Lý Sơn gồm 3 xã An là huyện đảo nằm ở hướng Đông của tỉnh Quảng Ngãi gồm ba xã trực thuộc là An Vĩnh, An Hải và An Bình CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc SÁNG KIẾN “THỰC T[.]
Trang 1Độc lập – Tự do – Hạnh phúc SÁNG KIẾN: “THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT; ỨNG DỤNG KẾT QUẢ XÂY DỰNG MÔ
HÌNH SẢN XUẤT LÚA VỤ HÈ THU NĂM 2022”
SƠ LƯỢC CHỦ SÁNG KIẾN
1 Họ và tên tác giả: Võ Minh Vương, Năm sinh: 1985
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại học hành chính
- Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thị xã
- Đơn vị công tác: UBND thị xã Đức Phổ
2 Họ và tên đồng tác giả: Bùi Một, Năm sinh: 1976
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại học lâm nghiệp
- Chức vụ: Phó Trưởng phòng
- Đơn vị công tác: Phòng Kinh tế thị xã Đức Phổ
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn Sáng kiến
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, tình hình diễn biến sâu bệnh hại cây trồng ngày càng phức tạp, các đối tượng sâu bệnh hại cây trồng có chiều hướng rút ngắn chu kỳ phát sinh, tăng khả năng gây hại, xuất hiện thêm nhiều chủng gây hại mới Chính vì vậy công tác bảo vệ thực vật được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm Trong đó, thuốc Bảo vệ thực vật là vật tư quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, là công cụ hữu hiệu để giúp người nông dân bảo vệ năng suất cây trồng, nâng cao thu nhập Thuốc Bảo vệ thực vật đã giúp nông dân giảm thiệt hại do sinh vật hại gây ra đối với năng suất cây trồng khoảng 35-42%
Tuy nhiên, tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngộ độc cấp tính và mãn tính và bệnh hiểm nghèo cho con người do tiếp xúc trực tiếp với thuốc bảo vệ thực vật, với môi trường bị ô nhiễm hoặc ăn phải sản phẩm có chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật Việc sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật hóa học đã bộc lộ những tiêu cực nhất là đối với sản xuất nông nghiệp an toàn, ô nhiễm môi trường và gây ra những hậu quả không mong muốn
Trang 2Để tránh tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong nông sản, nâng cao chất lượng sản phẩm có thể giảm áp lực sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bằng cách sử dụng nhiều giải pháp về quản lý, kỹ thuật và truyền thông
Do vậy, việc đánh giá thực trạng đề ra những giải pháp nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của chủ cơ
sở và người nông dân; ứng dụng kết quả vào thực tiễn sản xuất nhằm tăng năng suất cây trồng, chất lượng của sản phẩm, bảo vệ môi trường… là việc làm hết sức cần thiết
2 Điểm mới của Sáng kiến
Sáng kiến đã đánh giá được thực trạng của công tác kinh doanh và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong những năm qua, đề ra các giải pháp khắc phục các hạn chế, tồn tại trong thời gian đến theo các giải pháp quản lý, truyền thông, kỹ thuật như: Quản lý dịch hại tổng hợp IPM, 3 giảm 3 tăng trong sản xuất lúa trên địa bàn thị xã Đức Phổ
PHẦN NỘI DUNG PHẦN I-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC SỬ DỤNG THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT
I Thực trạng về kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật
Hiện nay trên địa bàn thị xã có 87 cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật Chính những đại lý này là những người sâu sát nhất với từng hộ nông dân ở địa phương, giới thiệu, tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật cũng như tư vấn các loại thuốc bảo vệ thực vật cho nông dân sử dụng để phòng trừ dịch hại trên đồng ruộng Nông dân sản xuất lúa, sản xuất rau ở địa phương nghe theo hướng dẫn của đại lý, điều này cũng cho thấy trình độ, lương tâm của đại lý ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng thuốc của nông dân
Đa số các đại lý kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên địa bàn thị
xã là các đại lý có quy mô vừa và nhỏ Nguồn cung ứng thuốc BVTV của các đại lý này là từ các đại lí cấp1 và các công ty thuốc BVTV Thuốc BVTV tiêu thụ tại các cửa hàng phần lớn là thuốc có nguồn gốc hóa học, thuốc có nguồn gốc sinh học và thảo mộc vẫn còn chiếm tỷ lệ thấp Hiệu quả phòng trừ dịch hại là vấn đề các đại lý quan tâm nhiều nhất chiếm 87,3%, sau đó là độc tính của thuốc đối với con người 10,7%
và lợi nhuận 2,0% Điều này cho thấy, vấn đề độc tính của thuốc đối với con người
ít được các đại lý quan tâm do đó cơ cấu thuốc có nguồn gốc hóa học vẫn chiếm phần lớn trong tổng số hàng hóa các đại lý kinh doanh buôn bán, cùng với đó đại đa
Trang 3số nông dân vẫn dựa vào thuốc bảo vệ thực vật hóa học là chính, tỷ lệ sử dụng thuốc sinh học đạt thấp
Về trình độ của các đại lý: Hầu hết các đại lý kinh doanh thuốc BVTV trên địa bàn thị xã đều có Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về thuốc BVTV Tuy nhiên, số lượng đại lý có trình độ chuyên môn trung cấp, cao đẳng, đại học gần như không có Ngoài người trực tiếp đứng tên kinh doanh thuốc BVTV thì tại các đại lý thường có người hỗ trợ việc bán hàng, có thể là vợ hoặc chồng, con, bố mẹ, anh chị em Những người này cũng thường xuyên tư vấn cho nông dân về thuốc BVTV nhưng không tham gia tập huấn hoặc có chứng chỉ chuyên môn về thuốc BVTV Điều này cũng là một hạn chế đối với việc nắm bắt các thông tin về thuốc BVTV và việc tư vấn, hướng dẫn cho nông dân sử dụng thuốc BVTV
II Thực trạng về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Theo điều tra cho thấy đa phần nông dân còn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật định kỳ chứ không dựa vào kết quả điều tra phân tích tình hình diễn biến sâu bệnh hại cây trồng trên đồng ruộng Kết quả điều tra thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho thấy bình quân trên cây lúa mỗi năm nông dân sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật 09 lần (trong đó vụ Đông Xuân 04lần, vụ Hè Thu 05 lần) Nhiều nông dân
chưa thực hiện nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật như phối trộn nhiều loại thuốc trong cùng một lần phun, phun không đúng nồng độ - liều lượng khuyến cáo, dụng cụ phun không đảm bảo, gây tình trạng lãng phí thuốc và nguy hiểm cho người phun thuốc, chưa tuân thủ thời gian cách ly sau phun thuốc làm tăng nguy cơ mất an toàn cho nông sản
Hiện nay thuốc BVTV vẫn được xem là giải pháp hàng đầu trong việc kiểm soát và phòng ngừa dịch hại, nông dân thường xuyên sử dụng thuốc BVTV như một biện pháp dập dịch nhanh chóng nhất mà không nghĩ đến hậu quả về lâu dài Qua khảo sát của các hộ dân trên địa bàn thị xã thì phần lớn số người được hỏi không áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại nào ngoài biện pháp dùng thuốc BVTV, một số
ít có áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại khác Như vậy, phần lớn nông dân xem việc dùng thuốc BVTV là biện pháp duy nhất để phòng trừ dịch hại, nguyên do là dùng các biện pháp khác không hiệu quả, tốn công Trong khi theo khuyến cáo của các nhà khoa học biện pháp sử dụng thuốc BVTV là biện pháp cuối cùng trong
Trang 4quản lý dịch hại tổng hợp IPM Điều này cho thấy tâm lý chủ quan và làm dụng thuốc BVTV ở nông dân là phổ biến
Về loại thuốc, liều lượng và cách dùng: Việc hỗn hợp thuốc và tăng liều so với liều khuyến cáo ghi trên nhãn bao bì cũng trở thành xu hướng diễn ra khá phổ biến, đa số nông dân đều dùng hỗn hợp thuốc BVTV khi phòng, trừ sâu bệnh nhằm tiết kiệm công phun, tăng hiệu lực của thuốc, phòng trừ được nhiều đối tượng dịch hại Liều lượng sử dụng cao hơn nhiều so với khuyến cáo của nhà sản xuất ghi trên bao bì, vì phần lớn nông dân sợ sâu bệnh không chết Do thiếu kiến thức về hỗn hợp thuốc nên các hỗn hợp thường không hợp lý dẫn đến giảm tác dụng của thuốc, phải phun đi phun lại nhiều lần gây lãng phí, tồn dư hóa chất trong nông sản gây ô nhiễm môi trường Việc thường xuyên thay đổi liều lượng theo hướng tăng liều làm tăng thêm chi phí trong sản xuất của nông dân, là nguyên nhân phát sinh tính kháng thuốc của dịch hại, dẫn đến việc nông dân phải phun nhiều hơn, từ đó dẫn đến nguy
cơ làm tồn dư hóa chất trong nông sản, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người
và môi trường
III Các giải pháp đề xuất trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
1 Tiếp tục hoàn thiện về cơ chế chính sách, hoàn thiện bộ máy QLNN về thuốc BVTV; Tăng c ườ ng công tác thanh tra, ki m tra đ i v i các c s ể ố ớ ơ ở kinh doanh thu c BVTV ố
1.1 Về cơ chế chính sách
Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý Nhà nước về thuốc BVTV đã cơ bản hoàn thiện và đồng bộ từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước trên địa bàn thị xã nói riêng và địa bàn tỉnh nói chung Hệ thống các văn bản trong công tác quản lý thuốc BVTV gồm Luật số Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 và các Nghị định, Thông tư, Quyết định hướng dẫn; Luật xử lý Vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi bổ sung Luật
xử lý vi phạm hành chính năm 2020 và các Nghị định hướng dẫn; Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2018 và các Nghị định, Quyết định hướng dẫn
1.2 Tiếp tục hoàn thiện bộ máy QLNN về thuốc BVTV
Hiện nay lực lượng quản lý chuyên sâu về kinh doanh thuốc BVTV trên địa bàn thị xã không có Do đó cần bổ sung biên chế làm nhiệm vụ quản lý chuyên ngành về Bảo vệ thực vật từ cấp huyện đến xã Củng cố hoạt động của Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ về bảo vệ thực vật, đặc biệt là thực hiện tốt việc điều tra, phát hiện dịch hại và hướng dẫn nông dân phòng trừ dịch hại Quan tâm đào tạo, bố trí cán bộ chuyên trách cấp xã, phường (phụ
Trang 5trách nông nghiệp) đồng thời xây dựng và củng cố mạng lưới nhân viên bảo vệ thực vật - khuyến nông cơ sở để nâng cao năng lực tham mưu cho UBND xã nâng cao vai trò trách nhiệm trong quản lý hoạt động kinh doanh thuốc BVTV, hướng dẫn nông dân lựa chọn và sử dụng thuốc BVTV, xử lý nghiêm trường hợp tái vi phạm tại địa phương
1.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở kinh doanh và người sử dụng thuốc BVTV
Để kiểm soát chặt chẽ thuốc BVTV trên địa bàn thị xã, không để hàng giả, hàng nhái, hàng cấm, hàng ngoài danh mục lưu thông trên thị trường các cơ quan quản lý nhà nước cần kiểm soát chặt chẽ thuốc BVTV ngay từ các đại lý cấp 1 vì thuốc BVTV từ các đại lý cấp 1 sẽ được phân phối về các đại lý cấp 2 trên địa bàn thị xã Cùng với việc kiểm soát chặt chẽ các đại lý cấp 1 cần tăng cường thanh tra, kiểm tra trên diện rộng sâu sát cơ sở, yêu cầu công khai đầy đủ nguồn gốc, chất lượng, giá cả hàng hóa kết hợp lấy mẫu phát hiện, xử lý kịp thời các vi phạm trong kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục cấm, hàng giả, kém chất lượng, hàng ghi sai nhãn, sai công dụng Ngoài xử lý vi phạm hành chính cần áp dụng các biện pháp xử phạt bổ sung, công khai về việc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định nhằm răn đe, chấn chỉnh, ngăn ngừa các hành vi tái phạm hoặc vi phạm mới Góp phần để hoạt động kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV đi vào nề nếp đúng theo quy định của pháp luật
Tăng cường công tác kiểm tra đối với các vùng chuyên canh rau trên địa bàn thị xã để hướng dẫn nhắc nhở những trường hợp sử dụng thuốc không đúng, nâng cao nhận thức của người dân trong việc sử dụng thuốc BVTV
2 Giải pháp tuyên truyền
2.1 Đối với cơ quan quản lý thuốc BVTV
a) Đa dạng hóa công tác thông tin tuyên truyền phổ biến các qui định của pháp luật về kinh doanh, sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật
Tuyên truyền, phổ biến, công khai rộng rãi các quy định của Pháp luật về việc kinh doanh, sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật, danh mục thuốc BVTV được phép
sử dụng tại Việt Nam do Bộ NN và PTNT ban hành thông qua các hoạt động như niêm yết công khai, băng rôn, áp phít để người kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhận thức đúng và thực hiện
b) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động truyền thông: Hiện nay, tỉnh Quảng Ngãi nói chung và thị xã Đức Phổ nói riêng đang có nhiều thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào ngành
Trang 6nông nghiệp, như tỷ lệ nông dân sử dụng điện thoại di động cao, kết nối internet cáp quang đã đến tận tuyến xã, tuy nhiên trình độ dân trí ở nông thôn còn thấp Do vậy, cần có chính sách hỗ trợ các cấp, ngành, địa phương tăng cường công tác đào tạo, tập huấn công nghệ thông tin giúp nông dân nâng cao trình độ sử dụng, khai thác tốt thông tin trên internet, phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp; Cần đẩy mạnh phát triển công nghệ trong công tác truyền thông theo hướng tích hợp các phương tiện truyền thông; Đa dạng hóa nội dung, thông điệp cần truyền tải đến nông dân một cách ngắn gọn, dễ hiểu, sinh động nhằm tạo sự ghi nhớ, ăn sâu vào tiềm thức cho người tiếp cận
2.2 Đối với các đại lý buôn bán, kinh doanh thuốc BVTV
Hiện nay, thuốc BVTV sinh học chưa thể thay thế hoàn toàn thuốc BVTV hóa học, vì vậy cần có phương án sử dụng hài hòa giữa thuốc BVTV sinh học và thuốc BVTV hóa học để vừa phòng trừ sinh vật gây hại vừa đảm bảo an toàn cho người sử dụng, môi trường và nông sản
2.3 Đối với nông dân sản xuất lúa
a) Tăng cường công tác dự tính dự báo:
Một số bệnh phát sinh, phát triển và nhanh chóng phá hoại cây trồng ngay khi vừa xuất hiện Do đó, cần phun thuốc kịp thời khi thời tiết có dấu hiệu thuận lợi cho sự phát triển của mầm bệnh Tiến tới dự báo tình hình sâu, bệnh thông qua hệ thống mô hình hoá rủi ro có tính đến những dữ liệu cụ thể (giống cây, đặc điểm thời tiết của địa phương, thời điểm gieo trồng và nẩy mầm, tưới tiêu…) cho phép giảm đáng kể lượng thuốc trừ sâu sử dụng
b) Sử dụng các phương tiện: Truyền hình, báo chí, ấn phẩm, tờ rơi để phổ
biến rộng rãi những kiến thức về sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả Hướng dẫn các phương pháp phòng trừ các đối tượng dịch hại theo nguyên tắc 4 đúng (Đúng thuốc, đúng nồng độ và liều lượng, đúng cách và đúng lúc); Sử dụng các loại thuốc trong “Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam” của bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thông ban hành
2.4 Đối với người tiêu dùng nông sản
Trang 7Công tác truyền thông cần đặc biệt quan tâm đến người tiêu dùng Trong cơ chế thị trường hiện nay, nếu người tiêu dùng chấp nhận lựa chọn những loại thực phẩm sạch, an toàn với mức giá cao hơn so với mặt bằng chung sẽ tạo động lực để người sản xuất hạn chế sử dụng thuốc hóa học và chuyển sang các phương thức sản xuất đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường
3 Các giải pháp về kỹ thuật
3.1 Giải pháp bền vững và chủ động nhất trong công tác bảo vệ thực vật
hiện nay là áp dụng chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp IPM, coi trọng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thân thiện với môi trường, bảo vệ hệ sinh thái đồng ruộng và thiên địch, chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi các đối tượng sâu bệnh hại đến ngưỡng gây hại cần phải phòng trừ theo khuyến cáo của ngành nông nghiệp; nâng cao ý thức cộng đồng đối với việc sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong phòng trừ sinh vật hại cây trồng bảo vệ sản xuất, giảm ô nhiễm môi trường
3.2 Giải pháp sử dụng giống cây trồng chống chịu sâu bệnh
Sử dụng các giống cây trồng chống chịu sâu bệnh, thích ứng với điều kiện sản xuất trên địa bàn thị xã để bố trí vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng Sử dụng giống chống chịu sâu bệnh cho phép giảm số lần phải phun thuốc Bảo vệ thực vật trừ sâu bệnh ở mỗi vụ sản xuất, tăng sản lượng, tăng chất lượng nông sản thu được Giống cây trồng chống chịu sâu bệnh góp phần giảm khả năng tích lũy sâu bệnh trên đồng ruộng, trong khi sử dụng giống nhiễm sâu bệnh thường xuyên làm cho các loài sâu bệnh hại chuyên hóa đối với giống cây trồng đó tích lũy lại trên đồng ruộng ngày càng nhiều hơn
Luân phiên dùng các loại giống cây trồng có chiều hướng, phạm vi và mức
độ chống chịu sâu bệnh khác nhau Trong thực tế sản xuất, một giống cây trồng dù cho có khả năng chống chịu sâu bệnh rất cao sau một thời gian gieo trồng trong sản xuất cũng có nguy cơ mất đi tính chống chịu do tác động chọn lọc của chủng ký sinh và do nhiều nguyên nhân khác Do đó cần luân phiên sử dụng giống kháng để tránh các chủng ký sinh tích lũy, thiết lập quần thể gây hại
Chọn một cơ cấu giống thích hợp cho mỗi vụ sản xuất, cơ cấu giống thích hợp có thể ngăn ngừa lây lan và phát triển của các loài sâu bệnh nguy hiểm
Trang 83.3 Sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật sinh học thay thế thuốc hóa học trong
phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng
Việc sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật sinh học là biện pháp thiết thực nhất để bảo vệ cây trồng, giảm thiểu việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường hướng tới sản xuất nông nghiệp an toàn, phát triển bền vũng
Tuyên truyền, hướng dẫn và khuyến cáo nông dân chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi các đối tượng sâu bệnh có mật độ, tỷ lệ đạt đến ngưỡng thống kê theo quy định tại Hệ thống tiêu chuẩn chuyên ngành
Sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật phải tuân thủ theo nguyên tắc “4 đúng”: đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ, liều lượng và đúng cách Tuân thủ thời gian cách ly quy định đối với từng loại thuốc
3.4 Giải pháp kỹ thuật canh tác:
Thực hiện luân canh cây trồng, thay đổi việc gieo trồng các loại cây trồng khác nhau trên cùng một đám đất có thể ngăn ngừa được sự tích lũy sâu bệnh trên đám đất đó Chọn các loại cây trồng thích hợp để luân canh có thể loại trừ các loại sâu bệnh hoặc hạn chế tác hại của chúng đến mức thấp nhất
Tuân thủ đúng thời vụ gieo trồng, mật độ gieo trồng và chế độ phân bón, chế
độ tưới nước thích hợp cho từng loại cây, từng giống cây trồng cụ thể nhằm giảm khả năng phát sinh gây hại của sâu bệnh hại, từ đó giảm việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng
Phần II ỨNG DỤNG KẾT QUẢ TRONG VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH SẢN XUẤT
LÚA VỤ HÈ THU NĂM 2022
Từ kết quả điều tra trên, Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp ứng dụng xây dựng
mô hình canh tác lúa theo hướng an toàn sinh học vụ Hè Thu năm 2022, tại phường Phổ Quang Kết quả như sau:
1 Quy mô, địa điểm thực hiện mô hình
- Diện tích mô hình: 10 ha
- Địa điểm: Phường Phổ Quang, thị xã Đức Phổ
Trang 9- Thực hiện trên cánh đồng ruộng tập trung, chủ động nước tưới, gần đường
đi lại, thuận tiện cho việc tham quan học tập
- Giống: TBR97
- Ngày sạ: Từ ngày 15/5/2022 đến ngày 20/5/2022
- Lượng giống sạ: 4,5 kg/sào
- Số hộ tham gia:
+ Số nông dân có ruộng tham gia mô hình: 69 hộ
+ Số nông dân được tập huấn kỹ thuật: 69 hộ
2 Tập huấn chuyển giao kỹ thuật
Trong vụ tổ chức tập huấn kỹ thuật cho nông dân 03 đợt:
* Tập huấn đợt 1:
- Thời gian: Ngày 10/5/2022
- Nội dung:
+ Nêu mục đích, ý nghĩa của mô hình “ canh tác lúa theo hướng an toàn sinh học”
+ Hướng dẫn nông dân làm đất, ngâm ủ giống
+ Tập huấn sâu bệnh hại đầu vụ và bón thúc đợt 1
+ Sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật theo nguyên tắc “4 đúng” và tuân thủ các qui định về an toàn trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
* Tập huấn đợt 2:
- Thời gian: Ngày 05/6/2022
- Nội dung:
+ Điều tra ruộng, đánh giá tình hình sinh trưởng, sâu bệnh hại trên ruộng mô hình và ruộng nông dân
+ Hướng dẫn nông dân cách bón phân lần 2
+ Kỹ thuật phòng trừ một số đối tượng sâu bệnh giữa
* Tập huấn đợt 3:
- Thời gian: Ngày 10/7/2022
- Nội dung:
+ Điều tra ruộng, đánh giá tình hình sinh trưởng, sâu bệnh hại trên ruộng mô hình và ruộng nông dân
+ Kỹ thuật phòng trừ một số đối tượng sâu bệnh giữa đến cuối vụ
Trang 10+ Các biện pháp giảm thất thoát trong thu hoạch và bảo quản.
3 Các biện pháp kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh đã áp dụng
- Lượng giống sử dụng: 4,5kg/sào
- Sử dụng thuốc cỏ: Loại thuốc cỏ nông dân sử dụng để phun lúa trong mô hình là Sofic 300EC Liều lượng sử dụng: 50ml/16lít nước/ sào Thời gian sử dụng: phun sau khi sạ 1 ngày
- Phân bón: nông dân trong mô hình sử dụng phân đơn
+ Lượng phân cho 01 ha (10.000m2):
* Phân chuồng: 10.000 kg, Phân lân Supe: 400 kg, Phân Urê: 240kg Phân Kali: 160kg Vôi: 500 kg
* Cách bón: Vôi bón trước khi băm ruộng.
+ Bón lót: 100% phân chuồng + 100% lân + 40kg Urê + 40 kg Kali
+ Bón thúc lần 1 (sau sạ 10 ngày): Bón 100kg Urê + 60 kg Kali
+ Bón thúc lần 2 (sau sạ 22 ngày): bón 80 kg Urê
+ Bón thúc lần 3 (42 ngày sau sạ): bón 20 kg Urê + 60 kg Kali
Phòng trừ sâu bệnh:
+ Giai đoạn lúa đòng - trổ: Phun thuốc trừ rầy thuốc có nguồn gốc sinh học
Nouvo 3,6 EC (nhóm thuốc Abamectin) khi điều tra phát hiện mật độ rầy nâu – rầy
lưng trắng đạt 1.500cn/m2 Liều lượng: 0,3 lít/ha, pha 12ml/bình 16 lít
+ Giai đoạn lúa trỗ đều – vào sữa: Do thời gian lúa trỗ gặp điều kiện thời tiết thuận lợi cho bệnh lem lép hạt phát triển nên sử dụng thuốc Tilt Super 300EC phun
để phòng trừ bệnh Liều lượng 0,4 lít/ha, pha 10ml/bình 16 lít
- Thu hoạch đúng độ chín sinh lý khi thấy 85-90% số hạt trên bông đã chín vàng thì tiến hành thu hoach
- Lúa cần phải phơi khô, thủy phần trong hạt chiếm 13-14% mới cất giữ tốt
4 Kết quả mô hình
- Tình hình sử dụng giống sạ
Bảng 1: Lượng giống lúa gieo sạ trên ruộng mô hình và ruộng sản xuất
theo tập quán nông dân
Tính trên 01 ha Ruộng mô
hình Ruộng nông dân
Tăng, giảm hơn ruộng nông dân (+/- kg)
Thành tiền (đ)