LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ “Hội chứng chuyển hoá và cácyếu tố liên quan trên bệnh nhân mày đay mạn tính” là công trình nghiên cứu của tôi và cộng sự.. Cơ ch
TỔNG QUAN
Bệnh mày đay mạn tính
Mày đay là một tình trạng dị ứng da lành tính, nhưng có thể là dấu hiệu của các bệnh lý nghiêm trọng bên trong cơ thể Biểu hiện đặc trưng của bệnh này bao gồm sự xuất hiện của sẩn phù, phù mạch hoặc cả hai.
Sẩn phù mày đay có đặc điểm nổi bật là sự xuất hiện của phù ở trung tâm, xung quanh là hồng ban phản ứng, kèm theo cảm giác ngứa và đôi khi bỏng rát Những sẩn phù này thường tồn tại trong khoảng thời gian từ 30 phút đến 24 giờ Trong khi đó, phù mạch lại xuất hiện đột ngột ở lớp bì sâu hoặc niêm mạc, thường gây cảm giác đau hơn là ngứa, và thời gian biến mất của phù mạch có thể kéo dài đến 72 giờ.
Mày đay mạn tính (MĐMT) là tình trạng xuất hiện sẩn phù và phù mạch, hoặc cả hai, tái diễn trong ít nhất 6 tuần, với triệu chứng xảy ra hàng ngày hoặc gần như hàng ngày.
Từ nhiều nghiên cứu, tỉ lệ lưu hành của bệnh MĐMT trong dân số dao động từ 0,05% đến 2% Tỉ lệ này khác nhau giữa các vùng địa lý, với nghiên cứu tại Đông Nam Á cho thấy tỉ lệ bệnh là 1,4%, cao hơn so với châu Âu (0,5%) và Bắc Mỹ (0,1%).
Phân tích thống kê cho thấy có sự khác biệt về tỉ lệ mắc bệnh mày đay giữa nam và nữ Cụ thể, nữ giới có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn nam giới, nhưng ở trẻ em dưới 15 tuổi, tỉ lệ mắc bệnh giữa bé trai và bé gái không có sự khác biệt Đặc biệt, trong khi nữ giới thường mắc mày đay vô căn, thì các trường hợp mày đay cholinergic chủ yếu xuất hiện ở nam giới.
Bệnh MĐMT có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến người trưởng thành và người cao tuổi Nghiên cứu cho thấy bệnh thường xuất hiện ở độ tuổi nhất định.
MĐMT vô căn là 20 – 40 tuổi [77].
Có nhiều yếu tố ngoại sinh và nội sinh là căn nguyên của bệnh MĐMT [17].
Biểu đồ 1.1: Căn nguyên của bệnh mày đay mạn tính
Mày đay vật lý là nguyên nhân gây ra 35% các trường hợp mày đay, khởi phát bởi các kích thích cơ học từ môi trường bên ngoài Bệnh nhân mắc mày đay vật lý có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều tác nhân khác nhau như áp lực, nhiệt độ, nước, cholinergic (nhiệt nóng, mồ hôi, căng thẳng), ánh sáng mặt trời, rung động hoặc da vẽ nổi.
Vào năm 1983, Leznoff và cộng sự đã đưa ra giả thuyết về mày đay tự miễn khi phát hiện mối liên hệ giữa bệnh lý tuyến giáp và mày đay vô căn Đến năm 1988, Gruber và cộng sự xác định vai trò của tự kháng thể IgE, kết luận rằng chúng là nguyên nhân gây ra các sẩn phù trong bệnh mày đay Hiện nay, nghiên cứu cho thấy khoảng 30 – 50% bệnh nhân mày đay vô căn có tự kháng thể chống lại thụ thể IgE ái lực cao (FceRIa) hoặc kháng thể chống IgE.
Nhiễm trùng 2% bệnh MĐMT và các bệnh tự miễn khác như lupus đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp thiếu niên hay viêm giáp tự miễn.
Nhiễm trùng có mối liên quan đến nhiều bệnh lý, trong đó có viêm gan siêu vi B, nhưng mức độ liên quan vẫn chưa được xác định rõ ràng.
Các loại vi khuẩn như Streptococcus, Mycoplasma, Helicobacter pylori, Mycobacterium tuberculosis và Herpes simplex được cho là có liên quan đến bệnh MĐMT Ngoài ra, nhiễm nấm như nấm móng, nấm bàn tay, nấm bàn chân và nấm Candida cũng có thể là yếu tố liên quan Bệnh MĐMT còn liên quan đến nhiễm ký sinh trùng như Strogyloidiasis, Giardiasis và Amoebiasis.
Tự phát Hầu hết các trường hợp MĐMT là tự phát, các yếu tố có thể liên quan đến MĐMT tự phát là thuốc, dị ứng nguyên, thần kinh.
Mạch máu có thể bị viêm, như đã được Tsunemi và cộng sự báo cáo, với sự hiện diện của các mảng phù hình vòng trên da Bệnh nhân viêm mạch thường gặp các sang thương mày đay kèm theo triệu chứng đau hoặc bỏng rát Các sang thương này thường có đặc điểm là hồng ban hoặc sẩn phù, với trung tâm là vùng da lành và tồn tại trong vòng 24 giờ ở những vị trí cố định.
Giả dị ứng, khái niệm được giới thiệu vào năm 1983, mô tả tình trạng dị ứng thực phẩm không liên quan đến kháng thể IgE Các thực phẩm có thể gây ra phản ứng giả dị ứng bao gồm thực phẩm đóng gói, chất tạo ngọt, phẩm màu và hương liệu Nhiều bệnh nhân báo cáo khởi phát mày đay cấp sau khi tiêu thụ một số loại thực phẩm như hải sản, trứng, đậu phộng và dâu tây Tình trạng này thường trở nên nghiêm trọng hơn, đặc biệt ở trẻ em và trẻ sơ sinh.
