1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Skkn hướng dẫn viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 8

16 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hướng dẫn viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 8
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 348,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1/15 II NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 1 Tên đề tài Hướng dẫn viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 8 2 Lí do chọn đề tài a Cơ sở lí luận Trong các phân môn của bộ môn Ngữ văn, Tập làm văn có vị trí đặc biệt[.]

Trang 1

II NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

1.Tên đề tài: Hướng dẫn viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 8

2 Lí do chọn đề tài

a Cơ sở lí luận:

Trong các phân môn của bộ môn Ngữ văn, Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong quá trình học tập và thi cử Dạy Văn và tiếng Việt đã khó, dạy Tập làm văn lại còn khó hơn Bởi vì, hơn bất cứ phân môn nào, ở đây giáo viên phải đặc biệt coi trọng chủ thể, đóng vai trò người hướng dẫn, điều chỉnh để hoạt động tư duy và

kỹ năng thực hành của học sinh đi đúng hướng, nhằm tiến tới viết (hoặc nói) được văn bản quy định trong chương trình

Xưa nay trong việc đào tạo con người, văn chương vẫn được sử dụng như một công cụ đắc hiệu Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của văn chương trong việc xây dựng và giữ gìn gìn đạo đức xã hội, đúng như vai trò “Xã hội - nhân văn” của nó Nếu nói người giáo viên là những “kĩ sư tâm hồn” thì điều đó đúng nhất với các thầy cô giáo dạy Văn Vì Văn học chính là bộ môn dễ gây xúc động vui buồn tác động nhiều nhất đến thế giới nội tâm của con người Hơn nữa việc bồi dưỡng tâm hồn cho thế hệ trẻ lại cần thiết trong xu thế hội nhập thế thế giới hiện nay: Hội nhập nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc

Trong xu thế hội nhập việc dạy văn, học văn có những thay đổi nhất định Sự thay đổi nằm ở cấu trúc chương trình Cấu trúc chương trình Ngữ văn THCS khẳng định là sáu kiểu văn bản làm trục đồng quy: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và điều hành (hành chính công vụ) Nói như vậy “có nghĩa là phải làm thế nào cho học sinh thành thạo bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết; năng lực tiếp nhận về sáu văn bản nói trên” Mỗi bài đều được bố trí ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn phù hợp với từng kiểu bài, phù hợp với sự tiếp nhận của học sinh Sự thay đổi còn thể hiện rõ ở phương pháp tiếp cận chương trình mới theo hướng tích hợp và tích cực

b Cở sở thực tiễn

Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy thời lượng các tiết dành cho việc rèn

kĩ năng tạo lập đoạn văn nói chung và đoạn văn nghị luận nói riêng còn hạn chế Kiến thức về đoạn văn các em được học từ lớp 6, lớp 7 l ớp 8 còn rất ít Trong khi đó để tạo lập được một văn bản thì trước hết học sinh cần nắm được thành thạo các thao tác, kĩ năng dựng đoạn Trong quá trình giảng dạy, tuy giáo viên

đã giúp học sinh nắm các yêu cầu về đoạn văn nhưng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận của học sinh chưa thật thành thạo dẫn đến chất lượng bài văn chưa cao Học sinh thường viết sơ sài, lan man, vừa thừa, vừa thiếu, có khi xa đề, lạc đề Có bài chỉ viết được 6 đến 8 dòng là hết, có nhiều em không biết xây dựng luận điểm… Các em còn lúng túng, hành văn chưa mạch lạc, chặt chẽ, viết đoạn văn không theo cấu trúc nhất là đối với đối tượng học sinh từ trung bình trở xuống Hơn nữa đây là kĩ năng vô cùng quan trọng đối với HS học văn Thực trạng ấy làm cho tôi trăn trở, suy nghĩ mong muốn nâng cao chất lượng dạy và học văn nói

Trang 2

chung, rèn luyện kĩ năng tạo lập đoạn văn nói riêng cho các em Vì vậy, tôi đã

chọn đề tài “Hướng dẫn viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 8”

3 Phạm vi và thời gian thực hiện:

- Phạm vi:

Đề tài: “ Hướng dẫn viết đoạn văn nghị luận cho HS lớp 8” được thực hiện ở

lớp 8A, 8B, 8D tôi đang trực tiếp giảng dạy

- Thời gian: Bắt đầu từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 5/2021

III QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN

1 Khảo sát thực tế:

Thực tế giảng dạy, Tập làm văn bao giờ cũng được coi là một phân môn 3k (có nghĩa là : khô (khô khan), khó (khó dạy) và khổ (khổ công, khổ cực…) và trong các kiểu bài Tập làm văn ở THCS thì có một kiểu bài là rất khó đối với học sinh: đó là nghị luận.Tôi nhận thấy các em học phân môn Tập làm văn còn rất hạn chế đặc biệt là cách dựng đoạn văn của học sinh còn rất lúng túng

Thường thì thời lượng quá ngắn mà kiến thức nhiều, nên học sinh không thể tìm hiểu kĩ các đoạn văn mẫu Phần lớn học sinh hiểu sơ sài về mặt lí thuyết, vì thế xác định đề bài, chủ đề và bố cục đoạn văn càng bối rối: việc rèn kĩ năng viết được tiến hành trong các tiết phân tích đề, dàn ý và dựng đoạn, liên kết đoạn từ thấp đến cao, từ một tiêu đề, một ý, một đoạn văn đến nhiều đoạn, cuối cùng là một văn bản hoàn chỉnh Khi viết còn chưa đọc kĩ đề bài nên hay bị sai lệch Việc phân phối thời gian, số lượng câu cho các đoạn, các ý lớn, ý nhỏ chưa rõ ràng, cụ thể Cho nên, có nhiều trường hợp viết thừa hoặc thiếu chưa xác định cụ thể đề tài, chủ đề của đoạn văn Quá trình lập luận, trình bày chưa chặt chẽ, lô gíc và sinh động Chưa biết vận dụng nhiều phương pháp liên kết trong một đoạn văn hoặc nhiều đoạn văn Vì thế các đoạn văn thường hay đơn thuần, nhàm chán

Trên đây là tình trạng viết văn đoạn văn của học sinh và nó cũng có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động Cho nên chúng ta càng quan tâm nhiều hơn nữa trong việc dạy một tiết Tập làm văn, đặc biệt là dạy viét một đoạn văn trong văn nghị luận đới với HS lớp 8

Khi được phân công dạy chương trình Ngữ văn lớp 8, tôi đã đưa ra một bài tập viết đoạn văn để kiểm tra kiến thức về đoạn văn của học sinh

Kết quả tiến hành khảo sát như sau:

Đề bài: Dựa vào văn bản “Tôi đi học” của Thanh Tịnh, hãy viết một đoạn văn

khoảng 8-10 câu, nêu cảm nhận của em về nhân vật “ tôi” trong ngày đầu đến trường ( Gacgh chân dưới câu văn mang nội dung chính của đoạn)

Sau khi chấm bài, kết quả tôi tổng hợp được như sau:

Lớp Tổng số HS

Kết quả Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu

Trang 3

Từ kết quả trên đã phản ánh: Khả năng hiểu biết về đoạn văn của HS còn rất

hạn chế

Tôi thấy các em nắm được kiến thức cơ bản nhất về đoạn văn đã học ở lớp 6,7

là những học sinh đạt danh hiệu học sinh khá, giỏi Những học sinh có lực học trung bình, yếu thì hầu như không đáp ứng được yêu cầu về một đoạn văn: Chưa biết trình bày một đoạn văn, diễn đạt chưa thoát ý, đoạn văn nghị luận nhưng chưa có câu chủ đề

Với những số liệu cụ thể trên, tôi nhận thấy cần phải tìm ra những biện pháp phù hợp để học sinh thành thạo kĩ năng này Bởi chỉ khi có kĩ năng xây dựng đoạn văn tốt các em mới có thể chủ động xây dựng được một văn bản hoàn chỉnh, hay, hấp dẫn người đọc người nghe Điều đó làm tôi rất trăn trở, suy nghĩ Chính vì thế, tôi quyết định nghiên cứu và thực hiện đề tài này trong năm học

2020-2021

2 NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN (NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI) 2.1.YÊU CẦU HỌC SINH NẮM CHẮC LÝ THUYẾT VỀ ĐOẠN VĂN:

a Khái niệm:

- Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành

- Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc được lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ, các

từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đúng ở đầu hoặc cuối đoạn văn Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ đề

của đoạn (SGK Ngữ văn 8 tập I, trang 36)

Để viết được đoạn văn theo cấu trúc diễn dịch, quy nạp, Tổng- phân- hợp thì việc viết được câu chủ đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng (đây cũng là các kiểu đoạn văn thường gặp khi các em thi vào lớp 10) Do đó, tôi sơ đồ hóa các yêu cầu cần đảm bảo của câu chủ đề để học sinh dễ hình dung hơn

Trang 4

Bên cạnh câu chủ đề đoạn văn còn có từ ngữ chủ đề tôi hướng dẫn học sinh nắm được đặc điểm của từ ngữ chủ đề

Từ ngữ chủ đề : Là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc những từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần (thường là các chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt trong đoạn văn

*Ví dụ: Trần Đăng Khoa rất biết yêu thương Em thương bác đẩy xe bò “mồ

hôi ướt lưng, căng sợi dây thừng” chở vôi cát về làng và mời bác về nhà mình

Em thương thầy giáo một hôm trời mưa đường trơn bị ngã, cho nên dân làng

bèn đắp lại đường

Hướng dẫn: từ ngữ chủ đề: Trần Đăng Khoa - em - em -> duy trì đối tượng nói đến là Trần Đăng Khoa

b Các cách trình bày nội dung trong đoạn văn

b.1.Đoạn văn diễn dịch: là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể Câu chủ

đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai những nội dung chi tiết cụ thể ý tưởng của chủ đề đó Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm những nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết

Sơ đồ:

(Câu 2) (Câu 3) (Câu 4) …

Ví dụ: Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày

trước (1) Từ các cụ già già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những

Câu 1- câu chủ đề

Câu chủ đề của đoạn văn

Thể hiện được nội

dung chính của cả

đoạn

Thường đứng ở

vị trí đầu đoạn hoặc cuối đoạn

Thường ngắn, gọn và có

đủ chủ ngữ, vị ngữ

Tác dụng của câu chủ đề -Giúp người viết tập trung ý, tránh lan man

Trang 5

kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc (2)

Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình (3).Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến, cho đến những đồng bào điền chủ quyên đất ruộng cho chính phủ, (4) Những cử chỉ cao quý đó,tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước (5)

(Hố Chí Minh- Tinh thần yêu nước của nhân dân ta)

Trong bài này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nhận biết

+ Câu mang tính luận điểm : Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với

tổ tiên ta ngày trước (câu 1)

+Cách trình bày: Đoạn văn được trình bày theo cách diễn dịch Câu chủ đề

đứng ở đầu đoạn, đầu mang ý nghĩa khái quát, các câu sau triển khai làm làm rõ

ý cho câu mở đầu

b.2 Đoạn văn qui nạp: là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch - đi từ các ý

chi tiết, cụ thể đến ý khái quát Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn Các câu trên được trình bày bằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá chung Sơ đồ:

(1) (2) (3)

Ví du: Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: ở vào nơi trung tâm

trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi (1) Đă đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nh́n sông dựa núi (2) Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng (3) Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong

phú tốt tươi (4) Xem khắp đất Việt ta chỉ có nơi này là thắng địa (5) Thật là chốn tụ hội của bốn phương đất nước; cũng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời (6) ( Lí Công Uẩn- Chiếu dời đô)

+ Câu mang tính luận điểm: Thật là chốn tụ hội của bốn phương đất nước; cũng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời

+Cách trình bày: Đoạn văn trình bày theo cách quy nạp ( Câu chốt đứng ở cuối đoạn)

b.3 Đoạn văn Tổng- phân- hợp: là sự kết hợp cách diễn dịch với quy nạp Câu

mở đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng Những câu khai triển được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình

Câu cuối đoạn- câu

chủ đề

Trang 6

luận, nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp lại, khẳng định thêm giá trị của vấn đề

Sơ đồ:

