1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính

131 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Tác giả Lê Mai Vân Anh
Người hướng dẫn PGS. TS. BS. Nguyễn Tất Thắng
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nội Khoa (Da Liễu)
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH MỀ ĐAY (15)
    • 1.2 HORMON TUYẾN GIÁP, HORMONE KÍCH THÍCH TUYẾN GIÁP TSH VÀ KHÁNG THỂ KHÁNG THYROID PEROXIDASE (36)
    • 1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƢỢC THỰC HIỆN (47)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (51)
    • 2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU (51)
    • 2.2 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU (51)
    • 2.3 TIÊU CHUẨN CHỌN MẪU (51)
    • 2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (53)
    • 2.5 KỸ THUẬT ĐỊNH LƢỢNG (55)
    • 2.6 BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU (57)
    • 2.7 VẤN ĐỀ Y ĐỨC (59)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (60)
    • 3.1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN MĐMT (60)
    • 3.3 MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ HORMONE FT4, TSH VÀ KHÁNG THỂ KHÁNG THYROID PEROXIDASE VỚI CÁC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG (75)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (90)
    • 4.1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN MĐMT (90)
    • 4.2. TỶ LỆ BỆNH NHÂN CÓ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TUYẾN GIÁP VÀ NỒNG ĐỘ HORMONE TUYẾN GIÁP, KHÁNG THỂ KHÁNG THYROID (99)
    • 4.3 MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ HORMONE FT4, TSH, KHÁNG THỂ KHÁNG THYROID PEROXIDASE VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN MỀ ĐAY MẠN TÍNH (102)
    • 4.4 BÀN LUẬN VỀ GIỚI HẠN CỦA NGHIÊN CỨU (107)
  • KẾT LUẬN (108)
  • PHỤ LỤC (123)

Nội dung

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮTTÊN VIẾT TẮT TÊN TIẾNG ANH TÊN TIẾNG VIỆT AAS Angioedema Activity Score Thang điểm đánh giá mức độ hoạt động phù mạch ACEI Angiotensin Converting Enzyme Inhibitor

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca.

ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

Tất cả bệnh nhân MĐMT trên 18 tuổi.

Tất cả bệnh nhân MĐMT trên 18 tuổi đến khám và điều trị tại bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 11/2020 – tháng 11/2021.

TIÊU CHUẨN CHỌN MẪU

Chúng tôi chọn các bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian lấy mẫu để đƣa vào nghiên cứu.

Chọn mẫu thuận tiện, liên tục.

- Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên.

- Bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh đƣợc chẩn đoán MĐMT dựa vào lâm sàng.

- Bệnh nhân MĐMT chƣa đƣợc xét nghiệm kiểm tra chức năng tuyến giáp (FT4, TSH), kháng thể kháng thyroid peroxidase hay kháng thể kháng thyroglobulin.

- Đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

- Bệnh nhân đang mắc các bệnh lý tự miễn tuyến giáp (viêm tuyến giáp Hashimoto, bệnh Graves) hay đang dùng thuốc corticoid, thuốc ức chế miễn dịch trong vòng 1 tháng gầy đây, ảnh hưởng đến nồng độ kháng thể TPO, rối loạn chức năng tuyến giáp (suy giáp, cường giáp) có thay đổi nồng độ FT4, TSH.

- Bệnh nhân đang mắc các bệnh lý nhiễm trùng cấp và mạn tính, suy giảm miễn dịch bẩm sinh và mắc phải, bệnh lý ác tính, đƣợc xác định qua hỏi bệnh.

- Bệnh nhân không đồng ý hoặc không hợp tác tham gia nghiên cứu.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Công cụ thu thập số liệu

- Bảng thu thập số liệu (phụ lục 1).

- Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu (phụ lục 2).

- Phiếu chỉ định xét nghiệm nồng độ FT4, TSH và TPO-Ab.

- Xét nghiệm đƣợc thực hiện tại trung tâm y khoa Medic Hòa Hảo.

- Ống tiêm vô trùng dung tích 5ml và ống đựng máu có chất chống đông heparin.

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

Mẫu nghiên cứu đƣợc thu thập từ khoa khám bệnh ngoại trú bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh.

- Bệnh nhân vào viện đƣợc chẩn đoán MĐMT sẽ đƣợc giải thích về mục tiêu,cách thức tiến hành nghiên cứu Nếu đồng ý tham gia, bệnh nhân sẽ kí tên vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Bệnh nhân đƣợc hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng, nếu thoả các tiêu chuẩn chọn mẫu sẽ đƣợc tiến hành thu thập và ghi nhận thông tin vào bảng thu thập số liệu: o Hỏi bệnh sử: thời gian khởi phát bệnh, hình dạng/kích thước/phân bố của sang thương lúc khởi phát, phù mạch đi kèm, các triệu chứng liên quan (đau khớp, sốt, ), các yếu tố khởi phát (yếu tố vật lý, thuốc, thức ăn, nhiễm trùng, căng thẳng), tiền sử dị ứng, bệnh lý dạ dày – ruột, bệnh tự miễn và tiền sử gia đình liên quan, điều trị và đáp ứng điều trị (liều lƣợng và thời gian dùng thuốc). o Khám da: vị trí và đặc điểm sang thương hiện tại .

- Mẫu máu của bệnh nhân đƣợc thu thập để làm xét nghiệm đo nồng độ FT4, TSH và TPO-Ab Máu đƣợc lấy trong ống tiêm 5ml, cho vào ống đựng máu chứa chất chống đông heparin, bảo quản ở 2-8 o C Số ống máu thu thập đƣợc trong 1 buổi sẽ đƣợc mang sang Trung tâm y khoa Medic Hòa Hảo Trong quá trình vận chuyển (khoảng 30 phút), các ống máu đƣợc giữ lạnh trong thùng đá Các ống máu sau đó đƣợc xử lý và phân tích trong vòng 24 giờ sau thu thập.

2.4.3 Nhập và xử lí số liệu

- Số liệu thu thập đƣợc nhập và quản lí bằng phần mềm EpiData 3.1

- Phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê Stata 14.0

- Các biến số định tính được trình bày dưới dạng tần số và tỷ lệ phần trăm.

- Các biến số định lượng được trình bày dưới dạng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn nếu là phân phối chuẩn và dạng trung vị, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất nếu không phải phân phối chuẩn.

- Dùng phép kiểm Chi bình phương để kiểm định mối liên quan giữa hai hay nhiều biến định tính.

- Dùng phép kiểm t-test (nếu là phân phối chuẩn) và phép kiểm Mann- Whitney U (nếu không phải phân phối chuẩn) để so sánh 2 số trung bình. Phép kiểm ANOVA để so sánh từ 3 số trung bình trở lên.

- Dùng phép kiểm tương quan Spearman (Spearman rank correlation test) để tìm mối tương quan.

Sự khác biệt đƣợc xem có ý nghĩa thống kê khi p < 0.05 với độ tin cậy 95%.Trình bày báo cáo bằng phần mềm Microsoft Word 2010.

KỸ THUẬT ĐỊNH LƢỢNG

2.5.1 Kỹ thuật định lƣợng FT4 huyết thanh

Hiện có nhiều phương pháp dùng để ước tính nồng độ của nội tiết tố tuyến giáp tự do Phương pháp đo trực tiếp T4 và T3 tự do bằng thẩm tách cân bằng hoặc siêu lọc chủ yếu được sử dụng như phương pháp tham chiếu để chuẩn hóa các quy trình xét nghiệm miễn dịch thông thường sử dụng cho mục đích chẩn đoán thường quy Trong xét nghiệm Elecsys FT4 III một kháng thể đặc hiệu kháng T4 đánh dấu phức hợp rutheniuma đƣợc sử dụng để định lƣợng thyroxine tự do (mã số xét nghiệm 1610, công ty Roche)

Nguyên lý xét nghiệm: nguyên lý cạnh tranh, tổng thời gian xét nghiệm là

▪ Thời kỳ ủ đầu tiờn: 15 àL mẫu thử và khỏng thể đặc hiệu khỏng T4 đỏnh dấu phức hợp ruthenium.

▪ Thời kỳ ủ thứ hai: Sau khi thêm T4 đánh dấu biotin và các vi hạt phủ streptavidin, các vị trí chƣa gắn kết trên kháng thể đánh dấu bị chiếm giữ, hình thành phức hợp kháng thể‑hapten Toàn bộ phức hợp trở nên gắn kết với pha rắn thông qua sự tương tác giữa biotin và streptavidin.

▪ Hỗn hợp phản ứng đƣợc chuyển tới buồng đo, ở đó các vi hạt đối từ đƣợc bắt giữ trên bề mặt của điện cực Những thành phần không gắn kết sẽ bị thải ra ngoài buồng đo bởi dung dịch ProCell/ProCell M Cho điện áp vào điện cực sẽ tạo nên sự phát quang hóa học đƣợc đo bằng bộ khuếch đại quang tử.

▪ Các kết quả được xác định thông qua một đường chuẩn xét nghiệm trên máy được tạo nên bởi xét nghiệm 2‑điểm chuẩn và thông tin đường chuẩn chính qua mã vạch trên hộp thuốc thử hoặc mã vạch điện tử.

2.5.2 Kỹ thuật định lƣợng TSH huyết thanh

Xét nghiệm Elecsys TSH sử dụng kháng thể đơn dòng đặc hiệu kháng trực tiếp TSH người Kháng thể đánh dấu phức hợp rutheniuma bao gồm một cấu trúc khảm từ các thành phần chuyên biệt của người và chuột Kết quả là, các hiệu ứng nhiễu do HAMA (human anti-mouse antibodies - kháng thể kháng chuột ở người) đã đƣợc loại trừ đáng kể (mã số xét nghiệm 010, công ty Roche)

Nguyên lý xét nghiệm: nguyên lý bắt cặp, tổng thời gian xét nghiệm:

▪ Thời kỳ ủ đầu tiờn: 50 àL mẫu thử, khỏng thể đơn dũng đặc hiệu khỏng TSH đỏnh dấu biotin và kháng thể đơn dòng đặc hiệu kháng TSH đánh dấu phức hợp ruthenium phản ứng với nhau tạo thành phức hợp bắt cặp.

▪ Thời kỳ ủ thứ hai: Sau khi thêm các vi hạt phủ streptavidin, phức hợp miễn dịch trên trở nên gắn kết với pha rắn thông qua sự tương tác giữa biotin và streptavidin.

