Tương quan giữa cường độ tín hiệu và các thông số độ dày lớp sợi thần kinh và độ dày võng mạc vùng hoàng điểm ..... Tùy theo mức độ đục thể thủy tinh là nhiều hay ít, nhữngbệnh nhân mắc
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
- Dân số mục tiêu: Tất cả bệnh nhân còn thể thủy tinh tại Việt Nam.
- Dân số chọn mẫu: Tất cả bệnh nhân còn thể thủy tinh đến khám tại Bệnh viện Mắt TP HCM.
- Tất cả bệnh nhân còn thể thủy tinh đến khám tại Bệnh viện Mắt TP HCM.
Bệnh nhân mắc tật khúc xạ hình cầu có độ khúc xạ từ -9,00 diop (D) đến +6,00 D Chỉ một mắt của mỗi bệnh nhân được chọn, với thị lực sau khi chỉnh kính đạt kết quả tốt hơn.
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Bệnh nhân có các bệnh lý tại mắt khiến OCT không thể thực hiện đƣợc, bao gồm: xuất huyết dịch kính, đục giác mạc, đục thể thủy tinh độ 5.
- Bệnh nhân có các bệnh lý lỗ hoàng điểm hoàn toàn, bong võng mạc.
- Bệnh nhân có đáp ứng kém hoặc không đáp ứng với thuốc nhỏ giãn đồng tử.
Bệnh nhân không nên sử dụng thuốc nhỏ giãn đồng tử nếu có các chống chỉ định như: glaucoma góc hẹp, nguy cơ tăng nhãn áp do góc hẹp hoặc tiền phòng nông, và tiền sử quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
- Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật tại mắt, bao gồm tiền sử cả phẫu thuật đục thể thủy tinh.
Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu sẽ được phân chia thành hai nhóm dựa trên mức độ đục thể thủy tinh Nhóm 1 bao gồm những bệnh nhân có mức độ đục thể thủy tinh từ 0 đến 2, trong khi nhóm 2 gồm những bệnh nhân có mức độ đục thể thủy tinh từ 3 đến 4.
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
Nghiên cứu này so sánh chất lượng tín hiệu và độ dày lớp sợi thần kinh võng mạc cũng như hoàng điểm giữa trước và sau khi nhỏ giãn đồng tử ở hai nhóm có mức độ đục thể thủy tinh khác nhau Cỡ mẫu được tính toán theo công thức phù hợp.
: cỡ mẫu tối thiểu của mỗi nhóm.
: Hằng số C liên quan đến sai lầm loại I và loại II.
Chọn xác suất sai sót loại 1 là α = 0,05, xác suất sai lầm loại II là β 0,05.
Qua tra bảng ta xác định đƣợc = 13,00.
Hệ số ảnh hưởng được tính theo công thức, trong đó lần lượt là chỉ số trung bình của hai nhóm 1 và 2, còn lần lượt là độ lệch chuẩn của hai nhóm 1 và 2.
Dựa trên nghiên cứu trước đó của P Dimitris, ta tính được:
. Thay vào công thức ta tính đƣợc = 32,535 Do đó, cỡ mẫu tối thiểu của mỗi nhóm nghiên cứu là 33 mắt.
- Phiếu thu thập số liệu.
- Dụng cụ khám khúc xạ: bảng thị lực Snellen, bộ kính thử, đèn soi bóng đồng tử.
- Dụng cụ đo nhãn áp Goldman.
- Máy sinh hiển vi, kính Volk Superfield.
- Máy đo khúc xạ tự động.
- Máy chụp cắt lớp quang học OCT, trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng hệ thống máy Spectral Domain OCT (SD – OCT) với dòng máy Cirrus HD- OCT.
- Thuốc nhỏ giãn đồng tử Mydrin P 0,5%.
2.2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu
- Tiếp nhận các bệnh nhân còn thể thủy tinh đến khám tại Bệnh viện Mắt TP. HCM.
- Thu thập thông tin hành chính.
Đo thị lực không điều chỉnh sử dụng bảng thị lực Snellen để xác định thị lực điều chỉnh tối đa và ghi nhận độ khúc xạ của bệnh nhân, đồng thời kiểm tra sự phù hợp với tiêu chuẩn chọn mẫu.
