩn dịch/mủ xoang hàm
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn dương tính dịch/mủ XH
Nhận xét: Trong số 40 BN nghiên cứu được lấy bệnh phẩm từ dịch/mủ xoang hàm đem nuôi cấy VK, có 38 mẫu cấy dương tính chiếm 95%.
Trong số các mẫu cấy dương tính, có 18 mẫu cấy vi khuẩn Gram dương, chiếm 45% Mẫu cấy vi khuẩn Gram âm chiếm 65% với 26 mẫu, trong khi đó, 6 mẫu cấy vừa có vi khuẩn Gram dương vừa Gram âm, chiếm 15%.
Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ vi khuẩn Gram dương và Gram âm dịch/mủ
Bảng 3.8 Tỷ lệ các vi khuẩn dịch/mủ xoang hàm phân lập được
Nhận xét: Trong 40 trường hợp nuôi cấy thì S aureus gặp nhiều nhất có
The study identified eight samples accounting for 20.0%, followed by K pneumoniae and P aeruginosa, each representing 17.5% with seven samples S haemolyticus and S epidermidis were found in five samples, making up 12.5% Lower frequency strains included K aerogenes and Enterobacter cloacae, each with three samples at 7.5%, while Serratia marcescens, Proteus mirabilis, and Acinetobacter baumannii were each represented by two samples, constituting 5.0%.
Chiếm tỷ lệ thấp nhất là các chủng Morganella morganii, Streptococcus constellatus, Burkholderia cepacia cùng có 1 mẫu, chiếm tỷ lệ 2,5%.
Bảng 3.9 Tỷ lệ các vi khuẩn dịch/mủ xoang hàm chia theo kết quả GPB
Vi khuẩn VXH mạn VXH do nấm VXH do răng n % n % n %
Nhận xét: Trong VXH mạn tính, VK gặp nhiều nhất là S aureus có 5 mẫu chiếm tỷ lệ là 41,7%, tiếp đó là S haemolyticus có 3 mẫu chiếm 25%.
Các chủng S epidermidis, Streptococcus constellatus, K pneumoniae, P. aeruginosa, Acinetobacter baumannii, Proteus mirabilis cùng có 1 mẫu chiếm 8,3% Không ghi nhận các chủng K aerogenes, Enterobacter cloacae,
Morganella morganii, Serratia marcescens và Burkholderia cepacia.
In fungal infections, the most commonly encountered bacteria are K pneumoniae and P aeruginosa, each accounting for 22.2% of the samples Following them is S epidermidis, representing 14.8% with 4 samples S aureus and Enterobacter cloacae each contribute 11.1% with 3 samples The strains S haemolyticus, K aerogenes, and Serratia marcescens each have 2 samples, making up 7.4% Additionally, Morganella morganii, Acinetobacter baumannii, Proteus mirabilis, and Burkholderia cepacia each account for 3.7% with 1 sample each No samples of Streptococcus constellatus were recorded.
Có 1 ca VXH do răng cấy được K aerogenes chiếm tỷ lệ 2,5%.
Kết quả giải phẫu bệnh
Biểu đồ 3.12 Phân bố kết quả giải phẫu bệnh
VXH do nấm VXH do răng VXH MT không polyp
Kết quả từ 40 mẫu bệnh phẩm cho thấy, tỷ lệ cao nhất là VXH do nấm với 67,5% (27 ca), tiếp theo là viêm niêm mạc xoang mạn tính không có polyp chiếm 30% (12 ca), và VXH do răng cũng được ghi nhận.
1 ca chiếm tỷ lệ 2,5% 100% mẫu nghi nấm cho kết quả vi nấm Aspergillus.
Hình 3.2 Mô nghi nấm màu trắng Hình 3.3 Mô nghi nấm màu nâu đen
(BN Đậu Thị Thúy H – 36 tuổi) (BN Lê Thị Thanh T- 45 tuổi)
Hình 3.4 Sự hiện diện của vi nấm trong tổ chức nghi nấm