ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH ---HỒ VẠN ---HỒNG ĐỨC TỶ LỆ THIẾU VITAMIN D VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC TP... ĐẠI HỌC
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Bệnh nhân đã được nhập viện tại khoa Nội Hô Hấp của bệnh viện Nhân dân Gia Định với chẩn đoán mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong giai đoạn từ tháng 12/2018 đến tháng 6/2019.
Bệnh nhân được nhập viện tại khoa Nội Hô Hấp của bệnh viện Nhân dân Gia Định với chẩn đoán đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Tiền sử hoặc hiện tại sử dụng các loại thuốc ảnh hưởng đến chuyển hóa vitamin D, như Rifampicin, các thuốc chứa vitamin D, chất gắn phosphate, lithium và barbiturate, trong vòng 1 tháng trước khi tham gia nghiên cứu.
- Bất động lâu (kéo dài trên 1 tháng).
- Hội chứng rối loạn hấp thu, bệnh Crohn, phẫu thuật nối tắt dạ dày ruột
- Người mắc bệnh liên quan chuyển hóa vitamin D, bệnh thận mạn với GFR 200 UI, tăng bilirubin, xơ gan), suy tuyến cận giáp, hội chứng Cushing.
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang mô tả. Địa điểm nghiên cứu
Khoa Nội Hô hấp Bệnh viện Nhân dân Gia Định.
Cỡ mẫu được ước lượng theo công thức:
Z: là trị số từ phân phối chuẩn α: xác suất sai lầm loại I P: trị số mong muốn của tỷ lệ d: độ chính xác hay sai số cho phép
Z0,975 =1,96 P: xác suất thiếu vitamin D trên bệnh nhân BPTNMT (22,7% theo Kim Hương [7]) d : độ chính xác = 0,1 n = 67
PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
Các đối tượng được chọn vào mẫu nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
Chọn bệnh nhân đợt cấp BPTNMT tại khoa Hô hấp Bệnh viện Nhân Dân Gia Định.
Bệnh nhân được ký vào phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu.
Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được khám lâm sàng kỹ lưỡng, thực hiện phỏng vấn tiền căn và ghi nhận các thông số cần thiết cho nghiên cứu, bao gồm xét nghiệm sinh hóa máu và chức năng hô hấp, theo mẫu phiếu thu thập thông tin.
Hỏi bệnh Đặc điểm chung: Tuổi, Giới, Trình độ học vấn.
- Bệnh đồng mắc: tăng huyết áp, suy tim, đái tháo đường.
- Yếu tố nguy cơ : hút thuốc lá, số gói năm hút thuốc.
- Dùng thuốc : đang dùng ICS trước nhập viện.
- Thời gian được chẩn đoán BPTNMT.
- Số đợt cấp phải nhập viện trong năm qua.
- Mức độ khó thở theo mMRC, mức độ triệu chứng theo CAT.
- Chức năng hô hấp trong vòng 6 tháng trước hoặc trong lúc nằm viện (ghi nhận FEV1/ FVC, FEV1, FEV1%pred, FVC, FVC%pred, FEF25-75%pred, PEFR%pred)
Toàn thân: cân nặng, chiều cao, mạch, huyết áp, nhiệt độ, SpO2. Triệu chứng cơ năng: khó thở, ho, đàm, khò khè.
Triệu chứng thực thể: ran rít, ngáy, phù, gan to, tĩnh mạch cổ nổi.
Xét nghiệm cận lâm sàng o WBC, NEU, HGB, Creatinin, CRP, Na + , K + , Cl - o 25 (OH) D.
BIẾN SỐ VÀ ĐỊNH NGHĨA BIẾN SỐ
- Tuổi: tính bằng năm nhập viện – năm sinh.
- Chỉ số khối cơ thể BMI: tính bằng Cân nặng/(chiều cao) 2 (kg/m 2 ).
- Số năm chẩn đoán BPTNMT: tính bằng năm, nếu mới được chẩn đoán thì ghi 0.
- Thời gian nằm viện: tính bằng ngày, bằng thời gian xuất viện – thời gian nhập viện.
- Số gói.năm = số gói thuốc hút trong 1 ngày * Số năm hút thuốc lá.
- Số đợt cấp nhập viện: số lần nhập viện trong 12 tháng trước vì đợt cấp BPTNMT.
- Mạch : số nhịp mạch trong 1 phút ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện, tính bằng lần/phút
- HATT: huyết áp tâm thu ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện, tính bằng mmHg.
- HATTr: huyết áp tâm trương ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện, tính bằng mmHg.
- T o C: nhiệt độ ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện, tính bằng o C.
- Sp02: Sp02 ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện, tính bằng %.
- Bạch cầu: tính bằng G/L (bình thường 5 – 10 G/L), ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện.
- NEU: tính bằng G/L (bình thường 2 – 6,9 G/L), ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện.
- HGB: tính bằng g/L ( bình thường 110 – 160 g/L), ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện.
- K + : tính bằng mmol/L (bình thường 3.5 – 5,5 mmol/L), ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện.
- Na + : tính bằng mmol/L ( bình thường 135 – 150 mmol/L), ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện.
- Cl - : tính bằng mmol/L (bình thường 95 – 108 mmol/L), ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện.
- Creatinin : tính bằng mg/dL (bình thường 0.7 – 1.5 mg/dL), ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện.
- CRP: tính bẳng mg/L (bình thường < 6 mg/L), ghi nhận từ hồ sơ lúc nhập viện.
Nồng độ 25-hydroxycholecalciferol được đo bằng ng/mL, với mẫu máu được lấy trong ngày đầu tiên khi bệnh nhân nhập khoa Nội Hô Hấp BV NDGĐ Tất cả mẫu máu được xét nghiệm trên máy ADVIA Centaur của hãng SIEMENS tại khoa Sinh hóa trung tâm chẩn đoán y khoa MEDIC Xét nghiệm vitamin D Centaur ADVIA là một xét nghiệm miễn dịch cạnh tranh kháng thể có hệ số biến thiên (CV) từ 4.8% đến 11.1% Mẫu máu không được để ở nhiệt độ phòng quá 24 giờ; nếu không xét nghiệm trong 1 ngày, mẫu cần được bảo quản ở 2°C – 8°C trong tối đa 7 ngày Nếu sau 7 ngày vẫn chưa được xét nghiệm, mẫu phải được đông lạnh ở -20°C Thể tích mẫu tối thiểu là 20 µL, với ngưỡng xét nghiệm từ 3.7 đến 150 ng/mL và giới hạn xét nghiệm là 3.2 ng/mL.
Chức năng hô hấp được ghi nhận từ kết quả đo trong 6 tháng trước khi nhập viện hoặc trong quá trình nằm viện, bao gồm các chỉ số quan trọng như FEV1 (tính bằng L), FEV1%pred (tính bằng %), FEV1/FVC (tính bằng L), FVC (tính bằng L), FVC %pred (tính bằng %), FEF 25-75 % pred (tính bằng %) và PEFR% pred (tính bằng %).
- Giới: biến nhị giá (nam hoặc nữ).
- Trình độ học vấn: biến thứ tự có 3 giá trị (Cấp 1, Cấp 2, Từ Cấp 3 trở lên).
- Nhóm BMI: biến thứ tự có 4 giá trị ( “Gầy”: BMI < 18,5; “Bình thường”: 18,5 ≤ BMI < 23; “Thừa cân”: 23≤ BMI < 25; “Béo phì”: BMI ≥ 25) (theo Hiệp hội đái đường các nước châu Á (IDI & WPRO)).
- Tiền căn bệnh lý o Tăng huyết áp: là biến nhị giá, gồm 2 giá trị
▪ Có: khi bệnh nhân đang điều trị tăng huyết áp hoặc trị số huyết áp ≥ 140 / 80 mmHg trong 2 lần đo.
▪ Không: khi bệnh nhân không có tiền căn THA o Suy tim:
▪ Có: khi bệnh nhân đã được chẩn đoán suy tim trong tiền căn (dựa vào giấy ra viện hoặc chẩn đoán trên toa thuốc ngoại trú)
▪ Không: khi bệnh nhân không có tiền căn suy tim. o Đái tháo đường:
▪ Có: khi bệnh nhân có tiền căn đái tháo đường (dựa vào toa thuốc ngoại trú hay giấy xuất viện trước đó).
▪ Không: khi bệnh nhân không có tiền căn đái tháo đường.
Số bệnh đồng mắc được phân loại thành 4 giá trị: 0 khi bệnh nhân không mắc bệnh tăng huyết áp (THA), đái tháo đường, hoặc suy tim; 1 khi bệnh nhân có 1 trong 3 bệnh này; 2 khi bệnh nhân mắc 2 trong số 3 bệnh; và 3 khi bệnh nhân có cả 3 bệnh THA, đái tháo đường và suy tim.
- Hút thuốc: biến danh định có 3 giá trị (“Không hút”; “Đang hút”; “Đã ngưng”: ngưng hút thuốc ít nhất 12 tháng)
- Dùng ICS: biến nhị giá: o Có: đang dùng ICS trước nhập viện. o Không: không dùng ICS trước nhập viện.
Tần suất nhập viện là một biến nhị giá với hai giá trị: 0 hoặc 1 lần, nghĩa là bệnh nhân không hoặc chỉ nhập viện một lần trong năm qua do đợt cấp BPTNMT; và giá trị lớn hơn hoặc bằng 2, cho thấy bệnh nhân đã nhập viện hai lần trở lên trong năm qua vì lý do tương tự.
- Thiếu vitamin D: biến nhị giá o Có: nồng độ 25(OH)D < 20 ng/mL. o Không : nồng độ 25(OH)D > 20 ng/mL.
- Phân nhóm vitamin D: là biến thứ tự, gồm 3 mức độ: đủ ( 25(OH)D >30 ng/mL), không đủ ( 25(OH)D: 20 – 30 ng/ mL), thiếu ( 25(OH)D< 20 ng/mL).
- Mức độ thiếu vitamin D: là biến thứ tự, gồm 2 mức độ: thiếu nhẹ - trung bình
(10 – 20 ng/ mL), thiếu nặng ( < 10 ng/mL).
Mức độ triệu chứng theo mMRC của bệnh nhân được phân loại thành hai nhóm: nhóm có triệu chứng nhẹ (mMRC = 0 hoặc 1) khi tự đánh giá dưới 2, và nhóm có triệu chứng nặng (mMRC ≥ 2) khi tự đánh giá từ 2 trở lên Việc đánh giá này dựa trên tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trong giai đoạn ổn định, trước khi xảy ra đợt cấp.
Mức độ khó thở của bệnh nhân được đánh giá theo thang điểm CAT, với hai biến nhị giá: bệnh nhân tự đánh giá tình trạng sức khỏe trong giai đoạn ổn định, trước khi có đợt cấp Cụ thể, nếu điểm CAT dưới 10, bệnh nhân được xem là có mức độ khó thở nhẹ, trong khi điểm CAT từ 10 trở lên cho thấy mức độ khó thở nghiêm trọng hơn.
- Độ nặng đợt cấp hiện tại: biến thứ tự, gồm 3 mức độ: nhẹ, trung bình, nặng, dựa theo tiêu chuẩn Anthonisen.(mục 1.1.7.6)
- Phân nhóm BPTNMT: biến thứ tự, gồm 4 mức độ: nhóm A, B, C, D , dựa theo bảng 1.2
- Phân độ tắc nghẽn: biến thứ tự, gồm 4 mức độ : GOLD 1, GOLD 2, GOLD 3, GOLD 4 dựa vào chỉ số FEV1%pred theo bảng 1.1
- Nhóm D: biến nhị giá gồm 2 giá trị o Có : khi bệnh nhân thuộc nhóm D ( dựa theo bảng 1.2) o Không : khi bệnh nhân không thuộc nhóm D ( nhóm A, B, C theo bảng 1.2)
- GOLD 4 : biến nhị giá gồm 2 giá trị o Có : khi FEV1%pred < 30% o Không : khi FEV1%pred ≥ 30%
- Hạ K + : biến nhị giá gồm 2 giá trị o Có : khi nồng độ K + máu < 3,5 mmol/L. o Không : khi nồng độ K + máu ≥ 3,5 mmol/L.
- Hạ Cl - : biến nhị giá gồm 2 giá trị o Có : khi nồng độ Cl - máu < 95 mmol/L. o Không : khi nồng độ Cl - máu ≥ 95 mmol/L.
- Mạch nhanh : biến nhị giá gồm 2 giá trị o Có : khi mạch > 100 lần/phút. o Không : khi mạch ≤ 100 lần/ phút.
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Dữ liệu được thu thập và quản lý, trình bày bằng phần mềm Microsoft Office
Các kết quả được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn cho các biến số liên tục có phân phối chuẩn, hoặc dưới dạng trung vị kèm theo giá trị tối thiểu và tối đa cho các biến số không phân phối chuẩn Đối với các biến số định danh, kết quả được thể hiện dưới dạng giá trị tuyệt đối hoặc phần trăm.
Thống kê số liệu bằng phần mềm Stata IC 13.
Khi so sánh hai nhóm biến số có phân phối chuẩn, chúng ta sử dụng T-test Đối với việc so sánh hơn hai nhóm biến số có phân phối chuẩn, phương pháp kiểm định ANOVA là lựa chọn phù hợp.
Phép kiểm Mann-Whitney được sử dụng để so sánh giữa hai nhóm biến số có phân phối không chuẩn, trong khi phép kiểm Kruskal-Wallis được áp dụng khi so sánh hơn hai nhóm biến số với phân phối không chuẩn.
Sự khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê khi giá trị p nhỏ hơn 0.05 Phân tích hồi quy đơn biến được áp dụng để xác định các biến số cần đưa vào hồi quy đa biến, nhằm tìm ra các yếu tố có mối tương quan độc lập với 25-hydroxycholecalciferol.
Y ĐỨC
Đề tài nghiên cứu được thực hiện sau khi nhận được sự chấp thuận từ Hội đồng đạo đức của Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh và bệnh viện Nhân dân Gia Định, đảm bảo không ảnh hưởng đến việc điều trị của bệnh nhân Chi phí cho các xét nghiệm 25-hydroxycholecalciferol sẽ do nghiên cứu viên chi trả.
SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU
Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU
Bảng 3.5 Phân bố dân số nghiên cứu theo tuổi
Tuổi trung bình Độ lệch chuẩn
Biểu đồ 3.1 Phân bố nhóm tuổi trong nghiên cứu Nhận xét: Nhóm tuổi 60 – 80 chiếm đa số 69,8% (74/106).
Tuổi trung bình 68,5 ± 9,5 Tuổi trung bình của nam cao hơn nữ không ý nghĩa thống kê (68,7 ± 9,2 so với 66,3 ± 13,9; p = 0,5)
Biểu đồ 3.2 cho thấy sự phân bố giới tính trong nghiên cứu, với tỷ lệ nam chiếm ưu thế hơn hẳn Cụ thể, có 99/106 trường hợp là nam, gấp khoảng 14 lần so với nữ với chỉ 7/106 trường hợp Tỷ lệ giới tính được xác định là 14:1.
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ trình độ học vấn trong nghiên cứu
Trong số 106 bệnh nhân, đa số có trình độ tiểu học hoặc thấp hơn, chiếm 56,6% với 60 trường hợp Ngược lại, bệnh nhân có trình độ từ trung học phổ thông trở lên chỉ chiếm 15,1%, tương đương 16 trường hợp.
ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Thời gian chẩn đoán BPTNMT
Bảng 3.6 Thời gian chẩn đoán BPTNMT
Số năm chẩn đoán Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
- Số bệnh nhân được chẩn đoán BPTNMT từ 1 – 5 năm chiếm đa số, có 56/106 trường hợp, với tỷ lệ 52,8%
- Thấp nhất là 18,9% (20/106 trường hợp) ở nhóm bệnh nhân trên 5 năm
- Nhóm bệnh nhân được chẩn đoán BPTNMT dưới 1 năm chiếm tỷ lệ 28,3%
Bảng 3.7 Phân bố tiền căn bệnh lý trong nghiên cứu
Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Tăng huyết áp 71 67 Đái tháo đường 25 23,6
Gần 67% bệnh nhân trong nghiên cứu mắc bệnh tăng huyết áp, trong khi tỷ lệ mắc đái tháo đường chỉ đạt 23,6% Tỷ lệ bệnh nhân chỉ có một bệnh đồng mắc là cao nhất, trong khi tỷ lệ bệnh nhân mắc cả ba bệnh đồng thời là thấp nhất.
Tiền sử dùng ICS trước nhập viện
Biểu đồ 3.4 Tiền sử dùng ICS
Nhận xét: Đa số bệnh nhân có sử dụng ICS trước nhập viện Tỷ lệ sử dụng ICS cao 89,6% (95/106 trường hợp).
Bảng 3.8 Tình trạng hút thuốc trong nghiên cứu
Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) Hút thuốc lá Đang hút 61 57,6
Trong nghiên cứu, 100% bệnh nhân đều có thói quen hút thuốc lá Trong số đó, có 61/106 trường hợp vẫn đang hút thuốc, chiếm tỷ lệ 57,6%, cao hơn so với nhóm đã ngưng hút Bảng 3.9 trình bày đặc điểm số gói.năm hút thuốc theo giới tính.
Số gói.năm Đối tượng Trung bình Độ lệch chuẩn P T-test
Có dùng ICS Không dùng ICS
Trong nghiên cứu, tỷ lệ số gói thuốc lá trung bình mỗi năm của dân số là 42,7% ± 6,1 Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số gói thuốc lá trung bình giữa hai nhóm nam và nữ (p = 0,66).
Tiền sử đợt cấp nhập viện trong năm qua
Bảng 3.10 Tiền sử đợt cấp trong năm qua
Số đợt cấp Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Số đợt cấp nhập viện trung bình trong năm qua: 2,42 ± 1,66 lần
Hơn 68,8% bệnh nhân đã nhập viện ít nhất 2 lần trong năm qua do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), trong khi 30,2% bệnh nhân còn lại có số lần nhập viện thấp hơn.
0 hay 1 lần Trung bình bệnh nhân có hơn 2 đợt cấp nhập viện trong năm.
Biểu đồ 3.5 Đặc điểm mức độ khó thở theo mMRC Nhận xột: Hơn ẵ dõn số nghiờn cứu cú mức độ khú thở nhiều (63/106 trường hợp, chiếm tỷ lệ 59,4%)
Biểu đồ 3.6 Đặc điểm triệu chứng theo thang điểm CAT
Nhận xét: Số bệnh nhân có triệu chứng nhiều chiếm tỷ lệ cao 62,3% (66/106 trường hợp).
Phân nhóm BPTNMT theo ABCD
Bảng 3.11 Phân nhóm BPTNMT theo ABCD
Nhóm BPTNMT Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Trong mẫu nghiên cứu, đa số bệnh nhân thuộc nhóm D với nguy cơ cao và nhiều triệu chứng, chiếm 69,8% (74/106 trường hợp) Tỷ lệ bệnh nhân thuộc nhóm A, B và C lần lượt chỉ là 1,9% (2/106 trường hợp), 5,7% (6/106 trường hợp) và 22,6% (24/106 trường hợp).
Phân độ tắc nghẽn theo GOLD
Bảng 3.12 Phân độ tắc nghẽn theo GOLD
GOLD Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Nhận xét: GOLD 4 trong mẫu nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao nhất là 37,7% (40/106 trường hợp) Tỷ lệ GOLD 2 28,3% (30/106 trường hợp) Không có GOLD 1 trong mẫu nghiên cứu
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Bảng 3.13 Dấu hiệu sinh tồn
Chỉ số Tối đa Tối thiểu Trung bình Độ lệch chuẩn Huyết áp tâm thu
Các bệnh nhân có huyết áp tâm thu trung bình là 115 ± 15,2 mmHg và huyết áp tâm trương trung bình là 67,5 ± 9,4 mmHg, đều nằm trong giới hạn bình thường Mạch trung bình nhanh đạt 103,4 ± 16,1 lần/phút, trong khi SpO2 trung bình là 90,7 ± 5,5 %, cho thấy mức độ oxy trong máu thấp Nhiệt độ cơ thể trung bình là 37,2 ± 0,4 °C, cũng nằm trong giới hạn bình thường.
Chỉ số khối cơ thể (BMI)
Bảng 3.14 Chỉ số khối cơ thể BMI theo giới
BMI Đối tượng Trung bình Độ lệch chuẩn Thấp nhất Cao nhất P T-test
Chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình của dân số nghiên cứu là 20 ± 3,5, với BMI trung bình của nam giới cao hơn nữ giới, nhưng sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (P = 0,68).
Biểu đồ 3.7 Phân nhóm BMI trong nghiên cứu
Nhận xét: Hơn 1/3 (41/106 trường hợp) số bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu có cân nặng thấp (BMI < 18,5) Thừa cân, béo phì chiếm tỷ lệ thấp (12,3% và 8,5%).
Gầy Bình thường Thừa cân Béo phì
Mức độ nặng đợt cấp hiện tại
Bảng 3.15 Độ nặng đợt cấp hiện tại
Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu đều có đợt cấp mức độ trung bình trở lên Tỷ lệ đợt cấp mức độ nặng là 51,9% (55/106 trường hợp).
Bảng 3.16 Số ngày nằm viện
Số ngày nằm viện Trung bình Độ lệch chuẩn Ngắn nhất Dài nhất
Nhận xét: Số ngày nằm viện trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 6,8 ± 4,5.
ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG
Bảng 3.17 Đặc điểm công thức máu
WBC (G/L) Giảm (< 4) Bình thường ( 4 – 10) Tăng (> 10)
Trung bình Độ lệch chuẩn Thấp nhất Cao nhất
Trong nghiên cứu, 50,9% bệnh nhân được ghi nhận có tình trạng tăng bạch cầu Số liệu trung bình về số lượng bạch cầu (WBC), bạch cầu trung tính (NEU) và hemoglobin (HGB) của các bệnh nhân lần lượt là 10,5 ± 4,1 G/L, 8,0 ± 4 G/L và 131,4 ± 16,5 g/L.
Bảng 3.18 Đặc điểm sinh hóa máu
Trung bình Độ lệch chuẩn Thấp nhất Cao nhất
Bảng 3.19 Đặc điểm CRP huyết thanh
CRP (mg/L) Bình thường < 10 Tăng ≥ 10
Nồng độ CRP trung bình: 33,6 ± 46,8 mg/dL
Nhận xét: Nồng độ Na + , K + , Cl - trung bình lần lượt là 136,2 ± 5,5; 3,8 ± 0,5; 99,3± 6,7 mmol/L Nồng độ creatinin máu trung bình là 1 ± 0,2 mg/dL 52,2% (63/106) bệnh nhân có tình trạng tăng CRP.
Bảng 3.20 Chức năng hô hấp
Trung bình Độ lệch chuẩn Thấp nhất Cao nhất FEV1/FVC
5,177Nhận xét : FEV1/ FVC 80 tuổi khác biệt không ý nghĩa thống kê (p = 0,52).
3.6.2.2 Mối liên quan giữa tuổi và tình trạng vitamin D Bảng 3.24 Mối liên quan giữa tuổi và tình trạng vitamin D
Tuổi trung bình Độ lệch chuẩn
Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độ tuổi giữa 2 nhóm thiếu vitamin D và không thiếu vitamin D (p = 0,74).
Vitamin D và trình độ học vấn
Bảng 3.25 Nồng độ vitamin D và trình độ học vấn
D trung bình (ng/mL) Độ lệch chuẩn
Thấp nhất Cao nhất Giá trị p
Nhận xét: Không có mối liên quan giữa nồng độ vitamin D và trình độ học vấn(p = 0,71).
NỒNG ĐỘ VITAMIN D VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ BPTNMT
Vitamin D và tiền căn bệnh lý
Bảng 3.30 Nồng độ vitamin D và bệnh đồng mắc
Số bệnh đồng mắc Nồng độ vitamin D trung bình (ng/mL) Độ lệch chuẩn
Nhận xét: Nồng độ vitamin trung bình giữa các nhóm có số bệnh đồng mắc tăng khác biệt không ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.31 Nồng Vitamin D và tiền căn sử dụng ICS
ICS Nồng độ vitamin D trung bình (ng/mL) Độ lệch chuẩn Giá trị p (T-test)
Nhận xét: Nồng độ vitamin D trung bình của nhóm có dùng ICS thấp hơn nhóm không dùng ICS nhưng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,09).
Vitamin D và tình trạng hút thuốc
Bảng 3.32 Nồng độ vitamin D và tình trạng hút thuốc
Nồng độ vitamin D trung bình ở nhóm đang hút thuốc là 23,3 ± 0,9 ng/mL, trong khi nhóm đã bỏ thuốc có nồng độ cao hơn với giá trị 25,1 ± 1,2 ng/mL Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với giá trị p là 0,22.
Vitamin D và tiền sử đợt cấp nhập viện
Bảng 3.33 Nồng độ vitamin D và tiền sử đợt cấp nhập viện
Số đợt cấp Nồng độ vitamin D trung bình (ng/mL) Độ lệch chuẩn Giá trị p (T-test)
Nồng độ vitamin D trung bình ở nhóm bệnh nhân có từ 2 đợt cấp trở lên thấp hơn so với nhóm bệnh nhân có ít đợt cấp hơn, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Vitamin D và mức độ triệu chứng
3.7.5.1 Vitamin D và mMRC Bảng 3.34 Nồng độ vitamin D và mMRC mMRC Nồng độ vitamin D trung bình (ng/mL) Độ lệch chuẩn Giá trị p (T-test)
Nồng độ vitamin D trung bình ở nhóm có triệu chứng khó thở nhiều (mMRC ≥ 2) thấp hơn đáng kể so với nhóm có triệu chứng khó thở ít (mMRC < 2), với giá trị p < 0,001.
Biểu đồ 3.9 Nồng độ vitamin D theo mMRC trong nghiên cứu
3.7.5.2 Vitamin D và thang điểm CAT Bảng 3.35 Nồng độ vitamin D và thang điểm CAT
CAT Nồng độ vitamin D trung bình (ng/mL) Độ lệch chuẩn Giá trị p (T-test)
Nhận xét: Nồng độ vitamin D trung bình của nhóm có triệu chứng nhiều CAT
≥ 10 thấp hơn nhóm có triệu chứng ít CAT < 10 nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.36 Nồng độ vitamin D và nhóm BPTNMT
Nhóm N Nồng độ vitamin D trung bình (ng/mL) Độ lệch chuẩn
Nhận xét: Có sự khác biệt nồng độ vitamin D giữa các nhóm BPTNMT (p 0,006) Nồng độ vitamin D nhóm D thấp hơn so với các nhóm còn lại.
Vitamin D và phân độ tắc nghẽn theo GOLD
Bảng 3.37 Nồng độ vitamin D và phân độ tắc nghẽn theo GOLD
GOLD N Nồng độ vitamin D trung bình (ng/mL) Độ lệch chuẩn
Nồng độ vitamin D trung bình giữa các nhóm GOLD 4 và GOLD 2, 3 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Cụ thể, nhóm GOLD 4 có nồng độ vitamin D trung bình thấp nhất, đạt 20,2 ± 6,5 ng/mL.
Biểu đồ 3.10 Nồng độ vitamin D theo phân độ GOLD trong nghiên cứu
NỒNG ĐỘ VITAMIN D VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Bảng 3.38 Nồng độ vitamin D theo các nhóm BMI
Nhóm BMI Nồng độ vitamin D (ng/mL) Giá trị p (ANOVA)
Nhận xét : Nồng độ vitamin D trung bình ở các nhóm BMI không có sự khác biệt có ý nghĩa (p = 0,87).
Vitamin D và độ nặng của đợt cấp
Bảng 3.39 Nồng độ vitamin D và độ nặng của đợt cấp Độ nặng đợt cấp N Nồng độ vitamin D trung bình (ng/mL) Độ lệch chuẩn P (T-test)
Nồng độ vitamin D trung bình ở nhóm bệnh nhân có đợt cấp nặng thấp hơn so với nồng độ vitamin D trung bình chung Sự khác biệt này được xác định là có ý nghĩa thống kê.
Biểu đồ 3.11 Nồng độ vitamin D và độ nặng của đợt cấp trong nghiên cứu
SO SÁNH CÁC ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ NGHIÊN CỨU GIỮA 2 NHÓM THIẾU VITAMIN D VÀ KHÔNG THIẾU VITAMIN D
So sánh các biến số định tính giữa nhóm thiếu vitamin D và không thiếu vitamin D
Bảng 3.40 So sánh biến số định tính giữa 2 nhóm thiếu vitamin D và không thiếu vitamin D Đặc điểm (N = 106)
Giá trị p (ꭓ 2 ) Giới o Nam 27 (90) 72 (94,7) o Nữ 3 (10) 4 (5,3) 0,38
Hút thuốc o Đang hút 18 (60) 43 (56,6) o Đã bỏ 12 (40) 33 (43,4) 0,75
Giá trị p (ꭓ 2 ) Tăng huyết áp
- ≥ 2 26 (86,7) 50 (65,8) Độ nặng đợt cấp hiện tại
Giá trị p (ꭓ 2 ) Độ tắc nghẽn theo GOLD
Nhóm bệnh nhân thiếu vitamin D cho thấy có chỉ số mMRC ≥ 2, tần suất đợt cấp cao, đợt cấp hiện tại nặng, và phân độ tắc nghẽn GOLD 4 Đặc biệt, tỷ lệ BPTNMT nhóm D trong nhóm này cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê.
Các đặc điểm như giới tính, nơi làm việc, tiền sử hút thuốc, tiền sử sử dụng ICS, tiền sử tăng huyết áp, suy tim, đái tháo đường, số bệnh đồng mắc và mức độ triệu chứng theo CAT không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm thiếu vitamin D và không thiếu vitamin D.
So sánh các biến số định lượng giữa nhóm thiếu vitamin D và không thiếu vitamin D
Bảng 3.41 So sánh các biến số định lượng giữa nhóm thiếu vitamin D và không thiếu vitamin D Đặc điểm Thiếu vitamin D
Mạch (lần/phút) 109,5 ± 15,7 101 ± 15,7 0,01 HATT (mmHg) 108,3 ± 12,6 117,6 ± 15,4 0,05
Nhiệt độ ( 0 C) 37,2 ± 0,4 37,2 ± 0,4 0,74 * Đặc điểm Thiếu vitamin D
Thời gian chẩn đoán BPTNMT 5,2 ± 0,6 5,3 ± 0,4 0,9
* Kiểm định MannWhitney cho biến không có phân phối chuẩn
Nhóm thiếu vitamin D có nhịp mạch nhanh hơn so với nhóm không thiếu vitamin D, với giá trị trung bình là 109,5 ± 15,7 lần/phút so với 101 ± 15,7 lần/phút (p = 0,01) Ngoài ra, số đợt cấp trong năm của nhóm thiếu vitamin D cũng cao hơn, với 3 ± 1,7 lần so với 2,3 ± 1,5 lần ở nhóm không thiếu vitamin D (p = 0,01).
Tuổi, HATTr, toC, SpO2, BMI, ngày nằm viện, số gói, năm, và số năm chẩn đoán không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm thiếu vitamin D và không thiếu vitamin D.
So sánh các đặc điểm cận lâm sàng giữa nhóm thiếu vitamin D và không thiếu vitamin D
Bảng 3.42 So sánh đặc điểm sinh hóa máu giữa nhóm thiếu vitamin D và không thiếu vitamin D
Thiếu vitamin D Không thiếu vitamin D P (T-test)
* Kiểm định MannWhitney cho biến không có phân phối chuẩn
Nồng độ K + trung bình ở nhóm thiếu vitamin D thấp hơn so với nhóm không thiếu vitamin D với giá trị thống kê có ý nghĩa (3,7± 0,6 so với 3,9 ± 0,5 mmol/L) Tương tự, nồng độ Cl - trung bình cũng thấp hơn ở nhóm thiếu vitamin D so với nhóm không thiếu vitamin D (97 ± 6,4 so với 100,3 ± 6,6 mmol/L).
Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa của WBC, NEU, HGB, Creatinin, CRP,
Na + giữa 2 nhóm thiếu vitamin D và không thiếu vitamin D.
3.10 MỐI LIÊN QUAN ĐẶC ĐIỂM BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH VÀ TÌNH TRẠNG THIẾU VITAMIN D
Hồi quy đơn biến đặc điểm BPTNMT và tình trạng thiếu vitamin D
Bảng 3.43 Phân tích hồi quy đơn biến đặc điểm BPTNMT và tình trạng thiếu vitamin D Đặc điểm Thiếu vitamin D
Tình trạng hạ Cl - máu, phân độ tắc nghẽn theo tiêu chuẩn GOLD, phân nhóm BPTNMT, mức độ khó thở theo thang điểm mMRC, và độ nặng của đợt cấp hiện tại đều có mối quan hệ hồi quy với tình trạng thiếu vitamin D trong phân tích hồi quy đơn biến.
Nguy cơ thiếu vitamin D tăng đáng kể ở các nhóm bệnh nhân khác nhau Cụ thể, nguy cơ này tăng 3,2 lần ở bệnh nhân có hạ Cl - máu (p = 0,01), 5,6 lần ở bệnh nhân có phân độ tắc nghẽn GOLD 4 (p < 0,0001), 3,8 lần ở bệnh nhân nhóm D (p = 0,02), 4 lần ở bệnh nhân có mMRC ≥ 2 (p = 0,009), và 15,4 lần ở bệnh nhân có đợt cấp hiện tại nặng (p < 0,0001).
Mạch nhanh, hạ K + , tần suất đợt cấp ≥ 2 lần/ năm không có mối quan hệ hồi quy với tình trạng thiếu vitamin D.
Hồi quy đa biến đặc điểm BPTNMT và tình trạng thiếu vitamin D
Bảng 3.44 Phân tích hồi quy đa biến đặc điểm BPTNMT và tình trạng thiếu vitamin D Đặc điểm Thiếu vitamin D
Độ nặng của đợt cấp hiện tại có mối liên hệ hồi quy với tình trạng thiếu vitamin D trong phân tích đa biến Bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) có đợt cấp nặng có nguy cơ thiếu vitamin D cao gấp 12,8 lần so với bệnh nhân có đợt cấp không nặng (p 0,001).
Tình trạng hạ Cl - máu không có mối liên hệ hồi quy với mức độ khó thở mMRC Phân độ tắc nghẽn theo tiêu chuẩn GOLD và phân nhóm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) cũng không ảnh hưởng đến tình trạng thiếu vitamin.
D trong phân tích đa biến.
MỐI LIÊN QUAN GIỮA MỨC ĐỘ THIẾU VITAMIN D VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM BPTNMT
Bảng 3.45 Mức độ thiếu vitamin D và phân độ tắc nghẽn theo GOLD Đặc điểm Thiếu nhẹ - trung bình Thiếu nặng Giá trị p (Fisher)
Nhận xét: không ghi nhận liên quan mức độ thiếu vitamin D và phân độ tắc nghẽn theo GOLD.
Bảng 3.46 Mức độ thiếu vitamin D và phân nhóm BPTNMT Đặc điểm Thiếu nhẹ - trung bình Thiếu nặng Giá trị p (Fisher)
Nhận xét: không ghi nhận liên quan mức độ thiếu vitamin D và phân nhóm
Bảng 3.47 Mức độ thiếu vitamin D và độ nặng đợt cấp Độ nặng đợt cấp Thiếu nhẹ - trung bình Thiếu nặng Giá trị p (Fisher)
Nhận xét: không ghi nhận liên quan mức độ thiếu vitamin D và độ nặng của đợt cấp lúc nhập viện.
BÀN LUẬN
ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết bệnh nhân đều từ 60 tuổi trở lên, với tỷ lệ cao nhất là từ 60 đến 80 tuổi (68,9%) Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 68,5 ± 9,5, trong đó bệnh nhân trẻ nhất là 47 tuổi và bệnh nhân lớn nhất là 90 tuổi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi trung bình của bệnh nhân BPTNMT ổn định là 67,2 ± 11,4, tương đương với nghiên cứu của Dương Kim Hương Nghiên cứu của Trần Quốc Hùng và Lê Thị Kim Chi trên bệnh nhân đợt cấp BPTNMT ghi nhận độ tuổi trung bình lần lượt là 70,8 ± 9,9 và 70 ± 10,7 Ngoài ra, một số nghiên cứu quốc tế cũng cho thấy độ tuổi trung bình tương tự, với Mahlin C là 65,3 ± 7,1, Malinovschi A là 67,5 ± 10,5, và Fei J là 68,1 ± 0,5.
Tuổi trung bình trong nghiên cứu cao, phản ánh diễn tiến tự nhiên của bệnh BPTNMT, thường gặp ở người trung niên và lớn tuổi Bệnh diễn tiến trong nhiều năm, dẫn đến tổn thương nghiêm trọng các phế quản và tắc nghẽn nặng, khiến bệnh nhân phải nhập viện Những thay đổi cơ học về hô hấp bao gồm giảm đàn hồi của thành ngực, thay đổi cấu trúc nhu mô phổi và đường thở, cùng với sự biến dạng lồng ngực như loãng xương và gù lưng ở người lớn tuổi, làm giảm hiệu quả cơ chế hô hấp Điều này dẫn đến giảm lưu lượng đỉnh hít vào và thông khí hô hấp, ảnh hưởng đến dung tích sống và quá trình trao đổi khí Đặc biệt, vùng trao đổi khí dự trữ giảm 1/3 ở tuổi 85 do mất elastin, làm tăng thể tích khí cặn và khoảng chết, từ đó liên quan đến sự gia tăng tần suất mắc BPTNMT.
Bảng 4.48 Tuổi trung bình BPTNMT các nghiên cứu
Nghiên cứu Tuổi trung bình
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nam giới chiếm 93,4% (99/106 trường hợp) và nữ giới chỉ chiếm 6,6% (7/106 trường hợp), với tỷ lệ nam:nữ là 14:1 Tỷ lệ này tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Hảo, trong đó nam giới chiếm 93,6% và nữ giới 6,4% Ngoài ra, nghiên cứu của Dương Kim Hương về tình trạng loãng xương trên bệnh nhân BPTNMT cũng cho thấy tỷ lệ nam giới cao hơn nữ giới, với 82,2% so với 17,8%.
Tỷ lệ nam giới trong nghiên cứu của chúng tôi khác biệt so với các nghiên cứu trước đây Cụ thể, nghiên cứu của Cayo Garcia – Polo tại Tây Ban Nha năm 2012 cho thấy tỷ lệ nam chiếm 93% trong số 115 bệnh nhân BPTNMT Tương tự, nghiên cứu của Yuji Hagashimo trên 96 bệnh nhân Nhật Bản năm 2008 ghi nhận tỷ lệ nam lên tới 98,9% Ngược lại, nghiên cứu của Persson L tại Tây Na Uy từ 2006 đến 2009 với 433 bệnh nhân BPTNMT cho thấy tỷ lệ nam: nữ là 60:40 Ngoài ra, tác giả Romme E cũng đã nghiên cứu 168 bệnh nhân BPTNMT ở Hà Lan.
(2009) cũng cho thấy tỷ lệ nam là 58%.
Sự khác biệt về tỷ lệ giới tính trong việc hút thuốc lá chủ yếu do vai trò của nam giới, với tỷ lệ nam giới hút thuốc ở khu vực Đông Nam Á lên tới 72,8%, trong khi tỷ lệ nữ giới chỉ là 4,3%.
Bảng 4.49 Tỷ lệ giới tính các nghiên cứu
TỶ LỆ THIẾU VITAMIN D
Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân thiếu vitamin D đạt 28,3%, trong khi 51,9% không đủ vitamin D và chỉ 19,8% có đủ vitamin D Đặc biệt, trong nhóm bệnh nhân thiếu vitamin D, 83,3% có mức độ thiếu nhẹ - trung bình, còn 16,7% bị thiếu nặng.
Nghiên cứu của tác giả Dương Kim Hương trên 163 bệnh nhân BPTNMT cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin D là 22,7%, không đủ vitamin D là 36,2%, và đủ vitamin D là 41,1% Các nghiên cứu quốc tế, như của Kunisaki và cộng sự (2012) trên 973 bệnh nhân BPTNMT, cũng ghi nhận tỷ lệ thiếu vitamin D là 32%, tương tự như kết quả của chúng tôi.
(2011) có tỷ lệ thiếu vitamin D là 31% [84] Nghiên cứu của tác giả Franco (2009) trên 49 bệnh nhân BPTNMT có tỷ lệ thiếu vitamin D là 35% [53].
Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu của Puhan và cộng sự trên 356 bệnh nhân BPTNMT tại Thụy Sĩ và Hà Lan cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin D lên tới 77% Sự khác biệt này có thể do tỷ lệ nữ trong nghiên cứu cao hơn (40%) so với nghiên cứu của chúng tôi (6,6%) Thêm vào đó, 62% bệnh nhân được xét nghiệm vitamin D vào mùa đông và xuân, dẫn đến nồng độ vitamin D thấp hơn Nghiên cứu của Zoya Lagunova và cộng sự năm 2009 cũng chỉ ra rằng nồng độ vitamin D thường thấp vào mùa đông và xuân, nhưng lại cao vào mùa hạ và thu.
Nghiên cứu của Mekov và cộng sự cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin D ở bệnh nhân BPTNMT nhập viện tại Bulgaria lên đến 83,6%, trong khi tỷ lệ này trong dân số chung cũng cao tới 75,8% Bulgaria nằm trong vùng khí hậu ôn đới giữa 41° và 44° Bắc, với ánh sáng mặt trời thấp từ tháng 11 đến tháng 3, dẫn đến giảm tổng hợp vitamin D qua da Các yếu tố khác như giới tính nữ, tuổi cao, da sẫm màu, béo phì và chế độ ăn thiếu vitamin D cũng góp phần vào tình trạng thiếu hụt này.
Thiếu vitamin D ở bệnh nhân BPTNMT có thể do nhiều nguyên nhân, bao gồm giảm hoạt động ngoài trời do khó thở, lão hóa da làm giảm khả năng tổng hợp vitamin D, giảm lượng thức ăn, và tăng dị hóa glucocorticoid Ngoài ra, chức năng thận suy giảm cũng làm giảm khả năng tổng hợp vitamin D, trong khi khả năng dự trữ vitamin D trong cơ và mỡ thấp do tăng công thở Nghiên cứu của Franco và cộng sự cho thấy ngay cả khi không sử dụng corticoid toàn thân, bệnh nhân BPTNMT vẫn có nguy cơ cao mắc bệnh loãng xương, và mức vitamin D thấp có mối tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Hình 4.7 Tỷ lệ thiếu vitamin D trong các nghiên cứu [101]
Bảng 4.50 Tỷ lệ thiếu vitamin D trong các nghiên cứu
Nghiên cứu Tỷ lệ thiếu vitamin D (%)
NỒNG ĐỘ VITAMIN D
Nồng độ vitamin D trung bình trên bệnh nhân BPTNMT trong nghiên cứu của chúng tôi là 24,1 ± 7,4 ng/mL.
Nghiên cứu của tác giả Franco năm 2008 trên 49 bệnh nhân BPTNMT ngoại viện tại Brazil cho thấy nồng độ vitamin D trung bình là 20,8 ± 0,9 ng/mL Tương tự, nghiên cứu của Holmgaarol và cộng sự năm 2016 với 462 bệnh nhân BPTNMT ổn định ghi nhận nồng độ vitamin D trung bình là 22,4 ± 10 ng/mL Tác giả Kunisaki cũng báo cáo nồng độ vitamin D trung bình là 25,7 ± 12,8 ng/mL trong khảo sát 973 bệnh nhân BPTNMT ổn định, trong đó 33,1% bệnh nhân không đủ vitamin D, 32% thiếu vitamin D và 8,4% thiếu vitamin D nặng Nghiên cứu của Persson và cộng sự năm 2012 trên 433 bệnh nhân BPTNMT giai đoạn ổn định tại Na Uy cho thấy nồng độ vitamin D trung bình là 25,2 ± 10 ng/mL.
147 bệnh nhân đợt cấp BPTNMT trong nghiên cứu của tác giả Bhat M ở Ấn Độ cũng có kết quả nồng độ vitamin D trung bình tương tự chúng tôi: 23,6 ± 27,8 ng/mL [26].
Nghiên cứu của Malinovschi và cộng sự cho thấy nồng độ vitamin D trung bình ở bệnh nhân BPTNMT thấp hơn đáng kể so với kết quả mà chúng tôi đã thu được.
(2014) khảo sát 229 bệnh nhân BPTNMT ổn định ở Bỉ có kết quả nồng độ vitamin D trung bình là 12 ± 1,4 ng/mL [109] Tác giả Mekov [101] tiến hành nghiên cứu trên
152 bệnh nhân BPTNMT nhập viện vì đợt cấp ở Bulgaria cho kết quả nồng độ vitamin
D trung bình là 14 ng/ml 205 bệnh nhân đợt cấp BPTNMT trong nghiên cứu của tác giả Shabana H có nồng độ vitamin D trung bình là 15,8 ± 13 ng/mL [121].
Kết quả cho thấy nồng độ vitamin D trung bình thấp hơn có thể liên quan đến sự khác biệt về mùa và vĩ độ Nghiên cứu thực hiện xét nghiệm vitamin D vào mùa đông, thời điểm được cho là có sự giảm tổng hợp vitamin D nhiều nhất Vào mùa thu, các vĩ độ từ 10 đến 90 có bức xạ ánh sáng mặt trời khác nhau, ảnh hưởng đến nồng độ vitamin D trong cơ thể.
UV để tổng hợp vitamin D Vào mùa đông, từ vĩ độ 55 trở về phía Bắc hoàn toàn không có bức xạ UV để tổng hợp vitamin D [79].
Bảng 4.51 Nồng độ vitamin D trong các nghiên cứu
Nghiên cứu Nồng độ vitamin D trung bình (ng/mL)
VITAMIN D VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA DÂN SỐ NGHIÊN CỨU 69
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về nồng độ vitamin D trung bình giữa các nhóm tuổi (p = 0,52) và cũng không phát hiện sự khác biệt về tuổi trung bình giữa hai nhóm thiếu và không thiếu vitamin D (p = 0,74).
Năm 2012, Persson và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu trên 433 bệnh nhân BPTNMT và 325 bệnh nhân không BPTNMT, cho thấy không có mối tương quan giữa nồng độ vitamin D và tuổi ở nhóm bệnh nhân BPTNMT (r = 0,073, p = 0,13) Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự tương quan giữa tuổi và nồng độ vitamin D ở nhóm bệnh nhân không BPTNMT (r = 0,375, p < 0,001) [110].
Nghiên cứu của Romme và cộng sự năm 2011 đã khảo sát 151 bệnh nhân BPTNMT, cho thấy độ tuổi trung bình của hai nhóm thiếu và không thiếu vitamin D lần lượt là 64,4 ± 10,7 và 65,3 ± 8,6, với sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,479) Tương tự, nghiên cứu của Puhan và cộng sự năm 2019 cho thấy nồng độ vitamin D trung bình ở nhóm bệnh nhân dưới 65 tuổi là 15,4 ± 8,3, trong khi ở nhóm từ 65 tuổi trở lên là 15,6 ± 9,3, và sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê.
Một số nghiên cứu cho rằng tăng tuổi thọ có liên quan đến giảm nồng độ vitamin
Người cao tuổi có nguy cơ thiếu vitamin D cao do nhiều nguyên nhân, bao gồm giảm lượng vitamin D trong chế độ ăn, giảm tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, và giảm khả năng tổng hợp vitamin D qua da Đặc biệt, người trên 70 tuổi có thể giảm 50% khả năng tổng hợp vitamin D so với người trẻ 20 tuổi Nghiên cứu cho thấy từ 40 đến 100% người cao tuổi không sống trong nhà dưỡng lão ở Mỹ và châu Âu đều có sự thiếu hụt vitamin D.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không nhất quán với các nghiên cứu khác, có thể do kích thước mẫu hạn chế Cụ thể, tỷ lệ các nhóm tuổi không đồng đều: dưới 60 tuổi chiếm 17,9%, trên 80 tuổi chiếm 12,3%, và nhóm từ 60 đến 80 tuổi chiếm 69,8% Vì vậy, việc xác định sự khác biệt nồng độ vitamin D giữa các nhóm tuổi trở nên khó khăn.
Nghiên cứu của chúng tôi khảo sát 106 bệnh nhân BPTNMT cho thấy nồng độ vitamin D trung bình ở nữ là 24,4 ± 9,9 ng/mL và ở nam là 24,1 ± 7,2 ng/mL, không có sự khác biệt đáng kể giữa hai giới (pT-test = 0,91) Tỷ lệ thiếu vitamin D ở nữ là 42,9% và ở nam là 27,3%.
Tỷ lệ thiếu vitamin D ở nữ giới cao hơn nam giới, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (pChi = 0,38) Chúng tôi cũng không phát hiện sự khác biệt về mức độ thiếu vitamin D giữa hai nhóm giới tính, cụ thể là trong các mức độ thiếu vitamin D nhẹ - trung bình và thiếu vitamin D nặng.
Nghiên cứu của Persson trên 433 bệnh nhân BPTNMT cho thấy nồng độ vitamin D trung bình ở nữ là 25,6 ± 10,4 ng/mL và ở nam là 24,9 ± 9,8 ng/mL Sự khác biệt nồng độ vitamin D giữa hai nhóm nam và nữ không có ý nghĩa thống kê với p = 0,58.
Nghiên cứu của Franco năm 2008 đã khảo sát 49 bệnh nhân BPTNMT, bao gồm 21 nam và 28 nữ, và cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ vitamin D giữa hai giới, với nồng độ trung bình là 20,9 ± 5,6 ng/mL ở nam và 20,6 ± 6,5 ng/mL ở nữ.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tình trạng thiếu vitamin D phổ biến hơn ở nữ giới, đặc biệt là ở phụ nữ mãn kinh Nghiên cứu LASA tại Hà Lan chỉ ra rằng 56% nữ giới bị thiếu hụt vitamin D, so với 45% nam giới Tại New Zealand, nồng độ vitamin D trung bình trong suốt một năm ở nam giới cao hơn nữ giới, với thời gian dự đoán nồng độ vitamin D dưới 20ng/mL là 165 ngày/năm cho nam và 250 ngày/năm cho nữ Nghiên cứu của Song HR vào năm 2014 tại Hàn Quốc cũng cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin D ở nữ cao hơn nam, với 86,5% so với 59,7% Trong các nhóm tuổi từ 50 đến trên 80 tuổi, tỷ lệ thiếu vitamin D ở nữ luôn thấp hơn.
[127] Nhìn chung, các nghiên cứu trên dân số chung cho kết quả thiếu hụt vitamin
Thiếu hụt vitamin D xuất hiện ở cả nam và nữ, nhưng tỷ lệ thiếu hụt ở nữ giới cao hơn Sự khác biệt này có thể do thói quen ăn mặc, lối sống ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và tỷ lệ mỡ cơ thể giữa hai giới.
Nghiên cứu của chúng tôi không tìm được mối liên quan giữa nồng độ vitamin
D với giới có lẽ vì tỷ lệ nữ trong nghiên cứu quá thấp (6,6%) nên không thấy được sự khác biệt giữa 2 giới.
Bảng 4.52 Nồng độ vitamin D trung bình theo giới trong các nghiên cứu
Nghiên cứu Nồng độ vitamin D trung bình ( ng/mL )
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm thiếu vitamin D có chỉ số BMI trung bình là 19,2 ± 3,4, trong khi nhóm không thiếu vitamin D có chỉ số BMI trung bình là 20,4 ± 3,5 Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về chỉ số BMI giữa hai nhóm (p = 0,24) Hơn nữa, chúng tôi cũng không phát hiện sự khác biệt về nồng độ vitamin D giữa các nhóm.
Nghiên cứu của tác giả Mahlin C cho thấy kết quả tương tự khi so sánh 98 bệnh nhân BPTNMT ổn định với 149 người tình nguyện từ 65 đến 80 tuổi ở Thụy Điển Tác giả nhận thấy rằng chỉ số BMI trung bình của nhóm bệnh nhân BPTNMT (24) thấp hơn đáng kể so với nhóm khỏe mạnh (25,8) với p = 0,001 Tuy nhiên, trong phân tích hồi quy đơn biến, không có mối liên quan nào giữa BMI và nồng độ vitamin D ở cả hai nhóm, với p lần lượt là 0,526 và 0,138.
Nghiên cứu về mối liên hệ giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) và nồng độ vitamin D đã cho thấy nhiều kết quả khác nhau Theo tác giả Persson và cộng sự, có sự liên quan giữa BMI và nồng độ vitamin D trong một nghiên cứu với 433 bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) và 325 người khỏe mạnh.
Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt đáng kể về chỉ số BMI giữa hai nhóm với p < 0,001 Khi so sánh nồng độ vitamin D ở bệnh nhân BPTNMT theo các nhóm BMI (< 18,5, 18,5 – 24,9, 25 – 30, >30), sự khác biệt này cũng có ý nghĩa thống kê (p = 0,0001) Tuy nhiên, không có sự khác biệt nào được tìm thấy khi so sánh nồng độ vitamin D ở người khỏe mạnh giữa các nhóm BMI (p = 0,22) Đặc biệt, mối liên quan giữa nồng độ vitamin D và nhóm bệnh nhân BPTNMT có BMI > 30 được ghi nhận với hệ số Co.ef = -6,63, CI [-9,54; -3,72], p < 0,001 Trong một nghiên cứu trên 114 người khỏe mạnh ở Singapore, tác giả Bi X và cộng sự phát hiện rằng tỷ lệ mỡ cơ thể có mối liên hệ chặt chẽ hơn với vitamin D (r = 0,3, p = 0,001) so với BMI (r = -0,17, p = 0,074), cho thấy tỷ lệ mỡ cơ thể là yếu tố dự báo mạnh mẽ hơn về tình trạng vitamin D.