1.1.4.1 Giả thiết về kháng thể tự miễn
Hơn 30 năm trước, Grattan và cộng sự tiến hành tiêm trong da huyết thanh tự miễn để tạo ra phản ứng sẩn phù ở một số lượng lớn bệnh nhân MĐMT [44] Kết quả cho thấy bệnh MĐMT là do sự phóng thích histamine và kể từ đó xét nghiệm huyết thanh tự miễn da (Autologous serum skin test - ASST) dương tính là dấu chỉ hoạt động tự miễn Nghiên cứu sâu hơn cho thấy có một tự kháng thể kháng IgE giải phóng histamine Ở những bệnh nhân với ASST dương tính, sự xuất hiện sẩn phù mày đay là do khả năng những kháng thể này bắt chéo với tế bào mast ở lớp bì gắn IgE, dẫn đến hoạt hóa tế bào mast và giải phóng histamine Mặc dù ASST khá đặc hiệu cho bệnh MĐMT, nhưng nó chỉ hiện diện ở một nửa số người mắc bệnh MĐMT, số còn lại không cho thấy kết quả ASST dương tính mặc dù bệnh lý nặng và hay tái phát [23].
Giả thuyết thứ hai về kháng thể tự miễn cho rằng tự kháng thể IgG chống lại thụ thể IgE (FcεRI) có ái lực cao, hiện diện trên tế bào mast và tế bào bạch cầu ưa kiềm, dẫn đến việc kích hoạt tế bào và giải phóng histamine.
Mặc dù cơ chế giải phóng histamin có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của MĐMT, nhưng một số nghiên cứu cho thấy cơ chế này chỉ xuất hiện ở một số ít bệnh nhân Hơn nữa, các loại tự kháng thể cũng được phát hiện ở cả nhóm bệnh nhân MĐMT và nhóm chứng Tuy nhiên, giả thuyết về kháng thể tự miễn được nhiều chuyên gia ủng hộ, nhờ vào việc phát hiện hoạt động của tế bào CD4 chống lại FcεRI ở hơn 50% bệnh nhân MĐMT.
1.1.4.2 Giả thiết về tế bào bạch cầu ưa kiềm
Hội chứng chuyển hóa
Hội chứng chuyển hóa (HCCH), còn được gọi là hội chứng X hay hội chứng đề kháng insulin, là thuật ngữ chỉ các rối loạn chuyển hóa, bao gồm béo phì trung tâm, tăng triglycerides máu, giảm HDL-C, tăng glucose máu và huyết áp cao.
Tỉ lệ mắc hội chứng chấn thương đầu (HCCH) có sự khác biệt giữa các nghiên cứu do sự không đồng nhất về tuổi tác, giới tính, chủng tộc và tiêu chuẩn chẩn đoán được áp dụng Mặc dù vậy, hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy tỉ lệ mắc HCCH là khá cao.
Theo số liệu năm 2008, gần hai phần ba dân số Mỹ gặp vấn đề thừa cân hoặc béo phì, với hơn một phần tư được chẩn đoán mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) Nghiên cứu từ năm 1999 đến 2000 cho thấy tỉ lệ mắc HCCH là 27% Chương trình NHANES từ năm 2011 đến 2014 ước tính tỉ lệ béo phì ở người trưởng thành trong độ tuổi 20 – 30 là 36,5%, ở độ tuổi 40 – 59 là 40,2%, và ở độ tuổi trên 60 là 37%.
Hội chứng chuyển hóa đang trở thành một vấn đề toàn cầu nghiêm trọng, với tỷ lệ mắc bệnh gia tăng ở các quốc gia đang phát triển Nghiên cứu cho thấy gần 25% người trưởng thành ở châu Âu mắc hội chứng này, và tỷ lệ tương tự cũng được ghi nhận ở người Mỹ Latin Tại các nước Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, hội chứng chuyển hóa đang dần trở thành một mối lo ngại lớn, với tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 8% đến 13% ở nam giới và từ 2% đến 18% ở nữ giới.
Tại Việt Nam, tỉ lệ mắc hội chứng cao huyết áp (HCCH) ở người cao tuổi dao động từ 22,4% đến 38,1% Nghiên cứu của Hồ Thị Kim Thanh cho thấy tỉ lệ mắc HCCH ở người cao tuổi là 38,1%, trong đó tỉ lệ mắc ở nữ cao hơn nam, cụ thể là 45,0% so với 26,6% (p < 0,001).
Cơ chế sinh bệnh học của hội chứng chuyển hóa (HCCH) vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn Các yếu tố nguy cơ liên quan đến HCCH bao gồm tiền sử gia đình, chế độ ăn uống và thói quen tập luyện Hai nguyên nhân chính khiến HCCH trở thành vấn đề toàn cầu là thói quen tiêu thụ thực phẩm nhanh và sự giảm sút hoạt động thể chất trong xã hội hiện đại.
Sự phân bố mỡ bất thường góp phần gây ra các rối loạn trong hội chứng chuyển hóa (HCCH) Bên cạnh đó, các yếu tố như viêm mạn tính mức độ thấp, đề kháng insulin, stress oxy hóa gia tăng và tình trạng tăng đông hệ thống cũng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của HCCH.
1.2.3.1 Béo phì và phân bố mỡ bất thường
Tần suất béo phì gia tăng dẫn đến sự gia tăng mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) Béo phì trung tâm và sự phân bố mỡ bất thường là những yếu tố quan trọng gây ra HCCH Sự tích tụ mỡ trung tâm, đặc biệt là mỡ nội tạng, làm tăng lượng acid béo tự do và ức chế hoạt động của insulin Béo phì kết hợp với tình trạng đề kháng insulin đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bệnh HCCH.
