1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả chẩn đoán và điều trị viêm bàng quang cấp ở phụ nữ tại phòng khám tiết niệu

121 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả chẩn đoán và điều trị viêm bàng quang cấp ở phụ nữ tại phòng khám tiết niệu
Tác giả Nguyễn Xuân Chiến
Người hướng dẫn PGS.TS. Ngô Xuân Thái
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngoại – Tiết niệu
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 (17)
    • 1.1. Đại cương về nhiễm khuẩn đường tiết niệu (17)
      • 1.1.1. Tần suất (17)
      • 1.1.2. Các khái niệm (17)
      • 1.1.3. Đường vào của vi khuẩn gây bệnh (19)
      • 1.1.4. Sự đề kháng tự nhiên của cơ thể (20)
      • 1.1.5. Tính gây bệnh của vi khuẩn (22)
      • 1.1.6. Yếu tố thuận lợi cho nhiễm khuẩn đường tiết niệu (24)
      • 1.1.7. Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn không được giải quyết (26)
      • 1.1.8. Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn (27)
    • 1.2. Viêm bàng quang cấp (29)
      • 1.2.1. Viêm bàng quang cấp đơn thuần (30)
      • 1.2.2. Viêm bàng quang cấp phức tạp (39)
      • 1.2.3. Điều trị dự phòng các đợt viêm bàng quang tái phát (45)
      • 1.2.4. Tình hình nhạy cảm của các kháng sinh trong viêm bàng quang cấp đơn thuần ở phụ nữ (48)
      • 1.2.5. Tình hình nhạy cảm của các kháng sinh trong nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp ở Việt Nam (0)
  • CHƯƠNG 2 (51)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (51)
      • 2.2.1. Dân số mục tiêu (51)
      • 2.2.2. Dân số chọn mẫu (51)
      • 2.2.3. Tiêu chuẩn chọn bệnh (51)
      • 2.2.4. Tiêu chuẩn loại trừ (52)
      • 2.2.5. Cỡ mẫu nghiên cứu (52)
    • 2.3. Thu thập và xử lý số liệu (52)
      • 2.3.1. Thu thập số liệu (52)
      • 2.3.2. Xử lý số liệu (54)
    • 2.4. Đạo đức nghiên cứu (54)
  • CHƯƠNG 3 (56)
    • 3.1. Tuổi (56)
    • 3.2. Đặc điểm lâm sàng (59)
      • 3.2.1. Triệu chứng lâm sàng (59)
      • 3.2.2. Các vấn đề liên quan viêm bàng quang cấp (60)
      • 3.2.3. Thời gian có triệu chứng (61)
      • 3.2.4. Phân loại viêm bàng quang cấp đơn thuần và phức tạp (61)
      • 3.2.5. Liên quan giữa nhóm tuổi và phân loại viêm bàng quang cấp (62)
      • 3.2.6. Yếu tố gây phức tạp viêm bàng quang cấp (63)
    • 3.3. Đặc điểm cận lâm sàng (67)
      • 3.3.1. Tổng phân tích nước tiểu (67)
      • 3.3.2. Cấy nước tiểu (67)
        • 3.3.2.1. Các loại vi khuẩn gây bệnh trong viêm bàng quang cấp (67)
        • 3.3.2.2. Các loại vi khuẩn gây bệnh trong viêm bàng quang cấp đơn thuần (0)
        • 3.3.2.3. Các loại vi khuẩn gây bệnh trong viêm bàng quang cấp phức tạp (0)
        • 3.3.2.4. Men kháng thuốc kháng sinh ESBL trong viêm bàng quang cấp (71)
        • 3.3.2.5. Tình hình vi khuẩn tiết ESBL trong viêm bàng quang cấp đơn thuần và viêm bàng quang cấp phức tạp (0)
        • 3.3.2.6. Mối liên quan giữa nhóm tuổi và vi khuẩn tiết ESBL (73)
        • 3.3.2.7. Tình hình tiết ESBL của vi khuẩn E.coli và Klebsiella sp (74)
        • 3.3.2.8. Tình hình vi khuẩn tiết men ESBL qua các năm (75)
        • 3.3.3.1. Tỉ lệ nhạy của các kháng sinh trong viêm bàng quang cấp (76)
        • 3.3.3.2. Tỉ lệ nhạy của các kháng sinh trong viêm bàng quang cấp đơn thuần và viêm bàng quang cấp phức tạp (0)
        • 3.3.3.3. Tỉ lệ nhạy của các kháng sinh theo men ESBL (79)
    • 3.4. Tình hình điều trị kháng sinh dùng theo kinh nghiệm ở phòng khám (80)
  • CHƯƠNG 4 (83)
    • 4.1. Bàn về các yếu tố gây phức tạp khác trong viêm bàng quang cấp 71 1. Mối liên quan giữa nhóm phụ nữ lớn tuổi và nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp (83)
      • 4.1.2. Liên quan giữa nhiễm vi khuẩn đa kháng thuốc kháng sinh và nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp (84)
    • 4.2. Phân bố các loại vi khuẩn gặp trong viêm bàng quang cấp (85)
      • 4.2.1. Phân bố các loại vi khuẩn gặp trong viêm bàng quang cấp đơn thuần (85)
      • 4.2.2. Phân bố các loại vi khuẩn gặp trong nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp (0)
    • 4.3. Tình hình vi khuẩn tiết ESBL trong viêm bàng quang cấp (88)
      • 4.3.1. Tình hình vi khuẩn tiết ESBL trong viêm bàng quang cấp đơn thuần (88)
      • 4.3.2. Tình hình vi khuẩn tiết ESBL trong nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp (0)
      • 4.3.3. Diễn biến vi khuẩn tiết ESBL trong viêm bàng quang cấp qua các năm (0)
    • 4.4. Tỉ lệ nhạy các kháng sinh với E.coli trong viêm bàng quang cấp (91)
      • 4.4.1. Tỉ lệ nhạy của các kháng sinh với E.coli trong viêm bàng quang cấp đơn thuần (91)
      • 4.4.2. Tỉ lệ nhạy của các kháng sinh với E.coli trong nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp (93)
      • 4.4.3. Tỉ lệ nhạy của các kháng sinh với E.coli tiết ESBL (94)
    • 4.5. Bàn về kháng sinh dùng theo kinh nghiệm trong điều trị viêm bàng quang cấp đơn thuần (0)
    • 4.6. Bàn về kháng sinh dùng theo kinh nghiệm trong điều trị viêm bàng quang cấp phức tạp ......................................................................... 87 4.7. Bàn về kháng sinh điều trị vi khuẩn đa kháng kháng sinh tại (0)
    • 4.8. Đánh giá kết quả điều trị viêm bàng quang cấp tại phòng khám (0)
    • 4.9. Bàn về dùng kháng sinh hợp lý trong bối cảnh gia tăng vi khuẩn đề kháng kháng sinh (108)
  • CHƯƠNG 5 (110)
  • KẾT LUẬN (98)
  • Tài liệu tham khảo (113)

