Trên thế giới tronglĩnh vực phẫu thuật hàm mặt, PRP gần đây đã được nghiên cứu và ứng dụng trongđiều trị gãy xương vùng hàm mặt, trong đó có gãy xương hàm dưới vùng góc hàm,vùng cằm [43]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRÊN PHIM TOÀN CẢNH
LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRÊN PHIM TOÀN CẢNH
Chuyên ngành: RĂNG HÀM MẶT
Mã số: NT 62 72 28 01
LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS.BS LÂM HOÀI PHƯƠNG
TS.BS LÊ HOÀNG SƠN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quảtrong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố
Tác giả
Nguyễn Thiên Phước
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH VIỆT ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH & BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giải phẫu xương hàm dưới 3
1.2 Phân loại gãy xương hàm dưới 4
1.2.1 Sinh cơ học và di lệch trong gãy xương hàm dưới 4
1.2.2 Phân loại gãy xương hàm dưới 6
1.3 Lành thương xương 8
1.3.1 Lành thương nguyên phát 8
1.3.2 Lành thương thứ phát 9
1.4 Các phương pháp điều trị gãy xương hàm dưới 11
1.4.1 Điều trị bảo tồn 11
1.4.2 Điều trị phẫu thuật 12
1.5 Các đường rạch sử dụng trong phẫu thuật điều trị gãy xương hàm dưới…… 13
1.5.1 Đường trong miệng 14
Trang 51.5.2 Đường rạch ngoài mặt 14
1.6 Hệ thống nẹp vít dùng trong điều trị gãy xương hàm dưới 16
1.6.1 Hệ thống nẹp vít nén 16
1.6.2 Hệ thống nẹp vít không tạo lực 16
1.6.3 Vít nén 17
1.6.4 Nẹp vít tự tiêu sinh học 18
1.7 Biến chứng, di chứng điều trị gãy xương hàm dưới 18
1.7.1 Sai khớp cắn 18
1.7.2 Nhiễm trùng 18
1.7.3 Tồn thương thần kinh 19
1.7.4 Chậm lành thương xương 19
1.7.5 Cứng khớp thái dương hàm 19
1.8 Các bước tiến trong nghiên cứu và điều trị gãy xương hàm dưới trên thế giới và trong nước 19
1.8.1 Trên thế giới 19
1.8.2 Trong nước 21
1.9 Huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) 24
1.9.1 Khái niệm về PRP 24
1.9.2 Tác động sinh học của PRP 24
1.9.3 Tách chiết PRP 27
1.10 Tổng quan về hiệu quả tách chiết PRP của hệ thống New-PRPPRO Kit (Gen World, Việt Nam) 30
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
Trang 62.1.1 Mẫu nghiên cứu 33
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 33
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 33
2.1.4 Cỡ mẫu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 34
2.2.2 Vật liệu, phương tiện nghiên cứu 34
2.2.3 Tiến trình nghiên cứu 37
2.2.4 Thu thập dữ liệu, biến số nghiên cứu 44
2.2.5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 50
2.2.6 Kiểm soát sai lệch thông tin 50
2.2.7 Vấn đề y đức trong nghiên cứu 51
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 52
3.1.1 Tuổi 52
3.1.2 Giới tính 53
3.1.3 Nguyên nhân chấn thương 53
3.1.4 Bên chấn thương 54
3.1.5 Liên quan đường gãy với răng khôn 55
3.1.6 Thời gian chờ phẫu thuật 55
3.1.7 Chỉ số khối cơ thể (BMI) 56
3.2 Đánh giá kết quả điều trị gãy xương hàm dưới vùng góc hàm 57
Trang 73.2.1 Đánh giá kết quả lành thương xương của huyết tương giàu tiểu cầu
trong điều trị gãy xương hàm dưới vùng góc hàm 57
3.2.2 Nhiễm trùng sau phẫu thuật 59
3.3 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và các đặc điểm của mẫu nghiên cứu 60
3.3.1 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và nhóm tuổi 60
3.3.2 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và giới tính 61
3.3.3 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và các nhóm nguyên nhân chấn thương 61
3.3.4 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và bên chấn thương 63
3.3.5 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và đặc điểm liên quan giữa đường gãy XHD vùng góc hàm với răng khôn……… 63
3.3.6 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và các nhóm thời gian chờ phẫu thuật 64
3.3.7 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và các nhóm chỉ số BMI 65
3.3.8 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật 65
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 67
4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 67
4.1.1 Tuổi 67
Trang 84.1.2 Giới tính 68
4.1.3 Nguyên nhân chấn thương 69
4.1.4 Liên quan đường gãy với răng khôn 70
4.1.5 Bên chấn thương 71
4.1.6 Thời gian chờ phẫu thuật 72
4.1.7 Chỉ số khối cơ thể (BMI) 73
4.2 Đánh giá hiệu quả điều trị gãy xương hàm dưới vùng góc hàm 75
4.2.1 Đánh giá hiệu quả lành thương xương của PRP trong điều trị gãy xương hàm dưới vùng góc hàm 75
4.2.2 Nhiễm trùng sau phẫu thuật 78
4.3 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và các đặc điểm của mẫu nghiên cứu 79
4.3.1 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và nhóm tuổi 79
4.3.2 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và giới tính 80
4.3.3 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và các nhóm nguyên nhân chấn thương 80
4.3.4 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và bên chấn thương 81
4.3.5 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và đặc điểm liên quan giữa đường gãy XHD vùng góc hàm với răng khôn…… 81
4.3.6 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần (dba) và các nhóm thời gian chờ phẫu thuật 82
Trang 94.3.7 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần(dba) và các nhóm chỉ số BMI 824.3.8 Mối liên quan giữa hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần(dba) và biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật 83KẾT LUẬN 84KIẾN NGHỊ 86TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 11DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH VIỆT
Body mass index Chỉ số khối cơ thể
Closed reduction Nắn chỉnh kín
External fixation Cố định ngoài
Internal fixation Cố định trong
Mandibular angle fracture Gãy xương hàm dưới vùng góc hàm
Mandibular fracture Gãy xương hàm dưới
Maxillomandibular fixation Cố định liên hàm
Trang 12Osteoblast-like cell Tế bào giống nguyên bào xương
Panoramic radiograph Phim toàn cảnh
Platelet-Rich Plasma Huyết tương giàu tiểu cầu
Primary bone healing Lành thương xương nguyên phát
Reconstruction plate Nẹp tái tạo
Rigid fixation Cố định vững chắc
Secondary bone healing Lành thương xương thứ phát
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số yếu tố tăng trưởng được phóng thích từ PRP và chức năng 26
Bảng 1.2 Nồng độ trung bình một số yếu tố tăng trưởng trên mỗi mẫu PRP 30
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn vật lý, hóa học và vi sinh của PRP được tách chiết từ bộ New-PRPPRO Kit 31
Bảng 1.4 Mức độ tập trung tiểu cầu trong mẫu PRP 32
Bảng 1.5 Hiệu suất sử dụng bộ New-PRPPRO Kit 32
Bảng 2.1 Các bước tách chiết PRP 38
Bảng 2.2 Các biến số nghiên cứu 48
Bảng 3.1 Phân bố tuổi của mẫu nghiên cứu 52
Bảng 3.2 Phân bố giới tính của mẫu nghiên cứu 53
Bảng 3.3 Phân bố nguyên nhân chấn thương 54
Bảng 3.4 Phân bố bên gãy XHD vùng góc hàm 54
Bảng 3.5 Phân bố liên quan giữa đường gãy XHD vùng góc hàm với răng khôn 55
Bảng 3.6 Phân bố thời gian chờ phẫu thuật 56
Bảng 3.7 Phân bố nhóm BMI của mẫu nghiên cứu 57
Bảng 3.8 Mật độ xương tại đường gãy ở thời điểm 01 ngày và 04 tuần sau phẫu thuật 57
Bảng 3.9 Phân bố hiệu số mật độ xương của mẫu nghiên cứu 58
Bảng 3.10 Phân bố hiệu số mật độ xương tại các thời điểm 03 tháng, 04 tuần và 01 ngày sau phẫu thuật 59
Trang 14Bảng 3.12 Phân bố hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần theo nhóm tuổi
60
Bảng 3.13 Phân bố hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần theo giới tính 61 Bảng 3.14 Phân bố hiệu số mật độ xương theo nguyên nhân chấn thương 62
Bảng 3.15 Phân bố hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần theo bên gãy XHD vùng góc hàm 63
Bảng 3.16 Phân bố hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần theo liên quan giữa đường gãy XHD vùng góc hàm và răng khôn 64
Bảng 3.17 Phân bố hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần theo thời gian chờ phẫu thuật 64
Bảng 3.18 Phân bố hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần theo chỉ số BMI 65
Bảng 3.19 Phân bố hiệu số mật độ xương sau phẫu thuật 04 tuần theo tình trạng nhiễm trùng sau phẫu thuật 66
Bảng 4.1 Phân bố theo tuổi trong gãy XHD theo một số tác giả 67
Bảng 4.2 Tỉ số giới tính trong gãy XHD vùng góc hàm theo một số tác giả 68
Bảng 4.3 So sánh tỉ lệ nguyên nhân gãy XHD vùng góc hàm theo một số tác giả 69
Bảng 4.4 So sánh tỉ lệ gãy XHD góc hàm bên trái ở một số nghiên cứu 71
Bảng 4.5 So sánh tỉ lệ các nhóm BMI trong một số nghiên cứu 74
Bảng 4.6 So sánh một số nghiên cứu sử dụng PRP trong điều trị gãy XHD 76
Bảng 4.7 So sánh tỉ lệ nhiễm trùng sau phẫu thuật ở một số nghiên cứu gãy XHD vùng góc hàm 78
Trang 15DANH MỤC HÌNH & BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Giải phẫu xương hàm dưới 3
Hình 1.2 Các cơ nhai 5
Hình 1.3 Vùng chịu lực căng và lực nén của xương hàm dưới 5
Hình 1.4 Di lệch thứ phát của xương hàm dưới 6
Hình 1.5 Phân loại gãy xương hàm dưới theo Dingman và Natvig 7
Hình 1.6 Lành thương xương nguyên phát 9
Hình 1.7 Giai đoạn khởi đầu (Hình thành cục máu đông) 9
Hình 1.8 Giai đoạn bắt đầu hình thành cal sụn 10
Hình 1.9 Giai đoạn bắt đầu hình thành cal xương 10
Hình 1.10 Bắt đầu giai đoạn tái khoáng hóa 11
Hình 1.11 Điều trị bảo tồn: Buộc cung thép có móc (T), Buộc Ivy (P) 12
Hình 1.12 Đường kết hợp xương lý tưởng theo Champy 12
Hình 1.13 Kết hợp xương bằng vít nén 13
Hình 1.14 Kết hợp xương bằng nẹp vít 13
Hình 1.15 Đường rạch ngách tiền đình hàm dưới 14
Hình 1.16 Đường rạch dưới hàm 15
Hình 1.17 Đường rạch sau hàm 15
Hình 1.18 Đường rạch trước tai 15
Hình 1.19 Nguyên tắc hoạt động hệ thống nẹp vít nén 16
Hình 1.20 Nẹp tái tạo 16
Hình 1.21 Hệ thống nẹp vít nhỏ không khóa (T), có khóa (P) 17
Trang 16Hình 1.22 Vít nén 17
Hình 1.23 Tách chiết PRP theo quy trình quay ly tâm 2 lần 29
Hình 2.1 Bộ dụng cụ kết hợp xương hàm dưới vùng góc hàm 34
Hình 2.2 Máy khoan xương Aesculap 35
Hình 2.3 Máy quay ly tâm Process for PRF, Dr Choukroun 35
Hình 2.4 Bộ dụng cụ lấy máu New-PRPPRO Kit 36
Hình 2.5 Ống hoạt hóa tiểu cầu New-PRPPRO Kit 36
Hình 2.6 Tiến trình nghiên cứu 37
Hình 2.7 Ống plasma sau khi quay ly tâm lần 2 39
Hình 2.8 Ống hoạt hóa PRP sau khi khối đông đặc co lại (T), sau khi loại bỏ khối co đặc thu được dung dịch PRP màu vàng, trong suốt, đồng nhất (P) 40
Hình 2.9 PRP được chứa trong bơm tiêm, sẵn sàng để dùng trong phẫu thuật 40
Hình 2.10 Phẫu trường trước (T) và sau (P) khi rạch, bóc tác niêm mạc 41
Hình 2.11 Hình ảnh sau khi kết hợp xương (T) và răng khôn được nhổ (P) 41
Hình 2.12 Sau khi khâu đóng 42
Hình 2.13 Hình ảnh bơm PRP vào ổ gãy ngay sau KHX (T) và sau khâu đóng (P) 43
Hình 2.14 Phim toàn cảnh được chụp màn hình lưu định dạng PNG (Hình A’) 45 Hình 2.15 Xác định 2 điểm đầu mút (màu tím) trên phần mềm Sketchpad 46
Hình 2.16 Xác định 7 điểm giữa 2 điểm đầu mút 46
Hình 2.17 Các điểm cần đo trên phim 47
Hình 2.18 Hình A’’ choán chỗ vừa đủ kích thước một bản chiếu 47
Hình 2.19 Giá trị mật độ xương được hiển thị theo Grayscale 48
Trang 18MỞ ĐẦU
Chấn thương hàm mặt là một trong những loại chấn thương khá thường gặp vàgây nên những tổn thương đa dạng ở cả mô mềm và mô xương Theo thống kê trênthế giới trong những thập niên gần đây, chấn thương hàm mặt nói chung và chấnthương gãy xương hàm dưới nói riêng có xu hướng ngày càng gia tăng [19] Hiệnnay gãy xương hàm dưới là vấn đề được quan tâm nhiều, đặc biệt ở các nước đangphát triển Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu cho thấy gãy xương hàm dưới chiếm tỷ
lệ từ 34% đến 63% trong tổng số chấn thương gãy xương vùng hàm mặt [8], [33].Nguyên nhân phổ biến là do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn trong hoạtđộng thể thao, ẩu đả… trong đó tai nạn giao thông chiếm một tỷ lệ rất cao Trongcác ca chấn thương gãy xương hàm dưới, gãy góc hàm xương hàm dưới là loại chấnthương thường gặp vì góc hàm là một trong những vị trí yếu của xương hàm dưới,chiếm tỷ lệ từ 25% đến 30% [33] Điều trị gãy xương hàm dưới vùng góc hàm baogồm điều trị bảo tồn bằng phương pháp nắn chỉnh kín, cố định hàm và điều trị phẫuthuật Trong điều trị bằng phẫu thuật, phương pháp phẫu thuật nắn chỉnh hở, kếthợp xương bằng nẹp vít nhỏ là phương pháp phổ biến nhất
Gần đây, huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) được phát triển như một biện pháp hỗtrợ lành thương và tái sinh mô, đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực y khoa nhưchấn thương chỉnh hình, da liễu, thẩm mỹ, nha khoa và phẫu thuật hàm mặt [70].Hạt alpha có trong tiểu cầu có khả năng phóng thích một lượng lớn peptide và cácyếu tố tăng trưởng như PDGF, TGF, VEGF, EGF… Điều này giúp cho PRP có ảnhhưởng và thúc đẩy quá trình lành thương và tái sinh mô [70] Trên thế giới tronglĩnh vực phẫu thuật hàm mặt, PRP gần đây đã được nghiên cứu và ứng dụng trongđiều trị gãy xương vùng hàm mặt, trong đó có gãy xương hàm dưới vùng góc hàm,vùng cằm [43], [49] Tuy nhiên, việc ứng dụng PRP trong hỗ trợ lành thương và táisinh mô vẫn còn gây tranh cãi, có những tác giả ủng hộ nhưng cũng có những tácgiả bác bỏ lợi ích của PRP [43], [49]
Trang 19Ở Việt Nam hiện nay đã có một vài nghiên cứu cho thấy hiệu quả tích cực củaứng dụng PRP trong điều trị vết thương, bỏng, thoái hóa khớp, lành thương mô nhachu…[15], [31], [23], [1] Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả củaPRP trong hỗ trợ lành thương xương vùng hàm mặt Vì vậy, một nghiên cứu nhằmđánh giá hiệu quả lành thương xương của PRP trong điều trị gãy xương hàm dướivùng góc hàm là cần thiết Trong quá trình điều trị, chúng tôi nhận thấy bệnh nhânđược điều trị gãy xương hàm dưới vùng góc hàm theo phương pháp nắn chỉnh hở,kết hợp xương bằng nẹp vít chiếm tỷ lệ cao Với mong muốn tăng cường hơn nữahiệu quả điều trị, giảm thời gian lành thương xương tại đường gãy, đồng thời nghiêncứu giúp cung cấp thêm dữ liệu trong nước góp phần có thêm cơ sở để kết luận lợiích về ứng dụng PRP trong hỗ trợ lành thương xương Chúng tôi thực hiện nghiêncứu “ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ LÀNH THƯƠNG XƯƠNG CỦA HUYẾT TƯƠNGGIÀU TIỂU CẦU TRONG ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG HÀM DƯỚI VÙNG GÓCHÀM TRÊN PHIM TOÀN CẢNH” với câu hỏi nghiên cứu: “Trong điều trị gãyxương hàm dưới vùng góc hàm, huyết tương giàu tiểu cầu tự thân có hiệu quả nhưthế nào trong lành thương xương trên phim toàn cảnh?”
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả lành thương xương của PRP trong
điều trị gãy xương hàm dưới vùng góc hàm
Mục tiêu cụ thể:
1 Xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng trên bệnh nhân gãy XHD vùng góc
hàm tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương TP Hồ Chí Minh
2 So sánh sự thay đổi mật độ xương sau phẫu thuật ở nhóm chứng và nhóm
có sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị gãy XHD vùng góchàm bằng hệ thống nẹp, vít nhỏ trên phim toàn cảnh
3 Đánh giá mối liên quan giữa các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và hiệu quả
lành thương xương sau phẫu thuật gãy xương hàm dưới vùng góc hàm
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giải phẫu xương hàm dưới
Xương hàm dưới là xương lớn nhất và khỏe nhất của khối xương mặt, có cácrăng hàm dưới và khớp với hố hàm dưới xương thái dương Gồm có thân xương haycành ngang nằm ngang giống hình móng ngựa, ở mỗi đầu có ngành hàm hay cànhlên đi lên trên gần thẳng đứng [17] Mặc dù xương hàm dưới là xương khỏe nhấttrong khối xương mặt tuy nhiên do vị trí nhô ra trước và cấu trúc giải phẫu có nhiềuchỗ uốn cong nên rất dễ bị gãy trong chấn thương hàm mặt
Hình 1.1 Giải phẫu xương hàm dưới
“Nguồn: Nguyễn Quang Quyền, Phạm Đăng Diệu, 2019” [18]
Thân xương hàm dưới hình móng ngựa liên tục mỗi bên bởi cành lên theo hướnglên trên và ra sau Thân xương có hai bản: bản ngoài và bản trong Bản ngoài dàynhất ở vùng lồi cằm, là chỗ hợp nhất của gờ cằm hai bên và vùng răng cối lớn thứ
ba Nối tiếp với gờ cằm hai bên dần đến bờ trước cành lên là đường chéo ngoài Bảntrong bị chia đôi bởi đường chéo trong hay đường hàm móng Bờ dưới xương hàmdưới phồng ra hình dạng tròn trơn láng, tạo nên sự vững chắc của thân xương Lỗcằm thường nằm ở vị trí giữa hai chóp chân răng cối nhỏ, có bó mạch thần kinh cằm
đi qua lỗ này
Trang 21Cành lên có hình dạng chữ nhật, chiều rộng nhỏ hơn chiều cao, hơi chếch từ dướilên trên, từ trước ra sau, tận cùng bởi hai mỏm, phía trước là mỏm vẹt, phía sau làmỏm lồi cầu, ngăn cách nhau bởi một khuyết hình bán nguyệt gọi là khuyết sigma.Mặt ngoài có nhiều gờ để cơ cắn bám vào Bờ sau cành cao nối liền bờ dưới xươnghàm dưới tại vị trí góc hàm.
Xương hàm dưới được nuôi dưỡng bởi động mạch huyệt răng dưới, cảm giác cácrăng do nhánh thần kinh huyệt răng dưới – là nhánh của thần kinh hàm dưới (V3)chui qua lỗ hàm dưới hay lỗ gai Spix Kênh răng dưới bắt đầu từ lỗ gai Spix chạytheo hướng cong xuống dưới và ra trước, bên dưới chóp chân răng các răng cối lớn.Đến vùng răng cối nhỏ chia làm hai kênh: kênh cằm và kênh răng cửa
Xương hàm dưới là nơi tựa vững chắc cho các cơ vùng mặt bám vào, do vị trínguyên ủy và bám tận các cơ, hướng cơ cùng các đặc điểm đại thể, sự hình thành vàphát triển của răng trong xương hàm, cùng các đặc điểm riêng của xương hàm dướitạo cho xương hàm dưới có những vị trí yếu, dễ gãy khi chấn thương, đó là:
- Vùng cằm: Vị trí nhô ra trước nhất, thường bị va đập trực tiếp trong chấnthương
- Vùng lỗ cằm: Nơi bó mạch thần kinh cằm đi qua
- Vùng góc hàm: Sự có mặt của răng hay mầm răng cối lớn thứ 3, chiếmchỗ thể tích xương, cùng với sự thay đổi hướng của xương giữa thânxương và cành lên
- Vùng lồi cầu: Thiết diện xương nhỏ, như eo thắt nên khả năng chịu lựcyếu
1.2 Phân loại gãy xương hàm dưới
1.2.1 Sinh cơ học và di lệch trong gãy xương hàm dưới
Bất kỳ vận động riêng lẻ nào của xương hàm dưới cũng là kết quả của sự tíchhợp chặt chẽ và phối hợp cao độ của nhiều cơ, ngược lại một cơ có thể tham gia vàonhiều động tác khác nhau [4] Các cơ vận động xương hàm dưới gồm: cơ nâng hàm
Trang 22và cơ hạ hàm Do vị trí bám và chức năng vận động hàm, các cơ này có vai trò quantrọng trong việc làm cho hàm dưới bị lệch khi gãy.
Cơ nâng hàm: Cơ cắn, cơ thái dương, cơ chân bướm trong Các cơ này rất mạnh,bám vào sọ, giữ cho bề mặt khớp tiếp xúc với nhau Cơ hạ hàm: Cơ hàm móng, cơcằm móng, cơ chân bướm ngoài, cơ nhị thân Các cơ này yếu và bám vào xươngmóng
Hình 1.2 Các cơ nhai
“Nguồn: Nguyễn Quang Quyền, Phạm Đăng Diệu, 2019” [18]
Kết hợp giữa cấu trúc đại thể và vị trí bám của cơ, xương hàm dưới có nhữngvùng chịu lực căng và lực nén do lực cơ bám [97] Cường độ lực, hướng lực tácđộng gây ra di lệch nguyên phát; tổng hợp lực do các cơ bám vào xương hàm dướigây ra di lệch thứ phát
Hình 1.3 Vùng chịu lực căng và lực nén của xương hàm dưới
“Nguồn: Stephen P.R.Macleod, 2012” [97]
Trang 23Di lệch nguyên phát [96]: Có thể di lệch theo ba chiều trong không gian hoặcphối hợp các chiều với nhau, được quyết định bởi hướng và cường độ lực.
Di lệch thứ phát: Đường gãy còn chịu tác động lực co kéo của các cơ làm thayđổi vị trí xương so với di lệch nguyên phát ban đầu, tạo ra di lệch thứ phát Xươnggãy thường bị kéo theo hướng kéo của các cơ khỏe nhất trên hai đầu đoạn gãy
Hình 1.4 Di lệch thứ phát của xương hàm dưới
“Nguồn: Stephen P.R.Macleod, 2012” [97]
1.2.2 Phân loại gãy xương hàm dưới
Cho đến nay có nhiều cách phân loại gãy xương hàm dưới được sử dụng, tuynhiên có những điểm chưa thống nhất về thuật từ Các tác giả phân loại gãy xươnghàm dưới thường dựa vào các đặc điểm như vị trí giải phẫu, tương quan vị trí gãyvới cung răng, kiểu gãy hay sự thông thương với môi trường ngoài…
Phân loại của Dingman và Natvig dựa vào vị trí giải phẫu Hiện nay, đây là cáchphân loại gãy xương hàm dưới được dùng phổ biến nhất [59]:
Trang 24Hình 1.5 Phân loại gãy xương hàm dưới theo Dingman và Natvig
Gãy cằm giữa: đường gãy đi qua giữa hai răng cửa giữa hàm dưới
Gãy cằm bên: đường gãy nằm ở vùng cằm không đi qua giữa hai răng cửagiữa
Gãy cằm: đường gãy nằm khoảng giữa mặt xa răng nanh hai bên theo chiềuđứng
Gãy cành ngang: đường gãy nằm khoảng giữa từ mặt xa răng nanh đến bờtrước cơ cắn
Gãy góc hàm: đường gãy nằm trong giới hạn từ bờ trước cơ cắn đến vị tríbám sau trên của cơ cắn
Gãy cành cao: đường gãy nằm trong giới hạn từ vị trí bám sau trên của cơcắn đến giới hạn trên bởi hai đường đi qua khuyết sigma
Gãy lồi cầu: đường gãy vị trí lồi cầu, giới hạn từ khuyết sigma lên trên rasau
Gãy mỏm vẹt: đường gãy vị trí mỏm vẹt, giới hạn từ khuyết sigma lên trên ratrước
Gãy xương ổ răng: gãy phần xương hàm mang răng (tính từ chóp răng lêntrên)
Trang 251.2.2.2 Phân loại theo Kazanjian và Converse
Phân loại Kazanjian và Converse dựa theo mối liên quan giữa răng và đườnggãy:
Loại I: Còn răng hai bên đường gãy
Loại II: Còn răng một bên đường gãy
Loại III: Ở người mất răng toàn bộ
1.3 Lành thương xương
Lành thương xương là thích nghi sinh lý của xương, giúp xương đạt được khảnăng bình thường như trước khi gãy trong hoạt động chức năng Lành thươngxương bao gồm lành thương nguyên phát (trực tiếp) và lành thương thứ phát (giántiếp)
1.3.1 Lành thương nguyên phát
Là kiểu lành thương xảy ra khi nắn chỉnh đúng giải phẫu, khi hai diện gãy tiếpxúc với nhau và vững chắc Là quá trình lành thương trực tiếp không trải qua cácgiai đoạn trung gian hình thành cal xơ, cal sụn Các tế bào xương phát triển quakhoảng hở và ống Havers được nối trực tiếp với nhau
Lành thương nguyên phát bao gồm lành thương kẽ và lành thương tiếp xúc Lànhthương kẽ xảy ra khi khoảng hở giữa hai đầu xương gãy nhỏ hơn 1mm Lànhthương tiếp xúc xảy ra khi nắn chỉnh hoàn toàn chính xác hoặc khoảng hở giữa haiđầu đoạn xương gãy coi như bằng không
Các nẹp vít tạo lành thương cũng dựa theo nguyên lý này Nẹp vít tạo nên sức épcủa bản xương đầu gãy ngay dưới nẹp, tạo lành thương tiếp xúc, và kéo giãn bảnxương phía đối diện, tạo lành thương kẽ
Trang 26Hình 1.6 Lành thương xương nguyên phát
“Nguồn: Miloro, 2012” [75]
1.3.2 Lành thương thứ phát
Lành thương thứ phát xảy ra khi xương gãy lành thương tự phát hoặc theo sauđiều trị thông thường Lành thương thứ phát gồm 4 giai đoạn, các giai đoạn khôngtách biệt mà liên hệ chặt chẽ và tiếp nối nhau [12]:
Giai đoạn khởi đầu (giai đoạn phản ứng): Xảy ra ngay sau khi có hiệntượng gãy xương, có sự hình thành cục máu đông và phản ứng viêm, sau
đó là sự hình thành mô hạt, mô sợi Giai đoạn này kéo dài khoảng 1 tuần
Hình 1.7 Giai đoạn khởi đầu (Hình thành cục máu đông)
“Nguồn: Ehrenfeld M et al, 2012” [69]
Trang 27 Hình thành cal sụn: Các tế bào trung mô biệt hóa để tạo cal sụn – xơ, kéodài khoảng từ ngày thứ 8 đến 3 tuần.
Hình 1.8 Giai đoạn bắt đầu hình thành cal sụn
“Nguồn: Ehrenfeld M et al, 2012” [69]
Hình thành cal xương: Cal sụn khoáng hóa thành cal xương, cứng chắcdần Kéo dài từ đầu tuần thứ 4 đến tuần thứ 6
Hình 1.9 Giai đoạn bắt đầu hình thành cal xương
“Nguồn: Ehrenfeld M et al, 2012” [69]
Giai đoạn tái khoáng hóa: Xương tiếp tục được khoáng hóa và tái cấu trúcvới sự tham gia của yếu tố protein định dạng xương (BMP)
Trang 28Hình 1.10 Bắt đầu giai đoạn tái khoáng hóa
“Nguồn: Ehrenfeld M et al, 2012” [69]
1.4 Các phương pháp điều trị gãy xương hàm dưới
Điều trị gãy xương hàm dưới được cải tiến dần theo sự phát triển của y học vàđược nhiều tác giả nghiên cứu, đưa ra các phương pháp điều trị Việc lựa chọnphương pháp nào còn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào: tuổi, vị trí gãyxương, tính chất gãy xương, mức độ di lệch, có phối hợp với gãy tầng mặt giữa haykhông…
1.4.1 Điều trị bảo tồn
Bằng phương pháp cố định hàm bằng cung và chỉ thép ở bệnh nhân còn răng, cóthể phối hợp với dùng dây thun mắc liên hàm Xảy ra lành thương thứ phát [11].Các phương pháp được sử dụng:
Phương pháp buộc Leblane
Phương pháp buộc Ivy
Phương pháp buộc cung thép có móc Tiuerstedt
Trang 29Hình 1.11 Điều trị bảo tồn: Buộc cung thép có móc (T), Buộc Ivy (P)
“Nguồn: Fonseca R.J., 2013” [59]
Chỉ định trong những trường hợp gãy phức tạp, gãy bệnh lý, đường gãy bị nhiễmtrùng, gãy nhiều mảnh…Hiện nay ít dùng ở Việt Nam [11]
1.4.2 Điều trị phẫu thuật
Là phương pháp điều trị cố định vững chắc xương gãy bằng hệ thống nẹp vít, vítnén, chỉ thép hoặc kết hợp của 2 hay 3 loại trên [59] [96] [65] Phương pháp phẫuthuật tiếp cận trực tiếp đường gãy, đã giúp cho việc điều trị gãy xương hàm dướibước sang trang mới, giúp rút ngắn hoặc không cố định hai hàm, bất động hoàn toànhai đầu xương gãy, tạo thuận lợi cho quá trình lành thương xương nguyên phát [11],[51], dễ dàng giữ vệ sinh trong miệng, dễ ăn nhai, thời gian nằm viện ngắn, giảmchi phí điều trị…
Điều trị gãy xương hàm dưới bằng nẹp vít với vị trí đặt nẹp được Champy mô tảbằng đường kết hợp xương lý tưởng [47]
Hình 1.12 Đường kết hợp xương lý tưởng theo Champy
Trang 30Nếu gãy phối hợp từ 2 đường gãy trở lên, khi phẫu thuật đặt nẹp vít, ưu tiên đặtvùng còn răng để đưa khớp cắn đúng trước Dựa vào xương hàm trên để nắn chỉnhđưa về đúng giải phẫu [61].
Những đường vào phẫu thuật tiếp cận xương hàm dưới đều là tiếp cận trực tiếp,
và được chia thành 2 nhóm: đường trong miệng và đường ngoài mặt Tùy theo vị trígãy, hình thái và mức độ di lệch, các phương tiện sẵn có mà có thể chọn đường vàotrong miệng hay ngoài mặt cho phù hợp
Trang 311.5.1 Đường trong miệng
Đường trong miệng đối với phẫu thuật xương hàm dưới là đường rạch ngách tiềnđình hàm dưới (đường rạch ngách lợi hàm dưới) Được sử dụng nhiều, hữu ích chonhiều loại phẫu thuật điều trị, cung cấp đường vào tương đối an toàn cho mặt trướcxương hàm dưới, từ vùng cằm đến lồi cầu Thực hiện nhanh chóng, đơn giản, ít biếnchứng [61] [55]
Đường rạch cách đường ranh giới nướu – niêm mạc khoảng 10-15mm ở vùngcằm, 3-5mm ở cành ngang và góc hàm [55] Phía trước vùng cằm, đường rạch đixuyên qua niêm mạc, cơ cằm và màng xương Phía sau, đường rạch đi trên đườngchéo ngoài, xuyên quan niêm mạc, dưới niêm mạc, cơ mút, cân khẩu cái hầu vàmàng xương Đường rạch không đi cao hơn mặt nhai các răng hàm dưới
Hình 1.15 Đường rạch ngách tiền đình hàm dưới
“Nguồn: Edward Ellis III, Michael F Zide, 2019” [55]
1.5.2 Đường rạch ngoài mặt
Đường rạch phẫu thuật tiếp cận xương hàm dưới ngoài mặt nên cách bờ dướixương hàm dưới khoảng 1,5-2 cm trong mọi vị trí kết hợp xương từ cằm đến lồicầu
Trang 32Hình 1.16 Đường rạch dưới hàm
“Nguồn: Edward Ellis III, Michael F Zide, 2019” [55]
Hình 1.17 Đường rạch sau hàm
“Nguồn: Edward Ellis III, Michael F Zide, 2019” [55]
Hình 1.18 Đường rạch trước tai
“Nguồn: Edward Ellis III, Michael F Zide, 2019” [55]
Trang 331.6 Hệ thống nẹp vít dùng trong điều trị gãy xương hàm dưới
Hiện nay có rất nhiều loại nẹp vít của nhiều nhà sản xuất Đa số nẹp đều đượclàm bằng titanium, dẻo, dễ uốn Nẹp thường có mặt trong hơi ráp để không bị tuộtkhi áp vào mặt xương Nẹp kim loại rất hữu ích nhưng nhược điểm là phải lấy rasau ít nhất khoảng 6 tháng, trong khi đó nẹp titanium có thể lưu lại chỗ cố định
1.6.1 Hệ thống nẹp vít nén
Nguyên tắc là tạo lực ép theo trục xương Khi siết vít sẽ tạo lực làm cho nẹp vàxương di chuyển theo hai hướng ngược nhau, hai đầu đoạn gãy hướng vào nhau vànhư vậy xương gãy sẽ được nắn chỉnh một cách chính xác nhờ lực nén ép
Trang 34Hệ thống nẹp vít nhỏ: Ngày nay được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất tronggãy xương hàm dưới nói riêng và trong chấn thương hàm mặt nói chung Được làmbằng hợp kim Titanium, dẻo, kích thước nhỏ, có thể điều chỉnh theo hình dạng giảiphẫu xương tốt [10] [22] Có nhiều hệ thống nẹp vít nhỏ như: Hệ thống Champy, hệthống Strasbourg, hệ thống Wurzbug…
Hình 1.21 Hệ thống nẹp vít nhỏ không khóa (T), có khóa (P)
“Nguồn: Saubier S., Otten JE., 2008” [84]
Hệ thống nẹp vít cực nhỏ: thích hợp trong phẫu thuật sọ - mặt, phẫu thuật thầnkinh sọ não, không thích hợp dùng trong điều trị gãy xương hàm dưới [10]
Trang 351.6.4 Nẹp vít tự tiêu sinh học
Vật liệu sinh học tổng hợp tự tiêu được sử dụng rộng rãi trong cố định xương gãy
là các alpha-hydrocy a-xít cao phân tử như polydiosanone (PDS), polyglycolic a-xít(PGA), polytactic a-xít (PLA) Nẹp tự tiêu có ưu điểm là không cần phẫu thuật lần 2
để lấy nẹp Không hạn chế sự phát triển xương nên đây là lựa chọn tốt trong cáctrường hợp gãy xương ở trẻ em [10]
1.7 Biến chứng, di chứng điều trị gãy xương hàm dưới
1.7.1 Sai khớp cắn
Là di chứng phổ biến, thường gặp sau điều trị gãy xương hàm dưới Có thể doviệc điều trị không kịp thời, nắn chỉnh chưa đúng vị trí giải phẫu, cố định không tốt[11] [96]
Dựa vào mức độ sai khớp cắn để chọn lựa cách xử trí thích hợp Nếu sai khớpcắn nhẹ, mài chỉnh khớp Nếu sai khớp cắn nhiều, có thể phải phẫu thuật lại để nắnchỉnh lại xương gãy
1.7.2 Nhiễm trùng.
Bao gồm nhiễm trùng phần mềm và viêm xương hàm Các thể lâm sàng thườnggặp như: Viêm mô tế bào, dò mủ, viêm xương cấp tính hay mãn tính Là biến chứngthường gặp nhất của gãy xương hàm dưới Nhiễm trùng càng trầm trọng hơn ởnhững bệnh nhân có phối hợp với bệnh toàn thân [96]
Tỉ lệ biến chứng nhiễm trùng sau điều trị gãy xương hàm dưới khác nhau ở từngthời điểm và theo các tác giả nghiên cứu [11], [36]
Nếu có nhiễm trùng, xử lý bằng cách dùng kháng sinh, kháng viêm, rạch tháo
mủ, dẫn lưu ổ mủ, bơm rửa bằng dung dịch NaCl 0,9% pha loãng với Iodine, hướng dẫn bệnh nhân giữ vệ sinh răng miệng Nếu trường hợp nhiễm trùngdai dẳng, không đáp ứng điều trị kháng sinh thì phải sau 2-3 tháng tiến hành tháo bỏnẹp vít [40]
Trang 36Povidone-1.7.3 Tồn thương thần kinh
Thường gặp nhất là tổn thương thần kinh răng dưới, và nhóm bờ hàm dưới thầnkinh mặt (VII), có thể do bị tổn thương khi đường gãy di lệch nhiều đi qua vùngcành ngang, góc hàm, hoặc do bị tổn thương trong quá trình phẫu thuật Hậu quả làbệnh nhân bị tê môi, cằm hoặc liệt vận động cơ tương ứng do nhánh bờ hàm dướichi phối cùng bên
1.7.4 Chậm lành thương xương
Có thể do các nguyên nhân như: nắn chỉnh và cố định chưa tốt, không ổn địnhhai đầu xương, vận động hàm sớm, nhiễm trùng… Ngoài ra, chế độ dinh dưỡng vàthể trạng cũng là yếu tố góp phần Chậm lành thương xương có thể tạo khớp giả, vàcần cố định lại hay phẫu thuật lại [96], [12]
1.7.5 Cứng khớp thái dương hàm
Tỉ lệ gặp thấp nhưng hậu quả nặng nề, hay gặp trong những trường hợp gãy lồicầu, ở trẻ em, hoặc thời gian cố định hai hàm quá dài, có thể gây kém phát triểnxương hàm cùng bên (ở trẻ em) Giải quyết di chứng cứng khớp thái dương hàm rấtkhó khăn, đòi hỏi kỹ thuật cao
1.8 Các bước tiến trong nghiên cứu và điều trị gãy xương hàm dưới trên thế giới và trong nước
1.8.1 Trên thế giới
Trên thế giới, gãy xương hàm dưới đã được nghiên cứu từ rất lâu Năm 1650trước công nguyên, sách cổ Ai Cập viết về cách khám, chẩn đoán và điều trị, xử lýcác biến chứng gãy xương hàm dưới [59]
Hyppocrate (460 – 375 TCN) đã mô tả phương pháp điều trị cố định bằng buộcquanh hàm và băng cố định ngoài
Năm 1180, cuốn sách được viết ở Salerno, nước Ý, đã mô tả tầm quan trọng củatái lập khớp cắn trong điều trị gãy xương hàm
Trang 37Năm 1795, Chopart và Desault sử dụng dụng cụ ngoài mặt để điều trị gãy xươnghàm dưới [59].
Năm 1847, Golden Buck mô tả việc kết hợp xương bằng chỉ thép qua hai đầuxương gãy
Năm 1887, Gilmer sử dụng phương pháp cố định hàm trên, hàm dưới bằng cungthép
Thomas Brian Gunning (1840 – 1889) sử dụng nón chụp đầu và chụp cằm bằngcao su được nối 2 bên với nhau để bất động xương hàm dưới trong quá trình điều trị[59]
Năm 1942, trong sách Cyrugia xuất bản tại Lyons, Guglielmo Salicetti là ngườiđầu tiên đề cập cố định liên hàm
Năm 1967, Lurch đã phát triển hệ thống nẹp vít chịu lực để cố định vững chắckhối xương mặt
Năm 1973, Michelet là người đầu tiên sử dụng hệ thống nẹp vít nhỏ trong điều trịgãy xương khối mặt [74]
Năm 1976, Champy và Loddle xác định đường kết hợp xương lý tưởng để khâukết hợp xương hàm dưới bằng hệ thống nẹp ốc nhỏ [46], [47]
Năm 1985, Cawood hồi cứu 50 ca dùng nẹp ốc nhỏ điều trị gãy xương hàm dưới
đã kết luận: không cần cố định hàm đối với những đường gãy ít di lệch, không nên
sử dụng nẹp ốc nhỏ trong những trường hợp gãy vụn [44]
Năm 1994, Ellis sử dụng hai nẹp ốc nhỏ điều trị gãy góc hàm, không cần cố địnhliên hàm, tỉ lệ biến chứng 28%, chủ yếu là nhiễm trùng phần mềm ở mức độ nhẹ(25%) [53]
Năm 1996 Ellis sử dụng một nẹp ốc nhỏ điều trị gãy góc hàm, không cần cố địnhhàm, tỉ lệ biến chứng 16%, chủ yếu là nhiễm trùng phần mềm mức độ nhẹ (13,6%)[54]
Trang 38Năm 2001, Moore UJ viết về những nguyên tắc của phẫu thuật miệng và hàmmặt [76].
Năm 2002, Bolourian R và cộng sự ủng hộ quan điểm điều trị gãy xương hàmdưới bằng nẹp vít nhỏ 2.0 mm kết hợp với cố định liên hàm khoảng 2 tuần [41].Năm 2005, Chritah A và cộng sự đưa ra quan điểm điều trị gãy xương hàm dướibằng nẹp vít nhỏ có khóa kết hợp 01 tuần cố định liên hàm [48]
Năm 2009, Barry E Zweig và cộng sự đã nghiên cứu về các biến chứng của gãyxương hàm dưới [98]
Năm 2013, Fonseca viết sách về chấn thương vùng hàm mặt đã tái bản lần thứ 4[59]
Năm 2015, Yamamoto K., Matsusue Y và cộng sự đã báo cáo về việc thải nẹpsau điều trị gãy góc hàm xương hàm dưới liên quan đến răng khôn trên đường gãy[93]
Năm 2016, Rastogi S., Reddy M.P và cộng sự đã đánh giá lực cắn trên bệnhnhân gãy xương hàm dưới được điều trị bằng nẹp vít nhỏ 2.0 mm truyền thống vànẹp vít nhỏ 2.0 mm có khóa [80]
Năm 2018, Ruela W.S và cộng sự nghiên cứu tổng phân tích về mối liên quangiữa răng khôn và gãy góc hàm [83]
Năm 2019, Wusima P và cộng sự thực hiện một nghiên cứu tổng quan hệ thống
và tổng phân tích về việc điều trị gãy xương hàm dưới vùng góc hàm bằng 1 nẹp vít
và 2 nẹp vít nhỏ [92]
Năm 2021, Roccia F và cộng sự thực hiện khảo sát tại nhiều trung tâm phẫuthuật hàm mặt ở Châu Âu nhằm đánh giá việc nhổ răng khôn trong quá trình phẫuthuật gãy góc hàm xương hàm dưới có ảnh hưởng đến việc cố định nẹp vít [82]
1.8.2 Trong nước
Tại Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về điều trị gãy xương hàm dưới
Trang 39Năm 2004, Nguyễn Văn Tuấn và Lâm Hoài Phương nghiên cứu về hiệu quả sửdụng hệ thống nẹp vít nhỏ trong điều trị gãy xương hàm dưới [21].
Năm 2004, Huỳnh Bảo Nhân và Trần Công Chánh thực hiện khảo sát một sốtrường hợp biến chứng sau điều trị kết hợp xương [5]
Năm 2006, Hồ Nguyễn Thanh Chơn và Lâm Hoài Phương nghiên cứu về hiệuquả điều trị gãy xương hàm dưới bằng nẹp vít nén [3]
Năm 2006, Nguyễn Mạnh Phú và Trần Văn Trường nghiên cứu nhận xét đặcđiểm lâm sàng, X-quang và kết quả điều trị gãy xương hàm dưới tại Bệnh việnRăng Hàm Mặt Quốc Gia [14]
Năm 2007, Phạm Thị Kim Phụng và Hoàng Tử Hùng thực hiện nghiên cứu đánhgiá hiệu quả điều trị gãy xương hàm dưới bằng phương pháp cố định liên hàm tạiBệnh viện Đa khoa Đồng Tháp [24]
Năm 2007, Lâm Quốc Việt nghiên cứu đánh giá hiệu quả của nẹp nén và nẹp vítnhỏ trong điều trị gãy xương hàm dưới vùng cằm [9]
Năm 2008, Phạm Văn Liệu nghiên cứu về chấn thương gãy xương hàm dưới vàđiều trị [25]
Năm 2009, Huỳnh Thị Bích Thảo và Lâm Hoài Phương nghiên cứu đánh giá hiệuquả điều trị gãy góc hàm bằng nẹp vít nhỏ [6]
Năm 2011, Lâm Thị Xuân Hoa và Lâm Hoài Phương nghiên cứu về dịch tễ lâmsàng và điều trị chấn thương hàm mặt tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp từ năm
2006 – 2011 [10]
Năm 2011, Lê Phong Vũ và Lê Đức Lánh nghiên cứu về dịch tễ lâm sàng và điềutrị gãy xương hàm dưới tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang từ 2006 đến
2010 [11]
Trang 40Năm 2011, Nguyễn Thị Kim Khôi và Lê Đức Lánh nghiên cứu đặc điểm dịch tễlâm sàng gãy xương hàm dưới tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai từ 2006-2009[20].
Năm 2012, Nguyễn Quang Hải và Nguyễn Bắc Hùng, Nguyễn Mạnh Hà nghiêncứu so sánh kết quả điều trị phẫu thuật gãy góc hàm xương hàm dưới giữa phươngpháp Champy thường quy và Champy phối hợp nút chỉ thép căng lực [16]
Năm 2012, Trương Mạnh Dũng và Trương Mạnh Nguyên nghiên cứu đặc điểmlâm sàng gãy xương hàm dưới vùng cằm do chấn thương tại bệnh viện Răng HàmMặt Trung Ương từ 10/2010 đến 10/2011 [34]
Năm 2012, Trương Nhựt Khuê và Nguyễn Bắc Hùng, Lâm Hoài Phương nghiêncứu đặc điểm của gãy xương hàm dưới và kết quả điều trị tại bệnh viện Đa khoaTrung Ương Cần Thơ giai đoạn 2009-2010 [35]
Năm 2013, Trần Quý Đệ và Lê Đức Lánh, Lâm Hoài Phương nghiên cứu đánhgiá kết quả điều trị gãy lồi cầu xương hàm dưới bằng nẹp vít tại bệnh viện Đa khoaBình Định [30]
Năm 2014, Trần Đăng Minh và Nguyễn Thị Bích Lý thực hiện nghiên cứu liênquan giữa răng khôn hàm dưới mọc lệch với gãy góc hàm và gãy lồi cầu xương hàmdưới [28]
Năm 2014, Nguyễn Bạch Dương thực hiện nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trịgãy lồi cầu xương hàm dưới bằng phương pháp bảo tồn và phẫu thuật [13]
Năm 2015, Lâm Hoài Phương và Bùi Hữu Lâm nghiên cứu điều trị phẫu thuậtgãy lồi cầu xương hàm dưới [7]
Năm 2015, Trần Thư Trung và Lâm Hoài Phương thực hiện nghiên cứu so sánhkết quả điều trị gãy xương hàm dưới vùng cằm bằng vít nén và nẹp vít nhỏ [32].Năm 2016, Hồ Nguyễn Thanh Chơn nghiên cứu điều trị gãy lồi cầu xương hàmdưới bằng kết hợp xương qua đường trong miệng với nội soi hỗ trợ [2]