Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn là dịch bệnh hiện nay phức tạp gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi trong các trang trại cũng như nuôi nhỏ lẻ tại
Trang 1-
HOÀNG THỊ QUỲNH
Tên đề tài:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI LỢN CÔNG TY CỔ PHẦN KHAI THÁC KHOÁNG SẢN THIÊN THUẬN
TƯỜNG THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, QUẢNG NINH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2017 - 2022
Thái Nguyên - 2022
Trang 2-
HOÀNG THỊ QUỲNH
Tên đề tài:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI LỢN CÔNG TY CỔ PHẦN KHAI THÁC KHOÁNG SẢN THIÊN THUẬN
TƯỜNG THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, QUẢNG NINH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2017 - 2022 Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Thị Hoan
Thái Nguyên - 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trang trại Công ty Cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường của Chú Trần Hòa tại Tổ 2- Khu 1- phường Cửa Ông, Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Đến nay em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Qua đây em xin gửi lời cảm ơn và lòng kính trọng đến Ban giám hiệu nhà trường cũng như lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y Đặc biệt em xin bày tỏ lời cảm
ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo TS Trần Thị Hoan, đã tận tình hướng
dẫn em trong suốt quá trình em thực tập tại sơ sở
Nhân dịp này, em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trang trại chăn nuôi lợn công ty cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường của Chú Trần Hòa tại phường Cửa Ông, Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh và cùng toàn thể anh chị em công nhân viên đã tạo điều kiện, giúp đỡ em thực hiện tốt chuyên đề cũng như trong quá trình học hỏi và nâng cao tay nghề trong thực tiễn
Một lần nữa em xin gửi lời cảm và lời chúc sức khỏe đến các quý thầy
cô, và toàn thể các công nhân viên trong trại Trong quá trình thực tập bản thân em còn có nhiều thiếu sót rất mong nhận được đóng góp của các thầy giáo, cô giáo để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2022
Sinh viên
Hoàng Thị Quỳnh
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Lượng thức ăn/ngày cho lợn nái của trại 27
Bảng 3.2 Lịch sát trùng hàng tuần đối với chuồng nái chửa, đẻ và cai sữa tại trại 29
Bảng 3.3 Lịch tiêm phòng vắc xin phòng bệnh cho lợn nái tại trang trại 30
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trang trại trong 3 năm 2020-5/2022 32
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái 32
Bảng 4.3 Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của lợn nái 33
Bảng 4.4 Tình trạng sinh sản và kết quả can thiệp lợn nái khó đẻ 37
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh, phun sát trùng tại trại 38
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh sản khoa trên đàn lợn nái 39
Bảng 4.7 Biểu hiện triệu chứng của bệnh sản khoa trên đàn lợn nái 40
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 41
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện một số công việc khác 42
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.1 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức trang trại 4
2.1.3 Cơ sở vật chất của trại 5
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn 7
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề 7
2.2.1 Đặc điểm sinh lý và sinh dục của lợn nái 7
2.2.2 Khảo sát về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ, lợn nái nuôi con 9
2.2.3 Những hiểu biết về các bệnh tại cơ sở 11
2.2.4 Cách phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản 20
2.2.5 Một số loại thuốc thường được sử dụng trong quá trình điều trị và phòng bệnh tại cơ sở 23
2.3 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 24
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 24
2.3.2 Nghiên cứu trến thế giới 25
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 26
Trang 73.1 Đối tượng 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.3 Nội dung tiến hành 26
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 26
3.4.2 Phương pháp thực hiện 26
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi của trại 32
4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 32
4.2.1 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái 32
4.2.2 Kết quả khả năng sinh sản của lợn nái 33
4.2.3 Kết quả theo dõi tình trạng sinh sản của lợn nái 34
4.3 Thực hiện quy trình vệ sinh chuồng trại 37
4.3.1 Kết quả thực hiện quy trình vệ sinh, phòng trị bệnh tại trại 37
4.4 Thực hiện phòng bệnh bằng vắc xin 38
4.4.1 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho lợn 38
4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại 39
4.4.1 Kết quả chẩn đoán bệnh 39
4.4.2 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản của trại 40
4.5 Kết quả thực hiện các công tác kỹ thuật khác 42
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
Trang 8Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của đất nước trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi của nước ta ngày càng phát triển mẽ về cả số lượng và chất lượng Chăn nuôi lợn ngày càng trở nên phổ biến và chiếm vị trí quan trọng trong ngành Nông nghiệp Việt Nam Không chỉ cung cấp lương thực thực phẩm phục vụ trong nước mà còn là nguồn hàng xuất khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao Chính vì vậy ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã và đang được Đảng, nhà nước ta hết sức quan tâm phát triển Bằng cách thực hiện và đạt được kết quả rất tốt trong việc chăn nuôi áp dụng kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn chất lượng cao, bổ sung thức ăn, phối hợp khẩu phần ăn cho ăn đúng và đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt chú trọng công tác Thú y
Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn là dịch bệnh hiện nay phức tạp gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi trong các trang trại cũng như nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình Việc tái đàn hiện nay hết sức quan trọng, vừa đảm bảo an toàn dịch bệnh vừa đảm bảo chất lượng con giống Để giải quyết vấn đề đó, chăn nuôi lợn nái sinh sản đang đứng trước thách thức lớn Hơn nữa tỷ
lệ mắc bệnh sinh sản ngày càng nhiều hơn do trong quá trình sinh đẻ lợn nái dễ bị nhiễm các vi khuẩn như Streptococcus, E.coli… xâm nhập và gây nhiễm trùng và dễ mắc các bệnh như viêm tử cung, viêm vú, sót nhau… đây là các loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt nhưng gây thiệt hại lớn cho lợn nái: gây chết thai, lưu thai, sẩy thai…nghiêm trọng hơn bệnh vẫn âm thầm làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn
Trang 9Để giúp cho sinh viên tiếp cận gần hơn với thực tế sản xuất trước khi ra trường, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giảng viên
hướng dẫn và cơ sở thực tập, em đã thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn của Công ty Cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu
- Nắm chắc kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái tại trại của công
ty Cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Hiểu rõ về một số bệnh trên lợn nái thường gặp tại trại
- Nắm rõ được quy trình chăn nuôi, chăm sóc và quản lý lợn nái
- Biết cách chẩn đoán bệnh, phòng bệnh và xây dựng phương án điều trị chính xác cho lợn nái sinh sản
- Chăm chỉ học tập để nâng cao kỹ thuật và kỹ năng cho bản thân
- Xác định bệnh và biết sử dụng kỹ thuật biện pháp phòng trị bệnh trên con lợn nái sinh sản
- Nghiêm chỉnh chấp hành những quy định riêng của trang trại công ty Cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, Cẩm Phả, Quảng Ninh
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
- Công ty Cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường nằm tại tổ
2, Khu 1, Phường Cửa Ông, Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Phường Cửa Ông có địa hình tương đối phức tạp, phía Bắc gồm các dãy núi cao, độ cao trung bình khoảng 600m,
+ Phía Đông giáp Đông Triều, Móng Cái
+ Phía đông giáp sông Mông Dương và Vân Đồn
+ Phía Tây giáp các huyện Cần Phú, Dương Huy
+ Phía Bắc giáp huyện Mông Dương
2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển ngành chăn nuôi của trang trại là sự biến đổi về thời tiết và khí hậu, nét đặc trưng của khí hậu nước
ta là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm quanh năm thuận lợi cho sự phát triển
chăn nuôi gia súc
Cẩm Phả là thành phố của tỉnh Quảng Ninh thuộc vùng Đông Bắc chịu ảnh hưởng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều là kiểu khí hậu đặc trưng của nước ta Thành phố nằm ngay ven biển bị ảnh hưởng bởi thời tiết Nên trang trại chăn nuôi lợn của Công ty Cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường cũng bị ảnh hưởng bởi khí hậu khu vực Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23ºC, nhiệt độ cao nhất năm vào tháng 7 là 39ºC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 12ºC
Trang 112.1.2 Cơ cấu tổ chức trang trại
* Đội ngũ tổ chức trang trại
- 01 giám đốc
- 01 quản lí trại
- 04 kỹ sư: 02 kỹ sư từ công ty TNHH De Heus Việt Nam, 02 kỹ sư hỗ trợ từ công ty Vina CJ
- 06 công nhân
- 06 sinh viên thực tập
- 01 thợ điện kiêm sửa chữa ống nước
- 01 đầu bếp phục vụ nấu ăn
- 01 nhân viên bảo vệ
Với đội ngũ nhân viên như vậy, công việc của trại luôn được hoàn thành tốt Trang trại được chia thành nhiều nhóm bao gồm chuồng đẻ, chuồng lợn nái chửa và chuồng nuôi Mỗi cá nhân trong tập thể luôn tuân thủ thực hiện đúng các yêu cầu quy định cũng như các phương pháp phòng chống dịch tại
cơ sở trại được giao
* Nguồn thuốc và thức ăn:
- Thuốc do Công ty TNHH Dược phẩm Hanvet cung cấp
- Thức ăn chăn nuôi được cung cấp bởi công ty TNHH De Heus Việt Nam và Công ty Vina CJ
Trang 122.1.3 Cơ sở vật chất của trại
Công ty Cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường nằm xa khu dân cư, có địa hình bằng phẳng, khí hậu thuận lợi
- Trại bao gồm: Kho thuốc, kho thức ăn, khu chuồng đẻ, khu chuồng nuôi lợn nái chửa, khu chuồng hậu bị, khu chuồng nuôi lợn thương phẩm, phòng sản xuất tinh, ngoài ra còn xây dựng nhà công vụ hỗ trợ chăn nuôi, nhà
ăn và khu nghỉ ngơi cho công nhân, kỹ thuật viên và cán bộ quản lý
Các cơ sở vật chất tại trại: Về cơ sở vật chất được cung cấp trong kho khá đầy đủ đáp ứng được nhu câu sinh hoạt vào làm việc hàng ngày Tuy nhiên, một số trang thiết bị tại cơ sở do lâu ngày không được sửa chữa và thay mới nên đã có hiện tượng bị oxy hóa
- Trang trại có tổng diện tích lên đến 6 ha gồm: Trước cổng luôn có hệ thống phun khử trùng cho các phương tiện ra vào trại Có nhà vệ sinh sát trùng cho người ra vào trại
- Trang trại gồm có nhà kho chứa và bảo quản thuốc, vắc xin ở phần trên của khu sản xuất Bên cạnh là kho thức ăn chăn nuôi, phòng điều chế và bảo quản tinh dịch
- Khu chuồng nuôi lợn nái đẻ: Gồm 5 ô, mỗi ô có 2 dãy, được thiết kế các ô riêng cho nái đẻ nuôi con và nuôi nái chờ đẻ Trại có trang bị hệ thống đèn điện dùng để sưới ấm cho lợn con vào mùa đông
- Khu chuồng nuôi lợn nái bầu: Gồm 2 ô, mỗi ô chia thành 2 dãy là nơi nuôi lợn nái chờ phối giống và lợn nái chửa, ở trên cùng của dãy có 3 ô lớn để kiểm tra lợn lên giống và ép giống
- Phòng sản xuất tinh: Được trang bị đầy đủ các thiết bị nhằm phục vụ tốt trong công việc sản xuất giống chăn nuôi: Kính hiển vi, nồi hấp dụng cụ pha tinh, máy đếm số mật độ tinh trùng, máy chưng nước cất và các dung cụ
về sinh khác
Trang 13Hệ thống điện trong chuồng:
Hệ thống của chuồng đẻ được lắp đặt đầy đủ nhằm đảm bảo độ sáng (mỗi chuồng được lắp 10 bóng so le nhau), vào mùa đông còn có thêm bóng sưởi ở phía đầu chuồng (khu vực giàn mát)
Tất cả các chuồng đều được trang bị hệ thống chống nóng vào mùa hè như hệ thống dàn mát ở đầu chuồng, quạt gió ở cuối chuồng, hệ thống bạt chống gió lùa và đèn sưởi vào mùa đông
Trại có trang bị máy phát điện phòng khi trường hợp trại mất điện
Trước mỗi một chuồng nuôi, trại có bố trí hố sát trùng
* Về cơ sở hạ tầng:
Trại được chia làm hai khu tách biệt:
Khu điều hành
Khu sản xuất
Trong khu vực điều hành:
01 phòng làm việc của quản lý trại
01 phòng tiếp đón khách và khu nhà ở, sinh hoạt
Có đầy đủ trang thiết bị hiện đại như: Nóng lạnh, điều hòa, tivi, tủ lạnh, quạt
Khu vực nhà ở rộng rãi ngoài ra có nhà tắm và nhà vệ sinh
Khu nhà ăn sạch sẽ, thoáng mát
Khu vực hội trường lớn phục vụ cho các cuộc họp của trại
Trong khu vực sản xuất:
01 kho chứa thức ăn và kho thuốc (cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại.)
08 chuồng nuôi
01 nhà điều hành
Trang 142.1.4 Thuận lợi và khó khăn
2.1.4.1 Thuận lợi
Vị trí trại biệt lập cách xa khu dân cư để đảm bảo an toàn, thuận tiện cho công tác vệ sinh, phòng chống dịch bệnh, không làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh
Trong đó đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý của trại có trình độ, tay nghề chuyên môn cao, luôn có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Nhạy bén với biến động thị trường
Trại được xây dựng theo hình thức công nghiệp, máy móc trang thiết bị hiện đại phù hợp với cách thức chăn nuôi hiện nay
2.1.4.2 Khó khăn
- Ngày càng có nhiều loại dịch bệnh mới phức tạp nên chi phí phòng và chữa bệnh còn cao Nhất là khi bùng dịch gây ra thiệt hại rất lớn về kinh tế
- Việc khử trùng đôi khi được thực hiện chưa đúng kỹ thuật, qua loa
- Giá thức ăn tăng làm ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động chăn nuôi của trang trại
- Do trang trại nằm xa khu dân cư nên các phương tiện đi lại còn khá khó khăn
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm sinh lý và sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Chu kỳ động dục
Khi thành thục về giới tính thì cơ thể lợn nái sẽ phát triển mạnh đặc biệt
là cơ quan sinh dục Sự phát triển của trứng dưới sự điều tiết của hoocmone tùy theo tuyên yên làm cho trứng chín và rụng một cách có chu kỳ Được gọi
là chu kỳ động dục, thời gian được tính từ chu kỳ trước đến chu kỳ sau
Theo Trần Thanh Vân và cs., (2017) [14] lợn nái sau khi thành thục về tính bắt đầu có biểu hiện động dục, lần đầu động dục không biểu hiện rõ, sau 15-16 ngày động dục trở lại lần hai, lần này rõ hơn, rồi đi vào chu kỳ
Trang 15Chu kỳ được chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu to ing ỏi, xung huyết âm hộ, nái chưa chịu đực và chưa phối Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với nái ngoại và nái lai là 35-40 giờ, ở nái nội thời gian là 25-30 giờ + Thời kỳ chịu đực: Lợn nái ăn kém, lờ đờ, lợn đứng yên khi dùng tay ấn vào lưng gần mông, âm hộ giảm sưng, chảy ra nước nhờn, dính, đục, lợn đứng yên khi lợn đực đến gần và chịu đực giai đoạn này kéo dài 2 ngày
+ Giai đoạn sau chịu là đực: Nái trở về bình thường, âm hộ giảm sưng, đuôi cụp xuống và không còn chịu đực Đây là thời điểm tốt nhất để thụ thai Thời gian phối giống thích hợp nhất cho lợn nái ngoại là chiều ngày thứ 3
và sáng ngày thứ 4 tính từ khi bắt đầu động dục Tuy nhiên ở lợn nái nội sớm hơn cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ngắn hơn
Thời gian phối giống ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh và lợn nái sai lứa Phối giống sớm hay muộn hơn đều không cho kết quả tốt Vào các thời điểm tối ưu như vậy nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo
2.2.1.2 Sinh lý quá trình mang thai và đẻ
Sau thời gian cư trú tự dưỡng trong ống dẫn trứng khoảng 3 ngày, hợp tử bắt đầu di chuyển dần về phía tử cung để tìm vị trí thích hợp để làm tổ
và hình thành bào thai Những thay đổi về nội tiết trong cơ thể lợn mẹ trong thời gian mang thai xảy ra như sau: 10 ngày đầu của thai kì progesteron tăng rất nhanh đến ngày thứ 20 của thai kì thì đạt cực đại, sau đó giảm nhẹ trong 3 tuần đầu (21 ngày), sau đó duy trì ổn định trong thời
kỳ mang thai để an thai, để ức chế động dục, 1-2 ngày trước khi đẻ progesteron giảm đột ngột, estrogen khi mang thai vẫn thấp, cuối tuổi thai khoảng 2 tuần bắt đầu tăng dần, lúc đẻ tăng cao nhất
Thời gian mang thai của nái trung bình là khoảng 114 ngày
Trang 162.2.2 Khảo sát về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ, lợn nái nuôi con
2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục
* Sinh trưởng:
Sinh trưởng là quá trình sinh lý, hóa phức tạp, từ khi phôi hình thành cho đến quá trình thành thục về giới tính, trong quá trình đó tích lũy các chất do đồng, dị hóa làm gia tăng trọng lượng cơ thể Chiều cao, chiều rộng, chiều dài, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của động vật dựa trên tính trạng di truyền của các thế hệ trước Sự lớn lên là quá trình phân chia của tế bào thực chất là sự sinh trưởng của cơ thể
Trong giai đoạn bú sữa thì lợn con thường sẽ có khả năng sinh trưởng và phát triển rất nhanh Từ sơ sinh đến cai sữa, khối lượng lợn con tăng gấp 10 đến 12 lần Tốc độ sinh trưởng của lợn thường sẽ nhanh hơn các gia súc khác Nếu chất lượng sữa mẹ không đảm bảo, khẩu phần đạm trong thức ăn thấp sẽ gây ra hiện tượng chậm lớn
* Khái niệm về sự phát dục
Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức của cơ thể luôn hoàn thiện
về chức năng sinh lý dẫn đến sự phát dục
* Quy trình chăm sóc
Cần thường xuyên theo dõi sức khỏe của nái, liên tục theo dõi bầu vú và thân nhiệt của lợn mẹ trong 3 ngày đầu sau đẻ để phát hiện những trường hợp bất thường để xử lý kịp thời Trước khi lợn nái đẻ 10-15 ngày cần chuẩn bị
đủ chuồng đẻ và ô úm, nền chuồng khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, sáng sủa, sau khi
vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng nên để trống 3-5 ngày cho khô rồi mới cho lợn nái chuẩn bị đẻ vào
Trước khi đẻ 1 tuần phải vệ sinh, tắm rửa cho nái Dùng khăn lau sạch
âm hộ và bầu vú Bằng cách này, sẽ tránh được nguy cơ lợn con sơ sinh bị
Trang 17nhiễm bệnh từ lợn mẹ Sau khi vệ sinh cho nái sạch sẽ mới chuyển nái sang chuồng đẻ để lợn làm quen dần với môi trường mới (chuồng mới)
Khi chăm sóc lợn nái đẻ, việc làm ô úm lợn con là việc làm cần thiết và rất quan trọng để tránh lợn mẹ đè chết lợn con và tạo điều kiện kiểm soát nhiệt độ thích hợp cho lợn con, nhất là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Cần chuẩn bị khu vực chuồng nuôi cho lợn con Kích thước phòng nuôi: 1,2m
x 1,5m Phòng nuôi phải được vệ sinh, sát trùng và để trống từ 3 đến 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
2.2.2.2 Quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng
* Quy trình nuôi dưỡng
Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái sinh trưởng dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ hàm lượng đạm, protein, năng lượng và vitamin, khoáng chất theo tiêu chuẩn quy định như: Năng lượng chuyển hóa 3100 kcal, protein 15%, Ca 0,9-1,0%, photpho 0,7% Thức ăn đối với lợn nái đóng vai trò rất quan trọng, vì vậy nó phải là thức ăn tốt cho sản lượng và chất lượng sữa Không cho lợn nái ăn loại thức ăn thối rữa, biến chất, hư hỏng Và phải có chế độ dinh dưỡng và chế độ ăn hợp lý
Trong thời gian nuôi con cho lợn nái ăn như sau:
+ Đến ngày đẻ: Cho lợn nái ăn ít (0,5 kg) hoặc không cho ăn nhưng uống nước tự do
+ Vào ngày đẻ thứ 1, 2, 3 cho ăn thức ăn với khối lượng 1 2 3 kg /nái /ngày + Vào ngày thứ 4 đến ngày thứ 7 sẽ cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp / nái / ngày + Vào ngày thứ 8 cho đến ngày cai sữa cho ăn theo công thức: lượng thức ăn / nái / ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg / con)
Cho ăn 2 bữa / ngày (sáng và chiều tối)
+ Nếu lợn nái gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, nếu lợn con nhiều, mập thì cho
ăn thêm 0,5 kg / ngày
Trang 18+ Trước khi cai sữa 1 ngày thì giảm lượng thức ăn xuống 20-30%
+ Nái đẻ nhiều, gầy thì cho ăn không giới hạng bằng cách tăng số bữa ăn trong ngày
* Quy trình chăm sóc
Lợn nái nuôi con khi đẻ, cho ăn nhiều lần mỗi lần một ít, thường là 3-4 bữa trong ngày Thời gian nghỉ giữa các bữa ăn nên được phân bổ đều Cho
ăn đúng giờ và đúng quy định Và cho lợn nái uống nước như bình thường Khi chuyển sang thức ăn trong giai đoạn nuôi con, chúng ta nên thay đổi dần dần để không ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa Ngoài ra chuồng nuôi phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp từ 18-20°C, độ ẩm từ 70-75%
2.2.3 Những hiểu biết về các bệnh tại cơ sở
2.2.3.1 Bệnh viêm tử cung
Viêm tử cung là những tổn thương xảy ra ở đường sinh dục của lợn nái thường mắc phải sau khi sinh, bệnh làm cho lợn bị ảnh hưởng nghiêm trọng
về khả năng sản xuất, sinh sản, gây mất sữa ở lợn mẹ đang nuôi con làm cho
lợn con bị còi xương suy dinh dưỡng, mắc bệnh phân trắng, chậm lớn
* Nguyên nhân:
Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2002) [3] viêm tử cung là một bệnh lý thường thấy ở cá cái sau khi đẻ Quá trình viêm nhiễm sẽ phá hủy các tế bào tổ chức của cơ quan sinh sản
Theo tác giả Đào Trọng Đạt và cs., (2000) [4] bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau: Phương pháp thụ tinh không đúng kỹ thuật, đặc biệt là thụ tinh bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo cọ sát với niêm mạc tử cung của lợn nái Dụng cụ không được vô trùng trong quá trình phối giống làm vi khuẩn xâm nhập vào tử cung của lợn nái từ bên ngoài và gây viêm nhiễm Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực giống mắc bệnh viêm bao
Trang 19dương vật hoặc mang vi khuẩn từ lợn nái khác bị viêm tử cung, viêm âm đạo, lây sang lợn khỏe Ở nái đẻ khó can thiệp bằng các biện pháp gây tổn thương nội mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng và viêm tử cung thứ phát Lợn nái sau đẻ bị sót nhau không được xử lý triệt để cũng là nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm tử cung Do mắc bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… gây viêm nhiễm
Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục của nái trước và sau khi đẻ không sạch sẽ, trong quá trình đẻ, cổ tử cung hở ra vi sinh vật có thể xâm nhập và gây viêm nhiễm, ngoài những nguyên nhân trên Viêm tử cung cũng có thể là một biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào tử cung trong thời kỳ động dục (vì lúc này cổ tử cung đã mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung qua đường máu, và viêm tử cung là một trong triệu chứng phổ biến nhất
Lê Văn Năm và cs., (1999) [9] đã cho thấy rằng viêm tử cung cũng có thể là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con trong thời kỳ động dục (vì lúc này cổ tử cung đang mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung qua đường máu và viêm tử cung là triệu chứng lâm sàng chung
Theo F.Madec và C.Neva (1995) [15] , viêm tử cung và các bệnh đường tiết niệu có liên quan với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu phát triển trong âm đạo và có thể gây nhiễm trùng tử cung
Bệnh còn do chế độ dinh dưỡng và quản lý: Thiếu hoặc thừa đạm trong khẩu phần ăn ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung khi mang thai, nái ăn quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do cọ xát, chất khoáng, vitamin cũng
ảnh hưởng đến tình trạng viêm tử cung
* Triệu chứng:
Lợn nái bình thường tiết sản dịch kéo dài 4-5 ngày, thậm chí có thể đến 6-7 ngày, dịch tiết ra có màu hơi đỏ do lẫn máu, sau đó chuyển dần sang màu vàng hoặc trắng Trong trường hợp bị viêm nhiễm, dịch tiết ra có thể có màu
Trang 20đen, mùi hôi tanh rất khó chịu Triệu chứng lâm sàng và điển hình nhất của lợn nái bị viêm tử cung là sốt, bỏ ăn, mệt mỏi, chảy dịch trong tử cung Lợn nái bị viêm tử cung được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: Có hiện tượng sốt cao 41-42ºC, những ngày đầu âm đạo sưng đỏ, dịch tiết ra từ âm đạo có màu trắng sữa, đôi khi có lẫn máu nhạt
+ Thể mãn tính: Không có hiện tượng sốt, âm hộ bình thường không sưng đỏ nhưng vẫn tiết ra chất nhầy màu trắng sữa từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ ra từng đợt kéo dài vài ngày đến một tuần Nếu thụ tinh không có kết quả hoặc trong quá trình mang thai thì chấm dứt thai kỳ,
do quá trình viêm nhiễm niêm mạc tử cung âm đạo sẽ lây lan sang thai nhi và làm thai chết lưu
* Hậu quả bệnh viêm tử cung
Lợn bị bệnh viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai
Bào thai kém phát triển, có hiện tượng chết lưu có thể là do bệnh viêm tử cung gây nên
Sau khi sinh con, nái dễ bị mất sữa dẫn đến lợn con theo mẹ bị tiêu chảy Theo Trần Thị Dân (2004) [2], lợn nái đã bị bệnh viêm tử cũng mãn tính rồi thì khả năng cao sẽ không còn động dục trở lại nữa
Viêm tử cung là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng NMA làm giảm tỉ lệ nuôi sống sót của lợn Đặc biệt, dễ gây viêm cả bàng quang do
ảnh hưởng tới buồng trứng
Tỷ lệ phối giống không thành công tăng lên Đặc biệt khi viêm tử cung kèm theo nhiễm trùng bàng quang còn ảnh hưởng đến hoạt động của buồng trứng
* Chẩn đoán bệnh viêm tử cung
Khi bị bệnh viêm tử cung lợn nái sẽ có các triệu chứng sau: Có dấu hiệu mất sữa, tiết dịch âm đạo bất thường, âm đạo thấy sót nhau thai hoặc thai chết
Trang 21trong tử cung, có mùi hôi đặc trưng theo Nguyên Đức Lưu và Nguyễn Hữu
Vũ (2004) [14]
Các thể viêm tử cung khác nhau thì thường xuất hiện ở các thời kỳ khác nhau, như thể mạn tính thì thường gặp ở thời kỳ cho sữa còn thể cấp tính thường xuất hiện ở giai đoạn sau sinh đẻ Thấy hiện tượng ở âm hộ chảy ra
mủ có thể cho phép nghi nái mắc bệnh viêm nội mạc tử cung Để giảm thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra, cần chẩn đoán chính xác từng loại viêm, từ đó xác định phác đồ điều trị tối ưu đưa ra nhằm đạt hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, tiết kiệm nhất
Để hạn chế hết mức có thể các hậu quả do viêm tử cung gây ra ta cần chẩn đoán đúng, nhanh kịp thời trước khi bệnh nặng để tránh gây tổn hại về chi phí, tránh gây stress cho lợn nhiều
Thường để chẩn đoán ta thường dựa vào các triệu chứng đặc trưng của bệnh tại cơ quan sinh dục hoặc triệu chứng toàn thân
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng ta có thể chẩn đoán bệnh viêm tử cung như: Con vật mất sữa, âm đạo tiết ra dịch nhầy lạ sau 3-4 ngày đẻ
* Biện pháp phòng và tri bệnh.
Phòng bệnh: Theo Nguyễn Tài Năng và cs., (2016) [10] trước khi đẻ 1 tuần phải vệ sinh chuồng sạch sẽ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20%, sau đó tắm rửa bằng vòi nước chảy, tắm cho lợn nái trước sinh đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục và bầu vú
- Điều trị: Cần theo dõi, nhận biết và chẩn đoán chính xác Theo Phạm
Sỹ Lăng và cs., (2003) [6], viêm tử cung được điều trị theo phác đồ điều trị như sau:
Điều trị tiêm:
+ Penicillin bột / lọ: Dùng 200.000 IU / kg P.V trong 3-4 ngày (lợn ốm nặng), 6-8 ngày (lợn ốm mãn tính)
Trang 22+ Kanamycin (streptomycin) dạng bột / lọ: 15-20 mg / kg P.V
+ Dùng thuốc tăng cường sức khỏe: vitamin B1, vitamin C, caffein Người theo dõi trị bệnh: giữ chuồng trại sạch sẽ trong quá trình điều trị Dùng PGF2α hoặc các dẫn xuất của nó tiêm dưới da 2 ml (25 mg / lần tiêm), thụt lugol 200 ml (neomycin 12 mg / kg thể trọng), ampicilin 3–5 g IM hoặc IV, ngày một lần điều trị 3-5 ngày (Nguyễn Văn Thanh và cs., (2016) [13]
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [7], dùng oxytocin 20-40
IU / nái / ngày để gây co bóp tử cung, tống xuất chất bẩn, tiêu viêm dịch
Âm đạo và tử cung với HanIodin 5% dùng kháng sinh liên tục 3-5 ngày
2.2.3.2 Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân gây bệnh
Theo Trần Minh Châu (1996) [3] cho biết khi lợn nái đẻ nếu không được
nuôi đúng cách, chuồng trại bẩn, vi khuẩn mycoplasma, cầu khuẩn, vi khuẩn
đường ruột xâm nhập gây bệnh viêm vú Nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm tuyến vú là thức ăn không phù hợp, không giảm thức ăn cho nái trước khi đẻ một tuần Lượng sữa tiết ra quá nhiều lợn con bú không hết, mà sữa là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm
+ Do hậu quả của các bệnh khác như: Viêm tử cung sau sinh, viêm bàng quang… khi nái mắc các bệnh này, vi khuẩn sẽ đi theo đường máu đến tuyến vú đến khu trú ở đó và gây bệnh
+ Lợn nái có sữa tốt, con không bú hoàn toàn, lợn con bú hết một hàng vú, hàng vú khác sưng lên, bú cắn mạnh và xây xát bầu vú, hoặc lợn con ốm không bú, sữa ra nhiều bầu vú căng dễ gây sưng phù
+ Do khâu nuôi dưỡng không tốt, môi trường sống không sạch sẽ, ẩm ướt Đặc biệt là mùa mưa nồm
+ Lợn nái viêm vú là do bị tắc tia sữa: Trường hợp nái nhiều sữa do con
bú không hết hoặc có thể nái ít con, cho bú không đều
Trang 23+ Sau vài ngày lợn không bú hết sữa lưu lại làm cho vi khuẩn dễ xâm nhâp gây viêm
+ Do lợn con bú nhiều gây xước bầu vú, do lợn con bị ốm yếu không bú được làm cho bầu sữa tích căng dễ gây viêm
* Triệu chứng
Viêm vú có các triệu chứng như sau: Vú có hiện tượng nóng, đỏ, căng lên, sờ vào thấy đau, sữa tiết không đều lúc ra nhiều lúc không có, có lẫn nhiều dịch và máu Sau 1-2 ngày thấy có mủ, nái giảm ăn hoặc bỏ ăn, sốt cao 40-42ºC , viêm vú thường xuất hiện ở một số bầu vú, nhưng cũng có thể lan
ra toàn bộ bầu vú Nái có phản ứng đau và dai dẳng trong thời kỳ sưng tấy, tiết sữa giảm, nái thường nằm úp núm vú xuống đất, ít khi cho bú, lợn con la hét và chạy quanh nái đòi sữa, lợn con bị tiêu chảy, lông xù, tỷ lệ chết cao 30-100% theo Lê Hồng Mận (2002) [8]
Khi hút sữa từ bầu vú bị sưng to, thấy sữa loãng, cặn trắng đục hoặc vón cục, có váng casein màu vàng, hơi xanh và đôi khi có máu trong sữa
* Hậu quả bệnh viêm vú
Nguyễn Xuân Bình (2000) [1] đã cho rằng tình trạng mất sữa sau khi đẻ
là do di chứng của bệnh viêm tử cung và viêm vú Do cơ thể thường xuyên sốt cao trong 2-3 ngày liên tục sẽ làm giảm lượng nước trong máu và các mô, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, đặc biệt là giảm quá trình hấp thu chất dinh dưỡng ở đường tiêu hóa dẫn đến lượng sữa, và khả năng phục hồi kém Chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế ở các lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, lượng sữa của lợn nái nuôi con bị giảm, trong sữa có chứa nhiều chất độc, vì vậy không sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu của lợn con Bị bệnh viêm vú kéo dài còn gây ra hiện tượng teo đầu vú, vú hóa cứng,
vú bị hoại tử ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn nái
Trang 24Viêm vú sẽ làm ảnh hưởng chất lượng của sữa khi lợn con trực tiếp bú phải, lượng sữa nái mẹ tiết ra giảm, trong sữa có chứa chất độc, chất lượng của sửa giảm đi không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển, cung cấp dưỡng chất cho lợn con hoặc nếu bú phải loại sữa mà lợn bị viêm vú thì cũng có thể dẫn đến lợn con bị tiêu chảy, ốm, sức đề kháng giảm…
Bệnh viêm vú nặng có thể dẫn đến nhiễm độc máu, máu nhiễm mủ rất khó điều trị, lợn nái có thể chết Viêm vú kéo dài làm teo đầu vú, cứng bầu
vú, hoại tử bầu vú và teo lại ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của heo nái trong lần sinh sản tiếp theo
* Chẩn đoán
Căn cứ vào các triệu chứng lâm sang lợn nái nằm sấp, lợn con không no đòi bú thêm, đi lại lẫn lộn, la hét do bị đói Lợn con gầy còm, da không mịn, chậm lớn, ốm yếu, tiêu chảy Quan sát thấy vú sưng và hồng có cảm giác nóng và hơi cứng, khi bóp ra thường không thấy sữa, chỉ thấy những giọt sữa lỏng hoặc đặc như váng đậu
Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm: Phương pháp được sử dụng để kiểm tra bromua (để xác định độ PH) phát hiện bạch cầu và quy trình phân lập vi khuẩn
*Điều trị
Bệnh viêm vú có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau nên việc điều trị phải kết hợp với kháng sinh và giảm đau Một số kháng sinh thường dùng: penicillin 10.000 IU / kg TT, streptomycin 10 mg / kg TT
2.2.3.3 Bệnh khó đẻ
* Nguyên nhân
Lợn nái không được chăm sóc tốt trong giai đoạn từ hậu bị đến khi mang thai và đẻ như: cho ăn, vận động ít, thể trạng yếu, xương chậu hẹp, thời tiết nóng, mắc một số bệnh truyền nhiễm và đã được điều trị, nái già, mất cân bằng hormone hoặc quá nồng độ hormone Oxytocin và prostaglandin F2α
Trang 25thấp trong quá trình đẻ, nái bị liệt 1/3 thân sau, nơi đẻ không phù hợp, đỡ đẻ sai cách, đường sinh dục hẹp hoặc do thai quá to
Ngoài ra nguyên nhân nữa là do bào thai: Thai to không thích hợp với xoang chậu, hoặc thai có tư thế chiều hướng nằm không bình thường, dị hình hay quái thú
* Triệu chứng
Lợn nái bị vỡ nước ối tuy nhiên trong nước ối chỉ có phân su tuyệt nhiên không thấy lợn con, có dấu hiệu rặn nhiều, mạnh với tần xuất lớn nhưng vẫn không đẻ được Do đẻ mạnh và lâu ngày mà thai vẫn chưa ra khiến nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể gây ngạt thai khiến tử vong Đưa tay vào đường sinh dục có thể kiểm tra xem khung chậu có hẹp không, thai to hay ở vị trí bất thường, vướng vào khung chậu hay không
* Chẩn đoán
Theo dõi kỹ ngày phối, ngày đẻ, chuyển dạ, đẻ, khi rặn đẻ liên tục từ 1 đến 2 giờ, nái không đẻ được, rặn kém và yếu, nái mệt, uống nhiều nước, thở nặng, tim tăng mạnh hơn bình thường cần có biện pháp can thiệp kịp thời Theo Trần Thanh Vân và cs., (2017) [14] trong trường hợp lợn chuyển dạ kéo dài, lợn mẹ nên được cho uống nước ấm có pha muối trong khi đó dùng tay để trợ giúp lợn đẻ Hoặc có thể sử dụng lợn con đẻ trước bú để lợn mẹ kích thích trong quá trình đẻ Nếu biện pháp can thiệp trước đó không hiệu quả, thì có thể tiêm oxytocin cho lợn nái với liều 2 ml/giờ Lưu ý không được tiêm oxytocin nếu tử cung chưa giãn Nếu thấy lợn nái rặn nhiều lần, hai chân co không đẻ được thì khả năng cao là lợn con nằm ngang cản trở Trong trường hợp này bạn phải can thiệp bằng cách luồn tay vào trong để đưa lợn con trở lại vị trí thuận ngôi và lấy ra Động tác can thiêp phải cẩn thận và nhẹ nhàng
Trang 26Trước khi can thiệp rửa sạch bộ phận sinh dục bên ngoài bằng xà phòng
và khăn và đeo găng tay bôi trơn Có thể tiêm một trong các loại kháng sinh sau để chống viêm:
Ampicillin: 10 mg / kg TT tiêm bắp ngày 2 lần
là giai đoạn cuối, vận động không đủ, thức ăn thiếu chất khoáng, đặc biệt là canxi và photpho
* Triệu chứng
Sau đẻ 4-5 giờ sau đẻ nếu nhau thai không ra hoặc không ra hết là bị sót nhau Sót nhau thai khiến nái kêu nhiều, có khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40-42ºC trong vòng 1-2 ngày, cắn con, Không cho con bú ,niêm dịch ra có màu trắng đục, có lẫn máu
Bệnh sót nhau có thể được chia làm 2 loại chính như sau:
Trường hợp sót nhau hoàn toàn là toàn bộ nhau vẫn còn trong tử cung, khi mắc thường có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn
Trường hợp sót nhau không hoàn toàn là ở động vật đơn thai, một phần màng nhau còn dính sót lại trong tử cung của gia súc cái Ở động vật đa thai một số được đẩy ra ngoài, một số nhau còn sót lại ở tử cung
Trang 27* Điều trị
Can thiệp ngay khi nái có biểu hiện bệnh, tiến hành can thiếp phải đúng
kỹ thuật, không bạo lực, tránh làm tổn thương, rách niêm mạc, tiêm oxytocin
để kích thích tử cung co bóp đẩy hết nhau thai còn sót ra ngoài Sau khi nhau thai ra hết, dùng nước muối sinh lý 0,9% rửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh, 2010) [12] Nếu không can thiệp kịp thời có thể dẫn đến bệnh viêm tử cung
2.2.4 Cách phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản
2.2.4.1 Phòng bệnh
Trong chăn nuôi, công tác phòng chống dịch bệnh luôn được đặt lên hàng đầu vì chỉ khi thực hiện đúng thì dịch bệnh mới có thể được ngăn chặn hoặc không xảy ra Khi phòng bệnh phải luôn chú trong các tác nhân chủ yếu là
Phòng bệnh bằng vắc xin là một biện pháp được đặt lên hàng đầu và mang lại hiểu quả cao trong chăn nuôi
Nhiệt độ trong chuồng:
Đối với lợn con sau sinh 27-30ºC
Đối với lợn cai sữa 28-30ºC
Theo Trần Văn Phùng và cs., (2004) [11] đã cho rằng chuồng của lợn nái được vệ sinh và khử trùng bằng hoá chất như Crezin 5% hoặc các hoá chất
Trang 28khử trùng khác từ 3 đến 5 ngày trước ngày đẻ dự kiến đẻ của nái Ô chuồng ổn định trước khi đẻ, sát trùng chuồng trại, trang thiết bị chuồng trại phải luôn phù hợn với từng giống lợn kích thước, thể trọng tùy thuộc vào các cá thể trong đàn Môi trường xung quanh phải luôn đảm bảo, khô ráo, sau đó phải được vệ sinh bằng cách sát trùng và để trống chuồng nuôi Thời gian để chuồng nuôi là:
Lợn nuôi thương phẩm 15 ngày
Lợn nuôi sinh sản 30 ngày
Trong chuồng có động vật mắc bệnh truyền nhiễm phải vệ sinh toàn diện, kỹ lưỡng: Sau khi đưa hết gia súc ra khỏi chuồng và xử lý theo hướng dẫn của cán bộ thú y, phải phun thuốc sát trùng kỹ (pha và phun dung dịch sát trùng theo hướng dẫn chống dịch) toàn bộ chuồng từ mái chuồng, nền chuồng, dụng cụ và môi trường đều phải rửa sạch phơi khô, thông thường chất thải sẽ được xử lý theo quy định của cơ sở thực tập và nghiêm cấm hành
vi thải chất thải trực tiếp ra môi trường Phun thuốc sát trùng 1-2 lần / tuần, ít nhất 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần được rửa sạch, lau khô, khử trùng và bảo quản Vệ sinh, tiêu độc chuồng và xung quanh chuồng trại Hiện nay, phương pháp phòng bệnh bằng vắc xin là phương pháp phòng bệnh chủ động và hiệu quả nhất
Nguyễn Bá Hiên và cs., (2012) [5] đã cho rằng vắc xin là chế phẩm sinh học chứa các mầm bệnh cần thiết để phòng chống một bệnh truyền nhiễm cụ thể do vật lý, hóa học, các tác nhân sinh học hoặc phương pháp sinh học phân tử đã bị suy yếu hoặc không còn độc tính (công nghệ gen của vắc xin thế hệ mới), không còn khả năng gây bệnh cho vật nuôi, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật sẽ tạo ra phản ứng miễn dịch, làm cho động vật miễn dịch với bệnh Sau khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi để kháng thể có thể chống lại các tác nhân gây bệnh thì sẽ mất đến từ 17 đến 21 ngày
Trang 29Khi chữa bệnh phải có quan điểm: Chỉ chữa bệnh cho con vật có khả năng khỏi bệnh, mà khi khỏi không làm ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sinh sản sau này Không điều trị khi phí điều trị cao hơn vật nuôi Tuyệt đối không chữa các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mà không có thuốc đặc trị Nguyễn Bá Hiên và cs., (2012) [5] cho biết các biện pháp điều trị bệnh truyền nhiễm là:
- Chăm sóc: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt vào chuồng riêng, có điều kiện vệ sinh tốt (thông thoáng, sạch sẽ, ngăn nắp, yên tĩnh) Theo dõi nhiệt độ
cơ thể, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những chuyển biến của bệnh để điều trị nhanh chóng
+ Dùng kháng huyết thanh: Điều trị bằng kháng huyết thanh là sử dụng các kháng thể đã được tạo sẵn có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố) Được dùng chủ yếu để chữa một số bệnh đặc hiệu Nó thường được sử dụng trong các đợt bùng phát và điều trị gia súc bị nhiễm bệnh và đưa vào cơ thể bằng đường tiêm
+ Sử dụng hóa chất dược phẩm: Hầu hết các loại hóa chất dược phẩm được sử dụng để điều trị các triệu chứng, một số được sử dụng để điều trị nguyên nhân vì chúng có tác dụng cụ thể đối với mầm bệnh Việc sử dụng