Ví dụ: Trong hoàn cảnh "trăm dâu đổ đầu tằm, ta càng thấy chị Dậu là một người phụ nữ đảm đang tháo vát (1) Một mình chị phải giải quyết mọi

khó khăn đột xuất của gia đình, phải đương đầu với những thế lực tàn bạo : quan lại, cường hào, địa chủ và tay sai của chúng (2) Chị có khóc lóc, có kêu trời nhưng chị không nhắm mắt khoanh tay mà tích cực tìm cách cứu được

chồng ra khỏi cơn hoạn nạn (3) Hình ảnh chị Dậu hiện lên vững chắc như

một chỗ dựa chắc chắn của cả gia đình (4) ( Nguyễn Đăng Mạnh)

Đoạn văn trên có câu chủ đề ở đầu và cuối đoạn văn đó là đoạn văn Tổng- Phân- hợp (dạng một bài văn thu nhỏ)

Trên đây là ba cách trình bày đoạn văn quan trọng nhất khi tạo lập văn bản Bên cạnh đó tôi cũng giới thiệu cho học sinh 2 cách trình bày đoạn văn khác

( Song hành, móc xích: ít dùng)

b.4 Đoạn văn móc xích : Trình bày theo kiểu sắp xếp ý nọ tiếp ý kia theo lối ý

sau móc vào ý trước để bổ sung giải thích cho ý trước

b.5.Đoạn văn song hành: Trình bày theo kiểu sắp xếp các ý ngang nhau, không

có hiện tượng ý này bao quát ý kia hoặc ý này móc vào ý kia

Đó là những kiến thức cơ bản đối với học sinh đã học lớp 8 Tôi đã củng cố

ngay cho học sinh sau khi các em học qua các buổi dạy thêm

2.2 HƯỚNG DẪN HS CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN

Để viết đoạn văn thành công, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tỉ mỉ theo từng bước, kiên trì rèn luyện trong từng bài thì mới đem lại kết quả tốt Học sinh khi làm bài thường có tâm lí đọc đề là làm luôn mà bỏ qua các bước quan trọng dẫn đến đoạn văn viết khi thì thiếu ý, khi thì không đảm bảo cấu trúc Chính vì vậy, chúng ta cần hướng dẫn học sinh tuân thủ các bước xây dựng một đoạn văn hoàn chỉnh:

Câu 1- câu chủ đề

Câu chủ đề- câu chốt

Trang 7

Bước 1: Đọc kĩ đề xác định yêu cầu của đề:

Căn cứ vào yêu cầu của đề bài, xác định rõ nội dung cần trình bày trong đoạn

là gì? (Nội dung đó sẽ được “gói” trong câu chủ đề Và cũng là định hướng để viết các câu còn lại) Nội dung đó được trình bày theo cách nào, có yêu cầu nào khác về hình thức, yếu tố tiếng Việt

Ví dụ 1: Viết một đoạn văn ngắn khoảng 12-13 câu đoạn văn được trình bày

theo cách tổng- phân- hợp để nêu lên suy nghĩ của em về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu Trong đoạn văn có sử dụng câu ghép- gạch chân dưới câu ghép đó

* Yêu cầu của đề:

- Nội dung: nêu lên suy nghĩ của em về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu

- Hình thức: đoạn văn ngắn khoảng 10-12 câu, trình bày theo cấu trúc tổng-phân- hợp

- Yêu cầu tiếng việt: Câu ghép

Ví dụ2 : Viết đoạn văn diễn dịch khoảng 12 câu làm rõ câu chủ đề sau:

“Đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng là bài ca về tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt” Trong đoạn văn có sử dụng câu phủ định- gạch chân dưới câu phủ định đó

- Nội dung: Cảm nhận được “Đoạn trích Trong lòng mẹ- Nguyên Hồng là bài ca

về tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt”

- Hình thức: đoạn văn ngắn khoảng 12 câu, trình bày theo cấu trúc diễn dịch

- Yêu cầu tiếng Việt: Câu phủ định

Bước 2: Xác định câu chủ đề, từ ngữ chủ đề cho đoạn văn

Câu chủ đề là câu nêu ý của cả đoạn văn, vì vậy đó là câu đặc biệt quan trọng Khi viết đoạn cần chú ý đọc kĩ đề, xác định yêu cầu của đề, từ đó xác định câu chủ đề

Có những đề không cho sẵn câu chủ đề, có đề cho sẵn câu chủ đề, có những đề yêu cầu sửa một câu có lỗi thành câu đúng và dùng câu đó làm câu chủ đề, có đề lại có phần dẫn ý, dựa vào đó ta có thể xác định được câu chủ đề Với những bài yêu cầu viết đoạn văn chưa có câu chủ đề cần viết câu chủ đề đảm bảo các yêu cầu đã trình bày ở trên

Đối với các đoạn văn không có câu chủ đề cần có từ ngữ chủ đề

Đề ở ví dụ 1 trên là đề không cho câu chủ đề Để viết được câu chủ đề, ta phải

nắm vững nội dung của yêu cầu, từ đó xác định câu chủ đề

Dựa vào lời dẫn ta có thể viết câu chủ đề: “Bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu thể hiện lòng yêu cuộc sống và niềm khao khát tự do mãnh liệt ”

Đề ở ví dụ 2 trên là đề cho sẵn câu chủ đề: “Đoạn trích Trong lòng mẹ- Nguyên Hồng là bài ca về tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt”

Ví dụ 3: Viết đoạn văn phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng ham mê điện

tử trong học sinh hiện nay

Với đề bài này đoạn văn sẽ không có câu chủ đề do đó cần phải xác định từ ngữ nhằm duy trì đối tượng đó là từ ngữ chủ đề Từ ngữ chủ đề ở đây chính là từ

“nguyên nhân”

Trang 8

Viết được câu chủ đề, xác định được từ ngữ chủ đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng mang tính định hướng về nội dung trong toàn đoạn văn Nếu viết câu chủ

đề, từ ngữ chủ đề không chính xác cả đoạn văn coi như mất phương hướng dẫn tới tình trạng lạc để Điều này, chúng ta thường thấy khi học sinh viết văn Chính vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể để học sinh viết được câu chủ đề (đối với những đoạn văn chưa có câu chủ đề), xác định được từ ngữ chủ

đề

Bước 3: Tìm ý cho đoạn:

Khi đã xác định được câu chủ đề của đoạn văn, cần vận dụng các kiến thức đã học có liên quan để phát triển chủ đề đó thành các ý cụ thể, chi tiết Nếu bỏ qua

thao tác này, đoạn văn dễ rơi vào tình trạng lủng củng, quẩn ý

Ví dụ : Để tìm ý cho đoạn văn cảm nhận “Đoạn trích Trong lòng mẹ- Nguyên Hồng là bài ca về tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt” người giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh đặt các câu hỏi xoay quanh câu chủ đề Tình mẫu tử thể hiện giữa các nhân vật nào trong tác phẩm? Biểu hiện ở những khía cạnh nào? Vì sao

có thể nói đó là bài ca về tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt?

Khi trả lời được các câu hỏi đó học sinh đã có đầy đủ ý để viết thành đoạn văn: -Đó là tình cảm sâu sắc giữa chú bé Hồng và người mẹ của mình

-Phải sống xa mẹ trong sự ghẻ lạnh của người cô- người luôn tìm cách gièm pha, nói xấu mẹ chú để chú khinh miệt và ruồng rẫy mẹ nhưng Hồng vẫn dành tình yêu thương thiết tha mãnh liệt cho mẹ

-Vì thương mẹ, bé Hồng đã căm tức đến tột cùng những hủ tục đã đày đọa mẹ

- Khi gặp lại mẹ và được ở trong lòng mẹ, chú bé Hồng sung sướng đến cực điểm Chú không mảy may nghĩ ngợi gì, không nhớ mẹ chú đã hỏi gì, cả những lời cay độc của bà cô cũng bị chìm đi trong dòng cảm xúc mơn man ấy

Ví dụ 2: Tìm ý cho đoạn văn phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng ham

mê điện tử trong học sinh hiện nay

Học sinh phải huy động kiến thức thực tế để chỉ ra những nguyên nhân Điều này có vẻ dễ dàng hơn với các học sinh từng chơi điện tử và khó khăn đối với các bạn chưa chơi bao giờ Do đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh chỉ ra những nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp của vấn đề này Định hướng như vậy học sinh có thể dễ dàng hơn trong việc tìm hiểu nguyên nhân Và các em khi phân tích nguyên nhân của các hiện tượng khác cũng sẽ đặt ra những yêu cầu tương tự

-Nguyên nhân khách quan:

+Trò chơi điện tử rất đa dạng, luôn được cập nhật mới mẻ, thu hút người chơi bởi hình ảnh âm thanh, sự cuốn hút bởi cách lập trình trò chơi từ dễ đến khó phù hợp với đối tượng ở nhiều thời điểm tiếp xúc với trò chơi

+Các cửa hàng điện tử mọc lên như nấm, thường ở các trường học, khu dân cư +Không gian chơi của các thanh thiếu niên ngày càng bị thu hẹp

+Phương pháp dạy của giáo viên không thu hút học sinh, các sân chơi lôi cuốn hấp dẫn học sinh còn hạn chế

+Một số gia đình con thiếu quan tâm đến con cái hoặc phương pháp giáo dục chưa phù hợp

Trang 9

+Chế tài pháp lí chưa đủ sức răn đe

-Nguyên nhân chủ quan:

+Trò chơi điện tử phù hợp với tâm lý lứa tuổi: tò mò, thích khám phá, thích khẳng định, ưa mạo hiểm

+Không làm chủ được bản thân

+Chán học

Đối với hiện tượng đề bài nêu trên, đó là hiện tượng khá phổ biến Bản thân trò chơi điện tử không xấu bởi nó là sản phẩm của trí tuệ, của khoa học công nghệ Nhưng đi kèm với nó là những tác hại vô cùng to lớn nếu chúng ta không kiểm soát được thời gian chơi của mình

Sau khi tìm được ý cần sắp xếp các ý đó theo trình tự nhất định đảm bảo làm

rõ vấn đề nghị luận

Bước 4: Viết các ý thành đoạn văn:

Trên cơ sở các ý vừa tìm, viết thành đoạn văn Căn cứ vào yêu cầu về kiểu diễn đạt để xác định vị trí câu chủ đề và cách lập luận trong đoạn văn Ngoài ra còn đảm bảo các yêu cầu về ngữ pháp (nếu có) Khi viết đánh số thứ tự cho mỗi câu văn để định hướng được số câu đề giới hạn (Cho phép xê dịch trong khoảng

± 2 câu) Vận dụng đa dạng các kiểu câu khi viết đoạn văn để đoạn văn sinh động, hấp dẫn Trong khi viết cần đưa các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm là những kiến thức mới học vận dụng vào đoạn văn nhất là phương thức biểu cảm Bởi văn nghị luận thuyết phục người đọc không chỉ ở lý trí, mà còn phải tác động vào tình cảm, cảm xúc

Ví dụ : Đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng là bài ca về tình mẫu

tử thiêng liêng bất diệt(1) Chú bé Hồng- nhân vật chính trong tác phẩm- phải

chịu nỗi đau mất cha, mẹ chú bất đắc dĩ phải đi tha hương cầu thực(2) Tưởng rằng sống cùng người cô chú sẽ nhận được sự chăm sóc chu đáo(3) Thế nhưng chú phải sống trong sự ghẻ lạnh của người cô- người luôn tìm cách gièm pha, nói xấu mẹ chú để chú khinh miệt và ruồng rẫy mẹ nhưng Hồng vẫn dành tình yêu thương thiết tha mãnh liệt cho mẹ(4) Tình cảm ấy tự nhiên, chân thành không cần sự nuôi dưỡng về vật chất(5) Trong cuộc đối thoại với người cô mỗi lời nói, điệu cười “rất kịch” của cô xoáy vào tâm can của Hồng(6) Chú đã khóc thương mẹ, đau đớn khi biết mẹ phải chịu quá nhiều bất hạnh(7) Vì thương mẹ,

bé Hồng đã căm tức đến tột cùng những hủ tục đã đày đọa mẹ “ Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”(8) Khi gặp lại mẹ và được ở trong lòng mẹ, trong tình yêu thương tha thiết ngọt ngào, chú thấy mẹ vẫn đẹp như thủa còn sung túc(9) Mọi giác quan như căng mở để tận hưởng niềm hạnh phúc, cảm nhận thấm thía tình mẹ vừa gần gũi, vừa lạ lùng, vừa giản dị thiêng liêng(10) Chú bé Hồng sung sướng đến cực điểm(11) Chú không mảy may nghĩ ngợi gì, không nhớ mẹ chú đã hỏi gì, cả những lời cay độc của bà cô cũng bị chìm đi trong dòng cảm xúc mơn man ấy(12) (Bài viết của học sinh)

Trang 10

Với đề trên cần đặt câu chủ đề ở đầu đoạn văn, sắp xếp các ý viết thành đoạn văn đủ số câu, đánh thứ tự các câu trong đoạn, trình bày thành đoạn văn đảm bảo sự liên kết cả nội dung lẫn hình thức

Trong đoạn trên câu 1 là câu mở đoạn, nêu ý chủ đề của cả đoạn văn Các câu còn lại( từ câu 2 đến câu 10), nêu các ý cụ thể cảm nhận về tình mẫu tử Câu 4

sử dụng câu ghép,trong đoạn văn có kết hợp yếu tố miêu tả, biểu cảm

Ví dụ 2: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ham mê trò chơi điện

tử(1) Một trong những nguyên nhân hàng đầu do trò chơi điện tử rất đa dạng, luôn được cập nhật mới mẻ, thu hút người chơi bởi hình ảnh được đồ họa rất sinh động bắt mắt, âm thanh sôi động, sự cuốn hút bởi cách lập trình trò chơi từ

dễ đến khó phù hợp với đối tượng ở nhiều thời điểm tiếp xúc với trò chơi(2) Giá thành để có thể thỏa sức khám phá trong vòng một tiếng đồng hồ chỉ có 3000đ, những khách hàng quen thuộc còn được chủ quán giảm giá(3) Nắm bắt được thị hiếu của các “thượng đế trẻ tuổi” do đó các quán hàng điện tử mọc lên như nấm sau mưa bủa vây trường học(4) Bên cạnh những nguyên nhân đó ta cũng phải kể đến những nguyên nhân khác nữa như: do bạn bẻ rủ rê lôi kéo; do không gian chơi của các thanh thiếu niên ngày càng bị thu hẹp; phương pháp dạy của giáo viên không thu hút học sinh, các sân chơi lôi cuốn hấp dẫn học sinh còn hạn chế; một số gia đình con thiếu quan tâm đến con cái hoặc phương pháp giáo dục chưa phù hợp; chế tài pháp lí chưa đủ sức dăn đe(5) Tất cả các nguyên nhân trên đều quan trọng nhưng có lẽ nguyên nhân quan trọng nhất đó là do bản thân người chơi không làm chủ được mình bị trò chơi lôi cuốn, do nó phù hợp với tâm lý lứa tuổi: tò mò, thích khám phá, thích khẳng định, ưa mạo hiểm(6) Nếu chúng ta có bản lĩnh dù do nguyên nhân gì đi nữa cũng không thể biến ta thành “nô lệ” của nó(7) Ban đầu là chơi thử nhưng rồi ham và thành nghiện lúc nào không hay dẫn đến việc chốn học để chơi cho thỏa thích xảy ra trong nhiều trường học trên cả nước (8) (Bài viết của học sinh)

Bước 5: Đọc lại và sửa chữa.:

- Viết xong, người viết cần đọc kiểm tra lại xem đoạn văn đã đáp ứng được những yêu cầu của bài tập về nội dung và hình thức, yếu tố tiếng việt đã gạch chân theo yêu cầu chưa nếu thấy chỗ nào chưa ổn cần chỉnh sửa lại

Các bước trên là những thao tác cần có để viết được một đoạn văn hoàn chỉnh

cả nội dung lẫn hình thức, đáp ứng yêu cầu của đề Bên cạnh kết hợp nhiều thao tác lập luận, đoạn văn nghị luận cần kết hợp các phương thức biểu đạt như biểu cảmtự sự, miêu tả mà các em đã được học Tuy nhiên không phải học sinh nào cũng thực hiện đủ các thao tác trên khi làm bài Điều này giáo viên phải thường xuyên nhắc nhở để tạo thành thói quen cho học sinh Đặc biệt để hình thành kĩ năng cho học sinh một cách thành thạo cần tăng cường rèn luyện qua việc thực hành viết đoạn văn cho các em một cách có hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

2.3.LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VÀ CÁCH CHUYỂN ĐỔI ĐOẠN VĂN

Bài tập ( Đề thi giữa kì II ( Đề số 2)- Ngữ văn 8- Năm học: 2020-2021)

Ngày đăng: 10/04/2023, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w