Mối liên quan giữa béo phì và hội chứng chuyển hóa (HCCH) trong sinh bệnh học chủ yếu do các yếu tố sinh học từ tế bào mỡ Mô mỡ trắng tiết ra nhiều adipokines, gây ra tình trạng viêm mạn tính mức độ thấp trong HCCH và bệnh béo phì Trong số các adipokines, leptin và adiponectin được xác định là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến HCCH, bệnh béo phì và bệnh tim mạch.
Leptin là một adipokine quan trọng trong việc kiểm soát cảm giác thèm ăn thông qua tín hiệu đến thụ thể ở vùng hạ đồi, với nồng độ cao thường thấy ở người béo phì, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch Ngược lại, adiponectin có tác dụng kháng viêm, chống mảng xơ vữa và ổn định mảng xơ vữa, giúp ngăn chặn sự tiến triển của đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, viêm và các bệnh xơ vữa mạch máu như nhồi máu cơ tim cấp.
1.2.3.2 Đề kháng insulin Đề kháng insulin là yếu tố quan trọng trong cơ chế sinh bệnh học của HCCH. Đó là lý do mà HCCH còn có tên gọi là hội chứng đề kháng insulin Bình thường insulin có chức năng tăng hấp thu đường tại cơ và gan, ức chế ly giải mô mỡ và tân tạo đường tại gan Tình trạng đề kháng insulin tại mô mỡ làm tăng ly giải và tăng lượng a-xít béo tự do vào trong máu Các a-xít béo tự do ức chế hoạt động của protein kinase trong cơ, dẫn đến giảm hấp thu đường vào mô cơ Ngoài ra các a-xít béo tự do còn kích thích các protein kinase trong gan, dẫn đến tân tạo đường và mỡ tại gan Hậu quả làm tăng lượng insulin trong máu để điều hòa lại đường huyết Tuy nhiên do a-xít béo tự do gây độc các tế bào bê-ta tụy nên làm giảm khả năng tiết insulin điều hòa đường huyết [31].
Mỡ nội tạng có vai trò quan trọng hơn mỡ dưới da trong việc phát triển đề kháng insulin Khi mỡ nội tạng bị ly giải, lượng a-xít béo tự do trong máu tăng lên, dẫn đến việc gan tiếp nhận nhiều a-xít béo hơn Sự gia tăng này kích thích tổng hợp apolipoprotein-B, thành phần cấu tạo của LDL-C, cùng với triglycerides Kết quả là nồng độ LDL-C tăng và HDL-C giảm, phản ánh tình trạng đề kháng insulin do rối loạn chuyển hóa mỡ tại gan.
1.2.3.3 Kích hoạt hệ thần kinh thể dịch
Hệ thống Renin-Angiotensin (RAS) có vai trò quan trọng trong cơ chế gây ra hội chứng chuyển hóa (HCCH) Angiotensin II, sản phẩm của hệ men chuyển, liên quan đến bệnh béo phì và đề kháng insulin Sự gia tăng nồng độ angiotensin II kích hoạt thụ thể angiotensin týp 1 (AT1), dẫn đến tổn thương nội mô mạch máu, tăng sinh nguyên bào sợi, oxy hóa LDL-C và kết tập tiểu cầu Hệ quả là tình trạng tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, phì đại cơ tim và bệnh mạch vành.
Viêm là yếu tố quan trọng trong cơ chế sinh bệnh của bệnh mạch vành và hội chứng vành cấp tính (HCCH) Các yếu tố viêm như TNF-α, IL-6 và CRP có liên quan chặt chẽ đến HCCH.
TNF-α, được tiết ra bởi đại thực bào trong tế bào mỡ, tăng sản xuất khi khối lượng mỡ trong cơ thể gia tăng Chất này gây ra hiệu ứng phosphoryl hóa và làm bất hoạt các thụ thể insulin trên bề mặt tế bào mô mỡ và tế bào cơ trơn Hệ quả là ly giải mô mỡ, tăng nồng độ a-xít béo tự do trong máu, và ức chế hoạt động của adiponectin, dẫn đến sự gia tăng nồng độ insulin trong máu.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca có đối chứng.
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân MĐMT ≥ 18 tuổi đến khám và điều trị tại bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh.
Bệnh nhân MĐMT ≥ 18 đến khám và điều trị tại bệnh viện Da Liễu Thành phố
Hồ Chí Minh từ tháng 10/2020 đến tháng 8/2021 và thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/2020 đến tháng 8/2021. Địa điểm nghiên cứu: khoa khám bệnh của Bệnh viện Da Liễu Thành phố HồChí Minh.
Cỡ mẫu của nghiên cứu
Ước tính cỡ mẫu dựa vào công thức sau:
𝑛 1 : cỡ mẫu của nhóm bệnh
𝑛 2 : cỡ mẫu của nhóm chứng
𝑝 1 : tỉ lệ của nhóm bệnh
𝑝 2 : tỉ lệ của nhóm chứng α: sai lầm loại 1 là 0,05 β: sai lầm loại 2 là 0,2
Dựa trên nghiên cứu của tác giả Hanife Merve Akca thì 𝑝 1 = 34% và 𝑝 2 = 11%
Cỡ mẫu ước tính theo công thức là: 𝑛 1 =𝑛 2 ≥ 51, 𝑁 𝑇ổ𝑛𝑔 ≥ 𝑛 1 + 𝑛 2 = 102 Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, cần thu thập ít nhất 51 bệnh và 51 chứng.
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Nghiên cứu viên thực hiện việc lấy mẫu liên tục tại Khoa khám bệnh của Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh, diễn ra hàng ngày trong tuần cho đến khi đạt được kích thước mẫu cần thiết.
2.5.2 Nhóm bệnh nhân mày đay mạn tính
Bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ 10/2020 đến tháng 8/2021 thỏa các điều kiện sau:
- Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Bệnh nhân được chẩn đoán MĐMT dựa trên lâm sàng.
Phụ nữ mang thai và cho con bú.
Bệnh nhân có tiền sử sử dụng thuốc làm tăng đường huyết hoặc lipid huyết, chẳng hạn như corticosteroid đường uống, cyclosporine, và methotrexate trong 3 tháng gần đây.
Bệnh nhân đang mắc các bệnh lí nhiễm trùng cấp trên lâm sàng hoặc hội chứng đáp ứng viêm toàn thân, gồm:
- Nhiễm trùng tai mũi họng, răng hàm mặt
- Nhiễm trùng hô hấp trên và dưới
- Nhiễm trùng tiết niệu sinh dục
Bệnh nhân mắc các bệnh lý gây tăng hsCRP không do nhiễm trùng bao gồm bệnh lý thấp, ung thư máu, ung thư tạng đặc, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh ruột viêm và viêm màng tim.
2.5.3 Nhóm chứng Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Người có độ tuổi và giới tính tương đồng với nhóm bệnh nhân MĐMT.
Người khỏe mạnh bao gồm: người nhà bệnh nhân, người đi làm thẩm mỹ, người thân và sinh viên học viên hiện tại không mắc bệnh mãn tính và các bệnh da viêm mạn tính khác.
Tiêu chuẩn loại trừ tương tự nhóm bệnh.
Biến số nghiên cứu
Bảng 2.1: Các biến số cần thu thập
STT Biến số Loại Giá trị Định nghĩa
1 Giới tính Định tính Nam
Ghi nhận giới tính từ chứng minh nhân dân
2 Tuổi Định lượng Năm Tính tuổi dựa theo tiêu chuẩn của WHO
Ghi nhận địa chỉ từ địa chỉ thường trú hoặc tạm trú
Lao động trí óc Lao động chân tay Học sinh-sinh viên Khác
Nghề đang làm hiện tại
Chỉ số khối cơ thể (BMI) Định lượng kg/m 2 Ghi nhận qua việc thăm khám lâm sàng
6 Tuổi khởi phát bệnh Định lượng Năm Tính từ lúc bắt đầu có triệu chứng bệnh
7 Thời gian mắc bệnh Định lượng
Tính khoảng thời gian từ lúc mắc bệnh đến lúc khám
8 Tiền căn gia đình Định tính Có
Ghi nhận là có nếu có một thành viên trong gia đình trong vòng 3 thế hệ mắc bệnh MĐMT
0: không có sẩn phù 1: < 20 sẩn phù 2: 20 – 50 sẩn phù 3: > 50 sẩn phù
Ghi nhận qua thăm khám lâm sàng và hỏi bệnh sử bệnh nhân
Ghi nhận qua việc hỏi bệnh sử bệnh nhân
11 Điểm độ nặng bệnh MĐMT (UAS7) Định lượng Từ 0 đến 42 điểm
Tổng điểm từ biến số thứ 9 và biến số thứ 10 trong 7 ngày qua
Mức độ nặng bệnh MĐMT Định tính
Kiểm soát – nhẹ Trung bình Nặng
13 Vòng eo Định lượng cm
Ngang mức phần cao nhất của xương chậu vòng quanh bụng
14 Huyết áp Định lượng mmHg
Số đo trung bình của 2 lần đo sau khi ngồi nghỉ 5 phút
15 Nồng độ glucose máu Định lượng mmol/L
Nồng độ triglycerides máu Định lượng mmol/L
HDL-C máu Định lượng mmol/L
LDL-C máu Định lượng mmol/L
Nồng độ Chol.TP máu Định lượng mmol/L
20 Hội chứng chuyển hóa Nhị giá Có
Theo tiêu chuẩn NCEP ATP III
21 Nồng độ hsCRP Định lượng mg/L
Mức tăng nồng độ hsCRP Định tính
Gồm các biến số: giới tính, tuổi, nơi ở, nghề nghiệp, BMI.
Giới tính: biến định tính, gồm 2 giá trị là nam và nữ.
Tuổi: biến định lượng, cách tính tuổi dựa theo tiêu chuẩn của WHO
Tuổi = (Ngày điều tra – Ngày sinh)/Số ngày trung bình của năm.
Tuổi được tính là số nguyên.
Nếu tuổi < 12 tháng thì tính tròn 1 tuổi.
Nơi ở: biến định tính, gồm 2 giá trị là TPHCM và nơi khác.
Nghề nghiệp: biến định tính, gồm 4 giá trị là lao động trí óc, lao động chân tay, học sinh-sinh viên, khác.
Chỉ số BMI (Body Mass Index) được tính bằng cách chia cân nặng (kg) cho bình phương chiều cao (m²) Theo bảng phân loại BMI Châu Á-Thái Bình, người có chỉ số BMI từ 23 kg/m² trở lên được xếp vào nhóm BMI cao, trong khi những người có chỉ số BMI dưới 23 kg/m² thuộc nhóm BMI thấp.
Bảng 2.2: Phân nhóm BMI ở người Châu Á-Thái Bình Dương Phân nhóm BMI BMI Châu Á-Thái Bình Dương(kg/m 2 )
2.6.2 Nhóm biến số về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Bài viết đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh MĐMT, bao gồm tuổi khởi phát, thời gian mắc bệnh, tiền sử gia đình, số lượng sẩn phù, mức độ ngứa, và điểm độ nặng của bệnh Ngoài ra, các chỉ số sức khỏe như vòng eo, huyết áp, nồng độ glucose máu, triglycerides, HDL-C, LDL-C, Chol.TP, HCCH, và nồng độ hsCRP cũng được xem xét, cùng với nguy cơ tim mạch phân theo nồng độ hsCRP.