Đề nghị bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia vào nghiên cứu, giải thích rõ ràng về mục tiêu và quy trình của nghiên cứu Nếu bệnh nhân đồng ý, họ sẽ tiếp tục tham gia vào quá trình nghiên cứu.
- Tiến hành khai thác bệnh sử, tiền căn bệnh lý, phẫu thuật tại mắt, tiền căn quá mẫn với các thành phần của thuốc nhỏ giãn đồng tử.
Khám mắt tổng quát bằng sinh hiển vi giúp đánh giá tình trạng trong suốt của thể thủy tinh, ghi nhận hình thái và mức độ đục thể thủy tinh, đồng thời phân loại đục thể thủy tinh theo hệ thống LOCS III Ngoài ra, cần kiểm tra các tiêu chuẩn loại trừ lâm sàng như sẹo đục giác mạc, đục thể thủy tinh độ 5, glaucoma và tiền phòng nông.
- Đo nhãn áp bằng nhãn áp kế Goldman.
Soi đáy mắt gián tiếp bằng kính Volk Superfield giúp đánh giá tình trạng võng mạc, hoàng điểm và gai thị Phương pháp này cũng cho phép kiểm tra các tiêu chuẩn loại trừ như bệnh lý bong võng mạc, lỗ hoàng điểm hoàn toàn và xuất huyết dịch kính.
Mydrin P 0,5% là thuốc nhỏ mắt được sử dụng để giãn đồng tử, với tác dụng phụ có thể bao gồm nhìn gần mờ, chói nắng và nguy cơ tăng nhãn áp Thuốc bắt đầu có tác dụng trong vòng 15 phút và cần nhỏ 1 giọt vào mỗi mắt Cần theo dõi phản ứng của đồng tử cũng như các phản ứng bất thường khác để đảm bảo tiêu chuẩn loại trừ.
- Bệnh nhân đƣợc xếp vào 2 nhóm dựa trên mức độ đục thể thủy tinh: nhóm 1 gồm các mức độ đục 0, 1 và 2; nhóm 2 gồm các mức độ đục 3 và 4.
- Bệnh nhân ở mỗi nhóm được bác sĩ chỉ định chụp OCT trước và sau khi nhỏ giãn đồng tử.
Quy trình chụp OCT được thực hiện trên cùng một máy và mỗi bệnh nhân sẽ chụp 2 lần Lần đầu không giãn đồng tử, sau đó sử dụng Mydrin P 0,5% để giãn đồng tử và chụp lần hai sau 30 phút Chụp OCT diễn ra trong phòng có ánh sáng để tránh ảnh hưởng từ hiện tượng giãn đồng tử sinh lý Bệnh nhân ngồi vào ghế, đặt cằm vào giá đỡ và nhìn vào điểm định thị màu xanh Bác sĩ nhập thông tin cá nhân vào máy và chọn chế độ Optic Disc Cube 200x200 và Macula Cube 512x128 để đánh giá độ dày lớp sợi thần kinh và hoàng điểm, thực hiện lát cắt và ghi nhận số liệu đo được Kết quả OCT sẽ được ghi nhận đầy đủ.
Cường độ tín hiệu (Signal Strength).
Độ dày RNFL trung bình quanh gai (360°) của mắt.
Độ dày RNFL góc mũi, góc thái dương, góc trên và góc dưới.
Độ dày võng mạc vùng hoàng điểm trung tâm.
Độ dày võng mạc vùng hoàng điểm trên trong, dưới trong, mũi trong, thái dương trong.
Độ dày võng mạc vùng hoàng điểm trên ngoài, dưới ngoài, mũi ngoài, thái dương ngoài.
Độ dày võng mạc trung bình vùng hoàng điểm.
Thể tích vùng hoàng điểm.
- Ghi nhận kết quả vào phiếu thu thập số liệu.
2.2.5 Các biến số nghiên cứu
Tuổi: là biến định lƣợng, đơn vị tính là năm, dựa theo năm sinh của bệnh nhân cho tới khi thăm khám.
Giới: là biến nhị giá, với hai giá trị nam nữ.
2.2.5.2 Biến số thăm khám lâm sàng
Hình thái đục thể thủy tinh: là biến định tính, với ba giá trị: đục nhân, đục vỏ, đục dưới bao sau.
Mức độ đục của thể thủy tinh: là biến định tính, với các giá trị 0, 1, 2, 3, 4 và 5.
Sau khi thực hiện thăm khám lâm sàng bằng sinh hiển vi, chúng tôi tiến hành đánh giá mức độ đục thể thủy tinh dựa trên hình thái đục theo Hệ thống phân loại đục thể thủy tinh III (LOCSIII).
Thị lực điều chỉnh tối đa (BCVA) là một biến định lượng, được biểu thị dưới dạng thập phân từ 1/10 đến 10/10 Đối với những mắt có thị lực nhỏ hơn 1/10, thị lực sẽ được đo bằng cách đếm ngón tay và sau đó chuyển đổi sang thị lực thập phân theo một công thức nhất định.
Thị lực thập phân Trong đó x là khoảng cách tính bằng mét mà bệnh nhân đếm ngón tay chính xác.
2.2.5.3 Biến số cận lâm sàng
Cường độ tín hiệu (Signal Strength) là thông số quan trọng nhất để đánh giá chất lượng tín hiệu trong các phần mềm chụp cắt lớp quang học hiện nay, với giá trị dao động từ 1 đến 10.
Các thông số về độ dày lớp sợi thần kinh võng và hoàng điểm thu được từ OCT bao gồm: độ dày RNFL trung bình quanh gai (360°) của mắt, độ dày RNFL ở các góc mũi, thái dương, trên và dưới, cùng với độ dày vùng hoàng điểm trung tâm Ngoài ra, còn có độ dày vùng hoàng điểm ở các vị trí trên trong, dưới trong, mũi trong, thái dương trong, cũng như trên ngoài, dưới ngoài, mũi ngoài và thái dương ngoài Độ dày trung bình vùng hoàng điểm và thể tích vùng hoàng điểm cũng được đo lường, với đơn vị tính là mm³.
Quy trình nghiên cứu
Sơ đồ 2.1: Quy trình nghiên cứu.
Bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Mắt TP.HCM
Thông tin cá nhân: Tuổi, giới, nghề nghiệp, địa chỉ, lý do đến khám
Tiến hành thăm khám lâm sàng: Đo thị lực, ghi nhận độ khúc xạ, đo nhãn áp, khám mắt bằng sinh hiển vi, soi đáy mắt
Bệnh nhân nằm trong tiêu chuẩn loại trừ
Không trong mẫu nghiên cứu
Bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân đƣợc xếp vào 2 nhóm dựa trên mức độ đục thể thủy tinh: nhóm 1 gồm các mức độ đục 0, 1 và 2; nhóm 2 gồm các mức độ đục 3 và 4
Chụp OCT trước và sau khi nhỏ giãn đồng tử ở cả 2 nhóm bệnh nhân
Thu thập, phân tích số liệu
- Các thông số đƣợc nhập và xử lý bằng phần mềm Excel và STATA.
- Các biến số định tính: lập bảng phân phối tần số, tỉ lệ phần trăm %.
- Các biến số định lƣợng: tính trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, với khoảng tin cậy 95%.
Sử dụng kiểm định t bắt cặp để xác định mối liên quan giữa hai biến định lượng trước và sau khi nhỏ giãn đồng tử ở hai nhóm bệnh nhân, nếu hai biến này có phân phối chuẩn Nếu không, áp dụng phép kiểm phi tham số Wilcoxon để thực hiện kiểm định.
Hệ số Pearson được sử dụng để khảo sát mối tương quan giữa hai biến có phân phối chuẩn, trong khi hệ số tương quan Spearman thích hợp cho hai biến không có phân phối chuẩn.
- Các test có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
2.5 Vấn đề y đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu này không vi phạm y đức vì:
Đối tƣợng nghiên cứu đƣợc giải thích và tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Mọi thông tin về đối tƣợng nghiên cứu đƣợc giữ bí mật.
Tất cả các đối tƣợng nghiên cứu khi tham gia nghiên cứu đƣợc đối xử công bằng, bình đẳng giữa tất cả các đối tƣợng
Đối tượng nghiên cứu có quyền rút lui khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào mà không ảnh hưởng đến việc điều trị hoặc chăm sóc mà họ đáng được nhận.
Chụp OCT là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn cho đối tƣợng nghiên cứu.
Vấn đề y đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu này không vi phạm y đức vì:
Đối tƣợng nghiên cứu đƣợc giải thích và tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Mọi thông tin về đối tƣợng nghiên cứu đƣợc giữ bí mật.
Tất cả các đối tƣợng nghiên cứu khi tham gia nghiên cứu đƣợc đối xử công bằng, bình đẳng giữa tất cả các đối tƣợng
Đối tượng nghiên cứu có quyền rút lui khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào mà không ảnh hưởng đến việc điều trị hoặc chăm sóc mà họ đáng được nhận.
Chụp OCT là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn cho đối tƣợng nghiên cứu.
KẾT QUẢ
Đặc điểm dịch tễ của mẫu
3.1.1 Phân bố nhóm bệnh nhân theo tuổi Độ tuổi trung bình của toàn bộ mẫu nghiên cứu là 57,60 ± 17,77 Với khoảng dao động từ nhỏ nhất là 27 tuổi đến lớn nhất là 86 tuổi Trong đó: Độ tuổi trung bình của nhóm 1 là 41,23 ± 10,75.
Trong đó, tuổi lớn nhất là 64 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 27 tuổi Nhóm bệnh nhân
30 – 39 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất với tỉ lệ là 42,86% Nhóm bệnh nhân 60 – 69 tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất với tỉ lệ là 8,58%.
Phân bố bệnh nhân theo tuổi ở nhóm 1 đƣợc trình bày qua biểu đồ 3.1.
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo tuổi ở nhóm 1. Độ tuổi trung bình của nhóm 2 là 72,97 ± 6,59.
18-29 tuổi 30 -39 tuổi 40-49 tuổi 50-59 tuổi 60-69 tuổi
70-79 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất với tỉ lệ là 45,72% Nhóm bệnh nhân 50-59 chiếm tỉ lệ thấp nhất với tỉ lệ là 2,85%.
Phân bố bệnh nhân theo tuổi ở nhóm 2 đƣợc trình bày qua biểu đồ 3.2.
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo tuổi ở nhóm 2.
3.1.2 Phân bố nhóm bệnh theo giới
Mẫu nghiên cứu có 43 nam (chiếm tỉ lệ 61,43%) và 27 nữ (chiếm tỉ lệ 38,57%) Tỉ lệ nam cao hơn nữ 1,59 lần.
Phân bố nhóm bệnh theo giới ở nhóm 1 đƣợc thể hiện qua biểu đồ 3.3 nhƣ sau:
Biểu đồ 3.3: Phân bố giới tính ở nhóm 1.
PHÂN BỐ GIỚI TÍNH NHÓM 1
Nhóm 1 có 35 bệnh nhân trong đó có 20 nam (chiếm tỉ lệ 57,14%) và 15 nữ (chiếm tỉ lệ 42,86%) Tỉ lệ nam cao hơn nữ 1,33 lần.
Phân bố nhóm bệnh theo giới tính ở nhóm 2 đƣợc thể hiện qua biểu đồ 3.4 nhƣ sau:
Biểu đồ 3.4: Phân bố giới tính ở nhóm 2.
Nhóm 2 có 34 bệnh nhân trong đó có 23 nam (chiếm tỉ lệ 65,71%) và 12 nữ(chiếm tỉ lệ 34,29%) Tỉ lệ nam cao hơn nữ 1,91 lần.
Đặc điểm lâm sàng của mẫu
3.2.1 Thị lực điều chỉnh tối đa
Bệnh nhân trong từng nhóm nghiên cứu được đo thị lực, bao gồm thị lực chưa chỉnh kính và thị lực chỉnh kính tối đa Thị lực chỉnh kính tối đa được phân loại thành các nhóm thị lực và được biểu diễn dưới dạng tỷ lệ trong các sơ đồ.
PHÂN BỐ GIỚI TÍNH NHÓM 2
Phân bố thị lực điều chỉnh tối đa ở nhóm 1 đƣợc trình bày qua biểu đồ 3.5:
Biểu đồ 3.5: Phân bố thị lực điều chỉnh tối đa n óm 1.
Thị lực điều chỉnh tối đa trung bình của nhóm 1 đạt 8,06 ± 0,83, với 71,43% bệnh nhân có thị lực thập phân tương đương ≥ 8/10 Đáng chú ý, không có bệnh nhân nào trong nhóm 1 có mức thị lực điều chỉnh tối đa ≤ 3/10.
Phân bố thị lực điều chỉnh tối đa ở nhóm 2 đƣợc trình bày qua biểu đồ 3.6:
Biểu đồ 3.6: Phân bố thị lực điều chỉnh tối đa n óm 2.
PHÂN BỐ THỊ LỰC NHÓM 1
PHÂN BỐ THỊ LỰC NHÓM 2
Thị lực điều chỉnh tối đa trung bình ± độ lệch chuẩn: 8,06 ± 0,83
Thị lực điều chỉnh tối đa trung bình ± độ lệch chuẩn: 2,32 ±1,16
Thị lực điều chỉnh tối đa trung bình của nhóm 2 đạt 2,32 ± 1,16 Tỉ lệ thị lực điều chỉnh tối đa khi thăm khám ở nhóm này cao nhất với những bệnh nhân có thị lực thập phân tương đương ≤ 3/10, chiếm tới 71,43% Đáng chú ý, trong nhóm 2 không có bệnh nhân nào có mức thị lực điều chỉnh tối đa đạt ≥ 8/10.
3.2.2 Mức độ đục thể thủy tinh
Trong nghiên cứu, bệnh nhân được khám mắt tổng quát bằng sinh hiển vi để đánh giá tình trạng thể thủy tinh và ghi nhận mức độ đục thể thủy tinh theo hệ thống phân loại LOCS III Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm 1 gồm những người có mức độ đục thể thủy tinh 0, 1, 2, trong đó 57,14% bệnh nhân có mức độ 0, 22,86% có mức độ 1 và 20% có mức độ 2 Nhóm 2 bao gồm bệnh nhân với mức độ đục thể thủy tinh 3, 4, với 82,86% bệnh nhân có mức độ 3 và 17,14% có mức độ 4.
3.2.3 Hình thái đục thể thủy tinh
Qua việc thăm khám lâm sàng bằng sinh hiển vi, chúng tôi đã ghi nhận các hình thái đục thể thủy tinh ở từng nhóm bệnh nhân nghiên cứu.
Tỉ lệ phần trăm các hình thái đục thể thủy tinh ở nhóm 1 đƣợc trình bày qua biểu đồ 3.7 nhƣ sau:
Trong nhóm 1, tỉ lệ đục nhân thể thủy tinh cao nhất đạt 77,14%, trong khi tỉ lệ đục dưới bao sau thể thủy tinh chỉ chiếm 2,86% Đục vỏ thể thủy tinh đứng ở mức 20%.
Tỉ lệ phần trăm các hình thái đục thể thủy tinh ở nhóm 2 đƣợc trình bày qua biểu đồ 3.8 nhƣ sau:
Trong nhóm 2, tỉ lệ đục nhân thể thủy tinh cao nhất đạt 51,42%, trong khi tỉ lệ đục dưới bao sau thể thủy tinh thấp nhất với 14,29% Đục vỏ thể thủy tinh chiếm tỉ lệ 34,29%.
2.86% Đục nhân Đục vỏ Đục dưới bao sau
HÌNH THÁI ĐỤC THỂ THỦY TINH Ở NHÓM 2 Đục nhân Đục vỏ Đục dưới bao sau
Các thông số trên kết quả chụp cắt lớp quang học trước và sau khi giãn đồng tử ở hai nhóm bệnh nhân
Bệnh nhân trong từng nhóm nghiên cứu đã được chụp OCT trước và sau khi sử dụng thuốc giãn đồng tử bằng máy Cirrus HD-OCT Các thông số được ghi nhận bao gồm cường độ tín hiệu, độ dày lớp sợi thần kinh võng mạc (RNFL) và hoàng điểm Những thông số này sẽ được so sánh giữa các nhóm trước và sau khi nhỏ thuốc giãn đồng tử, cũng như giữa hai nhóm có mức độ đục thể thủy tinh khác nhau.
3.3.1 Cường độ tín hiệu Ở các dòng máy chụp cắt lớp quang học hiện nay, cường độ tín hiệu là thông số chính đƣợc sử dụng để đánh giá chất lƣợng tín hiệu cũng nhƣ hình ảnh của OCT. Thông số này được ghi nhận lại ở hai nhóm bệnh nhân trước và sau khi nhỏ thuốc giãn đồng tử.
Cường độ tín hiệu trung bình ở 2 nhóm trước và sau khi giãn đồng tử được trình bày ở bảng 3.1 nhƣ sau:
Bảng 3.1: Phân bố cường độ tín hiệu ở 2 nhóm trước và sau khi giãn đồng tử.
Cường độ tín hiệu trung bình của nhóm 1 trước khi nhỏ thuốc giãn đồng tử là 8,57 ± 0,50, trong khi sau khi nhỏ thuốc, cường độ tín hiệu trung bình tăng lên 8,94 ± 0,64 Kiểm định t bắt cặp cho thấy sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p=0,0001, nhỏ hơn 0,05.
Cường độ tín hiệu Nhóm 1 Nhóm 2
Trước khi giãn đồng tử, cường độ tín hiệu trung bình của nhóm 2 là 4,29 ± 1,25, trong khi sau khi giãn đồng tử, cường độ tín hiệu này tăng lên 5,23 ± 1,03 Sử dụng kiểm định t bắt cặp, chúng tôi phát hiện có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về cường độ tín hiệu giữa trước và sau khi nhỏ thuốc giãn đồng tử ở nhóm 2 (p=0,001 < 0,05).
Cường độ tín hiệu trung bình giữa 2 nhóm mức độ đục thể thủy tinh có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,0001 0,05), các thông số được khảo sát bằng kiểm định t bắt cặp.
Trước khi giãn đồng tử 94,66 ± 6,40 (87 – 116) 91,60 ± 6,13 (82 – 103)
Sau khi giãn đồng tử, độ dày RNFL trung bình quanh gai (360°) ở nhóm 2 không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trước và sau khi giãn đồng tử (p=0,1603>0,05) Tuy nhiên, giữa hai nhóm mức độ đục thủy tinh thể, độ dày RNFL trung bình quanh gai có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,04570,05).
Độ dày RNFL ở góc trên trước khi giãn đồng tử trung bình là 118,06 ± 9,14 µm, trong khi sau khi giãn đồng tử, giá trị này là 118,14 ± 9,09 µm Sự khác biệt giữa hai giá trị này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,0831, lớn hơn 0,05.
Độ dày RNFL gúc mũi trước khi gión đồng tử trung bỡnh là 76,06 ± 7,66 àm, trong khi sau khi gión đồng tử trung bỡnh là 76,11 ± 7,67 àm Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,1603, lớn hơn 0,05.
Độ dày RNFL ở góc thái dương trước khi giãn đồng tử trung bình là 71,17 ± 7,46 µm, trong khi sau khi giãn đồng tử trung bình là 71,23 ± 7,45 µm Sự khác biệt giữa hai giá trị này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,1603 (p > 0,05).
Các thông số trên đƣợc phân tích bằng kiểm định t bắt cặ
Chúng tôi nhận thấy ở nhóm 2:
Độ dày RNFL ở góc dưới trước khi giãn đồng tử trung bình là 119,31 ± 11,52 µm, trong khi sau khi giãn đồng tử trung bình là 119,37 ± 11,51 µm Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,3244 (p > 0,05).
Độ dày RNFL ở góc trên trước khi giãn đồng tử trung bình là 102,91 ± 10,45 µm, trong khi sau khi giãn đồng tử, giá trị này là 102,94 ± 10,38 µm Sự khác biệt giữa hai giá trị này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,5742, lớn hơn 0,05.
Độ dày RNFL gúc mũi trước khi gión đồng tử trung bình là 73,03 ± 8,98 àm, trong khi sau khi gión đồng tử trung bình là 73,11 ± 8,84 àm Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,1835, lớn hơn 0,05.
Độ dày RNFL ở góc thái dương trước khi giãn đồng tử trung bình là 64,51 ± 7,21 µm, trong khi sau khi giãn đồng tử trung bình là 64,57 ± 7,13 µm Sự khác biệt giữa hai giá trị này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,1603 (p > 0,05).
Các thông số trên đƣợc phân tích bằng kiểm định t bắt cặp
Chúng tôi nhận thấy giữa 2 nhóm mức độ đục thể thủy tinh:
Tương quan giữa cường độ tín hiệu và các thông số độ dày lớp sợi thần kinh và độ dày võng mạc vùng hoàng điểm
3.4.1 Tương quan giữa cường độ tín hiệu và độ dày lớp sợi thần kinh võng mạc trung bình quanh gai
Chúng tôi sử dụng phép kiểm định Pearson để khảo sát mối tương quan giữa
Độ dày RNFL trung bình quanh gai và cường độ tín hiệu có mối tương quan thuận với nhau, với hệ số tương quan R = 0,2832 (p=0,0175