ĐẶT VẤN ĐỀU sao bào là loại u xuất phát từ tế bào thần kinh đệm với bản chất thâm nhiễm mônão lành xung quanh, là một thách thức điều trị cho ngành phẫu thuật thần kinh hiện đại.Loại u n
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả hàng loạt ca.
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán u sao bào được điều trị tại khoa Ngoại thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 9 năm 2016 tới tháng 3 năm 2018.
- Tuổi: Từ đủ 18 tuổi trở lên
Hình ảnh cộng hưởng từ trước phẫu thuật cho thấy u sao bào liên quan đến vùng vỏ não vận động, cụ thể là vùng trán và vùng đính gần rãnh trung tâm Đồng thời, cộng hưởng từ chức năng đã được thực hiện để dựng hình vùng vận động.
- Bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp lấy u vi phẫu có sử dụng hệ thống định vị không khung trong mổ.
- Bệnh nhân được chụp phim cộng hưởng từ sau mổ.
- Bệnh nhân có kết quả là u sao bào được đọc tại khoa giải phẫu bệnh bệnh viện Chợ Rẫy.
- Không biết được tình trạng của bệnh nhân khi xuất viện.
- Thất lạc hồ sơ hay phim trước và sau mổ.
Biến số nghiên cứu
2.3.1 Biến số kết cục chính
- Mức độ lấy u dựa vào thể tích u còn lại
- Mức độ khiếm khuyết vận động lúc xuất viện
- Thang đo KPS lúc xuất viện
Bài viết này đề cập đến các đặc điểm lâm sàng quan trọng, bao gồm triệu chứng cơ năng, sức cơ trước mổ, triệu chứng co giật, triệu chứng rối loạn cảm giác vỏ não, triệu chứng rối loạn ngôn ngữ, thang điểm GCS và thang đo KPS Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình trạng bệnh nhân và lập kế hoạch điều trị hiệu quả.
MRI quy ước có những đặc điểm quan trọng như vị trí và thể tích của u, cùng với các đặc điểm T1 và T2 Ngoài ra, tính bắt thuốc, tính chất phù, tính chất vôi hóa, tính chất hoại tử và tính chất xuất huyết cũng là những yếu tố cần xem xét để đánh giá chính xác tình trạng của khối u.
- Đặc điểm MRI chức năng o Vị trí vùng tín hiệu vỏ não vận động o Khoảng cách từ vùng tổn thương tới vùng vận động – LAD
- Đặc điểm phẫu thuật o Thời gian phẫu thuật o Mức độ lấy u trên phẫu thuật trên quan sát của phẫu thuật viên
Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân có thể gặp một số đặc điểm như: điểm Glasgow Coma Scale (GCS) có thể thay đổi, sức cơ có thể bị yếu, rối loạn ngôn ngữ có thể xuất hiện, và rối loạn cảm giác vỏ não cũng có thể xảy ra Ngoài ra, co giật và các biến chứng khác sau mổ cũng cần được theo dõi Thể tích u còn lại và mức độ lấy u là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hồi phục của bệnh nhân.
Độ ác của u não được phân loại thành hai nhóm: độ ác thấp và độ ác cao Phân loại này dựa trên kết quả giải phẫu bệnh theo bảng phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2007 Cụ thể, các u có giải phẫu bệnh độ I và II được xếp vào nhóm độ ác thấp, trong khi độ III và IV thuộc nhóm độ ác cao.
- Tuổi: biến định lượng, tính theo số nguyên, tính từ năm sinh cho đến khi nhập viện Bệnh nhân được chia làm các nhóm 18-29 tuổi, 30-39 tuổi, 40-49 tuổi, 50-
- Giới: biến nhị giá, nam hoặc nữ.
- Thời gian khởi phát bệnh: biến định lượng, được tính từ lúc có triệu chứng khởi phát đầu tiên đến lúc nhập viện.
- Triệu chứng cơ năng: biến danh định, bao gồm các triệu chứng chính như đau đầu, nôn ói, mờ mắt, chóng mặt.
- Sức cơ trước mổ: biến danh định, theo thang điểm đánh giá sức cơ
Bảng 2.1 trình bày đánh giá sức cơ với các mức độ từ 0 đến 5 Độ 0/5 thể hiện tình trạng liệt hoàn toàn, trong khi độ 1/5 cho thấy có vận động nhưng không cử động khớp Độ 2/5 cho phép cử động các khớp nhưng không thắng được trọng lực Độ 3/5 cho thấy khả năng thắng được trọng lực nhưng không thể chống lại lực cản Độ 4/5 cho phép chống lại lực cản nhưng chưa đạt sức cơ bình thường, và cuối cùng, độ 5/5 biểu thị sức cơ bình thường.
- Co giật: biến nhị giá, có hoặc không có co giật có thể co giật là cục bộ hoặc toàn thể, đơn giản hoặc phức tạp
Rối loạn cảm giác vỏ não có thể biểu hiện qua các triệu chứng như dị cảm, châm chích, mất cảm nhận khối hình và mất cảm nhận bản đồ Những triệu chứng này thường được định nghĩa bằng sự biến nhị giá, với giá trị có hoặc không.
Rối loạn ngôn ngữ có thể được phân loại thành nhiều dạng khác nhau Rối loạn ngôn ngữ kiểu Broca cho phép bệnh nhân hiểu lời nói và chữ viết nhưng gặp khó khăn trong việc diễn đạt bằng lời nói và tạo từ Ngược lại, rối loạn ngôn ngữ kiểu Wernicke khiến bệnh nhân không hiểu được lời nói và chữ viết, thường nói ra những từ ngữ không có nghĩa Rối loạn ngôn ngữ bó cung cho phép bệnh nhân hiểu và nói lưu loát nhưng không thể lặp lại theo yêu cầu Đánh giá mức độ rối loạn ngôn ngữ có thể sử dụng thang điểm GCS, với giá trị từ 3 (thấp nhất) đến 15 (cao nhất), dựa trên ba yếu tố: sự mở mắt (E), hoạt động (M) và lời nói (V).
Mở mắt (E) Hoạt động (M) Lời nói (V)
6 Hoạt động tốt theo y lệnh
5 Đáp ứng đau chính xác Trả lời có định hướng
4 Mở mắt tự nhiên Đáp ứng đau không chính xác Trả lời lộn xộn
3 Mở mắt khi kích thích đau
Gồng mất vỏ Trả lời không phù hợp
2 Mở mắt khi gọi Duỗi mất não Nói khó hiểu
1 Không mở mắt Không đáp ứng Không nói
- Thang đo KPS: biến định danh, được xác định dựa vào mức hoạt động của bệnh nhân.
Bảng 2.3 Thang điểm Karnofsky Điểm Biểu hiện
100 Bình thường-không có bằng chứng bệnh
90 Triệu chứng kín đáo – mọi hoạt động bình thường
80 Có một vài triệu chứng-cố gắng mới làm việc bình thường được
70 Không thể làm việc bình thường-Tự lo được cho bản thân trong sinh hoạt
60 Tụ lo được cho bản thân trong đa số nhu cầu sinh hoạt
50 Cần sự giúp đỡ đáng kể trong sinh hoạt
20 Cần được hồi sức tích cực-bệnh trầm trọng
Các đặc điểm trên phim MRI bao gồm việc khảo sát các chuỗi xung T1W, T2W, T1W có cản từ và FLAIR Vị trí u có thể nằm ở thùy trán hoặc thùy đính Đặc điểm tín hiệu u trên T1 và T2 có thể là tín hiệu thấp, tín hiệu cao hoặc tín hiệu hỗn hợp Tính chất bắt thuốc có thể không bắt thuốc, bắt thuốc dạng viền hoặc bắt thuốc dạng hỗn hợp Tính chất phù được đánh giá trên chuỗi xung T2 Flair, với khoảng cách từ bờ u đến giới hạn phù được chia thành 4 mức độ theo Kazner.
Độ 1: phù xung quanh u < 2 cm.
Độ 2: phù xung quanh u ≥ 2 cm
Độ 3 của u não được xác định qua vùng phù lan qua vùng não đối bên, với thể tích u được tính bằng cm³ dựa trên phim MRI có cản từ cho các trường hợp u bắt thuốc cản từ Đối với những u không bắt thuốc, thể tích được tính dựa vào vùng tăng tín hiệu trên chuỗi xung FLAIR Ngoài ra, các tính chất như vôi hóa, hoại tử và xuất huyết cũng được xem xét, với các biến nhị giá thể hiện sự hiện diện hoặc không của chúng.
Cộng hưởng từ chức năng cho phép xác định vị trí của vùng tín hiệu vận động so với bờ tổn thương, với các giá trị biến danh định như trước, sau, trong và ngoài Thông tin này được thu thập khi bệnh nhân thực hiện các y lệnh đơn giản như nắm bàn tay, cử động ngón cái và đánh lưỡi, giúp phát hiện vùng vỏ não điều khiển các hoạt động này Từ đó, có thể xác định vị trí của vùng hoạt hóa tín hiệu vận động so với tổn thương Bên cạnh đó, khoảng cách từ vùng tín hiệu hoạt động tới tổn thương được tính toán chính xác bằng đơn vị cm trên phần mềm hỗ trợ MRI, cho phép vẽ khoảng cách từ vị trí gần nhất của tổn thương tới vùng tín hiệu vận động.
(Bệnh nhân Thạch T, nam, 41 tuổi có vùng vận động nằm sau tổn thương 1cm)
Điều trị phẫu thuật có những đặc điểm quan trọng như sau: Sử dụng hệ thống navigation để xác định chính xác vị trí mở sọ và điểm vào khối tổn thương trong tất cả các trường hợp Thời gian phẫu thuật được tính bằng giờ, từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc cuộc mổ Mức độ lấy u của phẫu thuật viên được phân loại thành các nhóm như sinh thiết u, lấy bán phần u, lấy gần toàn bộ u và lấy toàn bộ u đại thể, dựa trên quan sát và kinh nghiệm của phẫu thuật viên trong quá trình phẫu thuật, và được ghi nhận trong phúc trình phẫu thuật.
Sau mổ, các đặc điểm quan trọng cần lưu ý bao gồm thể tích u còn sót lại, được đo bằng cm³ và xác định tương tự như thể tích u trước phẫu thuật Mức độ lấy u được tính bằng cách lấy 100% trừ đi tỷ số giữa thể tích u còn sót lại và thể tích u ban đầu, với các giá trị được phân chia thành 4 mức độ theo David Robert.
Sinh thiết u: chỉ lấy một phần nhỏ < 50% thể tích u
Mổ lấy một phần u: từ 50 đến 90%.
Mổ gần toàn bộ u: từ 90 đến 100%
Mổ lấy toàn bộ u đạt tỷ lệ thành công 100% Tuy nhiên, có thể gặp phải các biến chứng sau mổ như máu tụ, phù não và xuất huyết Tỷ lệ tử vong sau mổ là một biến nhị giá, trong khi thời gian nằm viện được đo bằng số ngày Tình trạng yếu liệt vận động khi xuất viện được đánh giá qua sự thay đổi sức cơ trước và sau mổ, với các giá trị như cải thiện, bình thường hoặc xấu hơn so với trước mổ Thang điểm Kanofsky cũng được áp dụng ngay tại thời điểm xuất viện.
Phương pháp thu thập số liệu
- Tất cả các số liệu sẽ được ghi nhận vào một bảng thu thập số liệu được soạn sẵn, mỗi bệnh nhân một phiếu.
- Tất cả các số liệu sẽ được thu thập 01 lần từ hồ sơ bệnh án.
Phương pháp xử lý số liệu
- Tất cả các số liệu được ghi nhận lại trong phiếu theo dõi nghiên cứu.
- Các số liệu được phân tích và xử lý bằng chương trình Microsoft office Excel
- Soạn thảo bằng chương trình Microsoft office Word 2016.
- Phân phối của dữ liệu được đánh giá bằng phương pháp vẽ đồ thị.
Thống kê mô tả giúp tóm tắt các đặc điểm nhân trắc và nền tảng của bệnh nhân Các biến định lượng được trình bày dưới dạng số trung bình ± độ lệch chuẩn (TB ± ĐLC) cho phân phối chuẩn, hoặc bằng trung vị và tứ phân vị cho phân phối không chuẩn Đối với các biến định tính, thông tin được trình bày qua bảng phân phối tần suất.
- Tất cả các khác biệt có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,05.
Y đức
Nghiên cứu được thực hiện bởi Hội đồng khoa học kỹ thuật của bệnh viện Chợ Rẫy và Hội đồng chấm đề cương thuộc bộ môn Ngoại thần kinh, trường Đại học Y Dược Thành Phố.
Hồ Chí Minh thông qua.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học
Biểu đồ 3.1 Phân bố giải phẫu bệnh của u sao bào
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 30 bệnh nhân được khảo sát đã được chia thành hai nhóm: u sao bào độ ác thấp và u sao bào độ ác cao, với tỷ lệ tương đương nhau, mỗi nhóm chiếm 50%.
50% Độ ác thấp Độ ác cao
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ các nhóm tuổi của bệnh nhân u sao bào
Trong NC của chúng tôi có 30 BN được khảo sát, tuổi trung vị là 40 BN nhỏ tuổi nhất là 18 tuổi, BN lớn tuổi nhất là 66 tuổi.
Nhóm tuổi có tỷ lệ cao nhất là nhóm tuổi 18-39 tuổi (tương ứng là 50%).
Nhóm tuổi có tỷ lệ thấp nhất là nhóm tuổi >60 tuổi (6,7%).
Nhóm u sao bào độ ác thấp có tuổi trung bình là 38,9 ± 10,8, trong đó nhóm tuổi có tỷ lệ cao nhất là nhóm tuổi 18-39 (60%).
Nhóm u sao bào độ ác cao có tuổi trung bình là 42,8 ± 13,7, nhóm tuổi có tỷ lệ cao nhất cũng là nhóm tuổi 18-39 (40%).
Sự khác biệt về tuổi của hai nhóm u sao bào này không có ý nghĩa thống kê với p
Trong NC của chúng tôi, số BN nam là 15, số BN nữ là 15, tỷ lệ nam/nữ là 1/1.
Trong nhóm u sao bào độ ác thấp, số BN nam là 8, số BN nữ là 7, tỷ lệ nam/nữ là 1,1/1.
Trong nhóm u sao bào độ ác cao, số BN nam là 7, số BN nữ là 8, tỷ lệ nam/nữ là 0,875/1.
Sự khác biệt về tỷ lệ nam/nữ của hai nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê với p = 0,715.
Bảng 3.1 Lý do nhập viện của các bệnh nhân u sao bào
Lý do đến khám Số bệnh nhân (%) Đau đầu
Lý do nhập viện thường gặp nhất là đau đầu chiếm 46,7% (14 BN), tiếp theo là co giật 33,3% và yếu vận động chiếm 20%
Trong nhóm u sao bào độ ác thấp, lý do nhập viện thường gặp nhất là đau đầu chiếm 46,7% tiếp đến là co giật chiếm 40% và yếu vận động chiếm 13,3%.
Trong nhóm u sao bào độ ác cao, triệu chứng phổ biến nhất là đau đầu, chiếm tỷ lệ 46,6% Tiếp theo là co giật và yếu vận động, mỗi triệu chứng này đều chiếm tỷ lệ 26,7%.
Thời gian khởi phát có trung vị 30 ngày
Thời gian khởi phát của nhóm có độ ác thấp có trung vị 30 ngày.
Thời gian khởi phát của nhóm có độ ác cao có trung bị 14 ngày.
3.1.6 Các triệu chứng lâm sàng
Bảng 3.2 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân u sao bào
Phép kiểm chi bình phương
Trong nghiên cứu của chúng tôi, các triệu chứng lâm sàng bao gồm đau đầu, nôn ói, mờ mắt, chóng mặt, co giật, yếu liệt chi, rối loạn cảm giác vỏ não và rối loạn vận ngôn.
Triệu chứng đau đầu là phổ biến nhất, chiếm 73,3%, tiếp theo là yếu liệt chi với 43,3%, co giật 33,3%, rối loạn cảm giác vỏ não 20%, rối loạn vận ngôn 3,3%, và các triệu chứng cơ năng khác.
Triệu chứng lâm sàng Số bệnh nhân (%) Giá trị p Đau đầu
Co giật Dấu thần kinh khu trú Yếu liệt chi
4/5 3/5 Rối loạn cảm giác vỏ não Rối loạn vận ngôn kiểu broca
Bảng 3.3 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân u sao bào độ ác thấp
Triệu chứng lâm sàng Số bệnh nhân (%) Đau đầu 10 (66,7)
Rối loạn cảm giác vỏ não 2 (13,3)
Trong nhóm 15 bệnh nhân u sao bào độ ác thấp, triệu chứng phổ biến nhất là đau đầu (66,7%), tiếp theo là co giật (40%) và yếu liệt chi (33,3%) Ngoài ra, còn có rối loạn cảm giác vỏ não (13,3%), nôn ói (6,7%), mờ mắt (6,7%) và chóng mặt (6,7%).
Bảng 3.4 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân u sao bào độ ác cao
Triệu chứng lâm sàng Số bệnh nhân (%) Đau đầu 12 (80)
Rối loạn cảm giác vỏ não 4 (26,7)
Rối loạn ngôn ngữ kiểu Broca 1 (6,7)
Trong nhóm u sao bào độ ác cao, triệu chứng phổ biến nhất là đau đầu, xuất hiện ở 80% bệnh nhân Tiếp theo là yếu liệt chi với tỷ lệ 53,3%, co giật chiếm 26,7%, rối loạn cảm giác vỏ não cũng 26,7%, và rối loạn ngôn ngữ ở mức 6,7%.
Tất cả các 30 BN trong nghiên cứu đều có thang điểm GCS trước phẫu thuật 15 điểm (100%).
3.1.8 Đánh giá chức năng hoạt động theo thang điểm Karnofsky
Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi đều thuộc nhóm có thang đo chức năng hoạt động theo thang điểm Karnofsky từ 80 điểm trở lên (100%).
3.1.9 Đặc điểm hình ảnh học của cộng hưởng từ chẩn đoán
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 18 BN có tổn thương nằm bên trái (60%), 12
BN có tổn thương nằm bên phải (40%).
Tổn thương nằm ở thùy trán chiếm 46,7%, thùy đính chiếm 53,3%.
Thể tích u trung bình trên hình ảnh cộng hưởng từ là 57,9 ± 52,6 cm³, với thể tích nhỏ nhất là 7,5 cm³ và lớn nhất là 218,3 cm³ Ở nhóm bệnh nhân u sao bào độ ác thấp, thể tích u trung bình là 38,5 ± 51,3 cm³, với thể tích nhỏ nhất là 7,5 cm³ và lớn nhất là 218,3 cm³ Trong khi đó, nhóm bệnh nhân u sao bào độ ác cao có thể tích u trung bình là 77,3 ± 47,7 cm³, với thể tích nhỏ nhất là 20,3 cm³ và lớn nhất là 198,7 cm³.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 90% (27 bệnh nhân) có hình ảnh tín hiệu thấp trên T1, trong khi 10% (3 bệnh nhân) có tín hiệu hỗn hợp trên T1 Đối với 15 bệnh nhân u sao bào độ ác thấp, tỷ lệ này đạt 93,3%.
(14 BN) hình ảnh có tín hiệu thấp trên T1 Trong nhóm bệnh nhân u sao bào độ ác cao,86,7% (13 BN) có tín hiệu thấp trên T1.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, khảo sát 30 bệnh nhân cho thấy 86,7% có hình ảnh tín hiệu cao trên T2, trong khi 13,3% có tín hiệu hỗn hợp trên T2, cả khi phân tích chung và riêng từng nhóm độ ác thấp và độ ác cao.
Khảo sát chung 30 BN trong nghiên cứu, có 36,7% (11 BN) không bắt thuốc, 36,7%
(11 BN) bắt thuốc hỗn hợp, 26,7% (8 BN) bắt thuốc dạng viền.
Xét riêng nhóm u sao bào độ ác thấp, 66,7% (10 BN) không bắt thuốc cản từ, 33,3%
Trong nghiên cứu về 3 bệnh nhân (BN) sử dụng thuốc dạng hỗn hợp, không có trường hợp nào bắt thuốc viền Đối với nhóm u sao bào có độ ác cao, 53,3% (8 BN) bắt thuốc dạng viền, 33,3% (5 BN) bắt thuốc dạng hỗn hợp, và chỉ 6,7% (1 BN) không bắt thuốc.
Bảng 3.3 Tính chất phù của u sao bào trên MRI Độ 0 Độ 1 Độ 2 Độ 3 Tổng
Chung Độ ác thấp Độ ác cao
U sao bào độ ác thấp chủ yếu là phù độ 0 và độ 1 với tỷ lệ 26,7% và 60%.
U sao bào độ ác cao chủ yếu là phù độ 2 và độ 3 với tỷ lệ 46,7% và 40%.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân có vôi hóa trên MRI thấp chiếm13,3% (4 BN).
Chúng tôi ghi nhận tỷ lệ BN có tính chất hoại tử u trên MRI là 30% (9 BN) trong đó 77,8% gặp ở u sao bào độ ác cao (7 BN).
Trong nghiên cứu có 10 BN (33,3%) có tính chất xuất huyết trên MRI, trong đó 87,3% gặp ở các u sao bào độ ác cao 80% (8 BN).
3.1.10 Tính chất vùng vỏ não vận động trên cộng hưởng từ chức năng
3.1.10.1 Vị trí vùng vỏ não vận động
Trong nghiên cứu của chúng tôi, vùng vỏ não vận động được xác định trên tất cả
30 BN, trong đó 83,3% (25 BN) nằm ở vị trí sau ngoài tổn thương, 16,7% (5 BN) nằm trước ngoài tổn thương.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% bệnh nhân (21 BN) có tổn thương ở vùng trán cho thấy vị trí vùng vận động ở sau ngoài của tổn thương Ngược lại, trong nhóm bệnh nhân có tổn thương vùng đính, chỉ có 44,4% (4 BN) ghi nhận vị trí vùng vận động ở sau ngoài tổn thương, trong khi 55,6% (5 BN) không có.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, trong số 13 bệnh nhân có yếu liệt vận động, 23,1% (3 bệnh nhân) có vị trí vùng vận động nằm phía trước ngoài, trong khi 76,9% (10 bệnh nhân) có vị trí vùng vận động phía sau ngoài Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,628.
Trong số 10 BN động kinh, vị trí trước ngoài 2 BN (20%), sau ngoài là 8 BN (80%).
Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê p = 1,000.
3.1.10.2 Đặc điểm khoảng cách từ vùng thương tổn tới vùng vận động – LAD
Trong 30 BN thuộc nghiên cứu của chúng tôi, khoảng cách từ vùng vận động đến tổn thương (LAD) >1 chiếm 53,3% (16 BN), LAD 1 chiếm 86,7% (13 BN), LAD < 1 chiếm 13,3% (2 BN).
Trong các BN u sao bào độ ác cao, LAD >1 chiếm 20% (3 BN), LAD < 1 chiếm80% (12 BN).
Kết quả điều trị phẫu thuật u sao bào vùng vỏ não vận động
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 30 BN được phẫu thuật lấy u thời gian phẫu thuật trung bình là 3,2 giờ ± 0,8 giờ.
3.2.2 Mức độ lấy u trên phẫu thuật
Mức độ lấy u trong phẫu thuật được đánh giá qua quan sát và tính toán của các phẫu thuật viên, cho thấy 10% (3 bệnh nhân) lấy bán phần u, 53,3% (16 bệnh nhân) lấy gần toàn bộ u, và 36,7% (11 bệnh nhân) lấy toàn bộ u đại thể.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 93,3% (28 BN) tri giác sau mổ tốt GCS 15 điểm.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ yếu liệt ngay sau phẫu thuật đạt 40%, tương ứng với 12 bệnh nhân Cả nhóm u sao bào độ ác thấp và nhóm u sao bào độ ác cao đều có tỷ lệ yếu liệt sau mổ tương đương nhau, cũng là 40% với 6 bệnh nhân trong mỗi nhóm.
Mối quan hệ giữa tình trạng yếu trước và sau mổ cho thấy trong nhóm bệnh nhân yếu sau mổ, có đến 83,3% (10 bệnh nhân) đã yếu trước mổ, trong khi chỉ 16,7% (2 bệnh nhân) bình thường trước mổ Ngược lại, trong nhóm bệnh nhân không yếu sau mổ, chỉ có 16,7% (3 bệnh nhân) có tình trạng yếu trước mổ, còn lại 83,3% (15 bệnh nhân) bình thường Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,001 Đáng chú ý, trong số các bệnh nhân yếu sau mổ, có 7 bệnh nhân (23,3%) có tình trạng yếu liệt tệ hơn so với trước mổ.
Mối quan hệ giữa tình trạng yếu sau phẫu thuật và vị trí tổn thương cho thấy, trong nhóm bệnh nhân yếu, 58,3% (7 bệnh nhân) có tổn thương ở vùng trán, trong khi 41,7% (5 bệnh nhân) có tổn thương ở vùng đính.
Trong nhóm bệnh nhân không yếu trước mổ, 77,8% (14 BN) có u ở vị trí trán, trong khi 22,2% (4 BN) có u ở vùng đính, với sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,418) Đối với nhóm bệnh nhân yếu, 25% (3 BN) có vị trí vùng vận động ở trước ngoài, và 75% (9 BN) ở phía sau ngoài Ngược lại, trong nhóm bệnh nhân không yếu, 11,1% (2 BN) có vị trí trước ngoài, trong khi 88,9% (16 BN) có vị trí sau ngoài, với sự khác biệt cũng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,364).
3.2.5 Rối loạn vận ngôn sau mổ
Trong 30 trường hợp thuộc nghiên cứu, có 1 trường hợp (3,3%) rối loạn ngôn ngữ kiểu Broca sau mổ
3.2.6 Rối loạn cảm giác vỏ não sau mổ
Chúng tôi ghi nhận có 3 trường hợp (10%) rối loạn cảm giác vỏ não sau mổ
Tỷ lệ co giật sau mổ trong nghiên cứu chúng tôi là 13,3% (4 BN)
3.2.8 Biến chứng ngay sau mổ
Nghiên cứu của chúng tôi có tỷ kệ phù não cao 80% (24 BN) trong đó có hai trường hợp phải phẫu thuật lại để giải ép
3.2.9 Thể tích u còn lại trên MRI
Thể tích u còn lại sau mổ trong nghiên cứu trung bình là 11,3 ± 16,8 cm 3
3.2.10 Mức độ lấy u dựa vào thể tích u còn lại
Bảng 3.5 Mức độ lấy u trên MRI sau mổ
Mức độ lấy u (%) Số bệnh nhân (%)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, mức độ lấy u dựa vào thể tích u còn sót lại trên MRI trong vòng 72 giờ sau mổ cho thấy 70% bệnh nhân (21 BN) đạt mức độ lấy u từ 90 đến dưới 100%, trong khi 30% (9 BN) chỉ lấy được từ 50%.
1 chỉ chiếm 7,7% (1 bệnh nhân), trong khi đó LAD < 1 chiếm 92,3% (12 bệnh nhân) Ngược lại, trong số các bệnh nhân không yếu, tỷ lệ LAD > 1 lên tới 88,2% (15 bệnh nhân), còn LAD < 1 chỉ chiếm 11,8% (2 bệnh nhân) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,0001.
Mối liên hệ giữa LAD và tình trạng động kinh trước mổ cho thấy trong số các bệnh nhân động kinh, tỷ lệ LAD > 1 là 40% (4 bệnh nhân) và LAD < 1 là 60% (6 bệnh nhân) Ngược lại, trong nhóm bệnh nhân không động kinh, tỷ lệ LAD > 1 là 60% (12 bệnh nhân) và LAD < 1 là 40% (8 bệnh nhân) Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,442.
3.3.2 Mối liên quan giữa LAD với tình trạng yếu liệt sau mổ
Bảng 3.8 Mối quan hệ giữa LAD và khiếm khuyết vận động sau mổ
Tiến triển xấu hơn trước mổ
Phép kiểm chi bình phương, * p < 0,05
Trong nhóm bệnh nhân yếu liệt sau phẫu thuật, 91,7% (11 BN) có LAD < 1, 8,3%
(1 BN) có LAD > 1; Trong số nhóm không yếu liệt sau mổ, 16,7% (3 BN) có LAD < 1; 83,3% (15 BN) có LAD >1 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p < 0,0001
3.3.3 Mối liên quan giữa LAD và mức độ lấy u
Bảng 3.9 Mối quan hệ giữa LAD và mức độ lấy u
Mức độ lấy u ≥ 90% 5 (35,7) 16 (100%) < 0,0001 * Mức độ lấy u < 90% 9 (64,3) 0
Phép kiểm chi bình phương, * p < 0,05
Trong nhóm bệnh nhân có LAD ≤ 1 cm, 35,7% mức độ lấy u ≥ 90%; trong nhóm bệnh nhân có LAD > 1 cm 100% mức độ lấy u ≥ 90% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p < 0,0001.
BÀN LUẬN
Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học u sao bào vỏ não vận động
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 50% các trường hợp nằm trong độ tuổi 18-39 So với các nghiên cứu trước, như của Trần Chiến (2011) với tuổi trung bình 33.89, kết quả của chúng tôi cho thấy sự tương đồng Trong khi đó, nghiên cứu của Abdullah (2016) ghi nhận tuổi trung bình là 42.85, cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, nhưng vẫn cho thấy sự tương đồng về xu hướng độ tuổi.
Theo tác giả Kowalczuk nghiên cứu 75 trường hợp u tế bào sao độ ác cao từ năm
Từ năm 1993 đến 1997, tuổi trung bình của các nghiên cứu trước đây cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi đối tượng nghiên cứu khác nhau; trong khi Kowalczuk tập trung vào u sao bào độ ác cao, chúng tôi lại nghiên cứu cả hai loại u sao bào.
Theo y văn, độ tuổi trung bình của bệnh nhân u tế bào sao độ ác thấp là 39,4 tuổi, trong khi đối với u tế bào sao độ ác cao là 53 tuổi Nghiên cứu phân chia độ tuổi theo phân độ mô học WHO 2007 cho thấy độ tuổi trung bình của u tế bào sao độ ác thấp là 38,9 và độ ác cao là 42,8, phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước Tóm lại, u tế bào sao có độ tuổi phát hiện khác nhau tùy thuộc vào độ mô học, và tuổi trên 40 được xác định là yếu tố tiên lượng không tốt trong điều trị bệnh nhân.
Bảng 4.1 So sánh về tuổi với các tác giả khác
Tác giả Số ca Độ tuổi Trung bình
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nam và nữ là 1/1, cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa hai giới Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Kowalczuk năm 1997, trong đó đã ghi nhận 75 trường hợp u tế bào đệm ác tính.
So với các nghiên cứu gần đây, có sự khác biệt đáng chú ý trong tỷ lệ mắc u tế bào thần kinh đệm giữa nam và nữ Nghiên cứu của Robert Dubrow (2011) cho thấy nam giới mắc u nhiều hơn nữ giới với tỷ lệ 1,4-1,6/1 Sự khác biệt này không chỉ xuất hiện ở u tế bào thần kinh đệm mà còn ở nhiều loại ung thư khác Nguyên nhân có thể do sự khác biệt về gene, hóc môn giới tính và các yếu tố sinh sản của phụ nữ.
Bảng 4.2 So sánh tỉ lệ nam/nữ của các tác giả
Tác giả Số ca Nam Nữ Tỷ lệ nam/nữ
Nghiên cứu của chúng tôi khảo sát 30 bệnh nhân, cho thấy thời gian khởi phát bệnh trung bình là 1 tháng đối với tất cả u sao bào Khi phân loại theo WHO, thời gian khởi phát bệnh trung bình cho u tế bào thần kinh đệm độ ác thấp là 1 tháng, trong khi đối với độ ác cao hơn là 0,5 tháng So sánh với nghiên cứu của Trần Minh Huy, thời gian khởi phát bệnh trung bình cho u tế bào thần kinh đệm độ ác cao là 3,9 +/- 5,8 tháng, với 60% trường hợp khởi bệnh dưới 1 tháng Đối với u tế bào thần kinh đệm độ ác thấp, Edward Pan ghi nhận thời gian khởi phát từ 6-17 tháng Điều này cho thấy thời gian khởi phát bệnh khác nhau giữa hai nhóm tùy thuộc vào mức độ ác tính mô bệnh học và tốc độ tiến triển của khối u.
4.1.4 Lí do nhập viện và triệu chứng lâm sàng
Theo khảo sát 30 bệnh nhân, lý do nhập viện phổ biến nhất là đau đầu (46,7%), tiếp theo là co giật (33,3%) và yếu liệt vận động (20%) Đối với các trường hợp u tế bào sao có độ ác tính cao, đau đầu cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (46,6%) Nghiên cứu của Bảo Hiệp trên 56 trường hợp u sao bào độ ác cao ghi nhận đau đầu chiếm 75%, trong khi Trần Minh Huy cho thấy 86,6% trường hợp nhập viện do đau đầu Điều này cho thấy các u tế bào thần kinh đệm độ ác cao phát triển nhanh, gây ra các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ, với đau đầu là triệu chứng nổi bật Đối với u tế bào có độ ác tính thấp hơn, co giật chiếm 40% lý do khám bệnh Các nghiên cứu quốc tế như của Abdullah (2016) cho thấy tỷ lệ nhập viện vì co giật là 47,62%.
216 trường hợp u tế bào thần kinh đệm độ ác thấp có tỷ lệ nhập viện vì động kinh là 83%
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tổn thương phát triển chậm với tốc độ 4,1mm/năm, điều này dẫn đến việc ít gây ra hiệu ứng choáng chỗ và tăng áp lực nội sọ Triệu chứng chủ yếu xuất hiện là các triệu chứng tại vị trí đặc hiệu của tổn thương, bao gồm co giật và các dấu hiệu khu trú.
Các dấu hiệu thần kinh khu trú, bao gồm yếu và rối loạn cảm giác, xuất hiện ở cả hai nhóm với tỷ lệ tương đương (20% và 26,7%), tương tự như các nghiên cứu trước đây.
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận sự khác biệt về mức độ yếu liệt ở các trường hợp u tế bào đệm độ ác thấp, chủ yếu ở nhóm không có dấu hiệu thần kinh khu trú hoặc có mức độ nhẹ (>4/5) Trong khi đó, đối với u tế bào thần đinh đệm có độ ác cao hơn, triệu chứng yếu liệt thường nặng hơn ( 80, cho thấy tất cả đều có khả năng hoạt động tốt và đủ thể trạng để tham gia phẫu thuật Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trong và ngoài nước, nhờ vào việc bệnh nhân đến sớm khi có triệu chứng hoặc không đáp ứng với điều trị thuốc ban đầu, cùng với sự nâng cao về nhận thức sức khỏe và các phương tiện chẩn đoán hiện đại Tất cả bệnh nhân đều chọn phẫu thuật làm phương pháp điều trị chính, trong đó thang điểm chức năng trước mổ theo Karnofsky tốt là yếu tố tiên lượng quan trọng.
Bảng 4.3 So sánh thang điểm Karnofsky trước mổ giữa các nghiên cứu
Nghiên cứu Tỉ lệ bệnh nhân có KPS >80 (%)
4.1.6 Kết quả trên cộng hưởng từ quy ước trước mổ
4.1.6.1 Kích thước u trước phẫu thuật
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thể tích u trung bình được ghi nhận là 57,9 ± 52,6 cm³ Cụ thể, đối với u sao bào có độ ác thấp, thể tích u trung bình là 38,5 ± 51,3 cm³.
So sánh với nghiên cứu của Justin (2008) trên 216 bệnh nhân u thần kinh đệm độ ác thấp, thể tích u trung bình ghi nhận là 36,6 cm³, tương tự với nghiên cứu của chúng tôi Đối với các bệnh nhân có giải phẫu bệnh là u tế bào thần kinh đệm bậc cao, thể tích trung bình là 77,3 ± 47,7 cm³, phù hợp với các nghiên cứu khác Theo Trần Chiến (2011), đa số u nguyên bào thần kinh đệm có kích thước > 50 mm Trần Minh Huy (2016) ghi nhận kích thước u trung bình trên cộng hưởng từ là 59,4 ± 11,4 mm.
M [37] báo cáo thể tích u của 1229 bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm là 31 cm³, thấp hơn so với các nghiên cứu trong nước và của chúng tôi U sao bào độ ác thấp thường được phát hiện khi kích thước u còn nhỏ hơn 40 cm³, nhờ vào tốc độ tiến triển chậm của loại u này Ngược lại, đối với u sao bào độ ác cao, kích thước u ghi nhận từ các tác giả trong nước lớn hơn so với các tác giả nước ngoài Điều này có thể do các nước có nền y tế phát triển và ý thức cao về sức khỏe, giúp tầm soát và phát hiện u ở giai đoạn sớm hơn, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị nhờ vào số lượng tế bào u còn thấp.
Bảng 4.4 So sánh kích thước u giữa các nghiên cứu
Nghiên cứu Kích thước u trung bình
Chúng tôi Chung Độ ác thấp Độ ác cao
4.1.6.2 Đặc điểm trên cộng hưởng từ quy ước
Trong nghiên cứu của chúng tôi về u sao bào, các u có độ ác thấp 90% thể hiện tín hiệu thấp trên T1 và 86,7% tín hiệu cao trên T2 Ngược lại, các u tế bào sao có độ ác cao hơn cho thấy 86,7% tín hiệu T1 giảm, 13,3% tín hiệu hỗn hợp và 86,7% tín hiệu tăng trên T2 Những ghi nhận này phù hợp với nhận xét của tác giả Osborn.
Mối liên quan giữa LAD và kết quả điều trị u sao bào vùng vỏ não vận động
Nghiên cứu khảo sát mối quan hệ giữa mức độ yếu liệt trước và sau mổ với các yếu tố như tuổi, giới, giải phẫu bệnh, và đặc điểm trên MRI cho thấy có mối liên hệ thống kê giữa mức độ khiếm khuyết vận động sau mổ và khoảng cách từ bờ tổn thương đến vùng vận động (LAD) Cụ thể, khi LAD > 1cm, tỷ lệ không khiếm khuyết vận động trước và sau mổ đạt 93,8%, trong khi với LAD < 1cm, tỷ lệ này chỉ còn 78,6% Kết quả này khẳng định giá trị của LAD như một yếu tố dự báo mức độ tàn tật của bệnh nhân, giúp nhận diện nguy cơ điều trị và tiên lượng mức độ tàn tật, từ đó hỗ trợ quyết định điều trị.
Biểu đồ 4.1 So sánh tỷ lệ LAD < 1 cm trên BN yếu liệt vận động
4.3.2 Mối liên quan giữa LAD và mức độ lấy u
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng các bệnh nhân có LAD lớn hơn 1 cm đều đạt được mức độ lấy u gần như hoàn toàn trên 90%, đồng thời chỉ để lại khiếm khuyết vận động ở mức 6,25% So sánh với tài liệu y văn quốc tế, chúng tôi nhận thấy có sự tương đồng trong kết quả.
2004 nghiên cứu trên 54 bệnh nhân u não liên quan đến vùng vận động có sử dụng cộng
Wood 2011 Voss 2013 Bailey 2015 Chúng tôi
Nghiên cứu cho thấy khoảng cách giữa các thương tổn và vùng tín hiệu vận động trên cộng hưởng từ chức năng có ảnh hưởng đáng kể đến khiếm khuyết thần kinh sau mổ và việc cắt bỏ tổn thương không hoàn toàn (p < 0,05) Các nghiên cứu của Zhang Y (2008) và Yang MQ (2011) cũng chỉ ra rằng khoảng cách an toàn để lấy gần toàn bộ u là > 1 cm Điều này cho thấy LAD là yếu tố tiên lượng quan trọng liên quan đến mức độ lấy u của bệnh nhân Việc sử dụng cộng hưởng từ chức năng trong lập kế hoạch trước mổ giúp phẫu thuật viên thực hiện cắt bỏ tổn thương một cách an toàn, từ đó cải thiện kết quả điều trị và tiên lượng sống còn cho bệnh nhân.