Vài nét khái quát về Đồng Bằng Sông Cửu Long ĐBSCLIII... của nước ngoài.
Trang 1THIẾT KẾ MÔN HỌC
KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
ĐỀ TÀI : HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG SAU KHI GIA NHẬP WTO THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ
Giáo viên giảng dạy : Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên: Phạm Thị Hoài Phương
Lớp : Kinh tế ngoại thương AK10
Trường : ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
Trang 2Mục lục
Chương 1 : Khái quát chung về nội dung đề tài nghiên cứu
I Gạo và tình hình xuất khẩu gạo ở Việt Nam
II Vài nét khái quát về Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)III Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
Chương 2 : Các cơ chế quản lí và chính sách ngoại thương, tác động của
việc gia nhập WTO
I Cơ chế quản lí và chính sách ngoại thương của Việt Nam đối với hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
II Một số vấn đề liên quan đến thuế xuất khẩu gạoIII Tác động của việc gia nhập WTO
Chương 3 : Thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
Trang 3CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NỘI DUNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
I – Gạo và tình hình xuất khẩu gạo ở Việt Nam
Gạo là lương thực quan trọng , là nhu cầu thiết yếu để duy trì sự sống
Việt Nam với số dân 80% là nôngnghiệp , lúa gạo là cây trồng chính của Việt Nam ,15 năm đổi mới (1986-2000)sản xuất tăng trưởng liên tục Từ năm 1989, Việt Nam đã trở thành một trongnhững nước dẫn đầu về xuất khẩu gạo trên thế giới Đây là một sự kiện đặc biệt,đánh dấu sự vươn lên của nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn như nước ta Trước đây, Việt Nam luôn phải nhập khẩu gạo , thiếu lương thực nhưng dầndần trong những năm gần đây sản lượng lúa nước ta tăng liên tục cả về diệntích, năng suất và sản lượng Xu hướng này có khả năng còn tiếp tục tăng trongnhững năm tới vì tiềm năng tăng năng suất vẫn còn Lợi thế về sản xuất vẫntiếp tục được phát huy và lúa gạo vẫn là cây trồng số một Ở chừng mực nào đócó thể nói gạo Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường thế giới
Gạo của nước ta chủ yếu xuất khẩu sang các nước Châu Á , đặc biệt là xuấtkhẩu gạo sang thị trường Philippines đóng góp hơn một nửa thị phần của toànkhu vực Châu Á, thị
trường lớn tiếp theo là Malaysia Châu Á là thị trường xuất
Trang 4khẩu gạo chủ chốt của Việt Nam Gần đây chúng ta cũng tập trung đẩy mạnhxuất khẩu gạo sang các thị trường khó tính khác như EU, Mỹ, Nhật Bản saocho được mức giá có lợi nhất
Chúng ta có thể lấy ví dụ về việc xuất khẩu gạo của nước ta trong năm trước (2010) để hình dung rõ hơn về tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam :
Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2010
Thị trường Tháng 12 Cả năm 2010 Tăng, giảm T12 so với T11/2010 Tăng, giảm năm 2010 so với năm
2009 Lượng
(tấn)
Trị giá (USD)
Lượng (tấn)
Trị giá (USD)
Lượng (%)
Trị giá (%)
Lượng (%)
Trị giá (%)
Tổng cộng 499.726 259.835.357 6.886.177 3.247.860.368 +0,48 +6,39 +15,57 +21,92
Philippines 3.350 2.604.750 1.475.821 947.378.774 +231,68 +243,79 -13,59 +3,30 Indonesia 267.000 136.712.375 687.213 346.017.268 +7,73 +13,81 +3763,79 +4696,30 Singapore 12.085 6.491.437 539.298 227.791.806 -50,91 -47,91 +64,65 +70,51
Cu Ba 45.720 25.592.664 472.270 209.216.943 +75,85 +79,60 +4,96 +9,52 Malaysia 42.265 18.111.200 398.012 177.688.707 -3,88 +2,96 -35,09 -34,72 Đài Loan 5.358 3.155.732 353.143 142.704.502 -75,02 -70,81 +72,30 +74,85 Hồng Kông 9.755 6.326.600 131.123 65.176.239 -34,50 -26,25 +194,00 +222,42 Trung Quốc 12.805 7.530.276 124.466 54.636.941 +158,69 +180,38 * *
Nga 6.225 2.872.520 83.696 36.059.497 +2390,00 +2245,78 -1,12 -2,78 Nam Phi 1.502 774.010 31.798 13.365.042 +20,16 +23,10 -14,64 -18,34
Ucraina 350 208.650 13.156 6.149.166 +40,00 +69,29 -64,98 -60,95 Australia 783 529.527 7.464 4.327.172 -9,69 +8,91 -12,83 -12,14
Bỉ 1.078 829.230 5.912 2.716.956 +4,76 +8,90 -39,77 -26,65 Tiểu vương
Quốc Ả Rập
Nhìn vào số liệu bảng trên ta thấy năm 2010 cả nước ta đã xuất
khẩu hơn 6,8 triệu tấn gạo ,thu về 3,25 tỷ USD, chiếm 4,5% kim
ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước năm 2010 Trong
đó riêng tháng 12/2010 xuất khẩu 499,726 tấn gạo đạt kim ngạch
259,84 triệu USD Những con số trên cho thấy được một phần nào
tình hình xuất khẩu gạo của nước ta
Trang 5II – Vài nét khái quát về đồng bằng sông cửu long (ĐBSCL)
Thu hoạch lúa ở Đồng bằng sông cửu long
Đồng bằng sông cửu long (ĐBSCL) là một trong những
đồng bằng lớn , phì nhiêu của Đông Nam Á và thế giới , là vùng sản xuất , xuấtkhẩu lương thực , vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn nhất Việt Nam ĐBSCL cũnglà vùng đất quan trọng đối với Nam Bộ và cả nước trong phát triển kinh tế ,hợptác đầu tư và giao thương với các nước trong khu vực và thế giới
ĐBSCL là một trong bảy vùng kinh tế của Việt Nam ,thế mạnh của vùng là sảnxuất nông nghiệp Ngày nay ,ĐBSCL được nhiều người biết đến với những
Trang 6cánh đồng cò bay thẳng cánh ở vùng Đồng Tháp Mười ,rồi những cù lao bạtngàn cây trái trên sông Tiền ,sông Hậu , là quê hương của con cá ba sa ,contôm sú Người dân sống rất giản dị và có lòng mến khách.
ĐBSCL là vùng có khí hậu cận xích đạo vì vậy nên rất thuận lợi để phát triểnngành nông nghiệp (mưa niều ,nắng nóng) đặc biệt là phát triển trồng lúa nước
và cây lương thực Lúa được trồng nhiều nhất ở các tỉnh
An Giang , Kiên Giang ,Long An ,Đồng Tháp ,Sóc Trăng ,Tiền Giang Diệntích và sản lượng thu hoạch chiếm hơn 50% so với cả nước Bình quân lươngthực đầu người gấp 3 lần so với lương thực trung bình cả nước Cây lúa – câytrồng chủ lực , là sản phẩm chuyên môn hóa cao nhất của vùng ĐBSCL VùngĐBSCL có vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất lúa gạo của cả nước, kếtquả sản xuất lúa gạo của khu vực này quyết định an ninh lương thực quốc gia.Hàng năm lúa gạo của vùng ĐBSCL đóng góp phần lớn vào việc cung ứng chonhu cầu trong nước và chiếm tới 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước.Mỗinăm ĐBSCL sản xuất ra gần 20 triệu tấn lúa, xuất khẩu hàng triệu tấn gạo gópphần đưa Việt Nam lên vị thế của một trong những nước xuất khẩu gạo hàngđầu thế giới ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước , chiếmđến 33,2% giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước Trong đó lúa chiếm :51,1%diện tích ,52% sản lượng và 90% lượng gạo xuất khẩu của quốc gia Nhờ vậynên ĐBSCL là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của Việt Nam
III - Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
Hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu gạo ở ĐBSCL nói riêng đều có vaitrò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế như:
Trang 7_ Xuất khẩu tạo được nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đất nước.
_ Đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển._ Có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân
Trang 8_ Là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta Hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố
Đầu tiên, ta phải nhận thấy một điều rằng nhucầu thế giới ảnh hưởng rất nhiều đến sản lượng và giá trị xuất khẩu gạo ở VN cũng nhưĐBSCL Khi nhu cầu thế giới về mặt hàng gạo của ĐBSCL thay đổi thì cũng làm cho sảnlượng xuất khẩu và giá trị xuất khẩu cũng thay đổi theo Và nhu cầu của thế giới còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như : tình hình kinh tế -chính trị của thế giới, tính chất đặc điểm của mặt hàng
Thứ hai, Gạo là một mặt hàng có tính cạnh tranh cao.Với xuất khẩu gạo ởĐBSCL cần phải cạnh tranh với rất nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới ,đặcbiệt là Thái Lan và Ấn Độ là 2 nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới
Chưa chú trọng đến khâu thu hoạch ,thu mua ,kiểm định chất lượng , bảoquản khiến cho chất lượng và sản lượng gạo xuất khẩu không được như mongmuốn cũng làm ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo
Tỉ giá hối đoái cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
Trang 9CHƯƠNG 2 : CÁC CƠ CHẾ QUẢN LÍ VÀ CHÍNH SÁCH
NGOẠI THƯƠNG
I – Cơ chế quản lí và chính sách ngoại thương của Việt Nam đối
với hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới ,chuyển sang nền kinh tế thi trường và chủđộng hội nhập kinh tế với thế giới và khu vực ,Đảng và Nhà nước đã chủ độngđẩy mạnh hoạt động xuất khẩu để làm động lực thúc đẩy sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các hoạt động xuất khẩu nói chung đềuđóng vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển
kinh tế Chính vì những vai trò to lớncủa xuất khẩu mà nước ta cần phải có cơ chế quản lí và chính sách ngoạithương phù hợp để đưa hoạt động xuất khẩu ngày càng phát triển Để đẩymạnh xuất khẩu, Nhà nước phải có những biện pháp chính sách khuyến khíchở mức cao nhất các nghành sản xuất cho xuất khẩu, các doang nghiệp thamgia vào quá trình xuất khẩu và quốc tế hóa nhằm phát huy mọi tiềm năng vànội lực của đất nước,đồng thời khai thác tối đa sự hỗ trợ và hợp tác của cộngđồng quốc tế Và hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL cũng rất được quan tâm
Trang 10đến.Dưới đây là một vài cơ chế quản lí và các chính sách ngoại thương đốivới hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL:
_ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theohướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thịtrường và điều kiện sinh thái của vùng ĐBSCL; chuyển dịch cơ cấu ngành,nghề, cơ cấu lao động , tạo việc làm ,thu hút nhiều lao động ở nông thôn
_ Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp, chú trọng đến cây lúanhiều hơn nữa
_ Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông
nghiệp nhất là công nghệ sinh học với công nghệ thông tin, làm tốt
công tác chuyển giao giống mới, cải tiến kĩ thật canh tác
_ Tiếp tục phát triển và hoàn thiện về cơ bản hệ thống thủy lợi ngăn mặn,giữ ngọt, kiểm soát lũ, bảo đảm tưới tiêu an toàn, chủ động cho sản xuất nôngnghiệp và đời sống nông dân Có biện pháp điều chỉnh quy hoạch sản xuất vàdân cư sao cho thích nghi được với điều kiện tự nhiên, đề phòng khi có thiêntai,bão lũ Nâng cao năng lực dự báo thời tiết và khả năng chủ động phòngchông thiên tai, hạn chế thiệt hại
_Nâng cao chất lượng cây lúa tiến tới cung cấp đẩy đủ lương thực cho toànđất nước ngoaì ra còn dư ra để xuất khẩu ngày càng nhiều hơn ,giảm tổn thấthao hụt, nâng cao chất lượng sản phẩm
_Việt Nam thực hiện chính sách thỏa đáng đảm bảo nguồn lúa cho ngànhcông nghiệp xuất khẩu gạo,kết hợp với chính sách liên kết vùng vớiCampuchia sẽ là điểm nhấn quan trọng hình thành chuỗi xuất khẩu lớn nhấttrong khu vực và trên thế giới
_Điều phối chính sách trong phát triển công nghiệp và nông nghiệp, nhanhchóng hoàn thiện chính sách đất đai,chấm dứt tình trạng đất đai thu lại củanông nghiệp không phục vụ công nghiệp mà xoay sang phục vụ đầu cơ bấtđộng sản,không làm tăng năng suất lao động,không sản sinh ra giá trị thực chonền kinh tế
Trang 11Sau đây là một số ý kiến của những người nông dân trực tiếp làm ra lúa gạovề cơ chế quản lí của nhà nước về xuất khẩu gạo Đa số nông dân ĐBSCL đãđưa ra ý kiến đó là họ cần một cơ chế xuất khẩu gạo ổn định, một cơ chế màcó thể ấn định giá bán gạo xuất khẩu, một cơ chế mà giá thu mua căn cứ vàogiá bán gạo xuất khẩu.
Muốn vậy theo họ chính phủ phải thực hiện độc quyền lúa gạo, phải đưa lúagạo vào lĩnh vực độc quyền nhà nước để quan tâm đúng mức đến quyền lợicủa người nông dân và người ăn gạo trong việc ấn định giá mua bán lúa gạo,tức là chính phủ phải trực tiếp mua bán lúa gạo cho nông dân.Xuất khẩu gạophải có đủ kho chứa lúa gạo, đây là điều kiện bắt buộc để ấn đinh giá bán gạoxuất khẩu và điều tiết quá trình xuất khẩu gạo, tránh bị khách hàng ép giá
II – Một số vấn đề liên quan đến thuế xuất khẩu gạo
Năm 2008, xung quanh việc Việt Nam thắt chặt xuất khẩu gạo
thông qua hạn ngạch, ông Jonathan Pincus, chuyên viên kinh tế
cao cấp của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại
Việt Nam, cho rằng Chính phủ nên đánh thuế xuất khẩu gạo để
điều tiết giá gạo trong nước; vừa thu được thuế vừa có hiệu quả
hơn so với hạn ngạch
Gạo là mặt hàng nằm trong rổ hàng hoá để tính chỉ số giá tiêudùng (CPI) của Việt Nam Hơn hai năm qua, chỉ số giá tiêu dùng nhóm hànglương thực, trong đó có gạo, luôn tăng mạnh hơn so với tốc độ tăng chungcủa CPI Chính vì vậy, hơn 2 năm qua, Chính phủ đã áp dụng biện pháp chỉtiêu sản lượng xuất khẩu gạo mà bản chất là hạn ngạch để điều tiết sản lượnggạo xuất khẩu, với mong muốn vừa kiểm soát được giá gạo trong nước khôngquá leo thang, vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.Tuy nhiên, đến nay,
Trang 12Việt Nam vẫn chưa tính toán được tác động của chính sách điều chỉnh giágạo bằng hạn ngạch; nhưng một điều chắc chắn là Chính phủ Việt Namkhông thu được thuế từ xuất khẩu gạo để góp phần làm giảm thâm hụt ngânsách Trong khi đó, do khủng hoảng thiếu hụt lương thực trầm trọng trên thếgiới, nhiều nước xuất khẩu gạo chính ở châu Á đang thắt chặt xuất khẩu gạođã đẩy giá gạo tăng mạnh “Với nông dân, áp dụng hạn ngạch xuất khẩu gạohay thu thuế xuất khẩu gạo đều giống như nhau’’ Khi giá gạo nội địa quácao, Chính phủ có thể tăng thuế xuất khẩu để làm giảm lượng gạo xuất khẩuvà ngược lại, khi giá gạo trong nước xuống thấp, có thể điều chỉnh giảm thuếđể đẩy mạnh xuất khẩu, giúp tiêu thụ lúa gạo nội địa "Thuế xuất khẩu gạo tácđộng trực tiếp tới lợi nhuận của các DN kinh doanh gạo một cách công bằngvà gián tiếp điều chỉnh giá gạo thị trường trong nước".
Chúng ta có thể tham khảo biểu thuế tuyệt đối với gạo xuất khẩu sau:
STT
Giá gạo xuất khẩu theo giá FOB
(USD một tấn)
Mức thuế tuyệt đối (đồng một tấn)
1 Từ 800 đến dưới 900 800.000
2 Từ 900 đến dưới 1.000 1.200.000
3 Từ 1.000 đến dưới 1.100 1.500.000
4 Từ 1.100 đến dưới 1.200 1.900.000
5 Từ 1.200 đến dưới 1.300 2.300.000
Một DN xuất khẩu gạo ở ĐBSCL phàn nàn rằng, chính sách hạn ngạch xuấtkhẩu gạo hiện nay trên lý thuyết có vẻ đơn giản, chỉ cần đầu năm Chính phủcông bố hạn ngạch là xong, nhưng thực tế thì khá phiền phức Bởi đi kèm vớihạn ngạch sản lượng gạo là việc xác nhận hợp đồng của VFA(Hiệp hội lươngthực Việt Nam ), thủ tục công nhận lượng gạo còn trong kho của doanh nghiệp,rồi thời hạn giao hàng và nhiều thủ tục hành chính rối rắm khác Đó là chưa kểviệc áp dụng hạn ngạch sẽ làm triệt tiêu phần nào động lực kinh doanh của nhàxuất khẩu Chẳng hạn, DN ký hợp đồng xuất khẩu gạo có giá thấp hơn giá địnhhướng của hiệp hội là không được xác nhận để xuất khẩu, trong khi hợp đồng
Trang 13đó họ có những tính toán riêng "Với chính sách thuế sẽ công bằng hơn vì DNnào cũng cố gắng ký hợp đồng bán gạo giá cao để có lợi nhuận nhiều hơn màkhông cần tới giá định hướng của hiệp hội" việc thu thuế xuất khẩu gạo là chủtrương đúng đắn để điều tiết chênh lệch giữa giá xuất khẩu và giá thị trườngtrong nước(2008), tuy nhiên, cơ quan chức năng sẽ tùy từng thời điểm, căn cứvào tình hình thực tế để có điều chỉnh hợp lý.Thuế bắt đầu áp dụng từ cu ốitháng 7/2008 nhưng đến 19-12-2008 thì chính phủ chính thức ngừng đáng thuếxuất khẩu gạo vì thấy việc đành thuế không có lợi.Đó là một số vấn đề liênquan đến việc đánh thuế xuất khẩu gạo năm 2008- cũng là năm cao điểm về bắtđầu áp dụng thuế xuất khẩu gạo Hiện nay, chính phủ đã ngưng việc đánh thuếxuất khẩu gạo , để nhằm khuyến khích việc xuất khẩu gạo.
III - Tác động của việc gia nhập WTO
Ngày nay, toàn cầu hóa đang là một xu thế phát triển tất yếu của quan hệ quốc tế hiện đại Đại diện cho xu thế toàn cầu hóa này là sự ra đời và phát triển của Tổ chức Thương mại thế giới(WTO) Việt Nam là quan sát viên của
GATT( Hiệp định chung về thuế quan và thương mại) và chính thức nộp đơn gia nhập WTO ngày 4/1/1995.Ngày 22/8/1996 Việt Nam đã gửi Bị vong lục vềchế độ ngoại thương của Việt Nam tới WTO, Tháng 7/1998, VN tiến hành phiên họp đa phương đầu tiên với nhóm công tác về minh bạch hóa các chính sách kinh tế thương mại Cho tới nay, VN đã thực sự hoàn tất về cơ bản giai đoạn minh bạch hóa chính sách Gia nhập WTO đã đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho Việt Nam, điều này được thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, Việt Nam trở thành thành viên của WTO sẽ khắc phục được tình trạng bị phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế Ví dụ như sự đối xử tối huệ quốc (MFN) không điều kiện, thuế quan thấp cho hàng xuất khẩu của Việt Nam,thúc đẩy việc thâm nhập thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam,cải thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại với các nước, sự đối xửtheo hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập và củng cố cải cách kinh tế Việt
Nam.Đặc biệt, các hiệp định của Vòng đàm phán Uruguay đã đem lại cho Việt
Trang 14Nam các lợi ích như : Đẩy mạnh thương mại và quan hệ của Việt Nam với các thành viên khác trong WTO và đảm bảo nâng cao vai trò quan trọng của Việt Nam trong các hoạt động kinh tế và chính trị toàn cầu như là một thành viên của WTO.
Thứ hai ,gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam và thúc đẩy thương mại phát triển Việt Nam sẽ có cơ hội xuất
khẩu những mặt hàng tiềm năng ra thế giới trong đó Gạo cũng là mặt hàng có
cơ hội được xuất khẩu rất nhiều.Cơ hội xuất khẩu bình đẳng sẽ có những ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, sản xuất sẽ được mở rộng và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động Việt Nam là một tron g những nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, Việt Nam sẽ có nhiều thị trường xuất khẩu gạo hơn vì hạn ngạch nhập khẩu gạo sẽ được thay thế bằng thuế và thuế sẽ phải được cắt giảm theo lộ trình quy định của
WTO Nước ta cũng có lợi nhiều khi các thị trường gạo mở cửa, đặc biệt là thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc
Thứ ba, Việt Nam sẽ có lợi từ việc cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp khi có quan hệ với các cường quốc thương mại chính.Việt Nam có thể cải thiện vị trí của mình trong các cuộc đàm phán thương mại, có điều kiện tiếp cận các quy tắc công bằng và hiệu quả để giải quyết các tranh chấp thương mại.Những nguyên tắc của WTO đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cũng sẽ có lợi vì sẽ nhận được một số ưu đãi đặc biệt như được miễn trừ sự ngăn cấm trợ cấp xuất khẩu
Thứ tư, Việt Nam sẽ có lợi gián tiếp từ yêu cầu của WTO về việc cải cách hệ thống ngoại thương, bảo đảm tính thống nhất của các chính sách thương mại vàcác bộ luật của Việt Nam cho phù hợp với hệ thống thương mại quốc tế Các quy định của WTO sẽ loại bỏ dần những bất hợp lý thương mại, thúc đẩy cải thiện hệ thống kinh tế và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ hệ thống kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thi trường
Trang 15Thứ năm, Việt Nam sẽ có điều kiện thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý và công nghệ mới của nước ngoài Trong những năm qua, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực sự đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng sảnxuất công nghiệp Việt Nam Đầu tư nước ngoài đã tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong đó có xuất khẩu gạo.
Sáu là, nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doang nghiệp Việt Nam Tự do hóa thương mại của WTO sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa của các nước thành viên dễ dàng thâm nhập vào thị trường Việt Nam Điều này gây sức ép buộc các doang nghiệp Việt Nam phải chấp nhận mức độ cạnh tranh khốc liệt, làm cho họ trở nên năng động hơn trong việc tạo sản phẩm mới, cải tiến các dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm
Bên cạnh những cơ hội đó, Việt Nam đồng thời cũng phải đương đầu với các thách thức sau khi gia nhập WTO Bởi lẽ, so với thế giới, Việt Nam còn là một trong những nước nghèo với mức GDP đạt 372 USD/ngươi/năm, hệ thống chính sách kinh tế xã hội đang trong quá trình hoàn thiện, chưa dồng bộ, trình dộ kỹ thuật, trình độ quản lý có sự chênh lệch lớn
so với các nước phát triển
Bên cạnh đó, Việt Nam còn phải thực thi đẩy đủ các cam kết của mình, đặc biệt là các cam kết trong một số lĩnh vực như dịch vụ, sở hữu trí tuệ, các biện pháp đảm bảo thương mại công bằng , an toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh dịch tễ, kiểm dịch động thực vật và hàng rào kỹ thuật thương mại ,nên việc thực thisẽ rất khó khăn Điều này không chỉ yêu cầu Việt Nam phải thông qua các luật lệ, quy định phù hợp với WTO và nền kinh tế thị trường, mà còn đòi hỏi tình hình thực tiễn phải đáp ứng được các yêu cầu của WTO.Để sớm đạt mục tiêu gia nhập WTO nhằm mở rộng thị trường cho hàng hóa, doanh nghiệp Việt