MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG TRÊN BỆNH NHÂN NGƯNG THỞ LÚC NGỦ TẮC NGHẼN .... MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH NHÂN NTLNTN .... MỐI LIÊN QUAN
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Gồm tất cả các bệnh nhân NTLNTN tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.
Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2016 đến tháng 7/2017, các bệnh nhân đã được thực hiện đo đa ký giấc ngủ tại Khoa Thăm dò chức năng hô hấp của Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM và được chẩn đoán mắc NTLNTN.
Lấy mẫu thuận tiện từ tất cả bệnh nhân đã thực hiện đa ký giấc ngủ tại Khoa Thăm dò chức năng hô hấp – Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 9/2016 đến tháng 7/2017.
Có khoảng 60 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu trong khoảng thời gian này.
Bệnh nhân đến Khoa Thăm dò chức năng hô hấp tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM để kiểm tra các triệu chứng rối loạn giấc ngủ Họ có thể đã được khám tại các cơ sở y tế khác và được chuyển đến để thực hiện đo đa ký giấc ngủ.
- Bệnh nhân từ 14 tuổi trở lên.
- Bệnh nhân đồng ý đo đa ký giấc ngủ và trả lời các bảng câu hỏi.
- Bệnh nhân được chẩn đoán NTLNTN dựa trên bệnh án và đa ký giấc ngủ.
- Bệnh nhân chưa được điều trị NTLNTN.
- Bệnh nhân có bệnh lý rối loạn giấc ngủ khác: ngủ rũ, rối loạn cử động chân có chu kỳ, mộng du.
- Bệnh nhân ngưng thở lúc ngủ do nguyên nhân trung ương.
- Bệnh nhân không hoàn thành bảng câu hỏi.
- Bệnh nhân có bệnh lý hoặc tình trạng khác ảnh hưởng đến việc đọc (hoặc nghe), hiểu bảng câu hỏi.
THU THẬP SỐ LIỆU
Thang đo SF-36 bao gồm 8 lĩnh vực chính, được phân loại thành các biến định lượng, bao gồm: chức năng thể chất (CNTC), vai trò thể chất (VTTC), cảm nhận đau đớn (CNĐĐ), sức khỏe tổng quát (SKTQ), cảm nhận sức sống (CNSS), chức năng xã hội (CNXH), vai trò cảm xúc (VTCX) và tinh thần tổng quát (TTTQ).
• Tuổi (năm): biến định lượng
• Giới tính: biến nhị giá (nam / nữ)
• Vòng cổ (cm): biến định lượng, đo ngang sụn giáp nhẫn bằng thước dây
• Vòng bụng (cm): biến định lượng, đo ngang rốn bằng thước dây
• BMI (kg/m 2 ): biến định lượng, tính bằng (cân nặng)/(chiều cao) 2
Trong đó, cân nặng (kg) và chiều cao (m) BMI được chia thành 3 nhóm:[90]
BMI < 18,5: nhẹ cân BMI = 18,5-22,9: bình thường BMI = 23-24,9: thừa cân BMI = 25-29,9: béo phì độ I BMI ≥ 30: béo phì độ II
• Huyết áp tâm thu (mmHg): biến định lượng, được đo lúc thức, tư thế nằm, trước khi bệnh nhân tiến hành đo đa ký giấc ngủ
• Huyết áp tâm trương (mmHg): biến định lượng, được đo lúc thức, tư thế nằm, trước khi bệnh nhân tiến hành đo đa ký giấc ngủ
• Tăng huyết áp: biến nhị giá (có/không), được xác định là có khi huyết áp tâm thu ≥
140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg
• Tiền sử bệnh: biến định tính, là các bệnh khác được ghi nhận theo bệnh án bệnh viện
• Mức độ buồn ngủ ban ngày: dựa vào điểm Epworth [10] Điểm Epworth Mức độ BNBN
• Chỉ số ngưng thở-giảm thở (AHI) (số biến cố/giờ): biến định lượng, tính bằng tổng số lần ngưng thở và giảm thở trong một giờ ngủ
• Mức độ nặng của NTLNTN: biến định tính, dựa trên Chỉ số ngưng thở-giảm thở [82]
Chỉ số ngưng thở-giảm thở (số lần/giờ) Mức độ NTLNTN
• Chỉ số vi thức giấc (số lần/giờ): biến định lượng, tính bằng tổng số vi thức giấc trong một giờ ngủ
• SpO2 thấp nhất (%): biến định lượng, là SpO2 thấp nhất trong khi ngủ
• Phần trăm ngáy (%): biến định lượng, là phần trăm thời gian ngáy trên tổng thời gian ngủ
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Bệnh nhân đến Khoa Thăm dò chức năng hô hấp tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM vì rối loạn giấc ngủ sẽ nhận bệnh án tự điền với các mục như triệu chứng, bảng điểm Epworth và tiền sử cá nhân Sau khi thăm khám, nếu bác sĩ nghi ngờ có ngưng thở khi ngủ, bệnh nhân sẽ được tư vấn đo đa ký giấc ngủ Nếu đồng ý, bệnh nhân sẽ được hẹn đến bệnh viện vào buổi tối, từ 9 giờ tối hôm trước đến 7 giờ sáng hôm sau để thực hiện đo Các bệnh nhân từ cơ sở y tế khác cũng sẽ được thăm khám và phát bệnh án tự điền vào tối hôm đo.
- Bệnh nhân được dặn dò không được uống rượu bia, các chất kích thích trong ngày đo đa ký giấc ngủ.
- Vào buổi tối tiến hành đo đa ký giấc ngủ, bệnh nhân được phỏng vấn trực tiếp để trả lời bảng câu hỏi SF-36.
Máy đa ký giấc ngủ ghi nhận nhiều chỉ số quan trọng như điện não đồ, điện cơ mắt, điện cơ cằm và chân, điện tâm đồ, dòng khí qua mũi và miệng, triệu chứng ngáy, cùng với mức độ SpO2.
Kết quả đo đa ký giấc ngủ được phân tích bởi phần mềm của máy và được bác sĩ chuyên khoa kiểm tra lại vào sáng hôm sau Những bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu sẽ được thu thập thông tin để tham gia vào nghiên cứu.
2.3.3 Phương tiện thu thập số liệu
- Máy đo đa ký giấc ngủ SOMNOlab 2 (Weinmann) kèm phần mềm phân tích kết quả
2.3.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
2.3.4.1 Tính điểm số 8 lĩnh vực SF-36 (Phụ lục 4) [88]
- Kiểm tra và loại các trường hợp thiếu dữ liệu (missing)
- Gán lại điểm số của từng câu hỏi (item) dựa trên lựa chọn của bệnh nhân
- Tính điểm số thô dựa trên điểm số đã gán
- Chuyển điểm số thô thành thang điểm 0-100
- Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 13, MS Excel 2013.
- Các biến số định tính được trình bày dưới dạng tần số và tỉ lệ phần trăm.
Các biến số định lượng có thể được kiểm tra phân phối chuẩn khi trung bình và trung vị gần bằng nhau, với biểu đồ phân bố tần số có hình dạng chuông đối xứng Đối với các biến số có phân phối chuẩn, chúng thường được trình bày bằng trung bình và độ lệch chuẩn Ngược lại, các biến số có phân phối không chuẩn sẽ được thể hiện qua trung vị và khoảng tứ phân vị.
Phân tích đơn biến nhằm đánh giá mối liên quan của từng yếu tố như tuổi, giới tính, nơi cư trú, học vấn, bệnh đồng mắc, BMI, vòng cổ, vòng bụng, mức độ buồn ngủ ban ngày, AHI, mức độ nặng của NTLNTN, SpO2 thấp nhất, chỉ số vi thức giấc và phần trăm ngáy đến 8 lĩnh vực sức khỏe của bệnh nhân Để so sánh trung bình của 2 nhóm, sử dụng phép kiểm T-test hoặc Mann Whitney U, trong khi phép kiểm ANOVA hoặc Kruskal Wallis được áp dụng cho việc so sánh trung bình của nhiều hơn 2 nhóm Hệ số tương quan được tính bằng phương pháp Pearson hoặc Spearman cho biến độc lập là biến định lượng hoặc thứ tự.
- Kết quả của một phép kiểm khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
VẤN ĐỀ Y ĐỨC
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện thông qua bảng câu hỏi với sự đồng ý của bệnh nhân, thu thập dữ liệu về đặc điểm bệnh nhân, dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng từ hồ sơ bệnh viện Dữ liệu được mã hóa để đảm bảo tính bí mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học Đề cương chi tiết của luận văn đã được Hội Đồng Y Đức của Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh và Phòng Nghiên Cứu Khoa Học của Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh phê duyệt, đảm bảo nghiên cứu không vi phạm y đức.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ - XÃ HỘI
Hình 3.1 Phân bố giới tính
Nhận xét: nam giới chiếm 71%
Tuổi trung bình ± ĐLC là 51,4 ± 14,9 Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 20 tuổi và lớn nhất là
Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi Nhóm tuổi Tần số Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Tuổi trung bình là 51,4 ± 14,9 Nhóm tuổi chiếm tỉ lệ nhiều nhất là 45 đến
Hình 3.2 Phân bố nghề nghiệp
Kinh doanh Nhân viên văn phòng Công nhân
Nông dân Sinh viên Tài xế Khác
Các nghề khác bao gồm lao động tự do chiếm 14%, hưu trí 6%, và một số ngành nghề chuyên môn như giáo viên, luật sư, kỹ sư, công an, đầu bếp, và tu sĩ chiếm 18%.
Nhóm nghề vận động bao gồm các công việc như công nhân, nông dân, tài xế, công an, đầu bếp và lao động tự do, trong khi các nghề khác được phân loại vào nhóm nghề ít vận động.
Bảng 3.2 Phân bố nhóm nghề nghiệp Nhóm nghề Tần số Tỉ lệ (%)
Vận động 28 43 Ít vận động 37 57
Nhận xét: đa số bệnh nhân làm trong lĩnh vực kinh doanh và các ngành nghề chuyên môn Có 8% số bệnh nhân là tài xế.
Bảng 3.3 Phân bố nơi cư trú
Nơi cư trú Tần số Tỉ lệ (%)
Nhận xét: phần lớn bệnh nhân đến khám từ các tỉnh thành khác ngoài TP Hồ Chí Minh (66%) Có 1 bệnh nhân sinh sống ở Hoa Kì.
Hình 3.3 Phân bố trình độ học vấn
Nhận xét: đa số bệnh nhân có tri thức cao (đã tốt nghiệp từ cấp III trở lên), nhóm này có
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Chỉ số khối cơ thể của 64 bệnh nhân có trung vị 27,1 (kg/m 2 ), khoảng tứ phân vị 25,3 – 29,5 (kg/m 2 ) Giá trị này nằm trong phân độ béo phì độ I.
Mù chữ Cấp I Cấp II Cấp III Đại học Sau đại học
Hình 3.4 Phân bố chỉ số khối cơ thể
Nhận xét: BMI của mẫu có trung vị 27,1 kg/m 2 , phần lớn bệnh nhân có béo phì, trong đó béo phì độ I là 56% và béo phì độ II là 23%.
Bảng 3.4 Vòng cổ và vòng bụng n = 62 Trung bình ĐLC GTNN GTLN
Nhận xét: Vòng cổ trung bình là 40,3 ± 3,9 (cm) Vòng bụng trung bình là 99,7 ± 10,0 (cm).
Thiếu cân Bình thường Thừa cân Béo phì độ I Béo phì độ II
Bảng 3.5 Huyết áp n = 64 Trung bình ĐLC GTNN GTLN
Huyết áp tâm thu (mmHg) 129 16 100 160
Huyết áp tâm trương (mmHg) 82 10 60 110
Trong số 64 bệnh nhân, có 27 bệnh nhân (42%) bị tăng huyết áp.
Nhận xét: Bệnh nhân tăng huyết áp chiếm gần một nửa dân số nghiên cứu Huyết áp tâm thu trung bình 129 ± 16 mmHg Huyết áp tâm trương trung bình 82 ± 10 mmHg.
ĐẶC ĐIỂM BẢNG CÂU HỎI EPWORTH VÀ TIỀN SỬ BỆNH
Điểm Epworth có trung bình ± ĐLC là 8,6 ± 5,1, giá trị nhỏ nhất là 0, giá trị lớn nhất là
22 Có 21 bệnh nhân (33%) có buồn ngủ ban ngày quá mức (điểm Epworth ≥ 11).
Hình 3.5 Phân bố mức độ buồn ngủ ban ngày
Bình thường - thấp Bình thường - cao Quá mức - nhẹ Quá mức - trung bình Quá mức - nặng
Hình 3.6 Phân bố tiền sử bệnh
Trong số các bệnh lý nổi bật, rối loạn lipid máu và tăng huyết áp chiếm ưu thế với 34 bệnh nhân (52%) có tiền sử mắc phải Tiếp theo là tình trạng dị ứng với 19 bệnh nhân (29%), bệnh phổi và ợ hơi ghi nhận ở 16 bệnh nhân (25%), viêm mũi ở 15 bệnh nhân (23%), cùng với bệnh đái tháo đường.
ĐẶC ĐIỂM ĐA KÝ GIẤC NGỦ
Chỉ số ngưng thở-giảm thở (AHI) của bệnh nhân trong nghiên cứu có trung vị là 24,4, với khoảng tứ phân vị từ 11,8 đến 59,3 (số biến cố/giờ) Giá trị AHI ghi nhận thấp nhất là 5,4 và cao nhất là 93.
Suy giáp Rối loạn nhịp Tai biến mạch máu não
Trầm cảm Đái tháo đường
Mổ cắt a-mi-đan Mãn kinh Viêm mũi Bệnh phổi Ợ hơi
Dị ứng Tăng huyết áp Rối loạn lipid máu
Bảng 3.6 Phân bố mức độ NTLNTN
Mức độ NTLNTN Tần số Tỉ lệ (%)
Nhận xét: phần lớn bệnh nhân có NTLNTN mức độ nặng (45%).
3.4.2 SpO 2 thấp nhất khi ngủ
SpO2 thấp nhất của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu có trung vị 73 (%), khoảng tứ phân vị 63-79 (%).
3.4.3 Chỉ số vi thức giấc
Chỉ số vi thức giấc trong mẫu nghiên cứu có trung vị 10 (lần/tổng số giờ ngủ), khoảng tứ phân vị 3,8 – 22,1.
Trong số 65 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, có 58 bệnh nhân có ngáy khi ngủ, chiếm tỉ lệ 89%.
Phần trăm ngáy có trung vị 31,8 (%), khoảng tứ phân vị 10,2 – 57,9 (%).
Khác biệt về phần trăm ngáy giữa các mức độ NTLNTN là có ý nghĩa thống kê (p 0,05).
3.6.2.2 Mối liên quan giữa CLCS và tình trạng tăng huyết áp
Hình 3.10 Mối liên quan giữa điểm số 8 lĩnh vực với tình trạng tăng huyết áp
Điểm số 8 lĩnh vực ở bệnh nhân tăng huyết áp thấp hơn hoặc bằng điểm số ở bệnh nhân không tăng huyết áp, tuy nhiên sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.6.2.3 Mối liên quan giữa CLCS và mức độ buồn ngủ ban ngày
Hình 3.11 Mối liên quan giữa điểm số 8 lĩnh vực với mức độ buồn ngủ ban ngày
1: (BNBN) bình thường-thấp, 2: bình thường-cao, 3: quá mức-nhẹ,
4: quá mức-trung bình, 5: quá mức-nặng
Nhận xét cho thấy, chỉ số CLCS ở bệnh nhân BNBN quá mức thấp hơn so với bệnh nhân có mức độ BNBN bình thường, ngoại trừ trong lĩnh vực CNTC và VTCX Tuy nhiên, tất cả các sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.6.3 Mối liên quan giữa CLCS và các đặc điểm đa ký giấc ngủ
3.6.3.1 Mối liên quan giữa CLCS và mức độ NTLNTN
Hình 3.12 Mối liên quan giữa điểm số 8 lĩnh vực với mức độ NTLNTN
Nhìn chung, điểm số ở 8 lĩnh vực của bệnh nhân NTLNTN mức độ nặng cao hơn so với bệnh nhân NTLNTN mức độ nhẹ và trung bình, ngoại trừ điểm CNĐĐ Tuy nhiên, tất cả các sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.6.3.2 Mối liên quan giữa CLCS và các chỉ số trong ĐKGN
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa điểm số 8 lĩnh vực và các chỉ số ĐKGN
CNTC VTTC CNĐĐ SKTQ CNSS CNXH VTCX TTTQ
Chỉ số vi thức giấc r (p)
Nhìn chung, có sự tương quan không đáng kể giữa 8 lĩnh vực sức khỏe với AHI, SpO2 thấp nhất khi ngủ, chỉ số vi thức giấc và phần trăm ngáy, với hệ số tương quan |r| < 0,2 Tất cả các mối tương quan này đều không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
BÀN LUẬN
ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ - XÃ HỘI
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 71% bệnh nhân là nam giới, tỷ lệ này tương đồng với một số nghiên cứu dịch tễ học về NTLNTN Kết quả này cũng phù hợp với việc nam giới được xác định là yếu tố nguy cơ của NTLNTN.
Bảng 4.1 Tỉ lệ mắc NTLNTN theo giới tính Quốc gia Tác giả, năm Tỉ lệ mắc NTLNTN (%)
Việt Nam Lê Thượng Vũ, 2011 [8] 80 20
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân có độ tuổi trung bình là 51,4 ± 14,9, tương đồng với các nghiên cứu khác về bệnh nhân NTLNTN, đặc biệt là các nghiên cứu tại Việt Nam (Bảng 4.2).
Bảng 4.2 Tuổi trung bình của bệnh nhân NTLNTN
Nhóm tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất trong nghiên cứu là từ 45 đến dưới 60 tuổi, với 24 bệnh nhân, tương đương 37% Kết quả này nhất quán với các nghiên cứu trước đó của Vũ Hoài Nam và Đậu Nguyễn Anh Thư.
Theo tác giả Bixler và cộng sự, tỉ lệ NTLNTN tăng dần theo tuổi ở cả hai giới [21],[22].
Tỉ lệ bệnh nhân NTLNTN gia tăng theo độ tuổi do tích tụ mỡ vùng cạnh hầu, kéo dài khẩu cái mềm và thay đổi cấu trúc xung quanh vùng hầu họng Bên cạnh đó, sự giảm đáng kể các phản xạ với áp suất âm trong đường dẫn khí cũng góp phần vào tình trạng này Hai yếu tố giải phẫu và sinh lý này làm cho đường dẫn khí dễ bị xẹp hơn.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh nhân làm trong lĩnh vực kinh doanh (23%), và các ngành nghề chuyên môn (18%), nghề tài xế chiếm 8%.
Các tỉ lệ nghề nghiệp trong nghiên cứu của chúng tôi khó so sánh với các nghiên cứu khác do sự khác biệt trong cách phân chia Mặc dù tỉ lệ tài xế thấp, nghề này lại được quan tâm nhiều trong nhóm đối tượng NTLNTN, vì buồn ngủ và ngủ gật khi lái xe là nguyên nhân chính gây ra các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng Tỉ lệ tài xế không cao trong nghiên cứu có thể do nhiều yếu tố khác nhau.
Tác giả, năm Số bệnh nhân
48 truyền thông về bệnh lý NTLNTN chưa đến được các đối tượng này, hoặc các bệnh nhân này không có điều kiện kinh tế, thời gian để đến khám.
Nghiên cứu về vận động và nguy cơ NTLNTN cho thấy bệnh nhân làm nghề ít vận động có chỉ số AHI cao hơn đáng kể so với những người làm nghề vận động nhiều Mặc dù nghiên cứu của chúng tôi không phân loại rõ ràng nghề nghiệp theo mức độ vận động, nhưng nhóm nghề ít vận động tại Việt Nam, bao gồm kinh doanh, nhân viên văn phòng, giáo viên, sinh viên, luật sư, kỹ sư, tu sĩ và người hưu trí, chiếm hơn 50% trong tổng số nghề nghiệp của nhóm nghiên cứu.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 66% bệnh nhân đến từ các tỉnh thành khác, phản ánh đặc điểm của Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, nơi thu hút nhiều bệnh nhân từ xa Việc thiếu máy đa ký giấc ngủ ở nhiều tỉnh thành khiến bệnh nhân phải di chuyển đến TP Hồ Chí Minh để được khám và điều trị Đặc biệt, có một bệnh nhân từ Hoa Kỳ, là công nhân với nhiều bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường và tai biến mạch máu não, đã trở về nước để nhận được sự chăm sóc y tế cần thiết.
Trong nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng 86% bệnh nhân có trình độ học vấn cao, với hầu hết đều tốt nghiệp cấp III trở lên Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lê Thượng.
Hội chứng NTLNTN tại Việt Nam, theo Vũ và cộng sự, có thể liên quan đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của bệnh nhân.
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Nghiên cứu cho thấy chỉ số BMI của mẫu là 27,1 kg/m², thuộc phân độ béo phì độ I Đặc biệt, 56% bệnh nhân trong nghiên cứu được xác định là mắc béo phì độ I.
Tỷ lệ béo phì độ II ở nhóm tuổi 49 là 23%, tương đồng với các nghiên cứu về NTLNTN, đặc biệt là ở Việt Nam và châu Á Chỉ số BMI trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu ở châu Âu, có thể do sự khác biệt trong phân độ BMI giữa châu Âu và châu Á Nghiên cứu tại Iceland cho thấy BMI trung bình thuộc béo phì độ I theo phân độ châu Âu.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng chỉ số khối cơ thể (BMI) cao là yếu tố nguy cơ của bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin (NTLNTN) Một nghiên cứu tại Hàn Quốc xác định ngưỡng BMI để dự đoán NTLNTN là 23,05 kg/m² cho nữ và 24,95 kg/m² cho nam Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đậu Nguyễn Anh Thư cho thấy ngưỡng chung cho cả hai giới là 24 kg/m², với độ nhạy 84,6% và độ đặc hiệu 50%.
Bảng 4.3 Chỉ số khối cơ thể của bệnh nhân NTLNTN
Cùng với chỉ số BMI, số đo vòng cổ và vòng bụng là những chỉ số quan trọng trong việc dự đoán nguy cơ mắc bệnh NTLNTN Nghiên cứu của Kang và các cộng sự đã chỉ ra giá trị ngưỡng của vòng cổ.
Quốc gia Tác giả, năm Số bệnh nhân NTLNTN
Việt Nam Lê Thượng Vũ, 2011 [8] 229 26,8 ± 4,9
Theo nghiên cứu, vòng cổ và vòng bụng có thể dự đoán NTLNTN với các giá trị lần lượt là 34,5cm/38,75cm cho nữ/nam và 76,5cm/88,5cm cho nữ/nam Giá trị ngưỡng của vòng cổ và vòng bụng được Đậu Nguyễn Anh Thư xác định là 38cm và 90cm.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, vòng cổ trung bình là 40,3 ± 3,9 cm và vòng bụng trung bình là 99,7 ± 10,0 cm, kết quả này tương đồng với một số nghiên cứu khác trong khu vực châu Á.
Bảng 4.4 Vòng cổ, vòng bụng của bệnh nhân NTLNTN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, huyết áp được ghi nhận khi bệnh nhân thức trước khi tiến hành đo đa ký giấc ngủ Trị số trung bình huyết áp tâm thu (HATT) là 129 ± 16 mmHg và huyết áp tâm trương (HATTr) là 82 ± 10 mmHg, với 42% bệnh nhân có tình trạng tăng huyết áp Kết quả này tương đồng với một số nghiên cứu khác.
Gần một nửa số bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi mắc tăng huyết áp, và NTLNTN đã được xác định là yếu tố nguy cơ cho tình trạng này.
Tác giả, năm Vòng cổ (cm)
Yusoff MF, 2010 [93] 40,0 ± 3,1 - Đậu Nguyễn Anh Thư, 2013 [6] 40,0 ± 3,9 98,6 ± 10,3
Bảng 4.5 Huyết áp của bệnh nhân NTLNTN
ĐẶC ĐIỂM BẢNG CÂU HỎI EPWORTH VÀ TIỀN SỬ BỆNH
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điểm trung bình Epworth là 8,6 ± 5,1, với 33% bệnh nhân gặp phải tình trạng buồn ngủ ban ngày, con số này thấp hơn so với nhiều nghiên cứu khác về NTLNTN, đặc biệt là các nghiên cứu quốc tế Nguyên nhân có thể là do bảng câu hỏi Epworth chưa được điều chỉnh phù hợp với văn hóa Việt Nam, ví dụ như câu hỏi liên quan đến việc ngồi lái xe hơi không phản ánh đúng thực tế giao thông chủ yếu bằng xe máy tại nước ta Thêm vào đó, thói quen xem phim và kịch ở Việt Nam cũng ít hơn, dẫn đến việc bệnh nhân ít có cơ hội ngồi yên ở nơi công cộng.
Tác giả, năm HATT (mmHg)
Ngược lại, thói quen ngủ trưa lại khá phổ biến ở nước ta Do các yếu tố này nên điểm Epworth có thể được diễn giải không chính xác.
Bảng 4.6 Điểm Epworth và tỉ lệ buồn ngủ ban ngày ở bệnh nhân NTLNTN
Hội chứng chuyển hóa, bao gồm rối loạn dung nạp glucose, rối loạn lipid máu và tăng huyết áp, đã được y văn ghi nhận là yếu tố nguy cơ của NTLNTN.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 52% bệnh nhân có tiền sử rối loạn lipid máu và tăng huyết áp, trong khi 20% có tiền sử đái tháo đường Tỷ lệ này cao hơn so với một số nghiên cứu khác, có thể do bệnh nhân đến khám khi bệnh đã nặng và có nhiều biến chứng.
Tác giả, năm Điểm Epworth trung bình ± ĐLC
Tỉ lệ BNBN (điểm Epworth ≥ 11)
Reddy V, 2009 [71] - 45% Đậu Nguyễn Anh Thư, 2013 [6] 9 ± 5,5 -
Bảng 4.7 Tỉ lệ một số bệnh đồng mắc thường gặp ở bệnh nhân NTLNTN
Mẫu nghiên cứu ghi nhận một số tình trạng sức khỏe phổ biến như dị ứng (29%), bệnh phổi (25%), ợ hơi (25%) và viêm mũi (23%) Những tiền sử bệnh này ít được đề cập trong các nghiên cứu khác, có thể do địa điểm nghiên cứu tại Khoa Thăm dò chức năng hô hấp, nơi mà phần lớn bệnh nhân đến khám chủ yếu vì các vấn đề hô hấp – dị ứng, và sau đó được bác sĩ phát hiện có biểu hiện hoặc nguy cơ NTLNTN, dẫn đến việc chỉ định đo đa ký giấc ngủ.
ĐẶC ĐIỂM ĐA KÝ GIẤC NGỦ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số ngưng thở-giảm thở có trung vị là 24,4 (khoảng tứ phân vị 11,8 – 59,3) Đáng chú ý, mức độ nặng của NTLNTN chiếm đến 45%, tương tự như một số nghiên cứu khác Kết quả này cho thấy phần lớn bệnh nhân NTLNTN đến khám khi bệnh đã ở giai đoạn nặng.
Tác giả, năm Rối loạn lipid máu (%)
Tăng huyết áp (%) Đái tháo đường (%)
Bảng 4.8 AHI và sự phân bố mức độ bệnh ở bệnh nhân NTLNTN
4.4.2 SpO 2 thấp nhất khi ngủ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số SpO2 thấp nhất có TV(KTPV) là 73 (63-79) %, tương đồng với nghiên cứu của Kang HH và He Qy, nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Vũ Hoài Nam Sự khác biệt này có thể do nghiên cứu của Vũ Hoài Nam được thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy, nơi chủ yếu tiếp nhận bệnh nhân nặng, với chỉ số ngưng thở-giảm thở cao hơn: 42,4 ± 28,2 so với 24,4 (11,8 – 59,3) trong nghiên cứu của chúng tôi.
Bảng 4.9 SpO 2 thấp nhất khi ngủ ở bệnh nhân NTLNTN Tác giả, năm SpO 2 thấp nhất - TB ± ĐLC hoặc TV (KTPV)
4.4.3 Chỉ số vi thức giấc
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chỉ số vi thức giấc trung vị là 10 (3,8 – 22,1), thấp hơn so với một số nghiên cứu khác Chỉ số này có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuổi tác, mức độ nặng của NTLNTN và thuốc an thần Mặc dù bệnh nhân được yêu cầu không sử dụng rượu bia hay chất kích thích trong ngày đo ĐKGN, chúng tôi không ghi nhận các loại thuốc mà bệnh nhân đã sử dụng trước và trong ngày đó Đặc biệt, trong nghiên cứu có 8 bệnh nhân có tiền sử trầm cảm, điều này có thể cho thấy việc sử dụng thuốc an thần hoặc các loại thuốc khác đã ảnh hưởng đến chỉ số vi thức giấc, đây là một hạn chế trong nghiên cứu của chúng tôi.
Bảng 4.10 Chỉ số vi thức giấc ở bệnh nhân NTLNTN
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ bệnh nhân ngáy khi ngủ đạt 89%, tương đương với tỉ lệ trong nghiên cứu của Yusoff [93] Hơn nữa, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phần trăm ngáy giữa các mức độ NTLNTN, tương tự như kết quả của nghiên cứu Hong SN [38].
Tác giả, năm Chỉ số vi thức giấc
TB ± ĐLC hoặc TV (KTPV)
Ngáy là triệu chứng đặc trưng của NTLNTN, nhưng giá trị dự đoán của nó kém do tỷ lệ cao trong dân số, với 60% nam và 40% nữ ở độ tuổi 41 - 65 thường ngáy Chỉ khoảng 1/3 số người ngáy thực sự mắc NTLNTN Ngược lại, khi không có ngáy, việc chẩn đoán trở nên khó khăn hơn, vì chỉ có khoảng 6% bệnh nhân NTLNTN không có triệu chứng ngáy.
Bảng 4.11 Tỉ lệ bệnh nhân có ngáy và Phần trăm ngáy ở bệnh nhân NTLNTN
ĐẶC ĐIỂM BỘ CÂU HỎI SF-36
Thang đo SF-36 không có giá trị ngưỡng cố định cho 8 lĩnh vực sức khỏe, mà điểm số từng lĩnh vực có thể so sánh với điểm số của dân số chung Điểm số này khác nhau theo từng quốc gia, và hiện tại ở Việt Nam chưa có dữ liệu về điểm số SF-36 cho dân số chung cũng như cho nhóm bệnh nhân NTLNTN Do đó, chúng tôi tiến hành so sánh điểm số 8 lĩnh vực sức khỏe giữa 3 nhóm NTLNTN (nhẹ, trung bình, nặng) và tính hệ số tương quan giữa các điểm số này với các biến số khác.
Để tính điểm số cho hai thành phần sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần trong lĩnh vực sức khỏe, cần chuẩn hóa điểm theo dân số tương ứng Đồng thời, cần hệ số hóa điểm chuẩn hóa của mỗi lĩnh vực dựa trên các giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.
Tác giả, năm Tỉ lệ ngáy
TB ± ĐLC hoặc TV (KTPV)
40,8 ± 2,9 (NTLNTN trung bình) 34,2 ± 2,4 (NTLNTN nặng)
Chúng tôi đã tính điểm số cho 8 lĩnh vực sức khỏe trong dân số Việt Nam, tuy nhiên, hiện tại chưa có các tham số tương ứng để tính điểm số chung cho 2 thành phần sức khỏe.
Bảng 4.12 Điểm số 8 lĩnh vực sức khỏe trên bệnh nhân NTLNTN
Dân số nghiên cứu nW NTLNTN n(4 NTLNTN nặng nC BNBN nặng n3 NTLNTN
Quốc gia Mỹ Mỹ Đài Loan Hà Lan Việt Nam
So với các nghiên cứu của Lee, Ware, Wang và Martínez-García (Bảng 4.12), nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận điểm số 8 lĩnh vực khá thấp, với chỉ điểm CNSS tương đồng Mặc dù vậy, điểm số của các lĩnh vực còn lại cũng cho thấy sự khác biệt đáng chú ý.
Có sự chênh lệch đáng kể giữa các nghiên cứu về điểm CNTC, SKTQ, CNXH, VTCX, với kết quả nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt ít nhất so với nghiên cứu của Wang tại Đài Loan Những chênh lệch này có thể do sự khác biệt về dân số, địa lý và văn hóa Nghiên cứu của Trần Công Duy tại Bệnh viện Chợ Rẫy cũng cho thấy điểm số SF-36 thấp hơn so với các nghiên cứu ở châu Âu Khi xem xét trị số tham khảo ở một số nước châu Á, chúng tôi nhận thấy rằng các dân tộc Hoa, Malay và Ấn tại Singapore có trị số tham khảo thấp hơn nhiều so với người Mỹ.
Bảng 4.13 Trị số tham khảo 8 lĩnh vực ở một số dân tộc
Người Hoa Người Malay Người Ấn n780 n82 n89 n$74
Trị số tham khảo của bộ câu hỏi SF-36 khác biệt rõ rệt giữa các quốc gia, do đó cần thiết phải có trị số SF-36 tham khảo cho dân số Việt Nam để đưa ra kết luận chính xác Hơn nữa, để hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến điểm số thấp trong 8 lĩnh vực của nghiên cứu, cần thực hiện thêm các phân tích sâu hơn, chẳng hạn như nghiên cứu định tính.
MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH NHÂN NTLNTN
4.6.1 Mối liên quan giữa CLCS và các đặc điểm dân số - xã hội
4.6.1.1 Mối liên quan giữa CLCS và tuổi Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tuổi bệnh nhân có tương quan khá với lĩnh vực CNTC, tuổi càng cao, điểm số CNTC càng thấp, mối tương quan này có ý nghĩa thống kê (r = - 0,58, p < 0,001) Tuổi bệnh nhân có tương quan không đáng kể hoặc tương quan thấp với các lĩnh vực còn lại và không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu của Martínez-García có kết quả khá tương đồng với chúng tôi khi ghi nhận chỉ có điểm số CNTC và TTTQ khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân NTLNTN trên 65 tuổi và dưới 65 tuổi
[61] Nghiên cứu của Lee ghi nhận tuổi có tương quan nghịch với cả điểm thành phần sức khỏe thể chất (r = -0,178, p < 0,05) và sức khỏe tinh thần (r = -0,065, p > 0,05) [55].
4.6.1.2 Mối liên quan giữa CLCS và giới tính Trong mẫu nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận nam giới có điểm số 8 lĩnh vực sức khỏe cao hơn nữ giới, riêng ở các lĩnh vực CNTC, CNĐĐ, SKTQ, CNSS và VTCX, sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê Điều này có thể do nữ giới dễ bị tác động về thể chất và tâm lý hơn nam giới Kết quả của chỳng tụi tương đồng với nghiờn cứu củaBjửrnsdúttir, trong đó ghi nhận điểm số thành phần sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần ở nữ giới đều thấp hơn nam giới, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê [23] Ngay cả trên dân số bình thường, nghiên cứu của Sow ở Singapore cũng ghi nhận điểm số 8 lĩnh vực ở nữ giới thấp hơn ở nam giới ở cả 3 dân tộc (Hoa, Malay, Ấn) [80].
4.6.1.3 Mối liên quan giữa CLCS và nơi cư trú, học vấn Chúng tôi ghi nhận điểm số cả 8 lĩnh vực sức khỏe ở bệnh nhân TP Hồ Chí Minh đều cao hơn so với các tỉnh thành khác, nhưng sự khác biệt chỉ có ý nghĩa thống kê ở lĩnh
Sự khác biệt trong việc tiếp cận dịch vụ y tế giữa TP Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác, đặc biệt là vùng nông thôn, có thể là do điều kiện y tế tốt hơn tại thành phố này.
Bệnh nhân có học vấn cao thường có chất lượng cuộc sống sức khỏe (CLCS) tốt hơn so với những người có học vấn thấp, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTC), văn hóa thể thao (VTTC), công nghiệp địa phương (CNĐĐ), công nghiệp xã hội (CNXH) và truyền thông truyền hình (TTTQ) Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê ở CNTC và TTTQ Để hiểu rõ hơn về nguyên nhân, cần thực hiện nghiên cứu sâu hơn liên quan đến các yếu tố xã hội như tình trạng kinh tế và hôn nhân.
4.6.2 Mối liên quan giữa CLCS và các đặc điểm lâm sàng – điểm Epworth
4.6.2.1 Mối liên quan giữa CLCS và BMI, vòng cổ, vòng bụng
Nghiên cứu cho thấy chỉ số BMI có mối tương quan nghịch với 6 lĩnh vực bao gồm CNTC, VTTC, CNĐĐ, SKTQ, CNSS và CNXH, cho thấy rằng khi BMI tăng cao, chất lượng cuộc sống trong các lĩnh vực này giảm xuống Mối tương quan giữa BMI và VTCX, TTTQ là thuận nhưng không đáng kể (r < 0,20) và không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu của Bjửrnsdúttir cũng chỉ ra rằng BMI có mối tương quan nghịch với điểm số thành phần sức khỏe thể chất, nhưng lại có mối tương quan thuận với thành phần sức khỏe tinh thần, với các mối tương quan này có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng vòng cổ và vòng bụng có sự khác biệt nhỏ giữa các thành phần sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần Cụ thể, vòng cổ có tương quan thuận không đáng kể với sức khỏe thể chất và tương quan thuận thấp với sức khỏe tinh thần Ngược lại, vòng bụng có tương quan nghịch với sức khỏe thể chất nhưng lại có tương quan thuận với sức khỏe tinh thần, mặc dù cả hai tương quan này đều không đáng kể Điều này cho thấy vòng cổ và vòng bụng không ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, nhưng lại có thể chỉ ra sức khỏe tinh thần tốt hơn Kết quả này phù hợp với chỉ số BMI, cho thấy rằng thừa cân và béo phì liên quan đến nhiều vấn đề thể chất, nhưng có thể bệnh nhân béo hơn lại có sức khỏe tinh thần tốt hơn.
Nước ta vẫn duy trì quan niệm ưa chuộng trẻ em "đầy đặn" hơn là "gầy gò", với nhiều gia đình thường thích những em bé mũm mĩm.
4.6.2.2 Mối liên quan giữa CLCS và tình trạng tăng huyết áp Kết quả của chúng tôi cho thấy bệnh nhân tăng huyết áp có điểm số 8 lĩnh vực sức khỏe thấp hơn hoặc bằng bệnh nhân không tăng huyết áp, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu của Trần Công Duy về CLCS trên bệnh nhân tăng huyết áp cũng ghi nhận điểm số 8 lĩnh vực khá thấp so với nhiều nghiên cứu tương tự ở nước ngoài, mặc dù nghiên cứu này không so sánh với nhóm chứng [1] Trong nghiên cứu của Bulcun, điểm số các lĩnh vực cũng tương quan nghịch với sự hiện diện tăng huyết áp [24].
4.6.2.3 Mối liên quan giữa CLCS và mức độ buồn ngủ ban ngày Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhìn chung điểm số các lĩnh vực ở bệnh nhân BNBN quá mức (điểm Epworth > 10) thấp hơn điểm số ở bệnh nhân có mức độ BNBN bình thường, trừ lĩnh vực CNTC và VTCX Tuy nhiên, các sự khác biệt này đều không có ý nghĩa thống kê Kết quả nghiên cứu của Bulcun cũng ghi nhận CLCS tương quan nghịch với điểm Epworth [24].
4.6.3 Mối liên quan giữa CLCS và các đặc điểm đa ký giấc ngủ
Theo Hình 3.12, ngoài điểm CNĐĐ, các điểm số ở 7 lĩnh vực còn lại đều tăng dần theo mức độ nặng của NTLNTN, cho thấy bệnh càng nặng, chất lượng cuộc sống (CLCS) ở các lĩnh vực này càng cao Tuy nhiên, phép kiểm Kruskal–Wallis không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức độ NTLNTN Thêm vào đó, các chỉ số SpO2, vi thức giấc và phần trăm ngáy cũng không tương quan đáng kể với các điểm số CLCS Kết quả này dường như trái ngược với nhiều nghiên cứu trước đó, trong đó CLCS giảm theo mức độ nặng của bệnh.
Nghiên cứu của Martínez-García cho thấy NTLNTN không ảnh hưởng đáng kể đến CLCS của bệnh nhân trên 65 tuổi so với dân số bình thường cùng độ tuổi Tương tự, nghiên cứu của Dutt ghi nhận NTLNTN gây giảm CLCS, nhưng mức độ giảm không tỉ lệ với độ nặng của bệnh, sử dụng bảng câu hỏi SAQLI Nghiên cứu của Kang chỉ ra rằng CLCS của bệnh nhân NTLNTN liên quan nhiều đến chất lượng giấc ngủ chủ quan, được đánh giá qua chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh, hơn là AHI Bảng câu hỏi Pittsburgh gồm 18 câu, đánh giá 7 lĩnh vực liên quan đến giấc ngủ, với điểm số cao hơn cho thấy chất lượng giấc ngủ thấp hơn.
Nghiên cứu của Wu chỉ ra một nghịch lý thú vị về mức độ giảm oxy khi ngủ, khi mà các bệnh nhân bị giảm oxy nặng lại báo cáo chất lượng giấc ngủ chủ quan tốt hơn so với nhóm chứng Tác giả cho rằng điều này có thể liên quan đến việc giảm nhận thức ở những người bị giảm oxy máu.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chất lượng cuộc sống sức khỏe (CLCS) có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài các chỉ số đau khổ, bao gồm các bệnh lý đồng mắc và rối loạn chức năng ban ngày và ban đêm liên quan đến bệnh nhân NTLNTN Bệnh nhân NTLNTN mức độ nặng, do đã mắc bệnh lâu, có thể quen với tình trạng của mình, trong khi bệnh nhân mức độ nhẹ có thể cảm nhận sự thay đổi rõ rệt về CLCS do mới mắc bệnh Hơn nữa, bảng câu hỏi SF-36 chỉ đánh giá tình trạng sức khỏe trong tháng gần nhất, do đó không phản ánh đầy đủ CLCS của các đối tượng khác nhau.
Ngoài ra, SF-36 vốn là một thang đo CLCS chung cho nhiều bệnh lý, có thể thang đo này không phù hợp với đối tượng NTLNTN tại Việt Nam.