▪ Hỗn hợp phản ứng đƣợc chuyển tới buồng đo, ở đó các vi hạt đối từ đƣợc bắt giữ trên bề mặt của điện cực Những thành phần không gắn kết sẽ bị thải ra ngoài buồng đo bởi dung dịch ProCell/ProCell M Cho điện áp vào điện cực sẽ tạo nên sự phát quang hóa học đƣợc đo bằng bộ khuếch đại quang tử.

▪ Các kết quả được xác định thông qua một đường chuẩn xét nghiệm trên máy được tạo nên bởi xét nghiệm 2‑điểm chuẩn và thông tin đường chuẩn chính qua mã vạch trên hộp thuốc thử hoặc mã vạch điện tử.

2.5.3 Kỹ thuật định lƣợng TPO-Ab huyết thanh

Kháng nguyên tái tổ hợp và kháng thể đa dòng kháng TPO đƣợc sử dụng trong xét nghiệm Elecsys Anti‑TPO (mã số xét nghiệm 720, công ty Roche).

Nguyên lý xét nghiệm: nguyên lý cạnh tranh, tổng thời gian xét nghiệm: 18 phút.

▪ Thời kỳ ủ đầu tiờn: 20 àL mẫu thử đƣợc ủ với Anti TPO - Ab đỏnh dấu phức hợp rutheniuma).

▪ Thời kỳ ủ thứ hai: Sau khi thêm TPO đánh dấu biotin và các vi hạt phủ streptavidin, Anti TPO - Ab trong mẫu cạnh tranh với Anti TPO - Ab đánh dấu phức hợp ruthenium về vị trí gắn kết trên kháng nguyên TPO đánh dấu biotin Toàn bộ phức hợp trở nên gắn kết với pha rắn thông qua sự tương tác giữa biotin và streptavidin.

▪ Hỗn hợp phản ứng đƣợc chuyển tới buồng đo, ở đó các vi hạt đối từ đƣợc bắt giữ trên bề mặt của điện cực Những thành phần không gắn kết sẽ bị thải ra ngoài buồng đo bởi dung dịch ProCell/ProCell M Cho điện áp vào điện cực sẽ tạo nên sự phát quang hóa học đƣợc đo bằng bộ khuếch đại quang tử.

▪ Các kết quả được xác định thông qua một đường chuẩn xét nghiệm trên máy được tạo nên bởi xét nghiệm 2 điểm chuẩn và thông tin đường chuẩn chính qua mã vạch trên hộp thuốc thử hoặc mã vạch điện tử.

BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU

 Triệu chứng lâm sàng giúp xác định MĐMT (gồm sẩn phù, ngứa, xuất hiện ở bất kì vị trí của cơ thể, biến mất trong vòng 24 giờ không để lại dấu vết). Biến định tính (gồm 2 giá trị: có, không).

 Nồng độ FT4 huyết thanh

Biến định lƣợng, đơn vị ng/dL.

Giá trị bình thường: 0,71 – 1,85 ng/dL.

Giá trị bất thường: giảm khi nhỏ hơn 0,71 ng/dL, tăng khi lớn hơn 1,85 ng/dL.

 Nồng độ TSH huyết thanh

Biến định lƣợng, đơn vị àIU/mL.

Giỏ trị bỡnh thường: 0,32 – 5 àIU/mL.

Giỏ trị bất thường: giảm khi nhỏ hơn 0,32 àIU/mL, tăng khi lớn hơn 5 àIU/mL.

 Nồng độ TPO-Ab huyết thanh

Biến định lƣợng, đơn vị IU/mL.

Giá trị âm tính: < 34 IU/mL

Giá trị dương tính khi > 34 IU/mL

 Mức độ hoạt động mề đay theo thang điểm UAS7

Biến thứ tự (gồm 5 giá trị: không hoạt động, có kiểm soát, nhẹ, trung bình, nặng).

 Mức độ kiểm soát mề đay theo thang điểm UCT

Biến nhị giá (gồm 2 giá trị: kiểm soát tốt và không kiểm soát).

Biến định lƣợng, không liên tục, độc lập.

Tuổi = năm khảo sát – năm sinh bệnh nhân (đơn vị: năm).

Biến nhị giá (gồm 2 giá trị: nam, nữ).

Biến danh định (gồm 4 giá trị: học sinh – sinh viên, nhân viên văn phòng, lao động chân tay và nghề khác).

Biến danh định (gồm 3 giá trị: từ 6 tuần đến dưới 12 tháng, từ 12 tháng đến dưới 24 tháng, trên 24 tháng)

Thời gian mắc bệnh: thời gian từ lúc mắc bệnh đến lúc khám.

Biến định tính (gồm 2 giá trị: có, không).

 Vị trí sang thương khởi phát

Biến danh định (gồm 5 giá trị: đầu mặt cổ, thân mình, tay, chân, sinh dục).

Biến danh định (gồm 3 giá trị: thể MĐMTTP, thể MĐMT có yếu tố khởi phát, thể kết hợp).

Thể kết hợp đƣợc định nghĩa: bệnh nhân MĐMT nổi sẩn phù kèm ngứa bất kì thời điểm nào trong ngày, không phụ thuộc các yếu tố khởi phát kèm nghiệm pháp vẽ nổi dương tính).

Biến danh định (gồm 8 giá trị: viêm da cơ địa, viêm mũi dị ứng, dị ứng thức ăn, dị ứng thuốc, nhiễm trùng, lupus, đái tháo đường phụ thuộc insulin, bệnh nội khoa khác).

 Tiền căn dùng thuốc toàn thân trong vòng 1 tháng qua (corticosteroids, ức chế miễn dịch, kháng giáp tổng hợp)

Biến nhị giá (gồm 2 giá trị: có, không).

VẤN ĐỀ Y ĐỨC

- Bệnh nhân đƣợc giải thích rõ ràng và chỉ tiến hành nghiên cứu khi có sự đồng ý của bệnh nhân Bệnh nhân đƣợc nghiên cứu viên giải thích rõ ràng về tình trạng bệnh, phương pháp điều trị, khả năng tái phát và cách phòng ngừa.

- Nghiên cứu này không gây ảnh hưởng về thể chất, tinh thần cho bệnh nhân, không gây tốn kém và phiền hà cho bệnh nhân.

- Các thông tin của bệnh nhân đƣợc bảo mật hoàn toàn và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học.

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu bệnh nhân MĐMT

Học sinh - sinh viênNhân viên văn phòngLao động chân tayKhác

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN MĐMT

3.1.1 Giới tính, tuổi và BMI của bệnh nhân MĐMT

Bảng 3.1 Đặc điểm về giới tính, tuổi và BMI của bệnh nhân MĐMT Đặc điểm N = 61

21,9 (2,47) 17 29,4 (*) Biến số phân phối chuẩn, trình bày dưới dạng trung bình, độ lệch chuẩn (**) Biến số phân phối lệch, trình bày dưới dạng trung vị, khoảng tứ phân vị

Trong số 61 bệnh nhân MĐMT, có 41 bệnh nhân nữ (67,2%) và 20 bệnh nhân nam (32,8%) Tỷ lệ nữ : nam trong mẫu nghiên cứu xấp xỉ 1,8 : 1.

Tuổi trung bình của bệnh nhân MĐMT là 32 tuổi, với bệnh nhân nhỏ nhất là

18 tuổi và lớn nhất là 65 tuổi.

BMI trung bình của bệnh nhân MĐMT là 21,9 kg/m 2 , dao động từ 17 – 29,4 kg/m 2

3.1.2 Nghề nghiệp của bệnh nhân MĐMT

Nhận xét: Đa số nghề nghiệp của bệnh nhân MĐMT ở nhóm nghề nghiệp khác nhƣ buôn bán, nội trợ, tự do, kỹ sƣ với tỷ lệ 52,4%.

Các nghề nghiệp còn lại chiếm tỷ lệ thấp hơn bao gồm theo thứ tự là nhân viên văn phòng (19,7%), học sinh – sinh viên (14,8%) và lao động chân tay (13,1%).

3.1.3 Tiền căn có bệnh lý đồng mắc, tiền căn dùng thuốc liên quan đến bệnh và tiền căn gia đình của bệnh nhân MĐMT

Bảng 3.2 Tiền căn bệnh lý đồng mắc và tiền căn gia đình của bệnh nhân

Tiền căn có bệnh đồng mắc ở bệnh nhân MĐMT

Tiền căn gia đình mắc bệnh MĐMT

Tiền căn dùng thuốc trong 1 tháng nay

Corticosteroids Thuốc kháng giáp tổng hợp Thuốc ức chế miễn dịch Thuốc khác Không dùng thuốc

Gần một nửa số bệnh nhân MĐMT không mắc thêm các bệnh lý khác(44,3%). Đa số bệnh nhân MĐMT không có tiền căn gia đình mắc bệnh MĐMT, chiếm tỷ lệ 70,5%.

Hầu hết bệnh nhân không có tiền căn dùng các thuốc liên quan đến bệnh (93,4%) Tỷ lệ bệnh nhân dùng các thuốc không rõ tên và nguồn gốc chiếm 6,6% (Tất cả các thuốc này đã được bệnh nhân ngưng trong 1 tháng gần đây, trước khi nhóm nghiên cứu khảo sát).

Trong 34/61 số bệnh nhân có tiền căn các bệnh lý đồng mắc đi kèm, nhóm nghiên cứu cũng tiến hành thu thập dữ liệu chi tiết về các bệnh lý này Kết quả đƣợc trình bày trong biểu đồ dưới đây.

Biểu đồ 3.2 Tiền căn bệnh đồng mắc ở bệnh nhân MĐMT (%) Nhận xét:

Nhóm bệnh lý dị ứng chiếm tỷ lệ cao nhƣ viêm da cơ địa (17,7%), viêm mũi dị ứng (23,5%), dị ứng thức ăn (32,4%) và dị ứng thuốc (2,9%).

Nhóm bệnh lý tự miễn dịch như lupus và đái tháo đường phụ thuộc insulin đều ghi nhận với tỷ lệ 2,9% Không ghi nhận bệnh nhân mắc bệnh lý tuyến giáp tự miễn hay bạch biến trước đó.

Nhiễm trùng gặp ở 8,8% bệnh nhân MĐMT.

Viêm da cơ địa Viêm mũi dị ứng Nhiễm trùng Lupus Đái tháo đường phụ thuộc insulin

Dị ứng thuốc Bệnh nội khoa khác

Còn lại bệnh nội khoa khác chiếm tỷ lệ 32,4%.

3.1.4 Thời gian mắc bệnh của bệnh nhân MĐMT

Bảng 3.3 Thời gian mắc bệnh ở bệnh nhân MĐMT Thời gian mắc bệnh, n (%) N = 61

Hơn nửa số bệnh nhân MĐMT có thời gian mắc bệnh từ 6 tuần đến dưới 12 tháng, chiếm tỷ lệ 55,7% Ngược lại thời gian mắc bệnh từ 12 tháng đến dưới 24 tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất là 14,8%.

3.1.5 Phân nhóm bệnh và phù mạch đi kèm của bệnh nhân MĐMT

Bảng 3.4 Phân nhóm bệnh và phù mạch đi kèm của bệnh nhân MĐMT Đặc điểm, n (%) N = 61

MĐMTTP MĐMT có yếu tố khởi phát

Thể bệnh MĐMTTP chiếm ƣu thể với tỷ lệ 75,4%.

29,5% bệnh nhân MĐMT có phù mạch đi kèm với các dấu hiệu đặc trƣng của MĐMT (sẩn phù, ngứa, biến mất trong vòng 24 giờ).

3.1.6 Yếu tố thúc đẩy biểu hiện bệnh MĐMT

Bảng 3.5 Yếu tố thúc đẩy tăng biểu hiện bệnh MĐMT Yếu tố thúc đẩy tăng biểu hiện bệnh, n (%) N = 61

Nhận xét: Đa số bệnh nhân MĐMT có yếu tố thúc đẩy làm bùng phát bệnh hoặc làm tăng biểu hiện bệnh với tỷ lệ 80,3%.

Biểu đồ 3.3 Yếu tố thúc đẩy tăng biểu hiện bệnh MĐMT (%) Nhận xét:

Trong số bệnh nhân MĐMT có yếu tố thúc đẩy, thường gặp là:

 Cọ xát do mặc quần áo là yếu tố bùng phát hoặc tăng biểu hiện bệnh MĐMT nhiều nhất (59,2%) Ngoài ra, thay đổi nhiệt độ từ môi trường cũng ảnh hưởng đến 40,8% bệnh nhân MĐMT.

Thay đổi nhiệt độ môi trường

Cọ xát do mặc quần áo

Da vẽ nổi Thức ăn Khác

 Da vẽ nổi là phân nhóm thường gặp trong nhóm bệnh nhân MĐMT có yếu tố khởi phát, chiếm tỷ lệ 22,5%.

 Thức ăn và các yếu tố khác có tỷ lệ thấp nhất, lần lƣợt là 12,2% và 4,1%.

3.1.7 Vị trí khởi phát sang thương ở bệnh MĐMT

Biểu đồ 3.4 Vị trí khởi phát sang thương ở bệnh MĐMT (%) Nhận xét:

Bệnh nhân MĐMT có thể khởi phát sang thương tại một hoặc nhiều vị trí cùng lúc, trong đó:

 Tay là vị trí khởi phát sang thương thường gặp nhất ở bệnh nhân MĐMT đƣợc khảo sát với tỷ lệ 46%.

 Kế đến là thân mình (41%) và chân (29,5%) Vùng đầu mặt cổ chiếm tỷ lệ thấp nhất (13,1%).

50 Đầu mặt cổ Thân mình Tay Chân

3.1.8 Phương pháp điều trị và theo dõi đáp ứng điều trị ở bệnh nhân MĐMT Bảng 3.6 Phương pháp điều trị trong 1 năm nay ở bệnh nhân MĐMT Đặc điểm, n (%) N = 61

Phương pháp điều trị trong 1 năm nay

Tự điều trị ngoài bệnh viện Theo toa bệnh viện

Tỷ lệ bệnh nhân tự điều trị ngoài bệnh viện (52,5%) cao hơn nhƣng không chênh lệch nhiều so với bệnh nhân điều trị theo toa bệnh viện (47,5%).

Biểu đồ 3.5 Phương pháp điều trị trước đây và hiện tại ở bệnh nhân MĐMT

Thuốc kháng histamin H1 Thuốc kháng histamin H1 phối hợp thuốc khác

1.6 Điều trị trước đây Điều trị hiện tại

68,9% bệnh nhân MĐMT có điều trị trong 1 năm gần đây bằng thuốc kháng histamine H1 (bao gồm thế hệ 1 và/hoặc thế hệ 2) Ngoài ra, 6,6% bệnh nhân phải phối hợp thêm thuốc khác nhƣ corticosteroids, thuốc đông y hoặc các thuốc khác.

100% bệnh nhân MĐMT đƣợc điều trị tiếp tục bằng thuốc kháng histamine H1 1,6% bệnh nhân đƣợc điều trị phối hợp thuốc kháng histamine H1 cùng thuốc khác (corticosteroids).

3.1.9 Mức độ hoạt động của bệnh MĐMT dựa theo thang điểm UAS7

Trong số 54 bệnh nhân MĐMTTP và MĐMTTP kết hợp MĐMT có yếu tố khởi phát, nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá độ hoạt động của bệnh theo thang điểm UAS7 Kết quả được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 3.7 Tổng điểm độ hoạt động và kiểm soát mề đay ở bệnh nhân MĐMT Điểm UAS7 (*) 17,4 (10,8)

(*) Biến số phân phối chuẩn, trình bày dưới dạng trung bình, độ lệch chuẩn

Nhận xét: Điểm UAS7 trung bình là 17,4 điểm, trong đó điểm nhỏ nhất là 0 điểm và cao nhất là 38 điểm, với khoảng dao động rộng.

Biểu đồ 3.6 Mức độ hoạt động bệnh MĐMT theo thang điểm UAS7 (%) Nhận xét:

Gần 1/3 bệnh nhân MĐMTTP có mức độ hoạt động bệnh nhẹ (32%).

Nhóm bệnh nhân có mức độ hoạt động bệnh trung bình và nặng có tỷ lệ tương đương nhau, lần lượt là 26% và 24% Còn lại là nhóm bệnh nhân kiểm soát bệnh tốt (11%) và bệnh không hoạt động (7%) trong vòng 7 ngày qua ở thời điểm đánh giá.

3.1.10 Mức độ kiểm soát bệnh MĐMT dựa theo thang điểm UCT

Trong số 44/61 bệnh nhân MĐMT có điều trị liên tục và đều đặn trong 1 tháng qua, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát mức độ kiểm soát bệnh theo thang điểm UCT Kết quả được trình bày trong biểu đồ dưới đây.

Biểu đồ 3.7 Mức độ kiểm soát bệnh MĐMT theo thang điểm UCT (%) Nhận xét: Đa số bệnh nhân MĐMT không kiểm soát đƣợc bệnh, chiếm tỷ lệ 81,8%.

3.2 TỶ LỆ BỆNH NHÂN CÓ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TUYẾN GIÁP VÀ NỒNG ĐỘ HORMONE TUYẾN GIÁP, KHÁNG THỂ KHÁNG THYROID PEROXIDASE HUYẾT THANH CỦA BỆNH NHÂN MĐMT

3.2.1 Nồng độ hormone FT4, TSH và kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh ở bệnh nhân MĐMT

Bảng 3.8 Nồng độ hormone FT4, TSH và kháng thể thyroid peroxidase huyết thanh ở bệnh nhân MĐMT Đặc điểm (*) N = 61

Nồng độ FT4 huyết thanh (ng/dL)

Kiểm soát tốt (N=8) Không kiểm soát (N6)

Nồng độ TSH huyết thanh (IU/mL)

Nồng độ Anti TPO - Ab huyết thanh (IU/mL)

5 404,3 (*) Biến số phân phối lệch, trình bày dưới dạng trung vị, khoảng tứ phân vị

Nồng độ FT4 huyết thanh trung bình là 1,3 ng/dL, khoảng dao động từ 0,773 – 6,46 ng/dL.

Nồng độ TSH huyết thanh trung bình là 1,4 IU/mL, nằm trong khoảng 0,005 – 4,05 IU/mL.

Nồng độ Anti TPO – Ab huyết thanh trung bình là 7,9 IU/mL, giá trị dao động từ 5 – 404,3 IU/mL.

3.2.2 Rối loạn chức năng tuyến giáp và kháng thể kháng thyroid peroxidase ở bệnh nhân MĐMT

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ bệnh nhân MĐMT có rối loạn chức năng tuyến giáp và kháng thể kháng thyroid peroxidase dương tính (%)

Nồng độ FT4 (ng/dL)

Nồng độ TSH (àIU/mL)

Nồng độ Anti TPO-Ab (IU/mL)

Nhận xét Đa số bệnh nhân MĐMT có nồng độ hormone FT4 và TSH trong giới hạn bình thường 3,3% bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu có nồng độ FT4 bất thường và 6,6% bệnh nhân có nồng độ TSH nằm ngoài giới hạn bình thường.

Nồng độ Anti TPO - Ab huyết thanh cũng được ghi nhận dương tính ở 8,2% bệnh nhân MĐMT, trong đó nồng độ cao nhất ghi nhận đƣợc là 404,3 IU/mL.

Trong 7 bệnh nhân MĐMT đƣợc ghi nhận có thay đổi nồng độ hormone FT4, TSH và/hoặc Anti TPO - Ab dương tính, nhóm nghiên cứu đã khảo sát sự thay đổi chi tiết của các chỉ số này, kết quả được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 3.9 Chức năng tuyến giáp bất thường và sự hiện diện của kháng thể kháng thyroid peroxidase ở bệnh nhân MĐMT

FT4 TSH Anti TPO – Ab

Tăng Giảm Tăng Giảm Dương tính

Trong số các bệnh nhân có CLS bất thường, ghi nhận:

 2 trong số 7 bệnh nhân có tình trạng cường giáp kèm theo bất thường về kháng thể tự miễn tuyến giáp (FT4 tăng, TSH giảm, Anti TPO – Ab dương tính).

 2 trong số 7 bệnh nhân có cường giáp dưới lâm sàng (giảm TSH đơn thuần).

 3 trong số 7 bệnh nhân có Anti TPO – Ab huyết thanh dương tính đơn thuần.

Tất cả bệnh nhân trên đều không có biểu hiện triệu chứng trên lâm sàng trước và trong thời điểm nhóm nghiên cứu khảo sát.

3.2.3 So sánh mối liên quan giữa các đặc điểm dịch tễ và lâm sàng giữa nhóm bệnh nhân có bất thường tuyến giáp và nhóm bệnh nhân không có bất thường tuyến giáp

Bảng 3.10 So sánh các đặc điểm dịch tễ giữa nhóm bệnh nhân có bất thường tuyến giáp và nhóm bệnh nhân không có bất thường tuyến giáp

Nhóm MĐMT có bất thường tuyến giáp

Nhóm MĐMT không có bất thường tuyến giáp

(*) Phép kiểm định Mann – Whitney (**) Phép kiểm định chi bình phương

Tuổi trung vị ở bệnh nhân MĐMT có bất thường tuyến giáp cao hơn nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có bất thường tuyến giáp.

Cả 2 nhóm bệnh nhân đều có tỷ lệ giới tính nhiều hơn ở nữ, không khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Bảng 3.11 So sánh các đặc điểm lâm sàng giữa nhóm bệnh nhân có bất thường tuyến giáp và nhóm bệnh nhân không có bất thường tuyến giáp

Tỷ lệ (%) Nhóm MĐMT có bất thường tuyến

Nhóm MĐMT không có bất p (*) Đặc điểm giáp (N=7) thường tuyến giáp

Mức độ hoạt động bệnh (UAS7)

Mức độ kiểm soát bệnh (UCT)

(*) Phép kiểm định chi bình phương

Phù mạch: không ghi nhận ở nhóm bệnh nhân có bất thường tuyến giáp Bệnh nhân MĐMT có bất thường tuyến giáp có thời gian mắc bệnh chiếm tỷ lệ nhiều nhất ở nhóm từ 12 tháng – dưới 24 tháng (dài hơn thời gian bệnh ở nhóm bệnh nhân không bất thường tuyến giáp là từ 6 tuần – dưới 12 tháng), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,002.

100% bệnh nhân có bất thường tuyến giáp thuộc phân nhóm MĐMTTP (khác biệt không có ý nghĩa thống kê với nhóm MĐMT không bất thường tuyến giáp).

MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ HORMONE FT4, TSH VÀ KHÁNG THỂ KHÁNG THYROID PEROXIDASE VỚI CÁC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG

3.3.1 Mối liên quan giữa nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và các đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân MĐMT

3.3.1.1 Nồng độ hormone FT4, TSH huyết thanh và các đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân MĐMT

Bảng 3.12 Nồng độ hormone FT4, TSH huyết thanh và các đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân MĐMT Đặc điểm Nồng độ FT4

(ng/dL) p Nồng độ TSH

(*) Phép kiểm định Mann – Whitney (**) Phép kiểm định Kruskal – Wallis

Chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ hormone FT4 và TSH với các đặc điểm dịch tễ nhƣ giới tính và nghề nghiệp của bệnh nhân MĐMT (p > 0,05).

3.3.1.2 Nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và các đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân MĐMT

Bảng 3.13 Nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và các đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân MĐMT Đặc điểm Nồng độ Anti TPO - Ab huyết thanh (IU/mL) p

(*) Phép kiểm định Mann – Whitney (**) Phép kiểm định Kruskal – Wallis

Chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase với các đặc điểm dịch tễ nhƣ giới tính và nghề nghiệp của bệnh nhân MĐMT (p > 0,05).

3.3.2 Mối liên quan giữa nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh với các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân MĐMT

3.3.2.1 Nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase và triệu chứng phù mạch của bệnh nhân MĐMT

Bảng 3.14 Nồng độ hormone FT4, TSH huyết thanh và triệu chứng phù mạch của bệnh nhân MĐMT Phù mạch Nồng độ FT4

(ng/dL) p (*) Nồng độ TSH

(*) Phép kiểm định Mann – Whitney

Chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ hormone FT4 và TSH với triệu chứng phù mạch trên bệnh nhân MĐMT (p > 0,05).

Bảng 3.15 Nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và triệu chứng phù mạch của bệnh nhân MĐMT Phù mạch Nồng độ Anti TPO - Ab (IU/mL) p (*)

(*) Phép kiểm định Mann – Whitney

Bảng 3.16 Đặc điểm phù mạch giữa nhóm bệnh nhân MĐMT có kháng thể kháng thyroid peroxidase âm tính và dương tính p = 0,13 (*) Anti TPO - Ab (-) Anti TPO - Ab (+) N

(*) Phép kiểm định chi bình phương

Chƣa ghi nhận mối liên quan giữa nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase với triệu chứng phù mạch trên bệnh nhân MĐMT (p > 0,05).

Chƣa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê về triệu chứng phù mạch giữa nhóm bệnh nhân có nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase âm tính và dương tính (p > 0,05).

3.3.3.2 Nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và phân nhóm bệnh của bệnh nhân MĐMT

Bảng 3.17 Nồng độ hormone FT4, TSH huyết thanh và phân nhóm bệnh của bệnh nhân MĐMT

Nồng độ FT4 (ng/dL) p (*) Nồng độ TSH

MĐMT có yếu tố khởi phát

(*) Phép kiểm định Kruskal – Wallis

Ghi nhận mối liên quan giữa phân nhóm bệnh ở bệnh nhân MĐMT với nồng độ hormone tuyến giáp FT4 (p < 0,05).

Chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ hormone TSH với phân nhóm bệnh của bệnh nhân MĐMT (p > 0,05).

Bảng 3.18 Nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và phân nhóm bệnh của bệnh nhân MĐMT

Phân nhóm bệnh Nồng độ Anti TPO - Ab (IU/mL) p (*)

MĐMTTP MĐMT có yếu tố khởi phát

(*) Phép kiểm định Kruskal – Wallis

Chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase với phân nhóm bệnh của bệnh nhân MĐMT (p > 0,05).

3.3.3.3 Nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và thời gian mắc bệnh của bệnh nhân MĐMT

Bảng 3.19 Nồng độ hormone FT4, TSH huyết thanh và thời gian mắc bệnh của bệnh nhân MĐMT Thời gian mắc bệnh Nồng độ FT4

Nồng độ TSH (IU/mL) p (*)

12 tháng đến  24 tháng Trên 24 tháng

(*) Phép kiểm định Kruskal – Wallis

Ghi nhận mối liên quan giữa nồng độ hormone TSH với thời gian mắc bệnh của bệnh nhân MĐMT (p < 0,05).

Ngƣợc lại, chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ hormone tuyến giáp FT4 với thời gian mắc bệnh của bệnh nhân MĐMT (p > 0,05).

Bảng 3.20 Nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và thời gian mắc bệnh của bệnh nhân MĐMT Thời gian mắc bệnh Nồng độ Anti TPO - Ab (IU/mL) p (*)

(*) Phép kiểm định Kruskal – Wallis

Chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase với thời gian mắc bệnh của bệnh nhân MĐMT (p > 0,05).

3.3.3.4 Nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và tiền căn bản thân có bệnh lý đồng mắc, tiền căn gia đình và dùng thuốc của bệnh nhân MĐMT

Bảng 3.21 Nồng độ hormone FT4, TSH huyết thanh và tiền căn có bệnh lý đồng mắc , tiền căn gia đình và dùng thuốc của bệnh nhân MĐMT Đặc điểm Nồng độ FT4

Nồng độ TSH (IU/mL) p (*) Bệnh lý đồng mắc

(*) Phép kiểm định Mann – Whitney

Chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ hormone FT4 và TSH với tiền căn có bệnh lý đồng mắc và tiền căn gia đình của bệnh nhân MĐMT (p > 0,05).

Bảng 3.22 Nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và tiền căn bản thân có bệnh lý đồng mắc, tiền căn gia đình và dùng thuốc của bệnh nhân MĐMT Đặc điểm Nồng độ Anti TPO - Ab huyết thanh

(*) Phép kiểm định Mann – Whitney

Chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase với tiền căn có bệnh lý đồng mắc và tiền căn gia đình của bệnh nhân MĐMT (p > 0,05).

3.3.3.5 Nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và độ hoạt động mề đay theo thang điểm UAS7, độ kiểm soát bệnh theo thang điểm UCT của bệnh nhân MĐMT

Biểu đồ 3.9 Nồng độ FT4 huyết thanh và độ hoạt động mề đay theo UAS7 của bệnh nhân MĐMT

(*) Phép kiểm định Kruskal – Wallis

Biểu đồ 3.10 Nồng độ TSH huyết thanh và độ hoạt động mề đay theo UAS7 của bệnh nhân MĐMT

(*) Phép kiểm định Kruskal – Wallis

Biểu đồ 3.11 Nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và độ hoạt động mề đay theo UAS7 của bệnh nhân MĐMT

(*) Phép kiểm định Kruskal – Wallis

Chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ hormone FT4, TSH và kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh với mức độ hoạt động của bệnh nhân MĐMT theo thang điểm UAS7 (p > 0,05).

Ngoài ra chúng tôi đã tiến hành tìm mối liên quan giữa nhóm bệnh nhân có Anti TPO – Ab âm tính và Anti TPO - Ab dương tính với điểm số UAS7.

Bảng 3.23 Kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh âm tính và dương tính của bệnh nhân MĐMT với điểm số UAS7 Điểm UAS7 Anti TPO - Ab âm tính

Anti TPO - Ab dương tính

(*) Phép kiểm định T độc lập với phương sai bằng nhau

Chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nhóm bệnh nhân có kháng thể kháng thyroid peroxidase âm tính và nhóm bệnh nhân có kháng thể kháng thyroid peroxidase dương tính với điểm số UAS7 (p > 0,05).

Biểu đồ 3.12 Nồng độ FT4 và TSH huyết thanh và độ kiểm soát mề đay theo

UCT của bệnh nhân MĐMT

(*) Phép kiểm định Mann – Whitney

Biểu đồ 3.13 Nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và độ kiểm soát mề đay theo UCT của bệnh nhân MĐMT

(*) Phép kiểm định Mann – Whitney

Ghi nhận mối liên quan giữa nồng độ hormone tuyến giáp FT4 với mức độ kiểm soát bệnh của bệnh nhân MĐMT theo thang điểm UCT (p < 0,05).

Chƣa tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ hormone TSH và kháng thể kháng thyroid peroxidase với mức độ kiểm soát bệnh của bệnh nhân MĐMT theo thang điểm UCT (p > 0,05).

3.3.3 Mối tương quan giữa nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase và các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân MĐMT

3.3.3.1 Mối tương quan giữa nồng độ hormone tuyến giáp FT4 và kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh của bệnh nhân MĐMT

Biểu đồ 3.14 Mối tương quan giữa nồng độ Anti TPO - Ab và nồng độ FT4 huyết thanh của bệnh nhân MĐMT(Tương quan Spearman, r = Spearman’s rho)

Không tìm thấy mối tương quan giữa nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase với nồng độ hormone FT4 huyết thanh của bệnh nhân MĐMT (p = 0,62

; hệ số tương quan Spearman).

3.3.3.2 Mối tương quan giữa nồng độ hormone TSH và kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh của bệnh nhân MĐMT

Biểu đồ 3.15 Mối tương quan giữa nồng độ Anti TPO - Ab và nồng độ TSH huyết thanh của bệnh nhân MĐMT (Tương quan Spearman, r = Spearman’s rho) Nhận xét:

Không tìm thấy mối tương quan giữa nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh với nồng độ hormone TSH huyết thanh của bệnh nhânMĐMT (p = 0,88 ; hệ số tương quan Spearman).

3.3.3.3 Mối tương quan giữa nồng độ hormone FT4 và TSH huyết thanh của bệnh nhân MĐMT

Biểu đồ 3.16 Mối tương quan giữa nồng độ FT4 và nồng độ TSH huyết thanh của bệnh nhân MĐMT (Tương quan Spearman, r = Spearman’s rho) Nhận xét:

Không tìm thấy mối tương quan giữa nồng độ hormone FT4 với nồng độ hormone TSH huyết thanh của bệnh nhân MĐMT (p = 0,23 ; hệ số tương quan Spearman).

3.3.3.4 Mối tương quan giữa nồng độ hormone FT4, TSH và kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh với các đặc điểm lâm sàng khác của bệnh nhân MĐMT

BÀN LUẬN

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN MĐMT

4.1.1 Đặc điểm giới tính và tuổi của bệnh nhân MĐMT

Mẫu nghiên cứu của chúng tôi gồm 61 bệnh nhân MĐMT với tuổi trung vị là 32 tuổi với khoảng dao động rộng từ 18 đến 65 tuổi Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với một số nghiên cứu về MĐMT được thực hiện những năm gần đây Theo tác giả Phạm Trường An và cộng sự (2020), tuổi trung vị của 40 bệnh nhân MĐMT là 32 (26,3 – 39,8) tuổi [1].Trên thế giới, tác giả Mariyath và cộng sự (2017) ghi nhận tuổi trung bình của 100 bệnh nhân MĐMT là 35,3 tuổi

[56], trong khi nghiên cứu của Kasumagic – Halilovic và cộng sự (2017) cũng ghi nhận trong 70 bệnh nhân MĐMT có tuổi trung bình là 40,39 tuổi, dao động từ 17 –

Trong số 61 bệnh nhân MĐMT, nữ giới chiếm 67,2% và nam giới chiếm 32,8% Nhiều nghiên cứu về MĐMT tại Việt Nam và trên thế giới cũng cho thấy số lƣợng bệnh nhân nữ mắc MĐMT chiếm ƣu thế hơn so với nam giới Kết quả đƣợc trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 4.1 So sánh đặc điểm về giới tính của các nghiên cứu liên quan

Tác giả Cỡ mẫu Đặc điểm giới tính, n (%) Chúng tôi (2021)

Kasumagic - Halilovic và cộng sự

Phạm Trường An và cộng sự

Nữ 23 (57,5%) Nhiều phụ nữ được chẩn đoán mắc MĐMT hơn nam giới, tương tự như các quan sát trong các nghiên cứu khác, có thể phản ánh sự phân bố MĐMT phụ thuộc vào giới tính [23] Mặc dù sinh bệnh học của MĐMT đã đƣợc làm rõ hơn nhƣng lý do khiến nữ giới mắc bệnh MĐMT nhiều hơn nam giới vẫn chƣa rõ ràng Lý giải hợp lý nhất để giải thích tình trạng này là liên quan đến nhiễm sắc thể giới tính, dẫn đến nữ giới có tỷ lệ lưu hành các bệnh tự miễn dịch cao hơn Ngoài ra, đã có một số báo cáo về vai trò của số lƣợng gen trên nhiễm sắc thể X thông qua việc bất hoạt hoặc nhân đôi trong cơ chế tự miễn dịch Tổng hợp lại, những thay đổi về nhiễm sắc thể giới tính có thể tạo thành đặc điểm chung về tính nhạy cảm với các bệnh tự miễn [34].

4.1.2 Đặc điểm nghề nghiệp của bệnh nhân MĐMT

Bệnh nhân MĐMT trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có ngành nghề khá đa dạng Đa số ở nhóm nghề nghiệp nhƣ buôn bán, nội trợ, tự do, kỹ sƣ với tỷ lệ 52,46% Nhân viên văn phòng chiếm 19,67% Các ngành nghề khác bao gồm học sinh - sinh viên, lao động chân tay có tỷ lệ lần lƣợt là 16,13% và 13,11% Kết quả này không tương đồng với nghiên cứu của tác giả Phạm Đình Lâm và cộng sự

(2016), với nhóm nghề kinh doanh và nhân viên văn phòng chiếm tỷ lệ cao nhất (25,4% và 20,9%) và nhiều ngành nghề khác chiếm tỷ lệ thấp hơn [3].

4.1.3 Đặc điểm BMI của bệnh nhân MĐMT Đặc điểm BMI trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi và các nghiên cứu trên bệnh nhân MĐMT trên thế giới được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 4.2 So sánh đặc điểm BMI của các nghiên cứu liên quan

Tác giả Cỡ mẫu Đặc điểm BMI (*)

Yoon Seob Kim và cộng sự (2019) [92] 289 493 23,9 (3,2)

Marcus Maurer và cộng sự (2020) [58] 2727 26,8 (5,4)

(*) Biến số phân phối chuẩn, trình bày dưới dạng trung bình, độ lệch chuẩn

Nghiên cứu của chúng tôi có đặc điểm BMI ở bệnh nhân MĐMT tương đồng với 2 nghiên cứu của Yoon Seob Kim [92] và Marcus Maurer [58] ở 2 khoảng thời gian nghiên cứu khác nhau.

Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát tỷ lệ BMI trên MĐMT, chƣa khảo sát về mối liên hệ giữa MĐMT với các phân nhóm về cân nặng và BMI, nhƣ nghiên cứu của Zbiciak-Nylec và cộng sự (2018) trên 85 bệnh nhân MĐMTTP, đƣợc chia thành ba nhóm nhỏ: bệnh nhân chỉ có sẩn phù, bệnh nhân chỉ có phù mạch và bệnh nhân có cả sẩn phù và phù mạch kèm theo Kết quả ghi nhận có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa MĐMTTP và nhóm có cân nặng cao và BMI cao hơn, hơn nữa các bệnh nhân có chỉ số BMI cao hơn có thời gian mắc bệnh lâu hơn Nhƣng nghiên cứu này lại cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa ba phân nhóm [93].

4.1.4 Đặc điểm tiền căn gia đình và bệnh đồng mắc của bệnh nhân MĐMT

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 29,5% bệnh nhân MĐMT có người thân trong gia đình (ba/mẹ, anh/chị/em ruột, con cái) đã từng hoặc hiện đang mắc MĐMT Kết quả này khá tương đồng với nghiên cứu của tác giả Phạm Đình Lâm và cộng sự là 26,9% [3] Trong khi tỷ lệ này ở nghiên cứu của tác giả Mariyath và cộng sự (2017) [56] hiện diện ở 15% trường hợp, đồng thời ghi nhận chỉ 7,14% bệnh nhân MĐMT trong nghiên cứu của tác giả Kasumagic – Halilovic và cộng sự

[41] có yếu tố gia đình mắc bệnh MĐMT, tương đồng với nghiên cứu của Marcus Maurer và cộng sự (2020) cho thấy có 6,1% bệnh nhân MĐMT có yếu tố gia đình liên quan đến bệnh [58] Lý giải cho sự khác biệt này là do thông tin đƣợc bệnh nhân cung cấp khá chủ quan nên có thể dẫn đến các kết quả khác nhau.

Từ lâu, yếu tố di truyền đƣợc ghi nhận đóng một vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của nhiều bệnh rối loạn tự miễn Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng MĐMTTP là một nhóm nhỏ của bệnh tự miễn, nhƣng các nghiên cứu về sự liên quan mang tính gia đình vẫn chƣa đƣợc thực hiện Theo nghiên cứu củaRiccardo Asero năm 2008 cho kết quả 4% bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc

MĐMTTP, ảnh hưởng đến ít nhất một người thân ở thế hệ F1, con số này vượt khoảng 8 lần so với dự kiến (p < 0,001) và 96% các bệnh nhân có tiền sử gia đình dương tính với ASST (p < 0,01 so với các nghiên cứu trước đây)

Việc quan sát thấy MĐMTTP thường xuyên xảy ra hơn ở những người thế hệ F1 của các bệnh nhân bị ảnh hưởng so với dân số chung cho thấy sự tồn tại của yếu tố di truyền của bệnh và cung cấp dữ liệu lâm sàng cho mối liên quan đƣợc báo cáo giữa MĐMTTP và kháng nguyên bạch cầu của người DR4 96% bệnh nhân có tiền sử gia đình dương tính với ASST, là một tình trạng liên quan đến sự hiện diện của các yếu tố phóng thích histamine, bao gồm kháng thể kháng FcRI hoặc kháng thể kháng IgE [71]

Về các bệnh lý đồng mắc, một nghiên cứu cung cấp dữ liệu dịch tễ học quy mô lớn về tỷ lệ lưu hành của MĐMTTP và các bệnh đi kèm ở Hàn Quốc của Kim và cộng sự năm 2017 [43] cho thấy bệnh nhân MĐMTTP có gánh nặng cao hơn về các bệnh đi kèm so với những bệnh nhân không mắc bệnh Trong đó viêm mũi dị ứng, dị ứng thuốc, hen suyễn, bệnh tuyến giáp và ung thƣ là những bệnh đi kèm phổ biến nhất Ngoài ra bệnh nhân MĐMT cũng bị gia tăng gánh nặng bệnh tật khác bao gồm bệnh tuyến giáp tự miễn [51] và các tình trạng tự miễn dịch khác, bao gồm bạch biến, thiếu máu ác tính, đái tháo đường phụ thuộc insulin, viêm khớp dạng thấp, viêm dạ dày do Helicobacter pylori, nhiễm ký sinh trùng,…

Bệnh nhân MĐMT có khả năng đồng mắc các bệnh lý dị ứng cao hơn so với người không mắc bệnh Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã ghi nhận một tỷ lệ cao bệnh nhân mắc các bệnh lý dị ứng đi kèm, cụ thể là viêm da cơ địa (17,7%), viêm mũi dị ứng (23,5%), dị ứng thức ăn (32,4%) và dị ứng thuốc (2,9%) tương đồng với nghiên cứu Scandinavian AWARE, một nghiên cứu theo dõi trên 158 bệnh nhân MĐMT điều trị bằng thuốc kháng histamine từ Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển cho thấy sự gia tăng của các bệnh dị ứng trên bệnh nhân MĐMT bao gồm viêm da dị ứng, hen suyễn và viêm kết mạc – giác mạc [84] Ngoài ra trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nội khoa (tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, thoái hoá khớp,…) xếp hàng thứ hai sau nhóm bệnh lý dị ứng, chiếm tỷ lệ 32,4% Các bệnh lý nhiễm ký sinh trùng ghi nhận đƣợc ở 8,8% bệnh nhân MĐMT Ngƣợc lại, bệnh lý tự miễn chiếm tỷ lệ thấp nhất bao gồm lupus đỏ hệ thống và đái tháo đường phụ thuộc insulin chiếm tỷ lệ ngang nhau (2,9%) Kết quả này có sự khác biệt với nghiên cứu của Ghazanfar và cộng sự năm 2020 [23] về các bệnh đồng mắc trên 12.185 bệnh nhân MĐMT ở Đan Mạch từ 1994 – 2015 cho kết quả các bệnh đi kèm phổ biến nhất trong nhóm MĐMT tính tại thời điểm chẩn đoán và trong quá trình theo dõi là trầm cảm (4,4%), viêm giác mạc (2,9%), loãng xương (2,9%), viêm da cơ địa (2,5%) và đái tháo đường ( 2,3%), trong khi ít phổ biến hơn là loét dạ dày tá tràng (0,1%), rối loạn tâm thần (1,0%), sốc phản vệ (0,6%), viêm tuyến giáp (0,3%), lupus đỏ hệ thống (0,3%) và bạch biến (0,1%) Đồng thời, nguy cơ mắc các bệnh đi kèm sau khi chẩn đoán MĐMT gia tăng đối với viêm da cơ địa, bệnh tăng tế bào mast, sốc phản vệ, viêm kết mạc – giác mạc dị ứng, trầm cảm và viêm khớp dạng thấp Ngƣợc lại, không có nguy cơ tăng đáng kể đối với viêm tuyến giáp và rối loạn tâm thần Nguyên nhân có sự khác biệt giữa nghiên cứu của chúng tôi và tác giả này là do chênh lệch về cỡ mẫu khá lớn, dẫn đến việc khảo sát các bệnh lý đồng mắc bị giới hạn và chƣa đa dạng Hơn nữa, nghiên cứu chúng tôi cũng gặp hạn chế do tiêu chuẩn chọn vào không bao gồm bệnh nhân MĐMT có tiền căn bệnh lý tuyến giáp tự miễn đã/đang được điều trị vì có thể ảnh hưởng đến các hormone và kháng thể tự miễn tuyến giáp, nên không khảo sát đƣợc tỷ lệ đi kèm của bệnh lý tuyến giáp tự miễn trên nhóm bệnh nhân này

Bệnh nhân MĐMT có gia tăng gánh nặng mắc các bệnh đồng mắc, đặc biệt là trong các nhóm bệnh qua trung gian tế bào mast và bệnh lý dị ứng cũng nhƣ trong nhóm bệnh tự miễn Về số lƣợng, các bệnh tự miễn ít xảy ra hơn những bệnh khác Vì vậy, bệnh nhân MĐMT là một nhóm bệnh nhân đa bệnh tật, một thực tế phải đƣợc công nhận giữa các bác sĩ lâm sàng điều trị nhóm bệnh nhân này

4.1.5 Đặc điểm thời gian mắc bệnh của bệnh nhân MĐMT

TỶ LỆ BỆNH NHÂN CÓ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TUYẾN GIÁP VÀ NỒNG ĐỘ HORMONE TUYẾN GIÁP, KHÁNG THỂ KHÁNG THYROID

4.2.1 Nồng độ hormone tuyến giáp FT4, TSH và Anti TPO – Ab của bệnh nhân MĐMT

MĐMT đã đƣợc báo cáo có liên quan đến nhiều rối loạn nội tiết Một trong những mối liên quan chính là các bất thường về tuyến giáp Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận nồng độ trung bình của hormone FT4, TSH và Anti TPO - Ab lần lƣợt là 1,3 ng/dL, 1,4 IU/mL và 7,9 IU/mL Kết quả này ở nghiên cứu của tác giả Magdalena Czarnecka-Operacz và cộng sự (2017) trên 148 bệnh nhân MĐMTTP lần lƣợt là 11,73 ng/dL, 1,7 IU/mL và 9,0 IU/mL So sánh kết quả hai nghiên cứu có sự khác biệt về nồng độ trung bình của hormone FT4 nhƣng lại không chênh lệch nhiều về nồng độ trung bình hormone TSH và Anti TPO - Ab [14]

Najafipour và cộng sự (2018) nghiên cứu trên 72 bệnh nhân MĐMT tại Iran cũng đã ghi nhận nồng độ trung bình của hormone TSH là 3,86 IU/mL, trong khi nồng độ trung bình của Anti TPO - Ab lên đến 716 IU/mL, cao hơn rất nhiều so với nồng độ cao nhất mà chúng tôi ghi nhận đƣợc là 404,3 IU/mL Sự chênh lệch về kết quả giữa các nghiên cứu có thể do số lƣợng cỡ mẫu và mức độ hoạt động bệnh khác nhau giữa các khu vực trên thế giới [66]

4.2.2 Rối loạn chức năng tuyến giáp và kháng thể kháng thyroid peroxidase ở bệnh nhân MĐMT

Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng đã ghi nhận 7 bệnh nhân có tình trạng bất thường về cận lâm sàng được khảo sát, tỷ lệ 11,5% Nồng độ hormone FT4, TSH và Anti TPO – Ab dương tính ghi nhận được với tỷ lệ lần lượt là 3,3%, 6,6% và 8,2% Các bất thường này bao gồm sự thay đổi đơn thuần của hormone FT4 và/hoặc TSH, đi kèm hoặc không kèm Anti TPO – Ab dương tính Cụ thể, 2 trong 7 bệnh nhân có tình trạng cường giáp đi kèm bất thường về Anti TPO - Ab (FT4 tăng, TSH giảm và Anti TPO – Ab dương tính) 2 trong 7 bệnh nhân khác trong nhóm có cận lâm sàng bất thường này có biểu hiện cường giáp dưới lâm sàng (TSH giảm đơn thuần) Còn lại 3 trong số 7 bệnh nhân MĐMT có Anti TPO - Ab dương tính đơn thuần, chỉ điểm về bệnh lý tự miễn tuyến giáp Tất cả 7 bệnh nhân có sự rối loạn này đều không biểu hiện triệu chứng về bệnh lý tuyến giáp trên lâm sàng và không được xét nghiệm về chức năng tuyến giáp trước đó So sánh với nghiên cứu vào năm 2012 của Ronit Confino-Cohen và cộng sự ở Israel trên 12.778 bệnh nhân MĐMT và 10.714 bệnh nhân đến khám bác sĩ da liễu trong 17 năm và không có dấu hiệu của MĐMT Kết quả cho thấy rối loạn tuyến giáp gồm suy giáp đƣợc chẩn đoán ở 9,8% bệnh nhân MĐMT (so với 0,6% đối chứng) và cường giáp ở 2,6% (so với 0,5% đối chứng) (p < 0,05) Kết quả này không tương đồng với nghiên cứu chúng tôi vì chưa ghi nhận bệnh nhân suy giáp hoặc suy giáp dưới lâm sàng trong mẫu nghiên cứu [12]

8,2% bệnh nhân MĐMT trong nghiên cứu của chúng tôi có Anti TPO - Ab dương tính, không tương đồng với nghiên cứu của tác giả Kasumagic - Halilovic và cộng sự (2017) trên 70 bệnh nhân MĐMT và 70 người khỏe mạnh cho thấy các tự kháng thể kháng giáp đã tăng lên đáng kể ở bệnh nhân MĐMT so với người khỏe mạnh, kháng thể kháng Tg tăng ở 22,85% và Anti TPO - Ab tăng ở 30% bệnh nhân MĐMT [41] Thông thường khoảng 5-10% dân số nói chung có kháng thể kháng giáp dương tính [41], trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ kháng thể kháng thyroid peroxidase là 8,2%, có thể do cỡ mẫu nhỏ Kết quả của chúng tôi cũng chiếm tỷ lệ thấp hơn với nghiên cứu lâm sàng của tác giả Palma-Carlos và cộng sự thực hiện một nghiên cứu bệnh chứng để đánh giá kháng thể kháng tuyến giáp ở bệnh nhân MĐMT, phát hiện dương tính với Anti TPO - Ab ở 26,8% trường hợp, tuy nhiên 93% bệnh nhân MĐMT lại có chức năng tuyến giáp bình thường [70], khác nhau về tỷ lệ bệnh nhân có Anti TPO - Ab dương tính trong nghiên cứu chúng tôi là 4,92%, nhưng tương đồng về tỷ lệ bệnh nhân MĐMT có chức năng tuyến giáp bình thường (88,5%) Ngược lại, trước đó Feibelmann và cộng sự phát hiện ra rằng tỷ lệ lưu hành của kháng thể tự miễn tuyến giáp ở bệnh nhân MĐMT không lớn hơn so với nhóm chứng [20]

Mối liên quan về cơ chế đặc hiệu giữa sự phát triển của bệnh tuyến giáp và MĐMT vẫn chưa được làm sáng tỏ một cách chắc chắn, nhưng nhiều người cho rằng cả hai bệnh đều xảy ra do cơ chế tự phản ứng của cơ thể Một số giả thuyết cho rằng bệnh tuyến giáp và MĐMT có thể cùng tồn tại do khuynh hướng tự miễn dịch, bệnh tuyến giáp có thể làm trầm trọng thêm mề đay thông qua các cơ chế trực tiếp dẫn đến hoạt hóa bổ thể Trái ngƣợc với điều này, các kháng thể kháng giáp IgG có thể không trực tiếp tham gia vào quá trình suy giảm tế bào mast và cơ chế bệnh sinh của MĐMT, mà chỉ đóng vai trò là biểu hiện của bệnh tự miễn

Mặc dù hầu hết các nghiên cứu trước đây ủng hộ mối liên hệ giữa MĐMT và bệnh tự miễn tuyến giáp, các phương pháp điều trị bất thường tuyến giáp cũng không hiệu quả trong điều trị hầu hết các bệnh nhân MĐMT liên quan đến tự miễn tuyến giáp Vì vậy người ta cho rằng MĐMT và bệnh tuyến giáp có liên quan song song với nhau, tương tự các bệnh tự miễn khác Bệnh tự miễn tuyến giáp có thể phát triển nhiều năm sau khi bắt đầu biểu hiện của MĐMT Vì vậy việc theo dõi định kỳ và đánh giá lại tuyến giáp nên đƣợc chỉ định ở những bệnh nhân MĐMT Hạn chế của nghiên cứu của chúng tôi là chƣa xác định sự thay đổi của nồng độ kháng thể kháng thyroglobulin do hạn chế về tài chính có thể dẫn đến bỏ sót một số trường hợp tự miễn tuyến giáp có tăng Anti Tg – Ab đơn thuần.

MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ HORMONE FT4, TSH, KHÁNG THỂ KHÁNG THYROID PEROXIDASE VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN MỀ ĐAY MẠN TÍNH

4.3.1 Mối liên quan giữa nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân MĐMT

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 61 bệnh nhân MĐMT, trong đó có 20 nam và 41 nữ Kết quả cho thấy nồng độ trung bình của FT4, TSH và Anti TPO –

Ab huyết thanh giữa hai nhóm bệnh nhân nam và nữ không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) Kết quả này không tương đồng với các nghiên cứu trước đây, vì nghiên cứu của Mariyath và cộng sự đã ghi nhận mối liên quan ở nữ giới mắc bệnh MĐMT với Anti TPO - Ab tăng cao có ý nghĩa thống kê [56]

Chúng tôi cũng ghi nhận có sự chênh lệnh về tỷ lệ giới tính ở bệnh nhân MĐMT có rối loạn chức năng tuyến giáp và/hoặc bất thường Anti TPO - Ab, tỷ lệ này nhiều hơn đáng kể ở nữ với tỷ lệ nữ/nam là 6/1 So sánh với nghiên cứu của tác giả Mariyath và cộng sự khảo sát về đặc điểm giới tính ở 24 bệnh nhân MĐMT có nồng độ Anti TPO - Ab tăng bất thường, ghi nhận có sự chênh lệch về tỷ lệ với nghiên cứu của chúng tôi: tác giả Mariyath ghi nhận trong số các bệnh nhân MĐMT có Anti TPO - Ab bất thường, 79% là bệnh nhân nữ Tỷ lệ này trong nghiên cứu của chúng tôi nữ giới chiếm 100% Tuy nhiên nhìn chung, trong hai nghiên cứu đều ghi nhận có sự chiếm ƣu thế về giới tính nữ trong rối loạn chức năng tuyến giáp trên bệnh nhân MĐMT Điều này đƣợc giải thích bởi đặc điểm về cơ chế bệnh sinh của bệnh MĐMTTP khi đƣợc xem nhƣ một bệnh lý tự miễn đặc trƣng bởi tự kháng thể IgG hoặc IgE gắn vào thụ thể FcɛRI trên màng tế bào mast hoặc basophil, dẫn đến sự liên quan đến các kháng thể kháng giáp tự miễn Do vậy, giải thích hợp lý nhất cho sự chênh lệch về giới tính trong bệnh MĐMTTP và bệnh tự miễn dịch tuyến giáp là do đặc điểm tự miễn dịch của bệnh

Về đặc điểm nghề nghiệp, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận nồng độ FT4, TSH và Anti TPO – Ab huyết thanh giữa các nhóm nghề không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Trong y văn và các nghiên cứu chƣa thấy ghi nhận sự khác biệt này

4.3.2 Mối liên quan giữa nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và các đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân MĐMT

4.3.2.1 Nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và triệu chứng phù mạch

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chƣa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ trung bình của FT4, TSH và Anti TPO – Ab huyết thanh ở bệnh nhân có triệu chứng phù mạch so với nhóm không có triệu chứng này (p> 0,05) Phù mạch đƣợc ghi nhận không hiện diện ở tất cả bệnh nhân có nồng độ Anti TPO - Ab dương tính và chiếm tỷ lệ 32,14% ở bệnh nhân có nồng độ Anti TPO -

Ab âm tính Kết quả này khác biệt với kết quả nghiên của tác giả Mariyath và cộng sự, phù mạch hiện diện ở 54% bệnh nhân MĐMT có Anti TPO - Ab dương tính và 65,8% bệnh nhân có Anti TPO - Ab âm tính Nhƣng kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi lại có sự tương đồng với nghiên cứu của tác giả này về nguy cơ phù mạch ở những bệnh nhân MĐMT có Anti TPO - Ab cao so với những bệnh nhân có Anti TPO - Ab là không đáng kể (p > 0,05) Hơn nữa, nghiên cứu của Mariyath lại cho thấy nguy cơ phù mạch ở bệnh nhân MĐMT có rối loạn chức năng tuyến giáp cao gấp 2,76 lần so với bệnh nhân có chức năng tuyến giáp bình thường, trong khi nghiên cứu của chúng tôi lại hoàn toàn không ghi nhận triệu chứng phù mạch trên bệnh nhân MĐMT có rối loạn chức năng tuyến giáp Lý giải cho sự khác biệt này có thể do thông tin chủ quan từ bệnh nhân, dễ bỏ sót triệu chứng phù mạch đi kèm với sẩn phù, có thể xuất hiện thoáng qua

4.3.2.2 Nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và thời gian mắc bệnh của bệnh nhân MĐMT

Nồng độ trung bình hormone FT4 và Anti TPO – Ab huyết thanh của bệnh nhân MĐMT với ba khoảng thời gian mắc bệnh khác nhau không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Tuy nhiên, chúng tôi ghi nhận đƣợc mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian mắc bệnh với nồng độ trung bình của hormone TSH (p = 0,03), nhƣng hiện vẫn chƣa ghi nhận có mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh MĐMT và nồng độ FT4, TSH và Anti TPO – Ab huyết thanh ở các nghiên cứu trước đây để so sánh mối tương đồng này Từ những bằng chứng nêu trên, rất có thể thời gian mắc bệnh MĐMT có thể có mối liên quan đến các bất thường tiềm ẩn về chức năng tuyến giáp, cần đƣợc khảo sát rõ hơn trong các nghiên cứu sắp tới

4.3.2.3 Nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và tiền căn gia đình, bệnh lý đồng mắc của bệnh nhân MĐMT

Nghiên cứu của chúng tôi chƣa ghi nhận đƣợc mối liên quan giữa nồng độ FT4, TSH và Anti TPO – Ab huyết thanh với tiền căn gia đình mắc bệnh MĐMT (p

> 0,05) Các nghiên cứu trước đây cũng chưa ghi nhận mối liên quan này

Về bệnh lý đồng mắc, nghiên cứu của chúng tôi cũng đã phát hiện 2 trường hợp đồng mắc bệnh tự miễn là lupus đỏ hệ thống và đái tháo đường phụ thuộc insulin Giá trị của nồng độ hormone FT4, TSH và Anti TPO - Ab vẫn trong giới hạn bình thường Nồng độ FT4, TSH và Anti TPO – Ab ở bệnh nhân MĐMT đồng mắc các bệnh lý nhƣ dị ứng, tự miễn, nhiễm trùng không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có bệnh đồng mắc (p> 0,05) Kết quả này có sự khác biệt với nghiên cứu của Kim và cộng sự, cho thấy bệnh nhân MĐMTTP có tỷ lệ hiện mắc các bệnh liên quan đến mề đay cao hơn đáng kể so với những bệnh nhân không có bệnh (odd radio 8,46; khoảng tin cậy 95%, 8,10– 8,83), trong đó viêm mũi dị ứng, dị ứng thuốc, hen suyễn, bệnh tuyến giáp và ung thƣ là những bệnh đi kèm phổ biến nhất [43]

4.3.2.4 Nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và phân nhóm bệnh ở bệnh nhân MĐMT

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ trung bình của hormone TSH và Anti TPO – Ab huyết thanh giữa ba nhóm MĐMTTP, MĐMT có yếu tố khởi phát hoặc kết hợp cả hai không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ngƣợc lại, chúng tôi đã ghi nhận đƣợc mối liên quan giữa nồng độ trung bình của hormone FT4 với các phân nhóm này (p = 0,012) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Curto-barredo và cộng sự (2018) đã ghi nhận có sự khác biệt rõ ràng về các bất thường tuyến giáp được phát hiện giữa bệnh nhân MĐMTTP (18,0%) và kết hợp MĐMTTP với MĐMT có yếu tố khởi phát (5,4%) (p = 0,001) [13] Ngƣợc lại, tác giả Yadav và cộng sự (2013), cho thấy tỷ lệ lưu hành tự kháng thể tuyến giáp gần nhƣ bằng nhau trong hai phân nhóm bệnh nhân MĐMTTP, có ý nghĩa thống kê, gợi ý do cùng một cơ chế bệnh sinh Hai phân nhóm này có thể độc lập hoặc thậm chí có thể là kết hợp nhau [90]

4.3.2.5 Nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và mức độ hoạt động của bệnh MĐMT theo thang điểm UAS7

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ trung bình FT4, TSH và Anti TPO – Ab huyết thanh ở các nhóm bệnh nhân có mức độ hoạt động mề đay khác nhau (p > 0,05) Bên cạnh đó, chúng tôi cũng chƣa ghi nhận mối liên quan giữa nhóm bệnh nhân có Anti TPO -

Ab dương tính và nhóm bệnh nhân có Anti TPO - Ab âm tính với điểm số UAS7 (p

> 0,05) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Akca và cộng sự trên

52 bệnh nhân MĐMTTP cho kết quả không có sự khác biệt đáng kể về nồng độ T4 hoặc TSH giữa các nhóm mức độ hoạt động bệnh (p T4 = 0,07, p TSH = 0,67), đồng thời trong số 19,2% bệnh nhân MĐMTTP có kết quả dương tính với Anti TPO - Ab cũng không tìm được mối tương quan với các nhóm mức độ theo UAS7 (p = 1) Ngoài ra, nghiên cứu này còn ghi nhận bệnh nhân có Anti TPO - Ab dương tính và Anti TPO - Ab âm tính không khác biệt đáng kể về điểm số UAS7 (p = 0,636), cũng có ý nghĩa tương đồng với kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi [4]

Cũng trong năm 2020, nghiên cứu của Herrera Sanchez và cộng sự (2020) khi so sánh tỷ lệ hoạt động mề đay theo UAS7 ở bệnh nhân có và không có tình trạng suy giáp, rằng không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm này, với điểm UAS7 trung bình là 19,8 điểm [30]

Từ các kết quả trên chúng tôi cho rằng không thể dựa vào mức độ hoạt động của bệnh để đánh giá bệnh nhân MĐMT có rối loạn chức năng tuyến giáp hoặc bệnh lý tự miễn tuyến giáp đi kèm hay không mà phải đánh giá chi tiết hơn bằng các xét nghiệm cụ thể đối với các bệnh lý tự miễn nói chung

4.3.2.6 Nồng độ hormone FT4, TSH, kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và mức độ kiểm soát bệnh MĐMT theo thang điểm UCT

Kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận đƣợc nồng độ hormone FT4 ở bệnh nhân MĐMT có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ kiểm soát bệnh theo thang điểm UCT (p = 0,04) Ngƣợc lại, nồng độ hormone TSH và Anti TPO -

Ab không có mối liên quan với mức độ kiểm soát bệnh theo UCT Chƣa ghi nhận các nghiên cứu trước đây ghi nhận mối liên quan này

BÀN LUẬN VỀ GIỚI HẠN CỦA NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu hàng loạt ca với cỡ mẫu nhỏ, không có nhóm chứng nên chƣa đại diện đƣợc cho dân số mề đay mạn tính tại Việt Nam và chƣa so sánh đƣợc sự khác biệt Ngoài ra, nghiên cứu dùng thang điểm đánh giá mức độ hoạt động mề đay mạn tính (UAS7) trên bệnh nhân chƣa đƣợc huấn luyện chi tiết và hạn chế trong việc theo dõi dẫn đến sự sai lệch về thông tin của bệnh Do đó, cần có thêm những nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và thiết kế nghiên cứu tin cậy cao hơn để đánh giá toàn diện vai trò của hormone tuyến giáp và kháng thể tự miễn tuyến giáp trong cơ chế sinh bệnh học, cũng nhƣ mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng và độ nặng của bệnh mề đay mạn tính.

Ngày đăng: 10/04/2023, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Trường An (2020), Nồng độ lipocalin-2 huyết tương, adiponectin huyết thanh và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân mề đay mạn tính, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ y học
Tác giả: Phạm Trường An
Nhà XB: Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2020
27. Harris A., Twarog F. J., Geha R. S. (1983), "Chronic urticaria in childhood: natural course and etiology", Ann Allergy, 51 (2 Pt 1), pp. 161-165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chronic urticaria in childhood: natural course and etiology
Tác giả: Harris A., Twarog F. J., Geha R. S
Nhà XB: Ann Allergy
Năm: 1983
55. Marc B., Robert B. (2003). Medicare Coverage of Routine Screening for Thyroid Dysfunction, pp. 14-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medicare Coverage of Routine Screening for Thyroid Dysfunction
Tác giả: Marc B., Robert B
Năm: 2003
91. Ying S., Kikuchi Y., P. K. A. (2002), "TH1/TH2 cytokines and inflammatory cells in skin biopsy specimens from patients with chronic idiopathic urticaria: comparison with the allergen-induced late-phase cutaneous reaction", J Allergy Clin Immunol, 109 (4), pp. 694-700 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TH1/TH2 cytokines and inflammatory cells in skin biopsy specimens from patients with chronic idiopathic urticaria: comparison with the allergen-induced late-phase cutaneous reaction
Tác giả: Ying S., Kikuchi Y., P. K. A
Năm: 2002
7. Bork K., Wulff K., Steinmüller-Magin L. (2018), "Hereditary angioedema with a mutation in the plasminogen gene", Allergy, 73 (2), pp. 442-450 Khác
8. Boyden S. E., Desai A., Cruse G. (2016), "Vibratory Urticaria Associated with a Missense Variant in ADGRE2", New England Journal of Medicine, 374 (7), pp. 656-663 Khác
16. De Montjoye L., Darrigade A. S., Giménez-Arnau A. (2020), "Correlations between disease activity, autoimmunity and biological parameters in patients with chronic spontaneous urticaria", Eur Ann Allergy Clin Immunol, 53 (2), pp. 55-66 Khác
17. Deacock S. J. (2008), "An approach to the patient with urticaria", Clin Exp Immunol, 153 (2), pp. 151-161 Khác
26. Grattan C. E., Francis D. M. (1991), "Detection of circulating histamine releasing autoantibodies with functional properties of anti-IgE in chronic urticaria", Clin Exp Allergy, 21 (6), pp. 695-704 Khác
36. Jacobson K. W., Branch L. B., Nelson H. S. (1980), "Laboratory tests in chronic urticaria", JAMA, 243 pp. 1644 Khác
37. Jirapongsananuruk O., Pongpreuksa S., Sangacharoenkit P. (2010), "Identification of the etiologies of chronic urticaria in children: a prospective study of 94 patients", Pediatr Allergy Immunol, 21 pp. 508 Khác
45. Kolkhir P., Church MK., Weller K. (2017), "Autoimmune chronic spontaneous urticaria: what we know and what we do not know", J Allergy Clin Immunol, 139 (6), pp. 1772-1781 Khác
46. Kolkhir P., Metz M. (2017), "Comorbidity of chronic spontaneous urticaria and autoimmune thyroid diseases: A systematic review", Allergy, 72 (10), pp. 1440-1460 Khác
54. Magerl M., Altrichter S. (2016), "The definition, diagnostic testing, and management of chronic inducible urticarias - The EAACI/GA(2) LEN/EDF/UNEV consensus recommendations 2016 update and revision", Allergy, 71 (6), pp. 780-802 Khác
63. Metz M., Schütz A., Weller K. (2017), "Omalizumab is effective in cold urticaria-results of a randomized placebo-controlled trial", J Allergy Clin Immunol, 140 (3), pp. 864-867 Khác
64. Miyake M., Oiso N. (2017), "Angioedema associated with excessive sweating and sweat allergy", J Dermatol, 44 (4), pp. e58-e59 Khác
73. Rothfeld B. (1968), "Pruritus as a symptom in hyperthyroidism", JAMA, 205 pp. 122 Khác
74. Rumbyrt J. S., Katz J. L., Schocket A. L. (1995), "Resolution of chronic urticaria in patients with thyroid autoimmunity", J Allergy Clin Immunol, 96 (6), pp. 901-905 Khác
82. Takahagi S., Tanaka T., Ishii K. (2009), "Sweat antigen induces histamine release from basophils of patients with cholinergic urticaria associated with atopic diathesis", Br J Dermatol, 160 (2), pp. 426-428 Khác
83. Takahagi S. T. A., 42 (5),. (2017), "Contact urticaria syndrome with IgE antibody against a cefotiam-unique structure, evoked by nonapparent exposure to cefotiam", Clin Exp Dermatol, 42 (5), pp. 527-531 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Sinh bệnh học của mề đay [9]. - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Hình 1.1 Sinh bệnh học của mề đay [9] (Trang 16)
Hình 1.2 Tế bào mast – vai trò trung tâm của sinh bệnh học mề đay [11] - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Hình 1.2 Tế bào mast – vai trò trung tâm của sinh bệnh học mề đay [11] (Trang 18)
Bảng 1.3 Các xét nghiệm được đề nghị trong các loại mề đay thường gặp [94] - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 1.3 Các xét nghiệm được đề nghị trong các loại mề đay thường gặp [94] (Trang 34)
Hình 1.3 Mối liên quan về sinh lý bệnh giữa MĐMT và bệnh tuyến giáp tự - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Hình 1.3 Mối liên quan về sinh lý bệnh giữa MĐMT và bệnh tuyến giáp tự (Trang 47)
Bảng 1.4 Tóm tắt một số nghiên cứu về tự kháng thể ở bệnh nhân MĐMT [24] - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 1.4 Tóm tắt một số nghiên cứu về tự kháng thể ở bệnh nhân MĐMT [24] (Trang 50)
Bảng 3.2 Tiền căn bệnh lý đồng mắc và tiền căn gia đình của bệnh nhân - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 3.2 Tiền căn bệnh lý đồng mắc và tiền căn gia đình của bệnh nhân (Trang 61)
Bảng 3.4 Phân nhóm bệnh và phù mạch đi kèm của bệnh nhân MĐMT - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 3.4 Phân nhóm bệnh và phù mạch đi kèm của bệnh nhân MĐMT (Trang 64)
Bảng 3.8 Nồng độ hormone FT4, TSH và kháng thể thyroid peroxidase huyết - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 3.8 Nồng độ hormone FT4, TSH và kháng thể thyroid peroxidase huyết (Trang 70)
Bảng 3.10 So sánh các đặc điểm dịch tễ giữa nhóm bệnh nhân có bất thường - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 3.10 So sánh các đặc điểm dịch tễ giữa nhóm bệnh nhân có bất thường (Trang 73)
Bảng 3.17 Nồng độ hormone FT4, TSH huyết thanh và phân nhóm bệnh của - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 3.17 Nồng độ hormone FT4, TSH huyết thanh và phân nhóm bệnh của (Trang 78)
Bảng 3.22 Nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và tiền căn bản thân có bệnh lý đồng mắc, tiền căn gia đình và dùng thuốc của bệnh - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 3.22 Nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh và tiền căn bản thân có bệnh lý đồng mắc, tiền căn gia đình và dùng thuốc của bệnh (Trang 81)
Bảng 3.23 Kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh âm tính và dương - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 3.23 Kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh âm tính và dương (Trang 83)
Bảng 3.24 Tương quan giữa nồng độ hormone FT4, TSH huyết thanh với các - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 3.24 Tương quan giữa nồng độ hormone FT4, TSH huyết thanh với các (Trang 87)
Bảng 3.25 Tương quan giữa nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh với các đặc điểm dịch tễ và lâm sàng khác của bệnh nhân MĐMT Đặc điểm  Giá trị  Mối tương quan với nồng độ - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 3.25 Tương quan giữa nồng độ kháng thể kháng thyroid peroxidase huyết thanh với các đặc điểm dịch tễ và lâm sàng khác của bệnh nhân MĐMT Đặc điểm Giá trị Mối tương quan với nồng độ (Trang 88)
Bảng 4.1 So sánh đặc điểm về giới tính của các nghiên cứu liên quan - Khảo sát chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng thyroid peroxidase và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mề đay mạn tính
Bảng 4.1 So sánh đặc điểm về giới tính của các nghiên cứu liên quan (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm