1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thương hiệu, logistics và marketing phát triển bán hàng theo hình thức marketing trực tiếp nhằm nâng cao ưu thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp bán lẻ hà nội

32 1,2K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thương hiệu, logistics và marketing phát triển bán hàng theo hình thức marketing trực tiếp nhằm nâng cao ưu thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp bán lẻ hà nội
Tác giả PGS.TS. Phan Thị Thu Hoài
Trường học Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Marketing
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 490 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thương hiệu, logistics và marketing phát triển bán hàng theo hình thức marketing trực tiếp nhằm nâng cao ưu thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp bán lẻ hà nội

Trang 1

CHỦ ĐỀ 4: THƯƠNG HIỆU, LOGISTICS VÀ MARKETING

Trang 2

PHÁT TRIỂN KÊNH BÁN HÀNG THEO HÌNH THỨC MARKETING TRỰC TIẾP NHẰM NÂNG CAO ƯU THẾ CẠNH TRANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ HÀ NỘI

PGS.TS Phan Thị Thu Hoài- Khoa Marketing, ĐHTM

Tóm tắt

Bài viết đề cập tới việc phát triển loại hình kênh bán hàng mới cho các doanh nghiệp bán lẻ của Hà Nội đó là các kênh bán hàng theo hình thức marketing trực tiếp nhằm nâng cao ưu thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp Các đặc điểm về lợi thế và bất lợi của kênh bán hàng này đóng góp cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ được đề cập Để tạo tiền đề cho những vận dụng nâng cao ưu thế của DN thông qua phát triển loại hình này, các kết quả điều tra người tiêu dùng Hà Nội về mua hàng đáp ứng các kênh bán hàng marketing trực tiếp được trình bày và những giải pháp vận dụng nhằm tạo ưu thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp bán lẻ của Hà Nội được đề xuất: về loại hình kênh nên tập trung phát triển và loại hình sản phẩm được chào bán theo các kênh này và tạo lập cũng như phát triển quan hệ với khách hàng

HỘI NHẬP NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS VỚI ASEAN CỦA VIỆT NAM –

THÁCH THỨC, CƠ HỘI VÀ KIẾN NGHỊ

TS Nguyễn Văn Minh- Khoa KDTM, ĐHTM

Tóm tắt

Logistics đang ngày càng trở thành một ngành kinh tế dịch vụ quan trọng của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Quá trình hội nhập kinh tế với thế giới và khu vực ASEAN của nước ta ngày càng sâu rộng, trong đó có hội nhập về dịch vụ logistics Bài viết sẽ trình bày khái quát về vai trò của dịch vụ logistics với phát triển nền kinh tế; nhận diện những thách thức/ cơ hội cơ bản trong quá trình hội nhập ngành logistics với ASEAN của nước ta hiện nay Trên cơ sở những nhận định này, tác giả có một số kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp logistics Việt Nam nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập với ASEAN và phát triển ngành dịch vụ logistics của nước ta trong những năm tới.

LUẬN BÀN VỀ SỰ TƯƠNG THÍCH GIỮA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2005 LIÊN QUAN ĐẾN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ VỚI NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980, NHỮNG LỢI ÍCH CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI

GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VIÊN 1980

TS Trần Thành Thọ - Khoa Luật thương mại, ĐHTM Tóm tắt

Trong quá trình hội nhập và phát triển, việc tham gia vào các điều ước quốc tế song phương và đa phương là tất yếu đối với Việt Nam, đặc biệt là các điều ước quốc tế trong lĩnh vực

thương mại Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) là một trong

những Công ước quốc tế về Thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất hiện nay Việt Nam hiện chưa phải là thành viên của CISG Trong giao dịch thương mại quốc tế, hợp đồng thương mại quốc tế được xem là cơ bản, nền tảng của hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá giữa các thương nhân đang trở thành một phần hết sức quan trọng trong nền kinh tế nước ta Bài viết này giới thiệu sơ lược về CISG, đánh giá về sự tương thích giữa Luật thương mại 2005 với những nguyên tắc của CISG và luận bàn Việt Nam hướng đến ra nhập CISG.

QUẢN TRỊ MARKETING QUAN HỆ VÀ HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP MAY MẶC VIỆT NAM

TS Nguyễn Hoàng, Khoa ĐTQT, ĐHTM

2

Trang 3

Tóm tắt

Marketing quan hệ (relationship marketing), đặc biệt với đối tượng là các tổ chức đối tác,

là một phạm trù mới đối với các doanh nghiệp Việt Nam mà vốn hiện nay hầu hết chú trọng vào marketing mix 4Ps Bài viết này, thông qua nghiên cứu lý luận và khảo sát điều tra thực tế, tập trung nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa quá trình quốc tế hóa, hoạt động marketing quan hệ và hiệu quả xuất khẩu của các doanh nghiệp may mặc xuất khẩu Việt Nam Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết đồng thời đưa ra những khuyến nghị giải pháp cải thiện nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu của các doanh nghiệp may mặc xuất khẩu Việt Nam.

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS

VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

PGS.TS An Thị Thanh Nhàn, Khoa Kinh doanh Thương mại- ĐHTM

Từ khóa: Logistics, Dịch vụ logistics, Doanh nghiệp logistics, thị trường logistics, Hội

nhập, Toàn cầu hóa

MARKETING HƯỚNG ĐẾN TINH THẦN VÀ NIỀM TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG – MỘT KHÁI NIỆM TẠO LỢI THẾ CẠNH TRANH

Châu Đình Linh- Đại học Ngân hàng TPHCM

Tóm tắt

“Lượng đổi thì chất đổi” – một mệnh đề triết học mô tả sự biến đổi không ngừng của vật

chất, quá trình biến đổi đó bắt đầu từ lượng và khi tích tụ đủ lượng cần thiết thì chất sẽ thay đổi tương ứng Điều này luôn đúng với bất cứ hiện tượng vật chất nào, kể cả trong marketing Thời điểm hiện tại, marketing không đơn thuần là mọi hoạt động hướng đến sản phẩm để gia tăng doanh

số bán hàng của doanh nghiệp hoặc là sự quan tâm, chăm sóc, duy trì tạo dựng mối quan hệ thân thiết với khách hàng hoặc xây dựng thương hiệu…Mà xu hướng chuyển dịch đến chiếm lĩnh tâm hồn của một con người hoàn thiện (Philip Kotler; Hermawan Kartajaya; Iwan Setiawan), ở đó họ đòi hỏi một thế giới an toàn, một xã hội bền vững, một cộng đồng gắn kết Marketing đã mang một bản chất mới - marketing hướng đến tinh thần và niềm tin (hoặc marketing 3.0) Trong khuôn khổ bài viết, tác giả sẽ làm rõ khái niệm và bản chất của hình thái mới marketing, đồng thời thiết lập những bước, những quá trình để một công ty thực hiện chiến lược marketing hướng đến tâm hồn và niềm tin hiệu quả.

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH XUẤT KHẨU

THAN CỦA VIỆT NAM

Trang 4

ThS Đào Thị Phương Mai, Khoa QTDN, Nguyễn Thị Hay, CH15TMA, ĐHTM

Tóm tắt

Nền kinh tế hội nhập và cạnh tranh gay gắt đã khiến cho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu than nói riêng có thể nhận thấy được tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh, nó mang tính quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp Nhất

là trong thời điểm hiện nay, khi mà nước ta đưa ra chủ trương hạn chế xuất khẩu than, đồng thời

Bộ tài chính quyết định tăng thuế xuất khẩu các sản phẩm than lên 20% khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu than của Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn Mặc dù hạn chế lượng than xuất khẩu, nhưng để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp vẫn luôn phải xây dựng những chiến lược cạnh tranh lâu dài nhằm tăng khả năng xuất khẩu sản phẩm than Việt Nam Việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh xuất khẩu than giúp các doanh nghiệp ngành than đạt được các mục đích sau:

- Hiệu lực các hoạt động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh để khai thác triệt để sức mạnh nội lực và để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ngày càng tốt hơn.

- So sánh với đối thủ cạnh tranh, thực hiện phân tích so sánh để giúp doanh nghiệp vượt qua đối thủ cạnh tranh, thu hút đầu tư.

- Qua quá trình phân tích và tìm hiểu thực tế về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tìm ra nguyên nhân và có những biện pháp khắc phục nhằm nâng cao được năng lực cạnh tranh, hạn chế những điểm yếu của doanh nghiệp.

Đối tượng nghiên cứu của bài viết là các doanh nghiệp khai thác, chế biến và kinh doanh xuất khẩu than của Việt Nam

Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh than của Việt Nam Từ đó tìm ra nguyên nhân, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp khai thác, chế biến và kinh doanh than.

Keywords: Cạnh tranh xuất khẩu than; Năng lực cạnh tranh; Năng lực cạnh tranh xuất khẩuthan; Nâng cao năng lực cạnh tranh; Xuất khẩu than Việt Nam

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CÔNG NGHỆ ĐỂ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ NHẰM DUY TRÌ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH KINH DOANH MUA THEO NHÓM (GROUPON) TRONG BÁN LẺ ĐIỆN TỬ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

Lê Thị Thu Hoài, Nguyễn Minh Đức, Khoa Thương mại Điện tử, ĐHTM

Tóm lược

Thương mại điện tử ra đời đã làm thay đổi căn bản cách thức tiến hành kinh doanh của các doanh nghiệp và đem lại lợi ích vô cùng lớn cho cả các doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội.

4

Trang 5

Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, nhiều mô hình kinh doanh mới xuất hiện và phát triển với tốc độ rất nhanh, trong đó có mô hình kinh doanh groupon hay mô hình mua theo nhóm.

Mô hình kinh doanh groupon (hay còn gọi là mô hình mua theo nhóm) xuất hiện năm 2008

ở Mỹ bởi công ty Groupon 1 Chỉ sau 2 năm hoạt động Groupon.com đã nổi tiếng khắp thế giới về sức hút mãnh liệt và thực sự là một phương thức bán hàng mới cực kỳ hấp dẫn Doanh thu của Groupon sau 2 năm hoạt động đã đạt gần 1.35 tỷ $ Tháng 3/2011 công ty này được định giá lên đến 25 tỷ $ 2 Chưa từng có công ty Dot-com nào tăng trưởng nhanh chóng đến vậy Groupon là mô hình kinh doanh có thể thu hút được một số lượng lớn các khách hàng tham gia bởi lợi thế giá rẻ theo quy mô và nhờ khai thác việc chia sẻ thông tin nhanh chóng trên Internet, không giới hạn thời gian và không gian Quan trọng hơn, groupon là mô hình có khả năng mở rộng rất lớn, nghĩa là groupon hoàn toàn có thể phát triển ra toàn cầu Nhiều quốc gia, doanh nghiệp trên thế giới đã phát triển mô hình kinh doanh groupon Ngay cả những nước trong khu vực Đông Nam Á như Philippines, Singapore cũng đã có nhiều doanh nghiệp tiến hành kinh doanh theo mô hình groupon Groupon đang làm thay đổi thói quen mua hàng cũng như các chương trình khuyến mại Hình ảnh những khách hàng xếp hàng dài chờ mua hàng khuyến mại dần được thay thế bằng những dòng tin nhắn, thông điệp, tweet về các chiến dịch giảm giá hấp dẫn trên Groupon.

Từ khóa: Bán lẻ điện tử, mô hình kinh doanh, mua theo nhóm, thương mại điện tử, kinh

doanh điện tử

Từ viết tắt: TMĐT (Thương mại điện tử); CNTT&TT (Công nghệ thông tin và truyền

thông); PTĐT (Phương tiện điện tử); NCC (Nhà cung cấp); B2B (Business to Business); B2C(Business to Consumer);

COLLABORATION IN FRESH FOOD SUPPLY CHAINS TO SUPERMARKETS IN

HANOI

TS Lục Thị Thu Hường, Khoa KDTM, ĐHTM

Abstract

With the arrival and development of supermarkets, Hanoi is currently experiencing changes

in its fresh food retailing system The objective of this paper is to analyze and assess these changes

in terms of the role of supermarkets in the value chains for fresh food Specifically, the assessment looks at the current issues and constraints for improved collaboration in fresh food supply to supermarkets, from the supermarket’s perspective The analysis is based on in-depth interviews with the supermarkets’ procurement managers as well as with the farmers and other food producers It shows that the foreign retailers are much more active in the collaborative relationships with their suppliers than the local players It concludes with some recommendations for supermarkets to enhance the collaboration options to reap higher benefits for both local supermarkets and farmers

WIN-WIN COOPERATION STRATEGIES FOR BIG AND SMALL BUSINESSES

Trang 6

In the age of globalization, the necessity of win-win or mutually-beneficial cooperation among big corporations and small and medium-size enterprises(SMEs) for their sustainable growth never can be overemphasized The failure by big corporations and SMEs to cooperate as partners

on an equal footing is bound to create an imbalance in the overall economy and inevitably results

in limiting the growth potential for both parties In this paper, after reviewing current status of cooperation among Korean big corporations and SMEs, we proposed several policy alternatives to help introduce lasting improvements to the cooperative relationship among them These kinds of policy measures would be especially effective in case of technology intensive small venture firms in Korea

Key Words : Win-Win cooperation strategy, Big corporations, SMEs, Policy measure

HỢP TÁC XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU ĐIỂM ĐẾN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG

CHO BA TỈNH LÀO CAI – YÊN BÁI – PHÚ THỌ

Nghiêm Phú Bình- Khoa Khách sạn Du lịch, ĐHTM

Tóm tắt

Trong ngành du lịch, mỗi quốc gia, thành phố, làng mạc đều được coi là một điểm đến Ngày nay, các điểm đến phải cạnh tranh với nhau trong miếng thị phần thế giới về giao dịch thương mại, chính trị, xã hội và văn hóa trên một thị trường gần như là duy nhất Tạo dựng được thương hiệu cho điểm đến là chìa khóa cho thành công Hoạt động xây dựng thương hiệu điểm đến tại Việt Nam đang đi những bước đầu tiên và cần nhiều thời gian để làm quen cũng như hoàn thiện Bài viết này đề cập đến hợp tác xây dựng thương hiệu trong du lịch Bài viết đánh giá mô hình hợp tác của ba tỉnh Tây Bắc Lào Cai –Yên Bái – Phú Thọ và khả năng ứng dụng hợp tác xây dựng thương hiệu điểm đến của ba tỉnh này.

Từ khóa: Hợp tác xây dựng thương hiệu điểm đến, Du lịch về cội nguồn, Lào Cai, Yên Bái,

Phú Thọ.

KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI THƯƠNG HIỆU TRỰC TUYẾN

TS Nguyễn Hoàng Việt, Khoa QTDN, ĐHTM

Tóm lược

Sự trung thành của khách hàng đối với với thương hiệu trực tuyến không chỉ phụ thuộc vào yếu tố cạnh tranh giá mà còn chịu tác động của một hệ thống tương tác các yếu tố khác biệt của môi trường Internet Nghiên cứu về niềm tin thương hiệu, đặc biệt là niềm tin thương hiệu nhà sách trực tuyến còn khá mới mẻ trong điều kiện Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu 406 khách hàng, kết quả nghiên cứu cho thấy 6 yếu tố tác động đến niềm tin thương hiệu trực tuyến của các nhà sách online: (1) mức độ an toàn; (2) tính bảo mật; (3) tên thương hiệu; (4) truyền miệng (WOM); (5) trải nghiệm trực tuyến và (6) chất lượng cung cấp thông tin

PHÁT TRIỂN CHIẾN LƯỢC BÁN HÀNG VÀ DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI BÁN LẺ NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

Trang 7

Hiện nay thị trường bán lẻ Việt Nam ước đạt gần 78 tỷ USD và tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng hơn 20% (theo tổng cục thống kê), cộng với số lượng người tiêu dùng trẻ hàng nhất châu Á Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam phát triển Tuy nhiên, các doanh nghiệp thương mại (DNTM) bán lẻ nước ta nói chung và các doanh nghiệp thương mại bán lẻ nhà nước nói riêng đứng trước sự biến động lớn của môi trường kinh doanh cùng với những khó khăn nội tại của mình, tất yếu phải phát triển chiến lược bán hàng và dịch vụ khách hàng (DVKH) mang tính thích ứng cao với sự biến động, thay đổi của môi trường kinh doanh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Bài viết có ý nghĩa lớn cả về lý luận về thực tiễn: Xác lập mô hình, nội dung phát triển chiến lược bán hàng và dịch vụ khách hàng của doanh nghiệp thương mại bán lẻ Thông qua các phương pháp nghiên cứu phù hợp, bài viết góp phần phân tích thực trạng chiến lược bán hàng và dịch vụ khách hàng các doanh nghiệp thương mại bán lẻ nhà nước, từ đó đưa ra những đánh giá khách quan thực trạng các yếu tố, các nội dung phát triển chiến lược bán hàng và dịch vụ khách hàng và đề xuất một số giải pháp phát triển chiến lược bán hàng và DVKH của các doanh nghiệp thương mại bán lẻ nhà nước.

AN APPROACH TOWARDS CSR AND INNOVATION INTEGRATION

Nguyen Ngoc Thang, PhD, Nguyen Ngoc Phu , University of Economics and Business,

Vietnam National University

Abstract

While CSR is increasingly becoming a part of company discussions worldwide in the quest for greater value and competitiveness, innovation is understood to be one of the main drivers of firm competitiveness The paper aims to advance understanding of the link between CSR and innovation in order to better strategy design and policy formulation in organizations At the result,

it leads to increase in awareness and motivation on CSR and innovation integration Therefore, the paper describes literature review that explains the relationship between CSR and innovation; draw some barriers to CSR-driven innovation and describe how the study could increase awareness of CSR-driven innovation Finally, we provide approach towards CSR and innovation integration and directions for future research.

Keywords: Compatibility; Innovation; Corporate Social Responsibility (CSR).

BẢO VỆ THƯƠNG HIỆU NHÌN TỪ THỰC TIỄN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

sự chủ quan, nhận thức chưa đầy đủ của các doanh nghiệp Từ kết quả khảo sát thực tế và phỏng vấn chuyên sâu, bài viết đã chỉ ra được những vấn đề còn rất hạn chế trong công tác bảo vệ thương hiệu của các doanh nghiệp để từ đó đưa ra một số gợi ý cho kịch bản bảo vệ thương hiệu trong các doanh nghiệp Tuỳ theo điều kiện thực tế, các doanh nghiệp có thể vận dụng linh hoạt từng giải pháp riêng lẻ hoặc có sự kết hợp đồng thời giữa chúng để đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động bảo vệ thương hiệu của doanh nghiệp

Từ khóa: Thương hiệu; Bảo vệ thương hiệu; xâm phạm thương hiệu; nhãn hiệu

Trang 8

MOBILE MARKETING - CÔNG CỤ KẾT NỐI THƯƠNG HIỆU VÀ NGƯỜI TIÊU

của các doanh nghiệp

THƯƠNG HIỆU DỊCH VỤ VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU DỊCH VỤ NGÂN

HÀNG TẠI VIỆT NAM

Nguyễn Thị Thanh Nga, Khoa KDTM, ĐHTM

Từ khoá: thương hiệu, thương hiệu dịch vụ, dịch vụ, thương hiệu ngân hàng

CỦNG CỐ HÌNH ẢNH THƯƠNG HIỆU MỘT SỐ TRANG THÔNG TIN DÀNH

CHO GIỚI TRẺ VIỆT NAM

ThS Nguyễn Thu Hương, Khoa KDTM, ĐHTM

Tóm tắt

Các trang thông tin trên Internet dành cho giới trẻ trong thời gian vừa qua đã chứng kiến

sự phát triển mạnh mẽ và đồng thời, đi kèm với nó là những vấn đề về tạo dựng hình ảnh thương hiệu trong tâm trí độc giả Bài viết này muốn mang đến một cái nhìn sơ bộ về những đánh giá của những người trẻ tuổi về các trang thông tin dành cho độ tuổi từ 15 – 25 hiện nay, để từ đó, chỉ ra những liên kết chính cấu thành hình ảnh thương hiệu mà mỗi trang thông tin đang nhận được phản hồi tích cực từ phía độc giả Bên cạnh đó, bài viết cũng đưa ra một số gợi ý cho việc củng cố hình ảnh thương hiệu cho 3 trang thông tin được khảo sát là http://kenh14.vn (Kênh 14),

được sử dụng từ 2 nguồn là thứ cấp và sơ cấp Trong đó nguồn thứ cấp chủ yếu được thu thập từ

8

Trang 9

các công trình nghiên cứu có liên quan về Website, Brand Equity Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua chương trình khảo sát điều tra với 2 giai đoạn Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong bài viết là phương pháp định lượng dựa trên các số liệu thống kê thu thập từ Bảng câu hỏi (Offline, Online) và Ý kiến chuyên gia

PHÁT TRIỂN XÚC TIẾN DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động xúc tiến du lịch quốc tế đến của các doanh nghiệp lữ hành Hà Nội từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị phát triển hoạt động xúc tiến du lịch quốc tế đến của các doanh nghiệp lữ hành Hà Nội đến năm 2020 Những giải pháp và kiến nghị này dựa trên phân tích 2 nội dung hoạt động xúc tiến của các doanh nghiệp lữ hành: việc sử dụng các công cụ xúc tiến và liên kết trong hoạt động xúc tiến

Việt Nam gia nhập WTO mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp của Việt Nam Tuy nhiên

đi kèm với đó là sự đe dọa từ việc phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Thị trường của các doanh nghiệp giờ đây không còn đơn thuần chỉ là các đối thủ cạnh tranh trong nước mà còn là các đối thủ cạnh tranh đến từ nước ngoài.Trước sự gia nhập ngành của nhiều doanh nghiệp mới, cường độ cạnh tranh của nhiều ngành kinh doanh không ngừng tăng lên Việc chiếm giữ được niềm tin khách hàng đối với sản phẩm để duy trì và gia tăng thị phần nhằm tạo lập lợi thế cạnh tranh trở thành một trong những xu thế chính của các doanh nghiệp Việt Nam Chính vì vậy vấn đề quản trị thị trường chiến lược trở thành một vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các doanh nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh cửa nhửa nói chung và Eurowindow nói riêng đang quan tâm đến quản trị thị trường chiến lược của mình Trong nội dung bài viết này tác giả đưa ra thực trạng của các doanh nghiệp kinh doanh cửa nhựa cao cấp hiện nay tại Việt Nam ( Định hướng nghiên cứu chuyên sâu Eurowindow) để trên cơ sở thực trạng đó tác giả đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị thị trường chiến lược của các doanh nghiệp kinh doanh cửa nhựa cao cấp

Trang 10

TĂNG CƯỜNG HIỆU LỰC XÚC TIẾN TMĐT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN BẢO MẬT, NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI CÔNG TY TNHH

BKAV

Phùng Mạnh Hùng, Khoa QTDN, ĐHTM

Tóm tắt

Sử dụng các công cụ xúc tiến điện tử đã và đang là một xu hướng không chỉ các doanh

nghiệp nước ngoài áp dụng, nó cũng đang được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp Việt Nam Điều này có thể được lí giải là do các công cụ xúc tiến điện tử thể hiện được tính ưu việt như: hướng tới đúng đối tượng, có thể đo lường được hiệu quả, tiết kiệm được chi phí BKAV là đại diện duy nhất của Việt Nam trong lĩnh vực an toàn bảo mật, một lĩnh vực quan trọng trong ngành CNTT với triển vọng phát triển cao trong tương lai, hiện tại doanh nghiệp đang áp đụng các công

cụ xúc tiến điện tử như là một giải pháp trọng tâm để giúp công ty tiếp tục mở rộng thị phần, tuy nhiên hiệu quả còn hạn chế Bằng phương pháp phỏng vấn chuyên gia, điều tra qua bảng hỏi, sử dụng phần mềm SPSS 16.0 và sự hỗ trợ của EXCELL để xử lý dữ liệu, tác giả muốn làm rõ thực trạng và hiệu quả sử dụng các công cụ xúc tiến điện tử tại doanh nghiệp này

GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ LOGISTICS CHO CÁC DOANH NGHIỆP

NGÀNH NHỰA VIỆT NAM

ThS Trần Thị Thu Hương, Khoa KDTM, ĐHTM

Tóm tắt

Quản trị logistics hiện được ghi nhận như một thành tố quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp thông qua khả năng cung cấp các giá trị gia tăng về thời gian, địa điểm và di chuyển hàng hóa hiệu quả đến khách hàng Do đó, việc nghiên cứu thực trạng triển khai hoạt động logistics tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là căn cứ quan trọng

để hoàn thiện hoạt động này, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Trên cơ sở cuộc khảo sát 61 doanh nghiệp ngành nhựa, bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng hoạt động logistics tại các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam; từ đó đưa ra một số giải pháp phù hợp và có tính khả thi đối với hoạt động logistics nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này trong điều kiện hiện nay.

NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

ThS Trần Thị Tuấn Anh, Trường Đại học Kinh tế TPHCM

Tóm tắt

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu là một xu thế tất yếu Bằng phương pháp định tính, dựa trên những luận cứ rõ ràng và minh họa bằng các số liệu kinh tế được Tổng cục thống kê công bố qua các năm từ 2001 đến 2010, bài viết phân tích rõ những lý do cho thấy sự cần thiết mà Việt Nam phải tham gia chuỗi giá trị toàn cầu Bên cạnh đó, phân tích phác thảo những ngành hàng như dệt may, ô tô, cơ khí, điện tử… để làm rõ rằng vị trí của Việt Nam hiện vẫn còn đang đâu đó ở đáy của những chuỗi giá trị toàn cầu Bài viết cũng nêu rõ nhưng nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc Việt Nam chưa nâng cao được vị thế của

10

Trang 11

mình ở những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn Từ đó, bài viết đề xuất những giải pháp để Việt Nam gia tăng vị thế của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu

Từ khóa: DNNVV, Cạnh tranh, sản phẩm mới

MARKETING DI ĐỘNG VÀ LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ

TS Cao Tuấn Khanh, Khoa Marketing, ĐHTM

Tóm tắt

Tính di động là công nghệ mới, cũng như Internet, nó có thể được ứng dụng ở nhiều ngành

và trong chiến lược marketing của nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, một cách thông minhhay không thông minh Nó có thể mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả cao, sự khác biệt, cơ hội đểcạnh tranh hay kết hợp của tất cả các điều này Vấn đề không phải là ở hiệu quả của công nghệ diđộng mà làm thế nào để ứng dụng hiệu quả công nghệ di động trong lĩnh vực marketing của doanhnghiệp Thách thức lớn nhất là cung ứng giá trị lớn hơn và thỏa mãn các khách hàng so với đối thủ.Vấn đề trên liên quan đến 2 yếu tố dẫn đường ảnh hưởng đến việc cung ứng các giá trị: một là lựclượng ngành, quyết định khả năng cung ứng các giá trị của những người tham gia cạnh tranh nóichung, hai là lợi thế cạnh tranh tương đối cho phép một doanh nghiệp vượt trội những đối thủ cạnhtranh khác Đây là 2 yếu tố thống trị ngày càng tăng trên toàn thế giới trong thời đại số, nhưngchúng có thể thay đổi nhiều theo ngành và theo từng doanh nghiệp

Từ khóa: Marketing di động, chuỗi giá trị, lợi thế cạnh tranh

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐỊNH VỊ MÁY

TÍNH THƯƠNG HIỆU VIỆT

ThS Đào Thị Dịu, Khoa Kinh doanh thương mại, ĐHTM

Tóm tắt

Trong hơn một thập kỷ nay, vấn đề thương hiệu ở nước ta nổi lên như là một xu thế, một phong trào

mà hàng năm đều có các cuộc bình chọn dưới nhiều hình thức khác nhau Hầu hết các DN Việt Nam đều nhận thấy tầm quan trọng to lớn của thương hiệu trong việc tạo dựng uy tín, hình ảnh của DN trong tâm trí khách hàng và công chúng Tuy nhiên, việc triển khai vẫn chưa đi được vào “phần chìm của núi băng” bởi

Trang 12

hầu hết các DN Việt Nam vẫn ở tình trạng “quan tâm”, “mong muốn” nhưng bắt tay vào làm đều gặp lúng túng, bất cập và rất ít tiến triển Một trong số các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do các DN Việt Nam vẫn chưa đưa ra được một chiến lược dài hạn để xây dựng và phát triển thương hiệu, đặc biệt là chưa định vị được hình ảnh thương hiệu một cách rõ nét trong tâm trí người tiêu dùng Bài viết nhằm cung cấp một số nội dung liên quan tới việc hoạch định chiến lược định vị thương hiệu, cũng như khái quát về thực trạng định vị thương hiệu máy tính Việt của một số DN kinh doanh máy tính, và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm giúp các DN kinh doanh máy tính Việt tạo dựng được hình ảnh riêng trong tâm trí người tiêu dùng

XUẤT XỨ HÀNG THỰC PHẨM – VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG TRONG VIỆC TĂNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC SIÊU THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

ThS Hồ Thị Mai Sương, Khoa KT, ĐHTM

Tóm lược

Hiện nay, ngành bán lẻ ở Việt Nam tham gia sâu vào thị trường thế giới đã tạo nên những khả năng cạnh tranh mới giữa các doanh nghiệp bán lẻ trong nước và nước ngoài Đặc biệt, sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ giữa các siêu thị về mặt hàng thực phẩm Siêu thị phải tuân thủ các quy định về xuất xứ hàng thực phẩm một cách nghiêm ngặt Trong đó, vấn đề xuất xứ hàng thực phẩm tại các siêu thị trên địa bàn Hà Nội đang được nhiều người quan tâm Trong thời gian gần đây, nhiều siêu thị đã bị người tiêu dùng phản ánh về vấn đề hàng thực phẩm không rõ xuất xứ Điều này ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của các siêu thị Do đó với phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp thu thập dữ liệu, xử lý và phân tích dữ liệu, tác giả đã nghiên cứu về thực trạng thực hiện quy định xuất xứ hàng thực phẩm của các siêu thị trên địa bàn Hà Nội nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các siêu thị.

Từ khóa: cạnh tranh, người tiêu dùng, siêu thị, thực phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm, xuấtxứ

VAI TRÒ CỦA NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG VIỆC CỦNG CỐ VÀ

12

Trang 13

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TỔNG THỂ ERP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ KINH DOANH TẠI VISEC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI

ThS Lê Việt Hà – Khoa THTM, ĐHTM

Tóm lược

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, doanh nghiệp đang đứng trước nhiều thời cơ

và thách thức với những biến chuyển mạnh mẽ của thời đại để hội nhập, hợp tác và cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu Để có thể nâng cao hiệu quả quản trị kinh doanh, doanh nghiệp cần phải luôn chủ động

đi tắt đón đầu áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến, ứng dụng hệ thống thông tin, thương mại điện

tử cho các hoạt động nghiệp vụ của mình Công ty cổ phần kỹ thuật đóng tàu VinaShin (Visec) hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp tàu thuỷ đang phải giải quyết bài toán tái cơ cấu ngành nghề kinh doanh theo yêu cầu của Chính Phủ Việc ứng dụng một hệ thống thông tin hỗ trợ hiệu quả các hoạt động trong công ty sẽ giúp Visec tiết kiệm được nhiều chi phí, nâng cao năng suất lao động và tạo cơ hội mở rộng phát triển kinh doanh Trong bài báo này chúng tôi đề xuất một giải pháp quản lý tổng thể ERP nhằm nâng cao hiệu quả quản trị kinh doanh tại Công ty Visec trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới hiện nay.

ĐÁNH GIÁ TÌNH THẾ PHÁT TRIỂN CHIẾN LƯỢC MARKETING TRỰC TUYẾN

CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHỆ CMC

ThS Lưu Thị Thùy Dương - Khoa QTDN, ĐHTM

Tóm tắt

Trong những năm gần đây, marketing trực tuyến đã trở thành một trong những xu hướng được các doanh nghiệp (DN) trên thế giới sử dụng nhiều nhất nhằm giải quyết bài toán chi phí/lợi ích cho DN và khách hàng Tại Việt Nam, marketing trực tuyến cũng là một xu hướng “nóng” nhưng bên cạnh đó vẫn còn khá nhiều DN chưa thực sự nắm rõ nội hàm của marketing trực tuyến

và còn “đắn đo” trong việc thực hiện, phát triển hoạt động marketing trực tuyến Vì vậy, trong bài viết này, tác giả đi sâu vào khái quát hóa nội dung của chiến lược marketing trực tuyến, lấy trọng tâm nghiên cứu là các doanh nghiệp thuộc nhóm SBU IT của tập đoàn công nghệ CMC Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong bài viết này là điều tra phỏng vấn các chuyên gia của doanh nghiệp và thu thập dữ liệu thứ cấp nhằm thiết lập hệ thống dữ liệu chặt chẽ và đầy đủ về phát triển chiến lược marketing trực tuyến của các doanh nghiệp IT thuộc tập đoàn CMC.

Keywords: marketing trực tuyến, online marketing, phát triển chiến lược, tập đoàn CMC, tình thế chiến lược

XU HƯỚNG MARKETING TRUYỀN MIỆNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

Ngạc Thị Phương Mai, Khoa Kinh tế, ĐHTM

Tóm tắt

Kinh doanh trong điều kiện hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam cần nỗ lực nhiều hơn để nâng cao sức cạnh tranh Trong thời gian qua, hoạt động marketing ở các doanh nghiệp trong nước chưa thực sự chuyên nghiệp, chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức Để phát huy ưu thế sân nhà, bắt kịp xu hướng phát triển của thời hội nhập, có một xu hướng đang lên trong lĩnh vực marketing mà các doanh nghiệp trong nước ngày càng quan tâm là Marketing truyền miệng Marketing truyền miệng được đánh giá là đạt hiệu quả cao với mức chi phí thấp so với quảng cáo, bằng cách giới thiệu cá nhân và lan truyền thông tin qua chính khách hàng, tuy nhiên nếu chỉ tạo

“sự hưng phấn” hoặc “truyền miệng” là chưa đủ Qua phân tích tập trung vào các dữ liệu thứ cấp

Trang 14

và phỏng vấn chuyên sâu, bài viết muốn đưa ra cái nhìn tổng quan về marketing truyền miệng và dẫn ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động marketing cho doanh nghiệp

Từ khóa: B2B, Marketing truyền miệng (WOM), PR, Quảng cáo, Virus marketing.

PHÁT TRIỂN CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU HÀNG MAY VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC VINATEX HIỆN NAY

TS Nguyễn Đức Nhuận, Phòng Hành chính Tổng hợp, ĐHTM

Tóm tắt

Sự tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 và như dự báo của nhiều chuyên gia giai đoạn 2011-2012 bắt đầu một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu mới đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong xuất khẩu, đặc biệt năng lực hiển thị trên thị trường xuất khẩu Doanh nghiệp phải có những thay đổi trong phương thức xuất khẩu, trong chiến lược kinh doanh xuất khẩu nói chung, chiến lược Marketing nói riêng, nhằm nhận thức được và tận dụng tốt những cơ hội trong việc tổ chức sản xuất, kinh doanh, mở rộng và phát triển thị trường, với những yêu cầu cấp thiết cần hoạch định chiến lược marketing, tạo các giải pháp vừa đồng bộ, vừa có tính đột phá nhằm khắc phục những tồn tại, tận dụng tốt cơ hội trong kinh doanh nhằm đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp gắn liền lợi ích của khách hàng và lợi ích của toàn xã hội.

Phạm vi bài viết chủ yếu đề cập đến một số vấn đề về hoạch định một chiến lược marketing của các doanh nghiệp thuộc Vinatex trong xuất khẩu hàng may mặc vào thị trường Hoa Kỳ một cách có hiệu quả, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, một yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả của hoạt động kinh doanh, đem lại lợi ích và thu nhập cho doanh nghiệp và lợi ích cho toàn xã hội.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA SẢN PHẨM CHÈ XUẤT

KHẨU VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

Th.S Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Minh Quang, Khoa KT, ĐHTM

Tóm tắt

Thế giới biết đến Việt Nam như một cái nôi của cây chè thế giới Mỗi năm, Việt Nam xuất hàng ngàn container chè thô sang các nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên giữa sản lượng và giá trị xuất khẩu của sản phẩm chè lại tỉ lệ nghịch với nhau Trong chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam chỉ là một nước đóng vai trò trong khâu cung ứng nguồn nguyên liệu thô nên giá trị đem lại không cao Mục tiêu chính của bài viết này là phân tích hoạt động của chuỗi giá trị chè những thực trạng còn tồn tại của ngành chè Việt Nam và đề xuất một số giải pháp tháo gỡ trong thời gian tới.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CHO HÀNG NÔNG SẢN

XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

Nguyễn Thị Hải Anh và NCS Nguyễn Quốc Nghi, Trường Đại học Cần Thơ

Tóm tắt

Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam tăng trưởng liên tục, góp phần không nhỏ vào việc hạn chế nhập siêu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các mặt hàng nông sản xuất khẩu đang phải đối mặt với những thách thức lớn khi tham gia vào sân chơi quốc tế, vấn đề cốt lỗi vẫn là bài toán “khả năng cạnh tranh thấp” Vì thế, bài viết

14

Trang 15

này phát họa thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam, đồng thời nhận định những cơ hội, điểm mạnh cũng như những thách thức và điểm yếu của hàng nông sản xuất khẩu, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, góp phần thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt Nam trong thời gian tới.

ỨNG DỤNG BSC TRONG ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ CHIẾN LƯỢC KINH

DOANH CỦA HABECO

ThS Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt, Khoa QTDN, ĐHTM

Tóm tắt

Với nguyên tắc “Cái gì đo lường được thì mới thực hiện được” và “Hãy đo lường những gì quan trọng” thì bất cứ hoạt động quản trị nào trong doanh nghiệp cũng cần phải tiến hành hoạt động đo lường và đánh giá Hiện nay, việc đo lường và đánh giá hiệu quả thực thi chiến lược của một công ty kinh doanh có tầm quan trọng rất lớn, tuy nhiên nếu chỉ đánh giá dựa trên chỉ tiêu tài chính thì kết quả được phản ánh chưa toàn diện và đầy đủ Vì vậy, việc sử dụng Thẻ điểm cân bằng là công cụ đo lường mà các doanh nghiệp hiện nay có thể vận dụng để đánh giá hiệu quả chiến lược trên cơ sở cho phép doanh nghiệp nhận dạng đâu là điểm mạnh, điểm yếu, đồng thời là một kênh giao tiếp chính thống và thống nhất định hướng cho các hoạt động chiến lược bên trong doanh nghiệp Bài viết trên cơ sở đánh giá thực trạng đo lường chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp và đề xuất vận dụng công cụ này trong đo lường hiệu quả triển khai chiến lược kinh doanh của Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG

THỜI KỲ HỘI NHẬP-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

ThS Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Khoa Marketing, ĐHTM

Tóm tắt

Hội nhập quốc tế đã buộc các doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh để đủ sức đứng vững trên thương trường Một thực trạng phổ biến hiện nay là: năng lực cạnh tranh của các doanh nghiêp Việt Nam còn nhiều hạn chế và yếu kém nên khả năng tồn tại và khẳng định vị thế trên thị trường rất thấp (đặc biệt là thị trường quốc tế) Vì vậy, xây dựng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam là một tất yếu khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Nếu không làm được điều này, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ thất bại trên “sân khách”

mà còn gánh chịu những hậu quả tương tự trên chính “sân nhà” Để nâng cao năng lực cạnh tranh thì những công việc mà chủ doanh nghiệp cần là chủ động làm là: hiểu được thế nào là năng lực canh tranh của doanh nghiệp? Nguyên nhân tạo ra năng lực cạnh tranh yếu kém đó, thực trạng về khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam và cuối cùng là giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

PHÁT TRIỂN CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM CHÀO HÀNG TRỰC TUYẾN CHO CÁC CÔNG TY DU LỊCH VIỆT NAM: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI VIETRAVEL

ThS Nguyễn Thị Uyên – Khoa QTDN, Trường ĐHTM

Trang 16

sản phẩm chào hàng trực tuyến của các doanh nghiệp du lịch nói chung và đặc biệt phân tích một cách chi tiết thực trạng sản phẩm chào hàng trực tuyến tại Vietravel đồng thời nhận dạng những biến động chiến lược từ môi trường bên ngoài và bên trong doanh nghiệp và cuối cùng (3) đưa ra các giải pháp chung cho phát triển chiến lược sản phẩm chào hàng trực tuyến cho các du lịch Việt Nam và cho Vietravel nói riêng Với phương pháp tổng hợp, phân tích định tính và định lượng dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp tác giả đã đưa hệ thống các giải pháp về phát triển chiến lược marketing trực tuyến mục tiêu và chiến lược định vị, giải pháp phát triển cấu trúc chiến lược sản phẩm chào hàng trực tuyến, phát triển nguồn lực thực thi chiến lược sản phẩm chào hàng trực tuyến và một số giải pháp khác cũng như kiến nghị với nhà nước, hiệp hội du lịch góp phần nâng cao sức cạnh cạnh tranh cũng như doanh thu cho ngành du lịch Việt Nam.

Keywords: du lịch, sản phẩm chào hàng trực tuyến, phát triển chiến lược, Vietravel

HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS ĐẦU VÀO – GIẢI PHÁP CẠNH TRANH CỦA CÁC CÔNG TY LẮP RÁP Ô TÔ VIỆT NAM

ThS Phạm Thị Huyền - Khoa KDTM, Trường ĐHTM

Tóm tắt

Hiện nay, công tác quản trị hoạt động logistics đầu vào tại các công ty lắp ráp ô tô vẫn duy trì được sự ổn định, đảm bảo cho quá trình sản xuất và lắp ráp ô tô được diễn ra một cách liên tục Tuy nhiên, công tác này vẫn có những hạn chế làm giảm đi hiệu quả sản xuất và kinh doanh, giảm khả năng cạnh tranh của các công ty Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết kết hợp với các dữ liệu thứ cấp thu thập được từ nhiều nguồn, bài viết đã đưa ra các kết luận về thành công đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản trị hoạt động logistics đầu vào tại các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô Việt Nam, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

VẤN ĐỀ THƯƠNG HIỆU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ:

Từ khóa: xây dựng và phát triển, thương hiệu, doanh nghiệp

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG SIÊU THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

ThS Trần Việt Thảo, ThS Bùi Lan Phương – Khoa Kinh tế, Trường ĐHTM

Tóm tắt

Trên địa bàn Hà Nội, sau một thời gian đi vào hoạt động, hệ thống các siêu thị đã thu được một số kết quả ban đầu đáng khích lệ và đang dần bước sang một thời kỳ phát triển mới, với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng và nâng cao từng bước về chất lượng phục vụ Tuy nhiên, bên cạnh

16

Ngày đăng: 19/01/2013, 10:16

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w