Nội dung

điều trị những bệnh nhiễm khuẩn nhẹ, thông thường mà cũng phải dùng đếnkháng sinh mạnh.NKĐTN là vấn đề thường gặp nhất trong chuyên khoa tiết niệu, và trongNKĐTN thì viêm bàng quang cấp

Đại cương về nhiễm khuẩn đường tiết niệu

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) là một trong những bệnh phổ biến nhất trong cộng đồng, ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi từ trẻ sơ sinh đến người già Mỗi năm, NKĐTN là nguyên nhân dẫn đến hơn 7 triệu lượt khám bệnh, hơn 1 triệu trường hợp cấp cứu và hơn 100.000 bệnh nhân phải nhập viện Đặc biệt, bệnh này thường gặp ở phụ nữ, với khoảng 25-40% phụ nữ tại Hoa Kỳ trong độ tuổi từ 20 đến 40 mắc phải.

NKĐTN (nhiễm trùng đường tiết niệu) là phản ứng viêm của niêm mạc đường tiết niệu do vi khuẩn xâm nhập, thường kèm theo sự hiện diện của vi khuẩn trong nước tiểu và tiểu mủ.

• Khuẩn niệu (Bacteriuria ) : là sự hiện diện của vi khuẩn trong nước tiểu (bình thường nước tiểu vô khuẩn) Khuẩn niệu có thể có hoặc không có triệu chứng.

Tiểu mủ (pyuria) là hiện tượng có sự xuất hiện của tế bào bạch cầu trong nước tiểu, thường chỉ ra tình trạng nhiễm khuẩn và phản ứng viêm của niệu mạc đối với vi khuẩn.

Khuẩn niệu không kèm theo tiểu mủ thường chỉ ra sự hiện diện của vi khuẩn mà không có nhiễm khuẩn đường tiểu Trong trường hợp có tiểu mủ nhưng không phát hiện khuẩn niệu, cần xem xét các tình trạng như nhiễm lao, sỏi thận, hoặc ung thư.

NKĐTN có thể được chia theo tình trạng giải phẫu, chức năng của đường tiết niệu và sức khoẻ của người bệnh :

• Đơn thuần (uncomplicated) : mô tả sự nhiễm khuẩn trên bệnh nhân khoẻ mạnh có cấu trúc và chức năng của đường tiết niệu bình thường

Phức tạp trong y học liên quan đến các yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và giảm hiệu quả điều trị Những yếu tố này bao gồm bất thường trong cấu trúc hoặc chức năng của đường tiết niệu, như bướu, sỏi niệu, hay bàng quang thần kinh Ngoài ra, các bệnh toàn thân mạn tính kèm theo cũng có thể làm suy giảm hệ miễn dịch, đặc biệt là ở phụ nữ mang thai.

NKĐTN cũng có thể được chia theo mối quan hệ với các lần NKĐTN khác :

• Nhiễm khuẩn lần đầu (first hoặc isolated ) : là nhiễm khuẩn trên bệnh nhân chưa từng bị NKĐTN hay đã bị nhưng xa trong quá khứ

Nhiễm khuẩn không được giải quyết xảy ra khi người bệnh không đáp ứng với điều trị kháng sinh do cùng một tác nhân vi khuẩn và tính nhạy cảm kháng sinh tương tự Tình trạng này cho thấy điều trị ban đầu không đủ để loại bỏ các triệu chứng và sự phát triển của vi khuẩn trong đường tiểu Nếu các triệu chứng nhiễm khuẩn đường tiểu không được cải thiện sau khi điều trị hoặc tái phát nhanh chóng, cần thực hiện tổng phân tích nước tiểu, cấy nước tiểu và kháng sinh đồ để đánh giá tình hình.

Nhiễm khuẩn tái phát là tình trạng nhiễm khuẩn xuất hiện sau khi đã điều trị thành công lần trước Có hai dạng chính: tái nhiễm, xảy ra khi có sự nhiễm khuẩn mới với loại vi khuẩn khác từ bên ngoài hệ niệu, thường tái phát sau một thời gian dài; và nhiễm khuẩn tồn tại dai dẳng, khi nước tiểu đã được vô trùng nhưng vẫn còn nguồn nhiễm khuẩn như sỏi niệu hoặc dị vật trong đường tiết niệu, dẫn đến tái phát trong khoảng thời gian ngắn.

Sự phân biệt giữa tái nhiễm và nhiễm khuẩn dai dẳng là rất quan trọng trong điều trị Bệnh nhân nhiễm khuẩn dai dẳng cần phải được điều trị triệt để thông qua việc truy tìm và loại bỏ nguồn nhiễm khuẩn bằng phương pháp ngoại khoa Ngược lại, phụ nữ bị tái nhiễm thường không có bất thường về tiết niệu và không cần điều trị kéo dài.

NKĐTN cũng có thể được chia theo thời gian : tái phát ( recurrent) nếu bị ≥ 2 lần/ 6 tháng hoặc ≥ 3 lần/ năm [20].

Mạn tính là thuật ngữ không nên sử dụng trong nhiễm khuẩn đường tiết niệu, ngoại trừ trong trường hợp viêm thận bể thận mạn tính hoặc viêm tuyến tiền liệt do vi khuẩn, do không có định nghĩa rõ ràng về thời gian nhiễm khuẩn để phân loại thành cấp tính và mạn tính.

1.1.3 Đường vào của vi khuẩn gây bệnh

Sự xâm nhập vào đường tiết niệu – sinh dục của vi khuẩn có thể thông qua 4 con đường sau:

Vi khuẩn quanh niệu đạo thường là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN), đặc biệt là từ vùng hậu môn và âm hộ, nhất là khi có bệnh phụ khoa Hầu hết các trường hợp viêm đài bể thận xảy ra khi vi khuẩn từ bàng quang đi ngược lên niệu quản và xâm nhập vào nhu mô thận Phụ nữ có nguy cơ NKĐTN cao hơn nam giới do niệu đạo ngắn và vị trí gần với tiền đình âm đạo và trực tràng, đặc biệt trong các trường hợp giao hợp.

Sự lan truyền theo đường máu thường xảy ra ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch và trẻ sơ sinh, với các tác nhân gây bệnh phổ biến như Staphylococcus aureus, nấm Candida và Mycobacterium tuberculosis Nghiên cứu cho thấy khi vi khuẩn được tiêm vào máu, hệ bạch cầu sẽ nhanh chóng tiêu diệt chúng Tuy nhiên, vi khuẩn có thể gây bệnh ở thận trong các trường hợp có cản trở lưu thông nước tiểu, như hẹp niệu quản hoặc sỏi niệu quản, hoặc khi có chấn thương ở thận trước khi tiêm vi khuẩn Đôi khi, nhiễm khuẩn theo đường máu có thể phát sinh từ thận, khi các vi khuẩn Gram âm có sẵn ở thận xâm nhập vào máu và sau đó quay lại gây nhiễm khuẩn qua các ổ áp xe nhỏ trong thận.

Sự lan truyền vi khuẩn qua đường bạch huyết thông qua chuỗi hạch của trực tràng, đại tràng và cạnh niệu quản được công nhận là nguyên nhân gây nhiễm khuẩn đường tiểu nặng (NKĐTN) Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn thiếu chứng cứ khoa học để khẳng định vai trò của sự lan truyền này trong cơ chế bệnh sinh của NKĐTN.

Vi khuẩn có thể lan tràn trực tiếp từ các cơ quan lân cận vào đường tiết niệu, đặc biệt ở những bệnh nhân mắc áp xe trong phúc mạc, hoặc có tình trạng dò bàng quang – ruột hay dò bàng quang – âm đạo.

1.1.4 Sự đề kháng tự nhiên của cơ thể Đối với phụ nữ còn trong thời kỳ sinh đẻ, nhờ sự thấm ngấm của nội tiết tố sinh dục, nên các tổ chức ở âm đạo và niệu đạo được phát triển tốt, và có khả năng chống đỡ tốt đối với vi khuẩn Nhờ dịch âm đạo có tính acid, làm cho vi khuẩn không bám dính được vào vùng âm môn và quanh niệu đạo, tạo điều kiện cho vùng âm môn và niệu đạo chống đỡ lại với sự xâm nhập được của vi khuẩn [10].

Bàng quang bảo vệ cơ thể khỏi vi khuẩn nhờ vào việc liên tục được rửa sạch bằng nước tiểu vô trùng từ thận Khi đi tiểu, bàng quang loại bỏ nước tiểu chứa vi khuẩn ra ngoài Một số vi khuẩn có thể bám lại trên niêm mạc bàng quang và niệu đạo, nhưng chúng sẽ bị tiêu diệt bởi các tế bào niêm mạc có khả năng thực bào Nghiên cứu của Cox và Hinman cho thấy, nếu đưa một lượng vi khuẩn nhất định vào bàng quang qua ống thông niệu đạo, sau 72 giờ rút ống, bàng quang sẽ không còn vi khuẩn.

Viêm bàng quang cấp

Hiện tại, các sách giáo khoa và hướng dẫn quốc tế về tiết niệu học không xác định một mốc thời gian cụ thể để định nghĩa "cấp" trong viêm bàng quang Tuy nhiên, hướng dẫn của Hội Tiết niệu Thận học Việt Nam đã bổ sung thêm các tiêu chuẩn liên quan.

Không có triệu chứng nào xuất hiện trong 4 tuần trước khi các triệu chứng mới bắt đầu Hiện tại, không có định nghĩa cụ thể cho viêm bàng quang cấp phức tạp, mà chỉ có định nghĩa chung cho nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp.

NKĐTN phức tạp là một loại bệnh nhiễm khuẩn có liên quan đến các tình trạng bất thường về cấu trúc hoặc chức năng của hệ thống đường tiết niệu.

Sự hiện diện của bệnh nền hoặc yếu tố sinh dục có thể làm suy giảm chức năng miễn dịch, từ đó tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và thất bại trong điều trị Danh sách các yếu tố phức tạp liên quan đến nhiễm khuẩn đường tiết niệu không đồng nhất giữa các sách giáo khoa và hướng dẫn Chúng tôi chủ yếu tham khảo từ hội tiết niệu châu Âu và hội tiết niệu thận học Việt Nam.

Bảng 1.1: Các yếu tố gây phức tạp viêm bàng quang cấp

“Nguồn : Guideline VUNA, EAU, uptodate, Campbell”[7],[20],[44],[78]

Sự hiện diện của một ống thông, stent hay hẹp (niệu đạo, niệu quản, thận), hoặc sử dụng ống thông niệu đạo bàng quang ngắt quảng.

Lượng nước tiểu tồn lưu sau đi tiểu > 100 ml.

Bệnh lý tắc nghẽn từ nguyên nhân bất kỳ, ví dụ, tắc nghẽn đường ra bàng quang (bao gồm cả bàng quang thần kinh), sỏi và bướu.

Bất thường giải phẫu hoặc chức năng hệ niệu

Thay đổi đường tiết niệu, như phẫu thuật tạo quai hoặc túi hồi tràng.

Tổn thương biểu mô đường niệu do hóa trị hoặc xạ trị.

NKĐTN quanh hoặc sau phẫu thuật.

Suy thận, ghép thận, đái tháo đường và suy giảm miễn dịch.

Có thai có thể đi kèm với các triệu chứng kéo dài từ 7 ngày trở lên, điều này cần được khám và theo dõi Tiền căn nhiễm khuẩn đường tiết niệu khi còn nhỏ cũng là yếu tố cần lưu ý Trong một số trường hợp, nhiễm khuẩn có thể nghiêm trọng đến mức cần phải nhập viện để điều trị kịp thời.

Trên lâm sàng, một NKĐTN phức tạp được khuyến cáo chia ra ít nhất 2 nhóm

• Những bệnh nhân mà các yếu tố nguy cơ có thể được loại bỏ, ví dụ như lấy sỏi, rút bỏ các ống thông.

Bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ không thể loại bỏ hoàn toàn, như ống thông đặt vĩnh viễn, sỏi niệu còn tồn tại sau điều trị, hoặc tình trạng bàng quang hỗn loạn thần kinh, cần được theo dõi và quản lý chặt chẽ để giảm thiểu nguy cơ biến chứng.

1.2.1 Viêm bàng quang cấp đơn thuần (VBQCĐT- Acute Uncomplicated

Mỗi năm, khoảng 10% phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh, với hơn 50% phụ nữ sẽ trải qua ít nhất một lần trong đời Đáng chú ý, 20-30% trong số họ sẽ gặp phải tình trạng tái phát, với ít nhất 2 lần trong 6 tháng hoặc hơn 3 lần trong 1 năm.

Viêm bàng quang cấp hiếm gặp ở bé gái trước dậy thì, nhưng tần suất gia tăng nhanh chóng ở phụ nữ trưởng thành, đặc biệt trong độ tuổi từ 20 đến 40 Khoảng 25-40% phụ nữ tại Hoa Kỳ trong độ tuổi này mắc phải nhiễm khuẩn đường tiết niệu.

E.coli là tác nhân chính chiếm 75-90% các ca viêm bàng quang cấp đơn thuần ở phụ nữ trẻ [75] Staphylococcus saprophyticus, một vi khuẩn cộng sinh ở da, đứng hàng thứ 2 trong các tác nhân gây bệnh ở phụ nữ trẻ, chiếm 10-20

% Những tác nhân khác bao gồm Klebsiella species, Proteus species và Enterococcus,

Triệu chứng của viêm bàng quang cấp rất đa dạng, bao gồm tiểu gắt buốt, tiểu lắt nhắt, tiểu gấp, đau trên xương mu, tiểu máu, tiểu đục và nước tiểu có mùi hôi Xác suất mắc viêm bàng quang cấp ở phụ nữ có thể lên đến 90% khi xuất hiện các triệu chứng này mà không có tiết dịch bất thường âm đạo Đặc biệt, nếu một phụ nữ đã từng bị viêm bàng quang trước đó và tái phát các triệu chứng, xác suất mắc bệnh lại có thể đạt tới 90%.

Viêm bàng quang cấp là tình trạng nhiễm khuẩn niệu mạc mà không có triệu chứng sốt Một số bệnh nhân có thể cảm thấy tức ở vùng trên xương mu, nhưng khi khám lâm sàng sẽ không thấy dấu hiệu thực thể nào.

Đối với phụ nữ khỏe mạnh bình thường mà không có tiền căn đặc biệt, các xét nghiệm cận lâm sàng thường không cần thiết để chẩn đoán viêm bàng quang cấp tính Nếu cần thiết, các xét nghiệm bao gồm tổng phân tích nước tiểu (vi thể hoặc que dipstick) và cấy nước tiểu kèm kháng sinh đồ.

Để bảo quản và chuyên chở mẫu nước tiểu, cần sử dụng các lọ vô khuẩn với nắp đậy chặt để tránh rỉ Mẫu nước tiểu nên được gửi đến phòng thí nghiệm ngay sau khi lấy Nếu không thể gửi ngay, có thể bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4 °C nhưng không quá 24 giờ Việc lấy mẫu cần thực hiện bằng phương pháp vô khuẩn để giảm thiểu nguy cơ nhiễm bẩn từ cơ quan sinh dục ngoài và niệu đạo.

Để thực hiện lấy nước tiểu giữa dòng (CCMS), phụ nữ và trẻ gái lớn cần tự làm hoặc có sự hỗ trợ từ điều dưỡng Trước tiên, rửa tay kỹ bằng xà phòng và nước, sau đó lau khô bằng khăn sạch Tiếp theo, cởi quần, vạch âm môi và rửa sạch khu vực này, thấm xà phòng từ trong ra ngoài bằng bông hoặc gạc vô khuẩn Sau khi rửa sạch xà phòng, thấm khô bằng gạc vô khuẩn mà không để tay chạm vào phần bên trong Cuối cùng, tiểu bỏ phần đầu và lấy nước tiểu phần còn lại.

Khi lấy nước tiểu từ bệnh nhân mang ống thông, cần đảm bảo quy trình vô khuẩn để tránh nhiễm bẩn và nhiễm khuẩn ngược dòng Trước khi lấy nước tiểu, đầu ống thông phải được rửa sạch bằng cồn 70 độ, và nước tiểu phải được hút bằng ống tiêm vô khuẩn Hệ thống dẫn lưu cần luôn kín để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn Không nên lấy nước tiểu từ túi chứa, vì vi khuẩn có thể phát triển trong đó, dẫn đến kết quả không chính xác Tổng phân tích nước tiểu là công cụ hữu ích trong chẩn đoán khi triệu chứng lâm sàng không điển hình Để đánh giá tiểu mủ, mẫu nước tiểu giữa dòng là phương pháp chính xác, với kết quả bất thường khi có ≥10 bạch cầu/uL hoặc ≥10 bạch cầu/quang trường x400 trong mẫu cặn lắng Sự hiện diện của trụ bạch cầu trong nước tiểu gợi ý nhiễm khuẩn đường tiết niệu, trong khi hồng cầu có thể giúp phân biệt với viêm âm đạo hoặc viêm niệu đạo.

Đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ bị viêm bàng quang cấp

Phụ nữ đi khám tại phòng khám tiết niệu bệnh viện đại học Y dược thành phố

Bệnh nhân được chẩn đoán viêm bàng quang cấp đơn thuần và phức tạp theo hướng dẫn của hội tiết niệu thận học Việt Nam Viêm bàng quang cấp đơn thuần ở phụ nữ có triệu chứng như tiểu khó, gắt, tiểu lắt nhắt và đau trên xương mu, không có triệu chứng trong 4 tuần trước đó, và không sốt hay đau hông lưng Về vi sinh, cần có ≥ 10 bạch cầu/mm³ và ≥ 10³ cfu/ml tác nhân vi khuẩn trong mẫu nước tiểu sạch giữa dòng Đối với viêm bàng quang cấp phức tạp, triệu chứng có thể kèm theo các yếu tố gợi ý phức tạp, với vi sinh cần ≥ 10 bạch cầu/mm³ và ≥ 10⁵ cfu/ml tác nhân vi khuẩn trong mẫu nước tiểu sạch giữa dòng hoặc ≥ 10⁴ cfu/ml trong nước tiểu lấy qua ống thông ở nữ.

Để đánh giá hiệu quả của chẩn đoán và điều trị, chúng tôi chỉ thu thập dữ liệu từ những bệnh nhân đã thực hiện cấy nước tiểu và kháng sinh đồ.

Bệnh nhân được chẩn đoán viêm bàng quang cấp nhưng không thực hiện cấy nước tiểu.

Nghiên cứu này là một nghiên cứu mô tả hàng loạt trường hợp, do đó không thực hiện tính cỡ mẫu Cỡ mẫu càng lớn càng tốt, miễn là đáp ứng tiêu chuẩn chọn bệnh.

Thu thập và xử lý số liệu

Các biến số nghiên cứu được thu thập thông qua bệnh án nghiên cứu (phụ lục I) v Các thông tin cơ bản :

Họ tên, tuổi, nghề nghiệp, số nhập viện, ngày đi khám, ngày tái khám v Các biến số về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị

Bảng 2.5 : Các biến số nghiên cứu STT Dữ liệu Đơn vị Cách xác định Cách thức thực hiện

1 Tuổi Năm Năm thực hiện – năm sinh Ghi nhận hồ sơ

2 Tiền sử • Nội khoa (Đái tháo đường, suy thận, NKĐTN trước đây, bệnh suy giảm miễn dịch, thuốc ức chế miễn dịch đang dùng, dùng kháng sinh gần đây)

• Niệu khoa (bất thường cấu trúc, chức năng hệ niệu, phẫu/thủ thuật đã thực hiện trên hệ niệu)

• Nước tiểu có mùi hôi

4 Tổng phân tích nước tiểu

5 Hình ảnh học (nếu có)

6 Cấy nước tiểu và KSĐ

• Sự nhạy cảm các kháng sinh

• Phù hợp hay không so với KSĐ

8 Kháng sinh sau khi có KSĐ

• Triệu chứng lâm sàng khi tái khám

10 Cấy nước tiểu sau điều trị

Chúng tôi sử dụng phần mềm Excel và Stata 13.1 trên Windows để nhập và xử lý dữ liệu Kết quả của các biến số định lượng được trình bày dưới dạng "trung bình ± độ lệch chuẩn", trong khi các biến số định tính được thể hiện theo tỷ lệ.

% dưới dạng bảng hay biểu đồ

Sử dụng phép kiểm Chi – bình phương (c²) và Fisher’s Exact Test cho các dữ liệu nhỏ để kiểm định giả thuyết thống kê Sự khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê khi giá trị P nhỏ hơn 0,05.

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn đạo đức trong y sinh, đảm bảo thông tin bệnh nhân được bảo mật Chúng tôi chỉ thu thập và ghi nhận dữ liệu lưu trữ trên máy tính mà không can thiệp vào quyết định lâm sàng của bác sĩ Dữ liệu này phục vụ cho mục đích nghiên cứu và chẩn đoán, nhằm nâng cao chất lượng điều trị bệnh.

Ngày đăng: 10/04/2023, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế (2015), "Các nhóm kháng sinh và tác dụng", Hướng dẫn sử dụng kháng sinh, Bộ Y tế, Hà Nội, tr. 22-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhóm kháng sinh và tác dụng
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
3. Bộ Y tế (2015), "viêm bàng quang cấp", Hướng dẫn sử dụng kháng sinh, Bộ Y tế, Hà Nội, tr. 302-305 Sách, tạp chí
Tiêu đề: viêm bàng quang cấp
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
4. Cục quản lý khám chữa bệnh (2013), "Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020", Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hành động quốc gia vềchống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020
Tác giả: Cục quản lý khám chữa bệnh
Năm: 2013
5. Hội tiết niệu và thận học Việt Nam (2013), "Nhiễm khuẩn đường tiết niệu đơn thuần trong cộng đồng", Hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm khuẩn đường tiếtniệu đơn thuần trong cộng đồng
Tác giả: Hội tiết niệu và thận học Việt Nam
Năm: 2013
6. Hội tiết niệu và thận học Việt Nam (2013), "Tác nhân vi khuẩn gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu và xét nghiệm vi sinh lâm sàng", Hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác nhân vi khuẩn gâynhiễm khuẩn đường tiết niệu và xét nghiệm vi sinh lâm sàng
Tác giả: Hội tiết niệu và thận học Việt Nam
Năm: 2013
7. Hội tiết niệu và thận học Việt Nam (2013), "Tổng quan về nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp", Hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về nhiễm khuẩnđường tiết niệu phức tạp
Tác giả: Hội tiết niệu và thận học Việt Nam
Năm: 2013
8. Nguyễn Thế Hưng(2016), "Đánh giá chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp", Luận án Chuyên khoa II, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩnđường tiết niệu phức tạp
Tác giả: Nguyễn Thế Hưng
Năm: 2016
9. Nguyễn Kỳ (2008), "Nhiễm khuẩn tiết niệu - Sử dụng kháng sinh", Bệnh học tiết niệu, Nhà xuất bản Y học, tr. 226-237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm khuẩn tiết niệu - Sử dụng kháng sinh
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
10. Trần Văn Sáng, Trần Ngọc Sinh (2011), "Nhiễm trùng niệu", Bài giảng bệnh học Niệu Khoa, Nhà xuất bản Phương Đông, TP.HCM, tr. 161-232 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm trùng niệu
Tác giả: Trần Văn Sáng, Trần Ngọc Sinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Phương Đông
Năm: 2011
11. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2014), "Khảo sát vi trùng học và các yếu tố nguy cơ của nhiễm trùng tiểu biến chứng", Luận án Chuyên khoa II, Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát vi trùng học và các yếu tốnguy cơ của nhiễm trùng tiểu biến chứng
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Năm: 2014
12. Lê Vũ Tân (2013), "Đánh giá chẩn đoán và điều trị nhiễm trùng niệu trên thai kỳ", Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chẩn đoán và điều trị nhiễm trùng niệu trênthai kỳ
Tác giả: Lê Vũ Tân
Năm: 2013
1. Bộ Y tế (2009), "Báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện Việt Nam năm 2008-2009&#34 Khác
13. Ngô Xuân Thái, Trần Lê Duy Anh, Lê Việt Hùng, cs (2015), "Nhiễm khuẩn đường tiết niệu do vi khuẩn tiết ESBL tại khoa tiết niệu bệnh viện Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm