1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng bảng phân loại gleason cải tiến trong chẩn đoán carcinôm tuyến của tuyến tiền liệt

114 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp dụng phân loại gleason cải tiến trong chẩn đoán carcinôm tuyến của tuyến tiền liệt
Tác giả Phạm Quốc Thắng
Người hướng dẫn TS. BS. Ngô Quốc Đạt
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học hình thái (giải phẫu bệnh)
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 4,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (5)
    • 1.1 Phôi thai học và giải phẫu học TTL (5)
      • 1.1.1 Phôi thai học TTL (5)
      • 1.1.2 Giải phẫu học TTL (5)
    • 1.2 Mô học TTL (8)
      • 1.2.1 Sự khác biệt về mô học của các vùng TTL (10)
      • 1.2.2 Thay đổi mô học TTL (11)
      • 1.2.3 Đặc điểm hóa mô miễn dịch (HMMD) (13)
      • 1.2.4 Sinh lý học của TTL (14)
    • 1.3 Carcinôm tuyến của TTL (15)
      • 1.3.1 Dịch tễ học (15)
      • 1.3.2 Phân giai đoạn lâm sàng (17)
      • 1.3.3 Đại thể (20)
      • 1.3.4 Đặc điểm vi thể (21)
      • 1.3.5 Phân độ mô học ung thư TTL (22)
      • 1.3.6 Sơ lược về sinh thiết TTL (33)
    • 1.4 Sơ lược một số công trình NC trong nước (35)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (36)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (36)
      • 2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh (36)
      • 2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ (36)
    • 2.2 Phương pháp nghiên cứu (36)
      • 2.2.1 Thiết kế nghiên cứu (36)
      • 2.2.2 Cách tiến hành nghiên cứu (36)
    • 2.3 Phương pháp đánh giá kết quả (37)
      • 2.3.1 Khảo sát đặc điểm giải phẫu bệnh của carcinôm tuyến của TTL (37)
      • 2.3.2 Đánh giá điểm Gleason theo bảng phân độ Gleason cải tiến (38)
      • 2.3.3 So sánh sự thay đổi điểm Gleason (39)
      • 2.3.4 Khảo sát mối tương quan (39)
    • 2.4 Xử lý số liệu (39)
    • 2.5 Y đức nghiên cứu (39)
    • 2.6 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu (40)
      • 2.6.1 Địa điểm nghiên cứu (40)
      • 2.6.2 Thời gian nghiên cứu (40)
  • Chương 3: KẾT QUẢ (41)
    • 3.1 Đặc điểm giải phẫu bệnh của carcinôm tuyến TTL (41)
      • 3.1.1 Tuổi của bệnh nhân (41)
      • 3.1.2 Nồng độ PSA/HTh (41)
      • 3.1.3 Tỉ lệ phần trăm mẫu sinh thiết có u (42)
      • 3.1.4 Đặc điểm mô học đặc hiệu cho carcinôm TTL (44)
      • 3.1.5 Tình trạng xâm lấn của tế bào u (45)
      • 3.1.6 Tân sinh trong biểu mô TTL độ cao (45)
    • 3.2 Điểm Gleason theo phân độ Gleason cải tiến (47)
      • 3.2.1 Điểm Gleason (47)
      • 3.2.2 So sánh sự thay đổi điểm Gleason (47)
      • 3.2.3 Liên quan điểm Gleason và tình trạng xâm lấn (48)
      • 3.2.4 Liên quan điểm Gleason với nồng độ PSA/HTh (49)
      • 3.2.5 Carcinôm trong ống TTL (54)
      • 3.2.6 Biến thể carcinôm tuyến TTL (55)
    • 3.3 Vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5 (55)
      • 3.3.1 Tỉ lệ vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5 (55)
      • 3.3.2 Liên quan giữa vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5 và xâm lấn thần kinh, mô mỡ (55)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (57)
    • 4.1 Đặc điểm giải phẫu bệnh của carcinôm tuyến TTL (57)
      • 4.1.1 Tuổi của bệnh nhân (57)
      • 4.1.2 Nồng độ PSA/HTh (59)
      • 4.1.3 Tỉ lệ phần trăm mẫu có u (61)
      • 4.1.4 Đặc điểm mô học đặc hiệu cho carcinôm TTL (63)
      • 4.1.5 Tình trạng xâm lấn của tế bào u (64)
      • 4.1.6 Tân sinh trong biểu mô TTL độ cao (64)
    • 4.2 Điểm Gleason theo phân độ Gleason cải tiến (65)
      • 4.2.1 Điểm Gleason (65)
      • 4.2.2 So sánh sự thay đổi điểm Gleason (68)
      • 4.2.3 Liên quan điểm Gleason và tình trạng xâm lấn (69)
      • 4.2.4 Liên quan điểm Gleason với nồng độ PSA/HTh (70)
      • 4.2.5 Caricinôm trong ống TTL (70)
      • 4.2.6 Biến thể carcinôm tuyến TTL (71)
    • 4.3 Vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5 (72)
      • 4.3.1 Tỉ lệ vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5 (72)
      • 4.3.2 Liên quan giữa vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5 và xâm lấn thần kinh, mô mỡ (74)
  • KẾT LUẬN (76)

Nội dung

một trong những nơi đầu tiên thực hiện chương trình phát hiện sớm ung thư TTL.Tại Trung tâm chẩn đoán y khoa Medic, với những trường hợp nghi ngờ ung thưTTL, bệnh nhân BN sẽ được sinh th

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Trong năm 2015, từ ngày 01/01 đến 31/12, Phòng khám Đa Khoa - Công ty TNHH Y Tế Hòa Hảo đã ghi nhận 215 trường hợp được chẩn đoán mắc carcinôm trên MST TTL, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chọn bệnh.

BN được chọn phải thỏa cùng lúc các điều kiện sau:

 Mẫu bệnh phẩm là MST, số MST ≥ 6 mẫu.

 Có kết quả giải phẫu bệnh là carcinôm tuyến nguyên phát của TTL có đánh giá điểm Gleason và các biến thể của carcinôm TTL.

Không có tiêu bản giải phẫu bệnh và khối mô vùi nến.

BN không phải là người Việt Nam.

BN có nhiều ung thư cùng lúc.

BN được hóa trị, xạ trị trước đó.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp mô tả - loạt ca.

2.2.2 Cách tiến hành nghiên cứu

2.2.2.1 Cách thu thập dữ liệu

Thu thập dữ liệu theo mẫu phiếu thu thập dữ liệu.

Thu thập các tiêu bản giải phẫu bệnh và khối mô vùi nến của từng BN

2.2.2.2 Đánh giá tiêu bản giải phẫu bệnh và HMMD Đánh giá các tiêu bản mô bệnh học (H&E) bằng kính hiển vi quang họcOlympus BX50 Nghiên cứu viên cùng đọc tiêu bản và đánh giá với người hướng dẫn khoa học.

Phương pháp đánh giá kết quả

2.3.1 Khảo sát đặc điểm giải phẫu bệnh của carcinôm tuyến của TTL

Thu thập dữ liệu đặc điểm chung của BN

Từ phiếu kết quả GPB của BN chúng tôi thu thập được các dữ liệu sau:

- Số MST TTL: tương ứng với số lượng tiêu bản GPB.

- Tỉ lệ phần trăm mẫu có u: tỉ lệ số MST TTL có u trên tổng số MST TTL.

- Tỉ lệ phần trăm mô u từng MST: tỉ lệ u trên từng mẫu sinh thết TTL.

- Tình trạng xâm lấn của tế bào u

 Xâm lấn thần kinh: tế bào u xâm lấn vào cấu trúc thần kinh.

 Xâm nhập mạch: xâm nhập mạch của tế bào u gồm: xâm nhập mạch máu, mạch lymphô.

 Xâm nhập mô xung quanh TTL: các tế bào u xâm nhập vào mô mỡ.

- Tân sinh trong biểu mô TTL độ cao (H-PIN).

- Đặc điểm mô học đặc hiệu cho carcinôm TTL

 Dạng cầu thận: các tuyến dạng sàng có một phần không dính vào lòng ống tạo nên cấu trúc giống cầu thận.

2.3.2 Đánh giá điểm Gleason theo bảng phân độ Gleason cải tiến

Gleason độ 3: các tuyến rời rạc, cấu trúc ống tuyến hoàn chỉnh

Gleason độ 4: các tuyến dạng sàng, tuyến hòa vào nhau, các cấu trúc ống tuyến không hoàn chỉnh

Gleason độ 5: đám đặc, dây tế bào hoặc tế bào rời, cấu trúc nhú hoặc dạng sàng, hoặc đám đặc tế bào có hoại tử trung tâm.

Vùng mô học nguyên phát: độ Gleason chiếm tỉ lệ nhiều nhất

Vùng mô học thứ phát có độ Gleason chiếm tỉ lệ cao thứ hai sau độ mô học nguyên phát, với điều kiện rằng độ mô học thứ phát phải chiếm ít nhất hơn 5% tổng khối u.

Vùng mô học thứ ba Điểm Gleason = độ mô học nguyên phát + độ mô học thứ phát hoặc độ mô học cao nhất

Trường hợp u có vùng mô học thứ 3 là Gleason độ 4, độ 5 > 5% tổng u Điểm Gleason = độ mô học nguyên phát + độ 4, độ 5

Trường hợp u có vùng mô học thứ phát < 5% tổng u là Gleason độ 4, độ 5 Điểm Gleason = độ mô học nguyên phát + độ mô học nguyên phát

Kèm Gleason độ 4, độ 5 (< 5% tổng u)

Trường hợp u có vùng mô học thứ phát < 5% tổng u là Gleason độ thấp Điểm Gleason = độ mô học nguyên phát + độ mô học nguyên phát

- Các đặc điểm vi thể carcinôm tuyến TTL dạng sàng

 Kích thước: lớn: > nang tuyến bình thường; nhỏ: ≤ nang tuyến bình thường

 Bờ: tròn đều; méo mó

 Hoại tử trung tâm: có; không

 Carinôm TTL dạng sàng biệt hóa ống tuyến/dạng nhú/dạng giống PIN

2.3.3 So sánh sự thay đổi điểm Gleason

- Đánh giá sự thay đổi các nhóm điểm Gleason theo bảng phân loại Gleason cổ điển và bảng phân loại Gleason cải tiến.

- Tỉ lệ vùng mô học thứ 3 có điểm Gleason 5 ( 0,05).

Bảng 3.2: So sánh giữa nhóm có một MST và nhóm có nhiều MST dương tính.

Một MST (n) Nhiều MST (n) Nồng độ

Ngoài ra chúng tôi cũng ghi nhận một trường hợp có nồng độ PSA/HTh 10 ng/ml, điểm Gleason 6 điểm, có tỉ lệ MST dương tính là 50%.

3.1.4 Đặc điểm mô học đặc hiệu cho carcinôm TTL

Bảng 3.3: Đặc điểm mô học đặc hiệu cho carcinôm TTL

Theo bảng 3.3, xâm lấn thần kinh là đặc điểm mô học đặc hiệu phổ biến nhất, với tỉ lệ 24,19% Hai đặc điểm khác là dạng cầu thận và vi nốt collagen ít gặp hơn, với tỉ lệ lần lượt là 6,51% và 0,93%.

Mặt khác từ bảng 3.4 có thể thấy hầu hết dạng cầu thận thường gặp ở nhóm có độ mô học cao.

Bảng 3.4: Dạng cầu thận và điểm Gleason

Số ca (n) Tỉ lệ (%) tích lũy Điểm Gleason

3.1.5 Tình trạng xâm lấn của tế bào u

Theo bảng 3.5, có 65 trường hợp xâm lấn, chiếm 30,23%, bao gồm xâm lấn cấu trúc thần kinh (Hình 3.1), mô mỡ (Hình 3.2) và cơ Trong đó, xâm lấn thần kinh chiếm tỉ lệ cao nhất với 24,19%, và xâm lấn thần kinh đơn thuần chiếm 19,07%.

Bảng 3.5: Tình trạng xâm lấn tế bào u

Thần kinh – cơ – mô mỡ 1 0,46

3.1.6 Tân sinh trong biểu mô TTL độ cao

Bảng 3.6: Tỉ lệ tân sinh trong biểu mô TTL độ cao

Theo bảng 3.6, tân sinh trong biểu mô TTL độ cao (Hình 3.15) chiếm 17,21%.Hầu hết các trường hợp không ghi nhận tân sinh trong biểu mô TTL độ cao.

Hình 3.1: Xâm lấn thần kinh: (A) các tế bào u bao xung quanh sợi thần kinh; (B) tế bào u xâm nhập sợi thần kinh H&Ex200 ((A): MSGPB: H2015-10035; (B): MSGPB:H2015-11897)

Hình 3.2: Đám tế bào u xâm lấn mô mỡ H&Ex200 ((A):MSGPB: H2015-19998;

Hình 3.3: (A) Tế bào u tạo dạng cầu thận H&Ex200 (MSGPB: H2015-10036);

(B) Vi nốt collagen H&Ex400 (MSGPB: H2015-07482)

Điểm Gleason theo phân độ Gleason cải tiến

Theo bảng 3.7, phần lớn các trường hợp có điểm Gleason cao; nhóm Gleason

7 điểm (Hình 3.4) và nhóm Gleason 8 điểm (Hình 3.5; 3.6; 3.7; 3.8) chiếm tỉ lệ cao nhất lần lượt là 31,16% và 30,70% Điểm Gleason thấp nhất là 6 điểm (Hình 3.4), chiếm 7,44%.

Bảng 3.7: Điểm Gleason theo phân loại Gleason cải tiến Điểm Gleason Số ca (n) Tỉ lệ (%)

3.2.2 So sánh sự thay đổi điểm Gleason

Theo biểu đồ 3.4, tỉ lệ chẩn đoán ở nhóm Gleason 8-10 điểm đã tăng từ 53,95% (hệ thống Gleason kinh điển) lên 61,40% (hệ thống Gleason cải tiến) Tuy nhiên, không có sự thay đổi ghi nhận ở nhóm Gleason khác.

5 điểm so với tỉ lệ 6,51% (hệ thống Gleason kinh điển).

Biểu đồ 3.4: So sánh điểm Gleason của phân loại Gleason cải tiến và kinh điển

Mặt khác, theo bảng 3.8 chúng tôi ghi nhận có khoảng 67,74% u có điểm Gleason ≤ 6 điểm có sự tăng điểm Gleason khi áp dụng hệ thống phân loại mới.

Bảng 3.8: Sự thay đổi điểm Gleason của nhóm u Gleason ≤ 6 điểm theo hệ thống

3.2.3 Liên quan điểm Gleason và tình trạng xâm lấn

Theo bảng 3.9, tỷ lệ xâm lấn thần kinh và mô mỡ ở nhóm ung thư tuyến tiền liệt (TTL) có độ mô học cao (điểm Gleason 8-10) là 29,55%, cao hơn so với nhóm có độ mô học thấp và trung bình (điểm Gleason ≤ 7) với tỷ lệ lần lượt là 10,61% và 15,66% Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,05.

Gleason kinh điển Gleason cải tiến

Bảng 3.9: Liên quan giữa điểm Gleason và tình trạng xâm lấn Điểm Gleason Tổng

3.2.4 Liên quan điểm Gleason với nồng độ PSA/HTh

Bảng 3.10: Liên quan giữa điểm Gleason với nồng độ PSA/HTh Điểm Gleason Tổng

Theo bảng 3.3, khi nồng độ PSA/HTh dưới 20 ng/ml, tỉ lệ nhóm Gleason ≤ 7 điểm là 21,69%, cao hơn so với nhóm Gleason 8 - 10 điểm với tỉ lệ 10,61% Ngược lại, khi nồng độ PSA/HTh từ 20 ng/ml trở lên, nhóm Gleason 8 - 10 điểm có tỉ lệ cao hơn nhóm Gleason ≤ 7 điểm Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,05.

Hình 3.4 mô tả Gleason độ 3 với các tuyến xếp rời rạc, xâm lấn mô tuyến TTL bình thường (A, B) Ngoài ra, còn có một số tuyến rất nhỏ, xếp rời rạc, với mô đệm xung quanh các tuyến nhỏ (C, D) Các mẫu được ghi nhận là H2015-3594 (A, C) và H2015-10364 (B, D).

Hình 3.5: Gleason độ 4: Các tuyến hòa vào nhau, không còn mô đ ệm giữa các tuyến, tạo hình ảnh một mảng dạng sàng, bờ không đều H&Ex200.

Hình 3.6: Gleason độ 4: Các tế bào u tăng sản xếp dạng sàng, với bờ tuyến rất rõ, không có hoại tử trung tâm H&Ex200 (Gleason 4+4=8 điểm; MSGPB: H2015-6269)

Hình 3.7: Gleason độ 4: các cấu trúc ống tuyến không hoàn chỉnh, giới hạn không rõ, (A) H&Ex200; (B) H&Ex400 (Gleason 4+4=8 điểm; MSGPB: H2015-9260)

Hình 3.8: Gleason độ 4: Các tế bào có bào tương nhiều, sáng, giới hạn bào tương rõ, giống như carcinôm tế bào sáng của thận (Gleason 4+4=8 điểm; MSGPB: H2015-19358: (A) H&Ex200; (B) H&Ex400)

Hình 3.9: Gleason độ 5 các tế bào u tạo thành mảng dạng sàng có hoại tử ở trung tâm hay carcinôm dạng bã khô (MSGPB: (A) H2015-16798 H&Ex100; (B) H2015- 9147

Hình 3.10: Gleason độ 5 các tế bào u tạo thành mảng đặc (MSGPB: (A) H2015-15489 H&Ex100; (B) H2015-15489 H&Ex200)

Hình 3.11: Gleason độ 5 các tế bào u không còn biệt hóa thành tuyến nữa mà xếp thành dãy, thành dây (MSGPB: H2015-10035 (A) H&Ex100; (B) H&Ex200)

Hình 3.12: Gleason độ 5 các tế bào rời xâm nhập vào mô TTL bình thường xung quanh

Carcinôm tế bào nhẫn đặc trưng bởi các tế bào tròn với bào tương phong phú và sáng, trong khi nhân tế bào bị đẩy lệch về một phía Các tế bào này thường xếp thành đám và không hình thành cấu trúc tuyến.

Hình 3.14: Carcinôm trong ống TTL: các tế bào u chiếm toàn bộ lòng ống, lớp tế bào đáy vẫn còn (mũi tên) (MSGPB: H2015-798; (A) H&Ex200; (B) H&Ex400)

Hình 3.15 mô tả H-PIN với các tế bào thượng mô tăng sản, có nhân không điển hình và tỉ lệ nhân/bào tương cao hơn so với tuyến bình thường, trong khi lớp tế bào đáy vẫn còn tồn tại (được chỉ ra bằng mũi tên).

Chúng tôi đã ghi nhận 3 trường hợp carcinôm trong ống TTL, chiếm 1,40% tổng số ca Tất cả các trường hợp này đều có sự hiện diện của carcinôm tuyến TTL độ mô học cao, với 1 trường hợp có điểm Gleason 4+4=8 và 2 trường hợp có điểm Gleason 4+5=9.

3.2.6 Biến thể carcinôm tuyến TTL

Chúng tôi đã ghi nhận 2 trường hợp carcinôm tế bào nhẫn, chiếm 0,93% tổng số, với thành phần tế bào nhẫn lần lượt là 50% và 30% của tổng khối u, trong khi phần còn lại đều là thành phần Gleason độ 5.

Vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5

3.3.1 Tỉ lệ vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5

Theo bảng 3.11, vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5 thường đi kèm với u có vùng mô học nguyên phát là Gleason độ 4, chiếm 90% các trường hợp.

Bảng 3.11: Tỉ lệ vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5

Gleason độ 5 < 5% tổng u Điểm Gleason n %

3.3.2 Liên quan giữa vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5 và xâm lấn thần kinh, mô mỡ

Theo bảng 3.12, tỷ lệ xâm lấn thần kinh ở nhóm u có vùng mô học thứ ba độ 5 là 35%, cao hơn so với 16,48% ở nhóm u không có vùng mô học thứ ba, và mối liên quan này có ý nghĩa thống kê ( 2, p < 0,05) Ngược lại, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng xâm lấn mô mỡ và sự hiện diện của vùng mô học thứ ba (Fisher, p > 0,05).

Bảng 3.12: Liên quan giữa vùng mô học thứ ba (< 5% tổng u) có độ Gleason là 5 và xâm lấn thần kinh, mô mỡ

Gleason độ 5 ( 10 ng/ml.

Nồng độ PSA/HTh tương quan với thể tích u, với kết quả 10 ng/ml lần lượt là 91,21% và 91,10% Nguyên nhân có thể do ở Việt Nam chưa có chương trình tầm soát ung thư tuyến tiền liệt (TTL), cùng với ý thức khám và phát hiện sớm ung thư TTL còn hạn chế, dẫn đến phần lớn bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn với thể tích u lớn.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm bệnh nhân có mức PSA/HTh < 10 ng/ml chiếm 3,72%, với chỉ một trường hợp có mức PSA/HTh < 4 ng/ml So sánh với các nghiên cứu của tác giả Vũ Lê Chuyên và CS cũng như tác giả Lê Ngọc Hùng và CS, cả hai đều ghi nhận tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt (TTL) với PSA/HTh < 4 ng/ml rất thấp, chỉ một trường hợp trong mỗi nghiên cứu Kết quả này cho thấy có một tỷ lệ nhất định bệnh nhân mắc ung thư TTL mà có mức PSA/HTh < 4 ng/ml.

Nồng độ PSA/HTh dưới 4 ng/ml không thể loại trừ nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt (TTL) Nghiên cứu của tác giả Thompson và cộng sự trên 2.950 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ ung thư TTL ở những người có PSA/HTh ≤ 4 ng/ml là 15,1% Cụ thể, tỷ lệ ung thư TTL ở nhóm có PSA/HTh ≤ 0,5 ng/ml là 6,6%, trong khi tỷ lệ này tăng lên 26,9% với mức PSA/HTh từ 3,1 đến 4,0 ng/ml Kết quả này chỉ ra rằng không có mức PSA/HTh nào có thể xác định chắc chắn nguy cơ ung thư TTL ở nam giới Điều này cũng được thể hiện trong nghiên cứu của chúng tôi với một trường hợp có mức PSA/HTh rất thấp là 1,02 ng/ml.

Trước đây, chương trình tầm soát ung thư tuyến tiền liệt (TTL) của Hoa Kỳ chỉ dựa vào giá trị PSA/HTh đơn thuần, với ngưỡng PSA/HTh ≥ 4 ng/ml để chỉ định sinh thiết, dẫn đến việc bỏ sót nhiều trường hợp ung thư TTL Hiện nay, sự xuất hiện của các chỉ số như tỉ trọng PSA, tốc độ biến đổi của PSA theo thời gian, và tỉ lệ PSA tự do/PSA toàn phần đã hỗ trợ đáng kể trong việc chẩn đoán những trường hợp ung thư TTL có PSA/HTh < 4 ng/ml.

Việc xác định giá trị chuẩn của PSA/HTh đang gây ra nhiều tranh cãi, đặc biệt khi chọn điểm cắt PSA/HTh < 4 ng/ml, điều này có thể dẫn đến việc chẩn đoán sớm quá mức, gây lãng phí cho cả bệnh nhân và nhân viên y tế Nghiên cứu của Schrüder và cộng sự cho thấy với giá trị PSA/HTh từ 4 ng/ml trở lên, tỷ lệ chẩn đoán quá mức có thể lên đến 50% Do đó, việc lựa chọn điểm cắt phù hợp là rất quan trọng, cần xem xét để phù hợp với điều kiện kinh tế và xã hội của từng quốc gia.

Nhiều nghiên cứu gần đây về hiệu quả của chương trình tầm soát ung thư tuyến tiền liệt (TTL) đã cho kết quả trái ngược nhau Nghiên cứu ERSPC kéo dài 11 năm tại các trung tâm Niệu Khoa lớn ở Châu Âu cho thấy chương trình này giúp tăng tỉ lệ sống còn cho bệnh nhân Ngược lại, nghiên cứu PLCO tại Hoa Kỳ cho thấy tầm soát ung thư TTL không làm tăng tỉ lệ sống còn cho nam giới trên 50 tuổi Do đó, vấn đề tầm soát ung thư TTL vẫn còn nhiều tranh luận Hiện tại, Hội Ung thư Hoa Kỳ khuyến nghị tầm soát cho nam giới từ 50 tuổi trở lên có kỳ vọng sống trên 10 năm và nam giới từ 40 đến 45 tuổi có nguy cơ cao Hội Niệu khoa Hoa Kỳ cũng đề xuất kết hợp thăm khám trực tràng và đo nồng độ PSA/HTh cho tất cả nam giới.

≥ 55-69 tuổi và không tầm soát ung thư TTL thường qui đối với nhóm BN 40-

54 tuổi; không tầm soát ung thư TTL với nhóm BN < 40 tuổi và nhóm BN ≥ 70 tuổi hoặc đối với người có kỳ vọng sống < 10-15 năm [23].

Hội tiết niệu – thận học Việt Nam khuyến cáo tiến hành khám và xét nghiệm ở

Nam giới trên 50 tuổi có nguy cơ cao mắc ung thư tuyến tiền liệt, do đó cần thực hiện thăm khám trực tràng và xét nghiệm PSA toàn phần Sinh thiết tuyến tiền liệt được chỉ định khi có bất thường trong thăm khám hoặc khi mức PSA vượt quá 4 ng/ml, với việc giải thích rõ ràng về lợi ích và rủi ro Việc này không phải là tầm soát ung thư mà là phát hiện sớm, thực hiện cho từng cá nhân thay vì tiến hành hàng loạt.

4.1.3 Tỉ lệ phần trăm mẫu có u

Điểm Gleason theo phân độ Gleason cải tiến

Theo bảng 3.7 nhóm Gleason 7 điểm chiếm tỉ lệ cao nhất 31,16%, tiếp đến là nhóm Gleason 8 điểm chiếm 30,70% Điểm Gleason thấp nhất là 6 điểm chỉ chiếm 7,44%.

Theo bảng 4.5, NC của chúng tôi cũng có kết quả là nhóm điểm Gleason từ 8-

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ điểm Gleason 8-10 đạt 61,40%, cao hơn so với các nghiên cứu khác, có thể do bệnh nhân ở giai đoạn muộn hơn Mặc dù không có thông tin lâm sàng về giai đoạn TMN, nồng độ PSA/HTh cho thấy 85,12% trường hợp có PSA/HTh ≥ 20 ng/ml, so với nghiên cứu của Faraj SF với nồng độ PSA/HTh trung vị là 10,2 ng/ml Ngoài ra, chương trình tầm soát sớm ung thư TTL ở các nước phát triển có thể dẫn đến tỉ lệ chẩn đoán sớm cao hơn, làm giảm độ mô học, như trong nghiên cứu của Uemura H với nồng độ PSA/HTh trung vị là 9,2 ng/ml và Müntener M với nồng độ PSA/HTh trung bình là 7,7 ng/ml.

Bảng 4.5: So sánh điểm Gleason với các tác giả khác Điểm

Gleason NC này Faraj SF và

NC của chúng tôi không ghi nhận trường hợp nào có điểm Gleason từ 2-5 Theo ISUP 2014, không chẩn đoán Gleason 2-4 do tính lập lại của chẩn đoán thấp, và điểm Gleason này không đi kèm với ung thư TTL độ ác cao trên bệnh phẩm phẫu thuật Nghiên cứu của Ghani KR và CS tại Anh cho thấy tỷ lệ các nhà giải phẫu bệnh chẩn đoán ung thư TTL với điểm Gleason 2-4 đã giảm từ 24% vào năm 1991 xuống còn 2,4% vào năm 2001.

Mỹ cũng ghi nhận kết quả tương tự khi tỉ lệ chẩn đoán ung thư TTL Gleason 2-4 điểm giai đoạn 2002-2003 là 1,6% so với năm 1994 là 22,3% [36] Theo WHO

2016 không chẩn đoán ung thư TTL điểm Gleason 2-5 điểm trên MST TTL và cũng hiếm gặp trên các mẫu bệnh phẩm khác [45].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt (TTL) có điểm Gleason là 6 rất thấp, điều này phù hợp với giả thuyết rằng bệnh nhân ở giai đoạn muộn thường có độ mô học u cao Nghiên cứu tầm soát ung thư TTL sớm tại Bệnh viện Bình Dân do tác giả Vũ thực hiện.

Tỉ lệ ung thư tuyến tiền liệt (TTL) Gleason từ 5-7 điểm chiếm đến 70% các trường hợp, theo ghi nhận của Lê Chuyên và CS Về ung thư TTL Gleason 6 điểm, vẫn còn nhiều tranh luận, với một số nghiên cứu cho thấy loại ung thư này không đi kèm với ung thư khác.

Một số tác giả cho rằng ung thư tuyến tiền liệt (TTL) với điểm Gleason 6 không nên được xem là ung thư do đặc điểm độ ác cao, không di căn hạch và diễn tiến chậm Tuy nhiên, Carter NB và CS phản bác quan điểm này, chỉ ra rằng tỷ lệ xuất hiện ung thư TTL với điểm Gleason cao hơn trong mẫu phẫu thuật là 27-35% Các nghiên cứu về sinh học phân tử cũng cho thấy các đột biến gen như GSTP1 và TMPRSS2-ERG fusion có liên quan đến các tổn thương sớm ở cả ung thư TTL Gleason độ 3 và ung thư TTL độ ác cao.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm Gleason 7 điểm chiếm tỷ lệ cao nhất và là nhóm thường gặp nhất Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Danneman D và cộng sự, cho thấy rằng ung thư TTL Gleason 7 điểm là nhóm phổ biến nhất.

Trong nhóm ung thư TTL, điểm Gleason 7 được chia thành hai loại: loại 3+4=7, trong đó vùng mô học nguyên phát là 3 và vùng mô học thứ phát là 4; và loại 4+3=7, với vùng mô học nguyên phát là 4 và vùng mô học thứ phát là 3.

[45], [68] Nhóm u có điểm 4+3=7 có tiên lượng xấu hơn so với nhóm u có điểm 3+4=7 và nhóm u 3+4=7 thường gặp hơn chiếm 60% [26].

Hệ thống Gleason cải tiến theo ISUP 2014 chỉ ra rằng điểm Gleason thấp nhất thực sự là 6, trong khi hệ thống tính điểm dao động từ 2-10, điều này có thể gây ra sự lo âu không cần thiết cho bệnh nhân khi họ nghĩ rằng mình được chẩn đoán ở nhóm giữa Các nghiên cứu lớn cho thấy các nhóm điểm Gleason có cùng tiên lượng được xếp chung với nhau WHO năm 2016 đã đưa ra phân độ mới trong ung thư TTL, chia thành 5 nhóm độ từ I đến V, tương ứng với Gleason 6 đến 10.

Bảng 4.6: Phân độ trong ung thư TTL theo WHO 2016 [45]

Nhóm độ I (Gleason ≤ 6) Các tuyến rời rạc, cấu trúc ống tuyến hoàn chỉnh

Chủ yếu là các tuyến rời rạc, cấu trúc ống tuyến hoàn chỉnh, ít các tuyến dạng sàng/tuyến hòa vào nhau/ cấu trúc ống tuyến không hoàn chỉnh.

Chủ yếu là các tuyến dạng sàng/tuyến hòa vào nhau/ cấu trúc ống tuyến không hoàn chỉnh ít các tuyến rời rạc, cấu trúc ống tuyến hoàn chỉnh

- Các tuyến dạng sàng/tuyến hòa vào nhau/ cấu trúc ống tuyến không hoàn chỉnh hoặc

- Chủ yếu là các tuyến rời rạc, cấu trúc ống tuyến hoàn chỉnh và ít thành phần không tạo tuyến hoặc

- Chủ yếu thành phần không tạo tuyến và ít các tuyến rời rạc, cấu trúc ống tuyến hoàn chỉnh

Không tạo tuyến (hoặc kèm hoại tử) có hoặc không các tuyến dạng sàng hay giới hạn không rõ đi kèm.

4.2.2 So sánh sự thay đổi điểm Gleason

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ chẩn đoán ở nhóm Gleason 8-10 đã tăng từ 53,95% lên 61,40%, trong khi nhóm Gleason 5 điểm vẫn giữ tỉ lệ 6,51% theo hệ thống Gleason kinh điển Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Danneman D và cộng sự, cho thấy tỉ lệ chẩn đoán Gleason 8-10 đã tăng từ 20% năm 1998 lên 36% năm 2011 Đồng thời, tỉ lệ chẩn đoán ung thư TTL Gleason 2-5 điểm giảm từ 27% năm 1998 xuống chỉ còn 1% năm 2001 Các khuyến cáo từ ISUP 2005, 2010 và ISUP 2014 đều nhấn mạnh không nên chẩn đoán điểm Gleason 2-5 trên MST TTL.

H và CS đã ghi nhận sự gia tăng tỉ lệ ở nhóm Gleason 8-10 điểm trên MST kim, với tỉ lệ 17,47% theo Gleason kinh điển và 19,42% khi áp dụng Gleason cải tiến Trên mẫu phẫu thuật, tỉ lệ này tương ứng là 21,36% và 29,13%.

[73] Các NC đều cho thấy hệ thống điểm Gleason cải tiến tăng tỉ lệ tương hợp giữa MST kim và bệnh phẩm phẫu thuật [26], [45], [73].

Theo bảng 3.8, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trong các trường hợp có điểm Gleason ≤ 6 theo hệ thống Gleason kinh điển, sau khi áp dụng chẩn đoán theo hệ thống Gleason cải tiến, có 67,74% trường hợp ghi nhận sự tăng điểm Gleason Nghiên cứu của tác giả Dong F và cộng sự cũng hỗ trợ kết quả này.

806 BN cũng ghi nhận tỉ lệ tăng điểm Gleason ở u có Gleason 3+3=6 là 34% [29].

Nghiên cứu của tác giả Uemura H và cộng sự ghi nhận tỉ lệ bệnh nhân có điểm Gleason tăng là 45,83% Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân này thường có tỉ lệ tái phát và di căn sau phẫu thuật cao hơn Tỉ lệ tăng điểm trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn có thể do mẫu nghiên cứu của tác giả trên không ghi nhận ung thư tuyến tiền liệt có điểm Gleason 5, cũng như sự khác biệt về cỡ mẫu Kết quả này cho thấy việc áp dụng hệ thống phân loại Gleason cải tiến có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn lâm sàng.

4.2.3 Liên quan điểm Gleason và tình trạng xâm lấn

Theo bảng 3.6, tỷ lệ xâm lấn thần kinh ở nhóm ung thư TTL có độ mô học cao (Gleason 8-10 điểm) là 29,55%, trong khi nhóm có độ mô học thấp và trung bình (Gleason ≤ 7 điểm) chỉ là 15,66% Tương tự, tỷ lệ xâm lấn mô mỡ ở hai nhóm này lần lượt là 10,61% và 2,41% Cả hai mối liên quan này đều có ý nghĩa thống kê ( 2, p

Ngày đăng: 10/04/2023, 21:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w