1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập nhóm môn tư pháp quốc tế đề số 02 bình luận các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong pháp luật việt nam

16 80 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình luận các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong pháp luật Việt Nam
Tác giả Trịnh Thu Phương, Nguyễn Thị Ngọc Bảo, Bùi Hà Minh Châu, Nguyễn Mai Chi, Trương Quế Chi, Phạm Ngọc Diệp, Hoàng Trường Giang, Nguyễn Bảo Giang, Phạm Hương Giang
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Tư Pháp Quốc Tế
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 877,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ ĐỀ SỐ 02 Bình luận các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong pháp luật Việt Nam Nhóm 02 Lớp N08 TL1 Khoá 46 Hà Nội 2022 BIÊN[.]

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM MÔN: TƯ PHÁP QUỐC TẾ

ĐỀ SỐ 02:

Bình luận các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong

pháp luật Việt Nam

Hà Nội - 2022

Trang 2

BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM

1 453213 Trịnh Thu Phương Thành viên A

2 462310 Nguyễn Thị Ngọc Bảo Thành viên A

3 462311 Bùi Hà Minh Châu Thành viên A

4 462312 Nguyễn Mai Chi Nhóm trưởng A

5 462313 Trương Quế Chi Thành viên A

6 462315 Phạm Ngọc Diệp Thành viên A

7 462317 Hoàng Trường Giang Thành viên A

8 462318 Nguyễn Bảo Giang Thành viên A

9 462319 Phạm Hương Giang Thành viên

A

Kết quả điểm bài viết:……

Kết quả điểm thuyết trình:………

Tổng điểm:………

Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2022

NHÓM TRƯỞNG

Trang 3

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 1

I Một số khái niệm và nguyên tắc cơ bản liên quan đến quốc tịch của pháp nhân 1

1 Khái niệm 1

1.1 Pháp nhân 1

1.2 Quốc tịch của pháp nhân 2

2 Nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân 2

2.1 Dựa trên nơi thành lập pháp nhân 2

2.2 Dựa trên nơi pháp nhân đặt trụ sở 2

2.3 Dựa trên nơi tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của pháp nhân 2

II Phân tích và bình luận về các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong pháp luật Việt Nam 3

1 Ưu điểm của các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong pháp luật Việt Nam hiện hành 4

2 Hạn chế của các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong pháp luật Việt Nam hiện hành 7

III Kiến nghị hoàn thiện các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong pháp luật Việt Nam 9

C KẾT LUẬN 10

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

E PHỤ LỤC 12

Trang 4

A MỞ ĐẦU

Tư pháp quốc tế là một ngành luật vô cùng quan trọng để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Tư pháp quốc tế chứa đựng nhiều chủ thể, mỗi chủ thể lại có một đặc điểm khác nhau Trong đó, đặc điểm của pháp nhân, cụ thể là quốc tịch của pháp nhân là một vấn đề rất phức tạp trong quan hệ tư pháp quốc tế Với mong muốn được tìm hiểu kĩ khía cạnh này,

nhóm quyết định khai thác đề tài: “Bình luận các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong pháp luật Việt Nam”.

I Một số khái niệm và nguyên tắc cơ bản liên quan đến quốc tịch của pháp nhân

1 Khái niệm

Các hệ thống pháp luật trên thế giới đều ghi nhận sự tồn tại hợp pháp của các tổ chức dưới khái niệm pháp nhân Hiện nay, pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể về khái niệm pháp nhân, tuy nhiên qua các điều kiện

để trở thành pháp nhân quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 20151, có thể hiểu khái niệm cơ bản của pháp nhân như sau: Pháp nhân là một tổ chức của con người (một chủ thể pháp luật) do nhà nước thành lập hoặc thừa nhận theo quy định của pháp luật một quốc gia nhất định, nhằm thực hiện những chức năng hoặc mục đích nhất định Pháp nhân và có tư cách pháp lý độc lập, có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội,… theo quy định của pháp luật

1 Điều 74 Pháp nhân

1 Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;

b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

2 Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Trang 5

1.2 Quốc tịch của pháp nhân

Quốc tịch của pháp nhân là tình trạng pháp lý của một pháp nhân Pháp nhân hợp pháp khi nó được thành lập và hoạt động phù hợp với pháp luật của nước mà nó mang quốc tịch Quốc tịch của pháp nhân còn được hiểu là mối liên hệ pháp lí lâu dài, vững chắc giữa pháp nhân với một quốc gia nhất định

đã thành lập ra pháp nhân đó

2 Nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân

Để xác định quốc tịch của pháp nhân, các tiêu chí chính được áp dụng thông thường bao gồm: nơi đặt trụ sở của pháp nhân; trung tâm các hoạt động của pháp nhân; pháp luật nước mà pháp nhân được thành lập; trường hợp đặc biệt sẽ căn cứ vào quốc tịch của người thực sự làm chủ hay lãnh đạo pháp nhân đó Cụ thể như sau:

2.1 Dựa trên nơi thành lập pháp nhân

Đây được xem là tiêu chí phổ biến nhất được hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới áp dụng để xác định quốc tịch của pháp nhân Dựa trên tiêu chí này, pháp nhân thành lập tại quốc gia nào thì pháp nhân sẽ mang quốc tịch của quốc gia đó Cách xác định trên tương đối dễ dàng và có tính ổn định cao, nhưng đồng thời cũng có thể dẫn đến tình trạng lẩn tránh pháp luật trong quá trình điều chỉnh hoạt động của pháp nhân, do người thành lập ra pháp nhân có thể tính toán lựa chọn quốc tịch bằng cách lựa chọn nơi thành lập cho pháp nhân đó

2.2 Dựa trên nơi pháp nhân đặt trụ sở

Với tiêu chí trên, pháp nhân đặt trụ sở tại quốc gia nào thì sẽ mang quốc tịch của quốc gia đó Việc xác định theo tiêu chí này không có tính ổn định cao và có thể xảy ra trường hợp nơi đặt trụ sở thực tế khác với trụ sở trong điều lệ của pháp nhân Tuy nhiên, ưu điểm của cách xác định này sẽ giúp tránh sự lạm dụng việc tính toán, lựa chọn quốc tịch cho pháp nhân

2.3 Dựa trên nơi tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của pháp

nhân

Trang 6

Theo tiêu chí này, quốc tịch của pháp nhân là quốc gia nơi pháp nhân tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh Tiêu chí này sẽ hạn chế tối đa việc lẩn tránh pháp luật trong việc điều chỉnh hoạt động của pháp nhân Nhưng các hoạt động sản xuất, kinh doanh của pháp nhân có thể tiến hành trên lãnh thổ nhiều quốc gia khác nhau, vì vậy tiêu chí này cũng dễ thay đổi

và gây khó khăn trong việc xác định quốc tịch của pháp nhân hơn

Như vậy, mỗi quốc gia sẽ có nguyên tắc xác định quốc tịch pháp nhân riêng của mình và các quốc gia khác có nghĩa vụ phải thừa nhận năng lực chủ thể của pháp nhân đã được xác lập theo pháp luật mà pháp nhân mang quốc tịch Theo xu hướng của các quốc gia Châu Âu lục địa thì quốc tịch của pháp nhân sẽ được xác định dựa trên việc đặt trung tâm quản lý của pháp nhân Mặt khác, với các quốc gia theo hệ thống luật Anh – Mỹ thì lại căn cứ vào nơi thành lập hoặc đăng ký điều lệ của pháp nhân

Theo pháp luật Việt Nam, nguyên tắc xác định quốc tịch pháp nhân được quy định tại hai văn bản pháp luật là Luật Doanh nghiệp 2020 và Bộ luật Dân sự 2015, dựa trên tiêu chí nơi thành lập pháp nhân Theo đó, quốc tịch của pháp nhân sẽ được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập Trong trường hợp pháp nhân được thành lập tại Việt Nam hoặc thành lập tại quốc gia khác và lựa chọn pháp luật áp dụng để thành lập (nếu quốc gia sở tại không cấm) thì đều mang quốc tịch Việt Nam Khi mang quốc tịch Việt Nam, pháp nhân sẽ có các quyền, nghĩa vụ pháp luật tương ứng theo quy định tại các văn bản pháp luật điều chỉnh

Xác định quốc tịch của pháp nhân có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định các quyền, nghĩa vụ của pháp nhân, thẩm quyền của cơ quan tài phán trong việc giải quyết các tranh chấp giữa pháp nhân và chủ thể khác Đồng thời giúp quốc gia sở tại kiểm soát hoạt động của pháp nhân, góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia và lợi ích kinh tế - xã hội của chính quốc gia đó

II Phân tích và bình luận về các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong pháp luật Việt Nam

Trang 7

1 Ưu điểm của các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong pháp luật Việt Nam hiện hành

Thứ nhất, Điều 80 Bộ luật Dân sự 2015 là một điểm mới so với Bộ luật dân sự 1995 và 2005, trong đó ghi nhận mối liên hệ pháp lý đặc biệt và vững chắc giữa Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các pháp nhân

có quốc tịch Việt Nam Đây là lần đầu tiên mối quan hệ đặc biệt này được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam Cụ thể, Điều 80 Bộ luật Dân sự 2015 nêu rõ:

“Pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam” Quy định này chứa đựng một quy phạm tư pháp quốc tế trong nước và

là một quy phạm xung đột một chiều Theo đó, khi mang quốc tịch Việt Nam, pháp nhân sẽ có các quyền và nghĩa vụ tương ứng theo quy định tại các văn bản pháp luật chuyên ngành thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam

Hệ thuộc luật quốc tịch là một trong những hệ thuộc luật cơ bản của tư pháp quốc tế, thường được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến việc thành lập, giải thể, nguyên tắc tổ chức hoạt động của pháp nhân… Chính

vì vậy, theo Điều 80 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân có quốc tịch Việt Nam hoạt động ở nước ngoài sẽ được nhà nước bảo hộ thông qua con đường ngoại giao, đồng thời việc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt pháp nhân và thanh lý tài sản trong các trường hợp này sẽ được tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam

Thứ hai, việc công nhận địa vị pháp lý của pháp nhân theo quy định tại Điều 80 Bộ luật Dân sự 2015 còn góp phần thúc đẩy giao lưu thương mại giữa Việt Nam và nước ngoài Pháp nhân Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài sẽ được nhà nước Việt Nam đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp Nhờ đó, các pháp nhân Việt Nam sẽ an tâm và

có nhiều điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình hợp tác, kinh doanh với pháp nhân nước ngoài Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển mối quan hệ giao thương giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, đặc biệt là trong thời đại hội nhập kinh tế hiện nay Không những vậy, sử dụng hệ thuộc

Trang 8

luật quốc tịch của pháp nhân, không phụ thuộc vào nơi đặt trụ sở chính hay nơi kinh doanh chính của pháp nhân đó còn tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty xuyên quốc gia mở rộng thị trường tại Việt Nam

Thứ ba, quy định mới về nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân trong Bộ luật Dân sự 2015 đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam So với Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung thêm khoản 1 Điều 676, quy định nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân Theo đó,

“quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập” Đây là điểm tiến bộ, giúp khắc phục thiếu sót của Bộ luật

dân sự 2005 và cũng là lần đầu tiên pháp luật Việt Nam trực tiếp ghi nhận căn

cứ để xác định quốc tịch của pháp nhân là pháp luật ở nơi thành lập pháp nhân Theo tiêu chí này, pháp nhân thành lập ở đâu thì pháp luật nước đó sẽ là căn cứ để xác định quốc tịch của pháp nhân

Trước đây, vấn đề quốc tịch của pháp nhân là một yếu tố lý lịch quan trọng nhưng chưa có quy định pháp luật cụ thể nên việc bổ sung quy định mới giúp hệ thống pháp luật đầy đủ hơn Hơn nữa, Bộ luật Dân sự 2005 tồn tại quy định liên quan đến pháp nhân nước ngoài nhưng phần quy định về pháp nhân lại không có điều luật lý giải thế nào là “pháp nhân nước ngoài” Trong thực tế, quốc tịch của pháp nhân được xác định theo khoản 4 và khoản 5 Điều

3 Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài2 Theo đó, cơ quan, tổ chức pháp nhân nước ngoài là đối tượng được thành lập theo pháp luật nước ngoài Tuy nhiên, những quy định trong nghị định này chưa cụ thể mà chỉ mang tính khái quát Thêm vào đó, mặc dù

Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005 đều không có quy định về nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân nói chung nhưng một số luật chuyên ngành lúc

đó lại có các quy định về quốc tịch của một số loại pháp nhân nhất định Ví

dụ, khoản 9 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Doanh nghiệp Việt

2 Lý Vân Anh, Một số đánh giá về những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 về quan hệ dân sự có yếu tố

nước ngoài, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 91/2017.

Trang 9

Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam” Vì vậy, việc bổ sung quy định về

quốc tịch của pháp nhân Việt Nam và pháp nhân nước ngoài trong Bộ luật Dân sự 2015 không những hoàn thiện, khắc phục thiếu sót của Bộ luật dân sự

2005 mà còn giúp cho các điều luật trong Bộ luật dân sự thống nhất với nhau

và tạo nên sự tương đồng, đồng bộ giữa các luật

Thứ tư, việc quy định về quốc tịch pháp nhân trong Bộ luật Dân sự

2015 giúp các cơ quan có thẩm quyền xác định rõ ràng pháp luật được lựa chọn để điều chỉnh hoạt động của pháp nhân và lựa chọn hệ thống pháp luật nào để giải quyết tranh chấp giữa các pháp nhân có quốc tịch khác nhau Theo quy định tại Điều 80 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam Như vậy, nếu pháp nhân thành lập tại quốc gia khác nhưng theo quy định của pháp luật ở nước sở tại, pháp nhân có quyền lựa chọn áp dụng pháp luật Việt Nam để thành lập thì pháp nhân đó vẫn mang quốc tịch Việt Nam Trong trường hợp này, hoạt động của pháp nhân vẫn chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam Ngoài ra, Điều 676

Bộ luật Dân sự 2015 quy định năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân; tên gọi của pháp nhân; đại diện theo pháp luật của pháp nhân; việc tổ chức, tổ chức lại, giải thể pháp nhân; quan hệ giữa pháp nhân với thành viên của pháp nhân, trách nhiệm của pháp nhân và thành viên của pháp nhân đối với các nghĩa vụ của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân

có quốc tịch Như đã phân tích ở trên, hệ thuộc luật quốc tịch là thường được

sử dụng để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến việc thành lập, giải thể, nguyên tắc tổ chức hoạt động của pháp nhân… Nếu không có quy định về nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân tại Điều 80 và Điều 676 Bộ luật Dân sự 2015 thì khi xảy ra những tranh chấp liên quan đến các vấn đề nêu trên giữa các pháp nhân có quốc tịch khác nhau, việc xác định pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp sẽ gặp phải khó khăn và trở ngại

Trang 10

2 Hạn chế của các quy định về quốc tịch của pháp nhân trong pháp luật Việt Nam hiện hành

Cùng với sự phát triển của chính trị xã hội, pháp luật mỗi quốc gia đều

có một chế định riêng trong việc xác định quốc tịch của pháp nhân Theo xu hướng các quốc gia Châu Âu lục địa thì quốc tịch pháp nhân sẽ được xác định dựa trên trung tâm quản lý của pháp nhân; còn với các quốc gia theo hệ thống luật Anh-Mỹ thì lại căn cứ vào nơi thành lập hoặc đăng ký điều lệ pháp nhân

Do quy định pháp luật các nước về nguyên tắc xác định quốc tịch có sự khác nhau nên sẽ tạo ra xung đột pháp luật quốc tịch pháp nhân Thực tế, có nhiều trường hợp, pháp nhân được đặt trụ sở ở nước này nhưng trung tâm hoạt động lại nằm ở nước khác, pháp nhân được thành lập theo luật của nước này nhưng lại hoạt động chính ở nước khác hoặc không có nơi hoạt động cố định, So

sánh với quy định của Việt Nam tại Điều 676 BLDS 2015 “quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập”

ta sẽ nhận thấy rõ một tất yếu xung đột nếu các bên chủ thể tham gia đến từ các quốc gia có nguyên tắc xác định quốc tịch pháp nhân khác nhau Xung đột là hiện tượng đặc thù của Tư pháp quốc tế, vì nó mang yếu tố “nước ngoài”, tức các quan hệ dân sự chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật của hai hay nhiều quốc gia Mặc dù là điều tất yếu, nhưng đã là xung đột thì ít nhiều không tránh khỏi việc ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh thương mại của các chủ thể Khi xảy ra xung đột, thường có hai hướng xử lý: Một là dùng

phương pháp thực chất (thông qua các điều ước quốc tế hoặc tư pháp quốc

tế) Tuy nhiên, hạn chế của quy phạm này ở chỗ không phải quốc gia nào cũng tham gia vào các cam kết quốc tế này ví dụ như Việt Nam mặc dù có quan hệ ngoại giao với hơn 160 quốc gia nhưng mới chỉ ký kết được hơn 80 Hiệp định thương mại với các quốc gia có chứa các quy phạm thực chất thống nhất điều chỉnh quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài, trong đó chưa có

điều nào liên quan đến vấn đề quốc tịch pháp nhân Hai là, dùng phương pháp xung đột, dùng quy phạm xung đột là dựa vào việc lựa chọn hệ thống pháp

Ngày đăng: 10/04/2023, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
2. Đô Văn Đai (Chu biên), Bình luận khoa hoc nhưng điêm mơi cua Bộ luật dân sư năm 2015, Nxb. Hông Đưc, TPHCM, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa hoc nhưng điêm mơi cua Bộ luật dân sư năm 2015
Nhà XB: Nxb. Hông Đưc
3. Nguyễn Minh Tuấn, Bình luận khoa hoc Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Nxb. Tư pháp, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa hoc Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
4. Ngô Hoàng Anh, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 (Thực hiện từ 01/01/2017), Nxb. Lao động. 2016.* Văn bản quy phạm pháp luật 1. Bộ luật Dân sự năm 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 (Thực hiện từ 01/01/2017)
Nhà XB: Nxb. Lao động. 2016.* Văn bản quy phạm pháp luật1. Bộ luật Dân sự năm 1995
1. Lý Vân Anh, Một số đánh giá về những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 91/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đánh giá về những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
6. Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.* Bài viết tạp chí Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w