Tuổi khởi phát bệnh là một biến định lượng, được xác định từ thời điểm đầu tiên mà bệnh nhân nhận thấy sự xuất hiện của sang thương MĐMT Tuổi khởi phát bệnh được tính theo năm sinh của bệnh nhân và được biểu thị dưới dạng số nguyên, với đơn vị tính là năm.
Thời gian mắc bệnh được định nghĩa là biến định lượng, tính từ khi triệu chứng đầu tiên xuất hiện cho đến thời điểm nghiên cứu được thực hiện Đơn vị đo lường thời gian này là tháng.
Tiền căn gia đình là một yếu tố định tính, được phân loại thành hai giá trị: có và không Giá trị "có" được ghi nhận khi có ít nhất một thành viên trong gia đình mắc bệnh mạch vành trong vòng 3 thế hệ, trong khi giá trị "không" được ghi nhận nếu không có thành viên nào trong gia đình mắc bệnh này trong cùng khoảng thời gian.
Mức tăng nồng độ hsCRP được phân loại thành ba giá trị: thấp, trung bình và cao Khi nồng độ hsCRP vượt quá 10 mg/L, không thể đánh giá là tăng rất cao do ảnh hưởng của các yếu tố không đặc hiệu như nhiễm trùng, viêm khớp hoặc sự hiện diện của nhiều bệnh đồng thời.
Bảng 2.3: Mức tăng nồng độ hsCRP Mức tăng nồng độ hsCRP Nồng độ hsCRP huyết thanh (mg/L)
Hội chứng chuyển hóa là thuật ngữ mô tả các bất thường về chuyển hóa, bao gồm mập phì bụng, tăng triglyceride máu, giảm HDL cholesterol, tăng glucose máu và tăng huyết áp Để được chẩn đoán mắc hội chứng này, một người cần có ít nhất 3 trong 5 tiêu chí theo tiêu chuẩn NCEP/ATP III sửa đổi.
2005 đã điều chỉnh phù hợp với người châu Á [82].
Bảng 2.4: Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa theo NCEP/ATP III
Tiêu chí chẩn đoán Định nghĩa
Tăng đường huyết Đường huyết đói ≥ 100 mg/dl (5,6 mmol/L) hoặc Đang điều trị thuốc hạ đường huyết
Tăng triglycerides Triglycerides ≥ 150 mg/dl (1,7 mmol/L) hoặc Đang điều trị thuốc hạ lipid máu
Nữ < 50 mg/dl (1,3 mmol/L) hoặc Đang điều trị thuốc hạ lipid máu
HATT ≥ 130 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 85 mmHg, hoặc đang điều trị bằng thuốc hạ áp, cho thấy mức độ nặng của bệnh MĐMT (UAS7) thông qua biến định lượng Tổng điểm từ các triệu chứng sẩn phù và ngứa trong 7 ngày qua dao động từ 0 đến 42 điểm.
Bảng 2.5: Điểm độ nặng bệnh mày đay mạn tính Ngày Số lượng sẩn phù + Ngứa = Tổng điểm
Mức độ nặng bệnh MĐMT: biến định tính, gồm 3 giá trị kiểm soát – nhẹ, trung bình và nặng Phân mức độ nặng bệnh MĐMT dựa vào điểm UAS7.
Bảng 2.6: Mức độ nặng bệnh mày đay mạn tính Mức độ nặng bệnh mày đay mạn tính Điểm UAS7 (điểm)
2.6.3 Công cụ thu thập số liệu
Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu (phụ lục 2, 3).
Phiếu thu thập số liệu (phụ lục 1).
Phiếu chỉ định xét nghiệm: nồng độ glucose, nồng độ Chol.TP, nồng độ triglycerides, nồng độ HDL-C, nồng độ LDL-C và nồng độ hsCRP.
Để thực hiện quy trình lấy máu, cần chuẩn bị các dụng cụ sau: thước dây, cân, thước đo chiều cao, máy đo huyết áp, bơm tiêm 5 ml, ống đựng máu có chất chống đông và ống đựng máu không chứa chất chống đông.
Các xét nghiệm được thực hiện bởi máy xét nghiệm sinh hóa và miễn dịch tự động Cobas 6000 tại khoa xét nghiệm trung tâm y khoa Medic.
Nồng độ glucose được xác định thông qua xét nghiệm sử dụng phương pháp glucose oxidase, trong đó 4-aminophenazol, glucose oxidase và peroxidase được kết hợp để chuyển đổi glucose thành 4-P-benzoquinone-mono-phenazol, sau đó mẫu được đưa vào máy sinh hóa phân tích tự động để thu nhận kết quả.
Nồng độ Chol.TP được xác định thông qua enzym cholesterol esterase, trong đó cholesterol ester được phân cắt thành cholesterol và FFA Cholesterol sau đó được oxy hóa thành cholest-4-en-3-one và hydrogen peroxide Sự hiện diện của peroxidase kích thích phản ứng oxy hóa giữa 4-aminophenazone và phenol, tạo ra chất quinone-imine có màu đỏ Cường độ màu của chất nhuộm tỷ lệ thuận với nồng độ cholesterol.
Nồng độ HDL-C được xác định thông qua xét nghiệm dựa trên sự kết hợp của cholesterol esterase và cholesterol oxidase với PEG, tạo thành nhóm axit amin Men cholesterol esterase phân giải cholesterol ester thành cholesterol và các FFA Tiếp theo, cholesterol được oxy hóa bởi cholesterol oxidase, tạo ra cholesterol và hydrogen peroxidase Khi có mặt peroxidase, hydrogen peroxidase sẽ phản ứng với 4-amino-antipyrine và HSDA, tạo ra một chất màu xanh tím Cường độ màu của chất này tỷ lệ thuận với nồng độ cholesterol.
Xét nghiệm MULTIGENT Direct LDL là phương pháp đồng nhất để đo nồng độ LDL-C trong huyết thanh mà không cần tiền xử lý hay ly tâm Phương pháp này sử dụng hai loại thuốc thử và dựa vào đặc tính của dung dịch tẩy duy nhất Cholesterol được giải phóng và sử dụng bởi cholesterol esterase và cholesterol oxydase trong phản ứng không tạo màu Dung dịch tẩy hòa tan các hạt còn lại, trong khi bộ nối tạo sắc giúp hình thành màu sắc tỷ lệ với lượng cholesterol LDL trong mẫu.
Nồng độ triglycerides: nguyên lý xét nghiệm dự trên đo màu sử dụng enzym.
Nồng độ hsCRP được xác định thông qua xét nghiệm đo độ đục (Latex immunoturbidimetry) sử dụng hóa chất LT CRP-HS II (Latex Immunoassay) của hãng Wako (Nhật Bản) Thiết bị đo nồng độ hsCRP được cung cấp bởi hãng Alinity Abbott.
Quy trình nghiên cứu
2.7.1 Nhóm bệnh mày đay mạn tính
Bệnh nhân tại bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh được chẩn đoán mắc MĐMT sẽ được cung cấp thông tin chi tiết về mục tiêu và phương pháp nghiên cứu Trước khi tham gia, bệnh nhân sẽ nhận được những thông tin cần thiết và nếu đồng ý, họ sẽ ký vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu.
Bệnh nhân được phỏng vấn và khám trực tiếp theo phiếu thu thập số liệu, bao gồm các thông tin hành chính và các yếu tố chẩn đoán MĐMT như thời gian bệnh, tuổi khởi phát, và độ nặng bệnh dựa trên thang điểm UAS7 Ngoài ra, các dữ liệu về huyết áp, vòng eo, chiều cao, cân nặng, BMI, cùng với tiền căn bản thân và gia đình cũng được ghi nhận.
Bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm nồng độ glucose, Chol.TP, triglycerides, HDL-C, LDL-C và hsCRP trong huyết thanh Kĩ thuật viên bệnh viện Da Liễu đã lấy 4 ml máu của bệnh nhân vào ống tiêm 5 ml, sau đó cho 2 ml máu vào một ống đựng máu EDTA.
Thu thập 2 ml máu vào ống đựng máu đông và bảo quản ở nhiệt độ từ 2 đến 8 độ C Số ống máu này cần được chuyển đến khoa xét nghiệm Medic Hòa Hảo trong vòng 4 giờ.
Những người khỏe mạnh, bao gồm người nhà bệnh nhân, nhân viên y tế, sinh viên, học viên và người làm dịch vụ thẩm mỹ, sẽ được thông tin rõ ràng về mục tiêu và phương pháp nghiên cứu Nếu đồng ý, họ sẽ ký vào biên bản đồng ý tham gia Sau đó, các dữ liệu lâm sàng như chiều cao, cân nặng, BMI, huyết áp và vòng eo sẽ được thu thập, cùng với việc lấy máu để đo nồng độ glucose, Chol.TP, triglycerides, HDL-C, LDL-C và hsCRP huyết thanh.
Biểu đồ 2.1: Sơ đồ nghiên cứu
Bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh
Hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng
Lấy 4 ml máu và đưa mẫu máu về trung tâm
Xác định nồng độ glucose, triglycerides,
Chol.TP, HDL-C, LDL-C, hsCRP huyết thanh
Xác định tỉ lệ mắc HCCH
Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm Excel 2010.
2.8.2 Xử lí và phân tích số liệu
Số liệu được mã hóa, xử lý và phân tích bằng phần mềm Stata 14.2.
- Các biến số định tính như giới tính, HCCH… được trình bày dưới dạng tần số và tỉ lệ phần trăm
Các biến số định lượng như tuổi, chỉ số khối cơ thể (BMI), nồng độ hsCRP huyết thanh và nồng độ glucose máu được trình bày dưới dạng số trung bình và độ lệch chuẩn khi có phân phối chuẩn, hoặc dưới dạng trung vị và khoảng tứ phân vị khi không có phân phối chuẩn.
- Dùng T-test và ANOVA test để kiểm định sự khác biệt giữa các biến số định lượng có phân phối chuẩn.
- Dùng Wilcoxon test và Kruskal Wallis’ test để kiểm định sự khác biệt giữa các biến số định lượng không có phân phối chuẩn.
Sử dụng phép kiểm chi bình phương (\(\chi^2\)) để so sánh hai hoặc nhiều tỉ lệ Nếu bảng 2 cột × 2 dòng có giá trị mong đợi nhỏ hơn 5, cần thay thế bằng phép kiểm chính xác Fisher.
Sử dụng hệ số tương quan Pearson (ký hiệu r) để tìm mối tương quan khi biến phụ thuộc có phân phối chuẩn, trong khi áp dụng hệ số tương quan Spearman cho trường hợp biến phụ thuộc có phân phối không chuẩn.
Nghiên cứu này nhằm khám phá mối liên hệ giữa nguy cơ tim mạch và bệnh mạch vành thông qua phương pháp hồi quy logistic Chúng tôi áp dụng hồi quy logistic để xác định mối quan hệ giữa hội chứng chuyển hóa và bệnh mạch vành.
Sự khác biệt được xem có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 và độ tin cậy 95%.
Đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu đã được Hội Đồng Đạo Đức Trong Nghiên Cứu Y Sinh Học Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt với số hiệu 664/HĐĐĐ-ĐHYD.
Tất cả các đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ ràng và chỉ tiến hành khi bệnh nhân ký xác nhận tham gia Thông tin liên quan đến các đối tượng được mã hóa và giữ bí mật, đồng thời họ có quyền từ chối tham gia bất cứ lúc nào.
Các đối tượng nghiên cứu sẽ được thăm khám bởi điều tra viên mà không ảnh hưởng đến diễn tiến và điều trị bệnh Việc lấy máu được thực hiện bởi các kỹ thuật viên chuyên môn tại bệnh viện da liễu.
Tất cả các bệnh nhân đến khám chữa bệnh dù có tham gia nghiên cứu hay không đều được tư vấn, cấp thuốc và điều trị như nhau.
Người tham gia nghiên cứu không phải trả thêm bất kì chi phí nào để tham gia nghiên cứu.
KẾT QUẢ
Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm dịch tễ của đối tượng nghiên cứu
3.1.1.1 Đặc điểm tuổi - giới của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: So sánh tuổi - giới giữa nhóm mày đay mạn tính và nhóm chứng Đặc điểm Nhóm bệnh
** phép kiểm Chi bình phương
Trong nhóm bệnh MĐMT, nữ giới chiếm ưu thế với tỉ lệ cao gấp 1,86 lần so với nam giới Tuổi trung vị của bệnh nhân MĐMT trong nghiên cứu là 35,5, với độ tuổi dao động từ 18 đến 66 Nhằm hạn chế các yếu tố gây nhiễu, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn nhóm chứng tương đồng về tuổi và giới tính với nhóm bệnh MĐMT.
3.1.1.2 Đặc điểm nơi cư trú của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm dịch tễ là nơi ở của bệnh nhân MĐMT thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.1: Nơi cư trú của bệnh nhân mày đay mạn tính
Nhận xét: trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh nhân đến khám bệnh
MĐMT sống tại thành phố Hồ Chí Minh chiếm 51,7% Còn lại 48,3% bệnh nhânMĐMT sống tại tỉnh khác.
3.1.1.3 Đặc điểm nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm dịch tễ là nghề nghiệp của bệnh nhân MĐMT thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.2: Nghề nghiệp của bệnh nhân mày đay mạn tính
Nhận xét: trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh nhân đến khám bệnh
MĐMT có nghề nghiệp là lao động trí óc và lao động chân tay Các bệnh nhân MĐMT còn lại là học sinh - sinh viên và nghề nghiệp khác.
KHÁC HỌC SINH - SINH VIÊN
3.1.2 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
3.1.2.1 Tình trạng phù mạch của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm lâm sàng gồm triệu chứng phù mạch của bệnh nhân MĐMT thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.3: Tình trạng phù mạch của bệnh nhân mày đay mạn tính
Chẩn đoán bệnh MĐMT dựa vào đặc điểm lâm sàng là sẩn phù và phù mạch Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tất cả bệnh nhân MĐMT đều có sẩn phù với ba đặc điểm chính: hồng ban phù nề, cảm giác ngứa và biến mất trong vòng 24 giờ Tuy nhiên, chỉ có 50,94% bệnh nhân MĐMT được khảo sát có triệu chứng phù mạch như sưng mắt, sưng môi và khó thở.
3.1.2.2 Tuổi khởi phát bệnh của đối tượng nghiên cứu a) Tuổi khởi phát bệnh trung bình của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm về tuổi khởi phát bệnh trung bình của bệnh nhân MĐMT thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.4: Tuổi khởi phát trung bình của bệnh nhân mày đay mạn tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân mắc bệnh MĐMT có độ tuổi khởi phát trung bình là 35,35 ± 13,16 tuổi, với độ tuổi khởi phát nhỏ nhất là 14 tuổi và lớn nhất là 65 tuổi.
Tuổi khởi phát bệnh là một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu bệnh nhân MĐMT Biểu đồ dưới đây thể hiện rõ đặc điểm phân nhóm tuổi khởi phát bệnh của đối tượng nghiên cứu, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự phân bố tuổi tác của bệnh nhân.
Biểu đồ 3.5: Nhóm tuổi khởi phát bệnh của bệnh nhân mày đay mạn tính
Nhận xét: trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh nhân đến khám bệnh
MĐMT có tuổi khởi phát bệnh từ 20- tuổi đến 40- tuổi, chiếm tỉ lệ là 73,33%.
Nhóm bệnh nhân MĐMT có tuổi khởi phát bệnh ≤ 20 tuổi và ≥ 50 tuổi chiếm tỉ lệ thấp hơn, lần lượt là 10% và 16,67%.
3.1.2.3 Thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu a) Thời gian mắc bệnh trung bình của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm về thời gian mắc bệnh trung bình của bệnh nhân MĐMT thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.6: Thời gian mắc bệnh của bệnh nhân mày đay mạn tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân mắc bệnh MĐMT có thời gian mắc bệnh trung vị là 8 tháng, với khoảng tứ phân vị từ 2 đến 21 tháng Thời gian mắc bệnh ngắn nhất ghi nhận là 2 tháng, trong khi thời gian dài nhất lên tới 10 năm.
Tần số và phân nhóm thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu được thể hiện rõ qua biểu đồ dưới đây, cho thấy đặc điểm về thời gian mắc bệnh của bệnh nhân MĐMT.
Biểu đồ 3.7: Phân bố nhóm thời gian mắc bệnh mày đay mạn tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 51,67% bệnh nhân mắc bệnh MĐMT có thời gian mắc bệnh dưới 12 tháng Nhóm bệnh nhân có thời gian mắc bệnh từ 12 đến 36 tháng chiếm 30%, trong khi nhóm bệnh nhân mắc bệnh trên 36 tháng có tỉ lệ thấp nhất, chỉ chiếm 18,33%.
3.1.2.4 Độ nặng bệnh mày đay mạn tính của đối tượng nghiên cứu Độ nặng bệnh MĐMT dựa vào điểm UAS7 thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.8: Độ nặng của bệnh nhân mày đay mạn tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, điểm độ nặng bệnh MĐMT được xác định dựa trên điểm UAS7 trung bình là 13,75 ± 9,32 điểm, với giá trị nhỏ nhất là 0 và lớn nhất là 35 Kết quả cho thấy 68,33% bệnh nhân MĐMT có mức độ bệnh nhẹ, 16,67% có mức độ bệnh trung bình, và 15% có mức độ bệnh nặng.
Kiểm soát – Nhẹ Trung bình Nặng
3.1.2.5 Tiền căn gia đình mắc bệnh mày đay của đối tượng nghiên cứu
Tiền căn gia đình mắc bệnh mày đay của bệnh nhân MĐMT thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.9: Tiền căn gia đình mắc bệnh mày đay
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 25% bệnh nhân mắc bệnh MĐMT có tiền căn gia đình bị mày đay, trong khi 75% bệnh nhân không có tiền sử gia đình mắc bệnh này.
Tỉ lệ mắc hội chứng chuyển hóa của đối tượng nghiên cứu
3.2.1 Tỉ lệ bệnh nhân mày đay mạn tính mắc hội chứng chuyển hóa
Tỉ lệ bệnh nhân MĐMT mắc HCCH thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.10: Tỉ lệ bệnh nhân mày đay mạn tính mắc hội chứng chuyển hóa
Nhận xét: trong nhóm bệnh nhân MĐMT có 28,33% bệnh nhân mắc HCCH và
71,67% bệnh nhân không mắc HCCH.
3.2.2 Tỉ lệ nhóm chứng mắc hội chứng chuyển hóa
Tỉ lệ nhóm chứng mắc HCCH thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.11: Tỉ lệ nhóm đối chứng mắc hội chứng chuyển hóa
Nhận xét: trong nhóm đối chứng có 11,67% người tham gia mắc HCCH và 88,33% người tham gia không mắc HCCH.
3.2.3 So sánh tỉ lệ mắc hội chứng chuyển hóa giữa nhóm bệnh nhân mày đay mạn tính và nhóm chứng
So sánh tỉ lệ bệnh nhân MĐMT mắc HCCH và tỉ lệ nhóm chứng mắc HCCH thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.12 cho thấy sự so sánh tỉ lệ hội chứng chuyển hóa giữa nhóm bệnh nhân mày đay mạn tính và nhóm chứng Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân MĐMT có tỉ lệ hội chứng chuyển hóa đáng kể.
HCCH cao hơn 28,33% so với nhóm chứng 11,67%, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Bệnh nhân mắc bệnh MĐMT có nguy cơ mắc HCCH cao gấp 2,99 lần so với nhóm chứng, với khoảng tin cậy 95% từ 1,05 đến 9,28 và giá trị p = 0,023, cho thấy mối liên quan đáng kể giữa hai yếu tố này.
(*)Tiêu chuẩn chẩn đoánHCCH theo NCEP/ATP III
Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và nồng độ hsCRP với bệnh mày đay mạn tính
3.3.1 Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa với bệnh mày đay mạn tính
Mối liên quan giữa HCCH với bệnh mày đay mạn tính thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 3.2: Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa với bệnh mày đay mạn tính Đặc điểm Nhóm MĐMT n = 60
Vòng eo (cm) 81,28 ± 10,10 77,88 ± 8,14 0,045 * BMI (kg/m 2 ) 22,74 ± 3,20 21,28 ± 2,26 0,005 * Béo phì trung tâm 26 (43,33%) 14 (23,33%) 0,020 ** Glucose (mmol/L) 4,68 (4,41 – 5,23) 4,54 (4,29 – 4,87) 0,046 *** Triglycerides (mmol/L) 1,70 (1,16 – 2,54) 1,19 (0,94 – 1,49) 0,002 *** HDL-C (mmol/L) 1,24 (1,09 – 1,45) 1,35 (1,15 – 1,55) 0,041 *** LDL-C (mmol/L) 3,33 ± 0,90 3,14 ± 0,98 0,264 *
** phép kiểm Chi bình phương
Nhận xét: bệnh nhân MĐMT có nồng độ glucose máu, triglycerides máu,
Bệnh nhân MĐMT có chỉ số HATT, HATTr, BMI và vòng eo, cùng với tỉ lệ béo phì trung tâm cao hơn so với nhóm chứng, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Ngoài ra, nồng độ HDL-C trong máu của bệnh nhân MĐMT cũng thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng.
3.3.2 Mối liên quan giữa nồng độ hsCRP với bệnh mày đay mạn tính
- Mối liên quan giữa mức tăng nồng độ hsCRP với bệnh mày đay mạn tính thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 3.3: Mối liên quan giữa nồng độ hsCRP với bệnh mày đay mạn tính
Mức tăng nồng độ hsCRP
* phép kiểm Chi bình phương
Nhận xét: nhóm bệnh MĐMT có tỉ lệ tăng nồng độ hsCRP ở mức cao và trung bình lớn hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê.
- Mối liên quan giữa mức tăng nồng độ hsCRP với độ nặng của bệnh mày đay mạn tính thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 3.4: Mối liên quan giữa nồng độ hsCRP với độ nặng của bệnh mày đay mạn tính Độ nặng bệnh MĐMT
Mức tăng nồng độ hsCRP, n (%)
* phép kiểm Chi bình phương
Bệnh nhân mắc bệnh MĐMT ở mức độ nặng có nồng độ hsCRP tăng cao hơn so với bệnh nhân ở mức độ trung bình và nhẹ Đồng thời, bệnh nhân MĐMT mức độ trung bình cũng cho thấy nồng độ hsCRP cao hơn so với bệnh nhân ở mức độ nhẹ.