Giải pháp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngành công nghiệp Dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu ở Việt Nam.Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầuthiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội và đặcbiệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển,góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước Trong quá trình Côngnghiệp hoá- Hiện đại hoá hiện nay, ngành Dệt may đang chứng tỏ là một ngành mũinhọn trong nền kinh tế được thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trongmấy năm gần đây, các thị trường luôn được rộng mở,số lao động trong ngành ngàycàng nhiều và chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành công nghiệp, giá trị đóng góp củangành vào thu nhập quốc dân… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được,ngành dệt may Việt Nam đã và đang gặp những vấn đề cần khắc phục như chấtlượng tăng trưởng của ngành thấp, vốn đầu tư xây dựng không hiệu quả, mất cânđối giữa hai ngành Dệt và May…Trở ngại lớn đối với sự phát triển của ngành DệtMay hiện nay là tỷ lệ nội địa hóa còn rất thấp, sự phụ thuộc rất lớn vào nguyên phụliệu nhập khẩu Điều đó là do ngành công nghiệp hỗ trợ cho ngành DMVN chưaphát triển tương xứng với sự phát triển của ngành dệt may để đáp ứng nhu cầu củangành dệt may trong nước Những tồn tại và hạn chế của ngành CNHT đã làm chongành DMVN chưa phát triển một cách tương xứng so với tiểm năng thực sự củangành
Trong khi đó, mục tiêu phát triển của ngành công nghiệp dệt may Việt Namđến năm 2020 là trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũinhọn về xuất khẩu, thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước, tạo nhiềuviệc làm cho xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khuvực và thế giới; từng bước đưa ngành Dệt May thoát khỏi tình trạng gia công sảnxuất
Do đó, để đạt được mục tiêu đã định, thì việc nghiên cứu thực trạng của ngànhcông nghiệp hỗ trợ ngành Dệt May Việt sẽ đóng góp một vai trò quan trọng Nó phùhợp với yêu cầu thực tế của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như yêucầu của sự phát triển ngành dệt may
Từ yêu cầu thực tế đó và mục đích tìm hiểu những vấn đề lớn liên quan đến ngành
Trang 2phục những vấn đề đó, sau quá trình thực tập tại Vụ Công Nghiệp, thuộc Bộ KếHoạch và Đầu Tư, em đã quyết định lựa chọn đề tài
“ Giải pháp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam đến
năm 2020”
Đề tài được thực hiện với mục đích nghiên cứu lý luận và ứng dụng vào thựctiễn ngành công nghiệp hỗ trợ ngànhdệt may Việt Nam qua đó xem xét thực trạngphát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam, những tồn tại,hạn chế của ngành Từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triểncho ngành công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020
Đây là kết quả của quá trình thực tập và nghiên cứu với việc áp dụng một sốphương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương phápthống kê mô tả, phương pháp hệ thống hoá và phương pháp suy luận logic
Trên cơ sở mục đích, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, nội dung của đề tàinghiên cứu được chia là ba chương, cụ thể như sau:
Chương I: Một số lý luận về công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
Chương II: Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam
Chương III: Giải pháp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS- TSNguyễn Ngọc Sơn đã giúp tôi hoàn thành đề tài này
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HỔ TRỢ NGÀNH
DỆT MAY1.1 Khái niệm chung về công nghiệp hỗ trợ
1.1.1 Khái niệm chung.
Công nghiệp hỗ trợ (supporting industry) là một khái niệm khá mới đối với
Viêt Nam Gần đây khái niệm công nghiệp hỗ trợ đã bắt đầu được đề cập đến ngàycàng nhiều với cách nhìn nhận ngày càng rõ hơn tầm quan trọng của nó trong sựphát triển của ngành công nghiệp của đất nước
“ Công nghiệp hỗ trợ” là một từ tiếng Anh – Nhật được các doanh nghiệp Nhật
sử dụng từ lâu trước khi trở thành thuật ngữ chính thức thuật ngữ này trở nên thôngdụng ở Nhật vào khoảng giữa những năm 1980 Và được chính thức sử dụng ở ViệtNam từ năm 2003 bắt đầu từ khi Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn I( 2003 – 2005) đề xuất việc soạn thảo quy hoạch tổn thể về phát triển công nghiệp
hỗ trợ như là một biện pháp cấp bách để xúc tiến đầu tư nước ngoài
Hiểu theo nghĩa rộng thì CNHT là toàn bộ các ngành công nghiệp cung cấp đầuvào cho sản phẩm
Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, công nghiệp hỗ trợ là ngành công nghiệp sản xuấtnhững sản phẩm trung gian, các linh kiện, phụ tung và công cụ có vai trò hỗ trợ choviệc sản xuất một loại sản phẩm cuối cùng nhất định
Tuỳ từng loại sản phẩm cụ thể cần sản xuất, những sản phẩm trung gian cóthể bao gồm nguyên liệu, vật liệu, linh kiện, phụ tùng, các bộ phận chi tiết lẻ, phụliệu, bao bì, nhãn mác, thuốc nhuộm, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v., và cũng cóthể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế,… Nếu kểcác sản phẩm tương tự thì phạm vi sẽ rất rộng nhưng nếu thêm một đặc tính nữa sẽthấy phạm vi rõ ràng hơn: Sản phẩm CNHT thường được sản xuất với quy mô nhỏ,thực hiện bởi các DN nhỏ và vừa Những sản phẩm trung gian là một loại yếu tố
“đầu vào” của quá trình sản xuất công nghiệp Do tính phức tạp của mối liên hệ sảnxuất giữa các ngành công nghiệp, việc xác định loại hình CNHT của một ngành nào
đó cũng chỉ mang tính chất tương đối
Trang 4Mỗi ngành công nghiệp đều phát triển theo chuỗi giá trị riêng biệt, song đều
có một điểm chung là được hình thành từ sự liên kết giữa 2 khu vực: khu vựcthượng nguồn (upstream) và khu vực hạ nguồn (downstream) Trong đó, khu vựcthượng nguồn thường được gọi là CNHT, làm nền tảng cơ sở để phát triển khu vực
hạ nguồn Ngược lại, khu vực hạ nguồn là ngành công nghiệp chính, chỉ có thể pháttriển khi khu vực thượng nguồn phát triển, và khi khu vực hạ nguồn đã phát triển sẽtạo “động lực” thúc đẩy phát triển khu vực thượng nguồn
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Việc phát triển CNHT là một vấn đề rất phức tạp trong quá trình hoạch địnhchiến lược phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia Với các nước đang trong quátrình công nghiệp hoá, khi các nguồn lực còn hẹp, qui mô các ngành kinh tế còn nhỏ
bé, việc giải quyết bài toán quan hệ giữa phát triển CNHT và khu vực hạ nguồn lạicàng khó khăn và phức tạp hơn Do đó, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việcphát triển CNHT sẽ tạo lập luận cứ khoa học nhằm lựa chọn chiến lược phát triểncông nghiệp thích hợp, cụ thể:
- Một là, thị trường của khu vực hạ nguồn: Khả năng đảm bảo sự tương thích
giữa qui mô của các ngành hỗ trợ và khu vực hạ nguồn phải đủ lớn để tạo ra thịtrường ổn định phát triển có hiệu quả các ngành hỗ trợ Nếu khu vực hạ nguồn cóqui mô nhỏ, sản xuất những sản phẩm có chủng loại đa dạng và sản lượng khônglớn thì khối lượng sản xuất của các ngành hỗ trợ cũng sẽ nhỏ, do đó, giá thành chếtạo sẽ tăng cao Điều này sẽ vấp phải sự từ chối của chính khu vực hạ nguồn trongnước và gặp khó khăn khi muốn xuất khẩu sản phẩm hỗ trợ ra nước ngoài
Thêm vào đó, cần chú trọng đến khả năng đảm bảo yêu cầu về chủng loại, chấtlượng và thời hạn cung ứng các sản phẩm hỗ trợ cho các ngành hạ nguồn vì thôngthường, yêu cầu của các DN ở khu vực hạ nguồn rất khắt khe do họ phải đảm bảonhững cam kết với khách hàng, đặc biệt là những đơn hàng xuất khẩu
- Hai là, tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ: Đây là nhân tố quan trọng
không chỉ đối với các ngành công nghiệp nói chung mà còn cả với CNHT nói riêng
do tính chất thường xuyên thay đổi để thích ứng với xu hướng phát triển của thếgiới Vì thế, một mặt, việc áp dụng thành tựu mới của khoa học và công nghệ trongcác ngành hỗ trợ ảnh hưởng có tính chất “dẫn dắt” sự phát triển khu vực hạ nguồnnhờ tạo ra những chi tiết, bộ phận hoặc vật liệu mới, góp phần tạo ra sự thay đổi cănbản trong thiết kế và chế tạo sản phẩm ở khu vực hạ nguồn; mặt khác, việc thiết kế
Trang 5và chế tạo các sản phẩm mới ở khu vực hạ nguồn yêu cầu CNHT phải nghiên cứu
và chế tạo những vật liệu, phụ liệu, bộ phận hay chi tiết sản phẩm phù hợp
Sự phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử cho phép “làm các bên cócung và có cầu gần lại với nhau” và giảm thời gian giao dịch giữa họ Điều đó chophép mở rộng không gian tổ chức quan hệ giữa khu vực hỗ trợ và khu vực hạnguồn
- Ba là, nguồn lực tài chính Việc giải quyết mối quan hệ giữa CNHT và khu
vực hạ nguồn cũng chính là việc giải quyết mối quan hệ liên ngành công nghiệp.Đầu tư vào các ngành hỗ trợ bất lợi hơn so với đầu tư vào khu vực hạ nguồn do khốilượng vốn đầu tư lớn, công nghệ phức tạp, thời hạn đầu tư và hoàn vốn đầu tư dài,
độ rủi ro trong đầu tư cao Từ đó cho thấy việc cân đối nguồn lực tài chính cho đầu
tư phát triển công nghiệp và chính sách huy động các nguồn lực ấy có vai trò hếtsức to lớn trong việc bảo đảm các ngành CNHT phát triển có hiệu quả và bền vững Bên cạnh đó, việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là một vấn đề quantrọng đòi hỏi phải được xem xét một cách toàn diện để thấy được vai tṛ cũng nhưtác động của nó đến sự phát triển của ngành CNHT Mối liên hệ giữa FDI và CNHT
có thể chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Trước khi có FDI, nhiều công ty trong nước đã sản xuất sản
phẩm và CNHT cung cấp cho các công ty lắp ráp, gia công sản xuất sản phẩm chínhcho thị trường nội địa Khi có FDI, một bộ phận những công ty sản xuất CNHT sẽphát triển mạnh hơn nếu đựơc tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ củacác DN FDI Sự liên kết này không phải tự nhiên hình thành mà các công ty CNHTphải tỏ ra có tiềm năng cung ứng linh kiện, nguyên phụ liệu với chất lượng và giáthành cạnh tranh được với hàng nhập
Giai đoạn 2: Đồng thời với sự gia tăng của FDI, nhiều DN trong nước ra đời
trong các ngành CNHT chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của ngành công nghiệpchính thông qua các DN FDI Những DN này sớm hình thành sự liên kết với DNFDI để được chuyển giao công nghệ và sẽ phát triển một cách nhanh chóng
Giai đoạn 3: Sau một thời gian hoạt động của DN FDI với qui mô sản xuất
ngày càng mở rộng, tạo ra thị trường ngày lớn cho CNHT, nhiều công ty vừa và nhỏ
ở nước ngoài sẽ đến đầu tư
Như vậy, mối liên hệ giữa CNHT và FDI có thể được hiểu: chừng nào các công tynước ngoài không thấy Chính phủ đưa ra các chính sách cụ thể và dài hạn để phát
Trang 6kinh doanh ổn định như giai đoạn 3 thì môi trường thu hút FDI ở nước đó sẽ khôngđược đánh giá cao
- Bốn là, mức độ bảo hộ thực tế Mức độ bảo hộ thực tế là tỷ lệ % giữa thuế
quan danh nghĩa với phần giá trị gia tăng nội địa Chính tỷ lệ này sẽ nâng cao thêmgiá của một đơn vị sản phẩm cuối cùng Tỷ lệ này nói lên mức bảo hộ thực tế caohay thấp cho các ngành sản xuất trong nước
- Năm là, các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu, ảnh hưởng của các tập
đoàn xuyên quốc gia Việc bảo đảm quan hệ giữa khu vực hỗ trợ và khu vực hạ
nguồn không thể chỉ bó hẹp trong phạm vi từng quốc gia, mà cần được thực hiệntrong phạm vi khu vực và toàn cầu Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải cân nhắcthận trọng việc quyết định mức độ đầu tư vào khu vực CNHT trong nước Khuynhhướng cần tránh là đầu tư khép kín theo kiểu khu vực hạ nguồn cần gì thì đầu tưphát triển khu vực hỗ trợ sản xuất cái đó
Trong phát triển kinh tế thế giới hiện nay, các tập đoàn xuyên quốc gia có ảnhhưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế quốc tế Với nguồn lực to lớn về tài chính,khoa học và công nghệ, các tập đoàn này có mạng lưới sản xuất và phân phối rộngrãi với chiến lược phát triển và thương hiệu thống nhất, các bộ phận trong mạnglưới đó được chuyên môn hoá hợp lý nhằm khai thác lợi thế ở mỗi quốc gia và mỗikhu vực, có những chi nhánh chuyên sản xuất một số loại chi tiết, bộ phận nhất địnhcung cấp cho các chi nhánh khác ở phạm vi khu vực, thậm chí toàn cầu Trong việchoạch định chiến lược phát triển các ngành CNHT, cần có các chính sách thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài và kết hợp hợp lý giữa sản xuất trong nước với các chinhánh của các tập đoàn xuyên quốc gia ấy
- Sáu là, cơ chế chính sách của Nhà nước liên quan đến phát triển CNHT Sự
ảnh hưởng của nhân tố này thể hiện trên hai mặt chủ yếu Một mặt, quan điểm củaNhà nước về phát triển CNHT trong định hướng chiến lược phát triển công nghiệp.Mặt khác, các chính sách hỗ trợ phát triển khu vực CNHT như chính sách nội địahoá, chính sách đầu tư phát triển CNHT, chính sách thuế đánh vào khâu nhập khẩu
và khâu sản xuất các sản phẩm hỗ trợ, mức độ đầu tư của Nhà nước vào nghiên cứukhoa học và công nghệ ở khu vực CNHT
1.1.3 Vai trò công nghiệp hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế
Ngành CNHT có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành côngnghiệp chính Nếu được phát triển một cách hợp lý, nó sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự
Trang 7phát triển của ngành công nghiệp chính, tạo nên sự phát triển theo chiều sâu cho nềncông nghiệp Mặt khác, nếu nó kém phát triển, thì sẽ là một rào cản rất lớn, ảnhhưởng trực tiếp sự phát triển của ngành công nghiệp chính Do đó có thể nói, CNHT
có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia Vai trò
ấy thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:
- Thứ nhất, CNHT là điều kiện quan trọng đảm bảo tính chủ động và nâng cao
giá trị gia tăng của ngành sản xuất sản phẩm của khu vực hạ nguồn CNHT khôngphát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp, gia công và những công ty sản xuất cácthành phẩm cuối cùng khác phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu Dù những sản phẩmnày có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều,phí chuyên chở, bảo hiểm sẽ tăng lên làm tăng chi phí đầu vào Đó là chưa kể đến
sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu Vì vậy, CNHT thiếu sẽ làm giátrị gia tăng thấp đi, ngành công nghiệp chính thiếu sức cạnh tranh
- Thứ hai, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, giảm xuất khẩu các
sản phẩm thô và nhập khẩu nguyên phụ liệu, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá theo hướng vừa mở rộng (broadening) vừachuyên sâu (deepening)
- Thứ ba, phát huy ảnh hưởng của tác động “lan toả” trong phát triển hệ thống
công nghiệp Hệ thống này có thể liên kết theo chiều dọc hoặc chiều ngang, tạothành các cụm công nghiệp có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau Do vậy, sựphát triển của một ngành công nghiệp trong hệ thống đó sẽ có tác động mạnh mẽđến các ngành công nghiệp khác, kích thích các ngành này cũng phát triển theo saocho đáp ứng được yêu cầu của thời kì mới
- Thứ tư, góp phần tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động, thu hút
lao động dư thừa, đặc biệt là trong những ngành sử dụng nhiều lao động thủ công,giản đơn như dệt may, chế biến nông sản…
- Thứ năm, mở rộng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát
triển công nghiệp Từ những nhận định trên có thể thấy CNHT phải phát triển mớithu hút FDI, đặc biệt là FDI trong những ngành sử dụng nhiều máy móc hiện đại
Tỷ lệ của chi phí CNHT cao hơn nhiều so với chi phí lao động nên một nước dù có
ưu thế về lao động nhưng CNHT không phát triển sẽ làm cho môi trường đầu tưkém hấp dẫn.Tuy nhiên, cũng không phải CNHT phát triển đồng bộ rồi mới có FDI
Có nhiều trường hợp FDI đi trước và kéo theo các công ty khác (kể cả công ty trong
Trang 8và ngoài nước) đầu tư phát triển CNHT, do đó có sự quan hệ tương hỗ 2 chiều giữaFDI và CNHT.
- Thứ sáu, là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh của
một ngành công nghiệp, góp phần đẩy mạnh thực hiện chiến lược hướng về xuấtkhẩu
- Thứ bảy, phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh
tế theo chiều sau và giảm thâm hụt tài khoản vãng lai
Theo quan niệm của M Porter năm 1990, khả năng cạnh tranh của một ngành côngnghiệp là khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó Khả năng này được hìnhthành bởi 4 yếu tố, bao gồm: (1) điều kiện các yếu tố sản xuất, (2) điều kiện cầu, (3)các ngành CNHT và các ngành liên quan, (4) chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội
bộ ngành Cả 4 yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau tạo thành “mô hình kim cươngPorter” nhằm để chỉ khả năng chịu “va đập” của một quốc gia trước môi trườngcạnh tranh gay gắt Trong đó, mối quan hệ 2 chiều giữa các yếu tố được thể hiệnqua mô hình sau:
Hình 1.1: Các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh ngành công nghiệp
Nguồn: Trung tâm thông tin kinh doanh và thương mại
Điều kiện cầu
Điều kiện các
yếu tố sản xuất
Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội bộ ngành
Các ngành CNHT và các ngành liên quan
Trang 91.2 Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may.
1.2.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may.
Ngành công nghiệp Dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu ở Việt Nam.
Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầuthiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội và đặcbiệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển,góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước Nó đáp ứng các nhu cầu
về sản phẩm tiêu dùng bao gồm các loại quần áo, chăn ga, gối đệm, các loại đồdùng sinh hoạt trong gia đình như: rèm cửa, vải bọc đồ dùng, khăn các loại…Mặtkhác, sản phẩm của ngành dệt may cũng được sử dụng trong ngành kinh tế khácnhư vải kỹ thuật dùng để lót đường, thi công đê điều, các loại vải làm bọc đệm ô tô,làm vật liệu lọc vật liệu chống thấm Sản phẩm của ngành dệt may không chỉ làquần áo, vải vóc và các vật dụng quen thuộc như khăn bàn, khăn tắm, chăn mền,nệm, rèm, thảm, đệm ghế, ô dù, mũ nón v.v mà còn cần thiết cho hầu hết các ngànhnghề và sinh hoạt: lều, buồm, lưới cá, cần câu, các loại dây nhợ, dây thừng, dâychão, các thiết bị bên trong xe hơi, xe lửa, máy bay, tàu bè (một chiếc xe hơi trungbình dùng đến 17 kí sợi vải), vòng đai cua-roa, vỏ săm lốp, ống dẫn, bao bì, và nóichung mọi vật liệu dùng để đóng gói, bao bọc, để lót, để lọc, để cách nhiệt, cách
âm, cách điện, cách thuỷ, và cả những dụng cụ y khoa như chỉ khâu và bông băng
Bất cứ một ngành công nghiệp nào muốn phát triển mạnh mẽ đều phải dựa trên một nền tảng vững chắc, cũng như có một mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành công nghiệp cả theo chiều dọc và chiều ngang Đối với ngành dệt may, quan hệ theo chiều dọc của ngành này được biểu hiện dưới dạng chuỗi giá trị như sau:
Trong chuỗi giá trị trên, các giai đoạn sản xuất nguyên liệu, kéo sợi, dệt vải,nhuộm, in vải được gọi là khu vực thượng nguồn, hay đây cũng chính là các ngànhCNHT và có liên quan chặt chẽ đến ngành may Còn các giai đoạn cắt may, phânphối hàng may được gọi là khu vực hạ nguồn và là “động lực” thúc đẩy khu vựcthượng nguồn phát triển
Để có được một sản phẩm dệt may cuối cùng cần trải qua rất nhiều các côngđoạn trong sản xuất tạo nên thành một chuỗi giá trị của ngành Theo hình trên ta
Trang 10xuất xơ đến khộo sợi dệt vải nhuộm in hoa, hoàn tất cắt và may.
Hỡnh 1.2: Quy trỡnh sản xuất hoàn tất sản phẩm dệt may.
Phân bón, thuốc
phòng dịch bệnh
Công nghệ hóa dầu Sản xuất
Công nghệ cơ khí, chế tạo và điều khiển tự động
Công nghệ cơ khí, chế tạo và điều khiển tự động
Công nghệ cơ khí, chế tạo và điều khiển tự động
Công nghệ thiết kế thời trang
Nếu tạo ra được mối liờn hệ hữu cơ giữa cỏc khõu trong những điều kiện sẵn
cú thỡ sẽ cú tỏc động lớn lao vào việc đảm bảo tớnh chủ động, việc nõng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm DMVN trờn thị trườngtrong nước và thế giới
Trang 111.2.2 Các ngành công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may.
1.2.2.1 Ngành sản xuất nguyên liệu.
Ngành sản xuất nguyên liệu cung cấp các nguyên liệu tự nhiên như bông len,
tơ sợi để xe sợi, chỉ Ngành này thường là lợi thế của các nước có điều kiện khí hậuthích hợp với sự phát triển của cây bông, đay và những ngành trồng dâu nuôi tằm Trung Quốc là nước có nghề trồng dâu nuôi tằm sớm nhất trên thế giới, sau đódâu tằm mới được phát triển và lan rộng đến các vùng khác trên thế giới Cách đây4-5 nghìn năm người Trung Quốc đã biết nuôi tằm và thuần hoá giống tằm, cuốnBiên niên sử[đã đề cập tới dâu tằm vào triều vua Châu Vương (2200 trước Côngnguyên) Tơ lụa thời đó được dành riêng cho vua chúa và hàng quí tộc, nó thể hiện
sự thuần phục của dân đối với vua Bí mật của ngành dâu tằm tơ được người TrungQuốc giữ kín rất lâu, phải gần 1000 năm sau ngành nghề này mới được để lộ và lantruyền sang các nước lân cận bằng con đường tơ lụa
Theo một số tài liệu khác cho rằng nghề dâu tằm được lan truyền sang TriềuTiên vào khoảng năm 1200 trước Công nguyên, sau đó là Nhật Bản thế kỷ thứ 3trước Công nguyên, Ấn Độ giữa thế kỷ 2 trước Công nguyên
Theo các nhà lịch sử phương Tây, cây dâu được trồng phát triển ở Ấn Độthông qua Tây Tạng vào khoảng năm 1400 trước Công nguyên và nghề trồng dâu,nuôi tằm bắt đầu ở vùng châu thổ sông Hằng Theo các nhà lịch sử Ấn Độ, nơi nuôitằm đầu tiên ở đây là thuộc vùng núi Hymalaya Khi người Anh đến Ấn Độ, dobuôn bán tơ lụa mà nghề dâu tằm được phát triển và lan rộng sang vùng khác nhưMysore, Jamu, Kashmir Ả Rập do nhập trứng tằm và hạt dâu từ Ấn Độ nên cũng làmột trong những nơi sớm có nghề dâu tằm
Vào thế kỷ 4, nghề dâu tằm được thiết lập ở Ấn Độ như là trung tâm của châu
Á và tơ lụa được xuất khẩu tới Roma (Ý), nhưng đến thế kỷ 6 người Roma đã họcđược kỹ nghệ sản xuất tơ và tơ đã được sản xuất ở châu Âu, người Roma đã hoàntoàn chiếm lĩnh trong lĩnh vực sản xuất này Từ Ý, dâu tằm được phát triển tới HyLạp, Áo và Pháp Vì lợi ích kinh tế đem lại nên ngành dâu tằm tơ được nhiều nướcquan tâm
Ngày nay các nước có ngành sản xuất nguyên liệu dệt may phát triển chủ yếu làcác nước Mỹ la tinh,Trung Quốc, Ân Độ Trong đó Brazil là nước cung cấp bôngsợi lớn thứ 5 thế giới
Trang 121.2.2.2 Ngành cơ khí.
Ngành cơ khí cung cấp các trang thiết bị máy móc cho ngành dệt may và cácsản phẩm dầu khí đốt tự nhiên để vận hành máy móc, hóa dầu tạo thành sợi tổnghợp
Ngành cơ khí đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của ngành dệt may
Cơ khí hóa ngành dệt may với các máy móc hiện đại sẽ làm cho năng suất lao độngtăng lên, chất lượng sản phẩm dệt may được nâng cao, tiết kiệm lao động và chuyênmôn hóa quá trình sản xuất sản phẩm dệt may
Đặc biệt, ngành dệt đang có những định hướng mới trong việc áp dụng nhữngsản phẩm vải, nhưng không phải là quần áo, được gọi là vải kỹ thuật Đây là lĩnhvực có mức độ tăng trưởng nhanh nhất Dự kiến các sản phẩm vải kỹ thuật sẽ cómức tăng trưởng gấp đôi so với các sản phẩm dùng để may quần áo và chiếmkhoảng hơn 50% toàn bộ sản phẩm dệt Quá trình sản xuất các sản phẩm vải kỹthuật đòi hỏi máy móc hiện đại đắt tiền và công nhân có trình độ cao Hiện tại lĩnhvực này tập trung ở những nước phát triển với trình độ công nghệ và máy móc hiệnđại, tiên tiến
1.2.2.3 Kéo sợi.
Đây là giai đoạn từ các nguyên liệu thô ban đầu bằng các phương pháp hóadầu để tạo thành các sản phẩm nguyên vật liệu phuc vụ cho dệt may như chỉ, sợi vàvải , mà nhiều nhất là tơ sợi tổng hợp Công đoạn này do các công ty may đảmnhiệm Có nhiều loại tơ sợi khác nhau Tơ sợi có nguồn gốc từ thực vật hoặc từđộng vật được gọi là tơ sợi tự nhiên Tơ sợi được làm ra từ chất dẻo như các loại sợi
ni lông được gọi là tơ sợi nhân tạo Do Hiệp định sợi đa phương được các nướccông nghiệp phát triển ký với vài nước đang phát triển năm 1974 cho phép giảmdần dần thuế quan đối với hàng dệt và xóa bỏ thuế quan vào năm 2002-2005 nênTrung Quốc và các quốc gia đang phát triển khác ở châu Á trở thành người khổng
lồ trong lĩnh vực sản xuất sợi và hàng dệt
Trang 131.2.2.5 Nhuộm, in vải.
Trong ngành này có chuỗi dài các công đoạn sản xuất ướt, đòi hỏi nước, hóachất và các năng lượng đầu vào Do đòi hỏi của lĩnh vực may thời trang nên ngànhnày rất phong phú theo yêu cầu về chất liệu, màu sắc của vải
1.3 Các nhân tố tác động đến sự phát triển của ngành CNHT ngành dệt may 1.3.1.Thị trường.
Như đã nói ở trên, ngành CNHT có vai trò sản xuất các sản phẩm trung gian
hỗ trợ cho việc sản xuất một sản phẩm cuối cùng Như vậy nếu có sự tương thích đủlớn thì sự phát triển của ngành công nghiệp chính sẽ tạo ra thj trường ổn định pháttriển có hiệu quả các ngành hỗ trợ
Đối với ngành dệt may, nếu như ngành may có quy mô nhỏ, sản xuất nhưngsản phẩm có chủng loại đa dạng và sản lượng không lớn thì khối lượng sản xuấtbông, vải, sợi sẽ nhỏ, giá thành sẽ tăng cao Điều ấy dẫn đến khó tiêu thụ sản phẩmcủa ngành hỗ trợ Làm cho các ngành hỗ trợ kém phát triển Gây ảnh hưởng trựctiếp đến ngành dệt may, đặc biệt là dệt may xuất khẩu Do đó để ngành hỗ trợ pháttriển tương xứng, đáp ứng được nhu cầu của dệt may trong nước thì cần một chínhsách đầu tư đồng bộ, liên kết chặt chẽ giữa các DN hỗ trợ và DN khu vực hạ nguồn.Đảm bảo được chất lượng sản phẩm hỗ trợ và thị trường tiêu thụ
1.3.2.Vốn.
Việc đầu tư vốn vào khu vực hỗ trợ ngành dệt may bất lợi hơn so với khu vực
hạ nguồn do khối lượng vốn đầu tư lớn, công nghệ phức tạp, thời hạn đầu tư vàhoàn vốn dài, mức độ rủi ro cao Do đó việc cân đối nguồn lực tài chính cho đầu tưphát triển ngành công nghiệp dệt may và chính sách huy động phát triển các nguồnlực ấy có vai trò rất to lớn trong việc bào đảm các ngành CNHT ngành dệt may pháttriển có hiệu quả và bền vững, đáp ứng được nhu cầu nguyên nhiêu liệu của ngànhdệt may
Bên cạnh đó việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành hỗ trợcũng là một vấn đề quan trọng đòi hỏi phải được xem xét một cách toàn diện Với
sự gia tăng của vốn FDI vào ngành công nghiệp dệt may, đồng thời nhiều DN hỗ trợcũng ra đời và phát triển chủ yếu phục vụ cho hoạt động chính của ngành dệt may,cung cấp nguyên liệu cho ngành dệt may phát triển CacsDN hỗ trợ sẽ hình thànhmối liên kết với các DN FDI để chuyển giao công nghệ và phát triển một cách
Trang 14nhanh chóng Khi các DN hỗ trợ của dệt may phát triển thì sẽ thu hút được nhiềuhơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư cho dệt may Như vậy nhà nước cầnphải có chính sách sử dụng vốn đầu tư một cách hợp lý, tạo điềuk iện cho các DN
hỗ trợ dệt may phát triển Đó là cách hợp lý nhất để tiếp tục thu hút được lượng đầu
tư FDI đối với ngành
1.3.3 Khoa học kỹ thuật và Công nghệ.
Đây là nhân tố quan trọng không chỉ với ngành dệt may mà còn cả với CNHTcủa ngành Do tính chất khoa học công nghệ thường xuyên thay đổi và phát triểnkhông ngừng để theo kịp với xu hướng phát triển của thế giới Vì vậy việc áp dụngthành tựu mới của khoa học công nghệ vào các ngành hỗ trợ cho ngành dệt may cótính chất dẫn dắt sự phát triển của ngành dệt may, nhờ việc tạo ra những chất liệuvải mới, đa dạng hóa các sản phẩm dệt may, làm thay đổi căn bản trong thiết kế vàtạo sản phẩm mới ở ngành dệt may Ngược lại, sự phát triển của ngành may mặc đòihỏi ngành hỗ trợ phải không ngừng phát triển để tạo ra những nguyên nhiên liệumới, đáp ứng nhu cầu của ngành Sự phát triển của công nghệ thông tin và thươngmai điện tử làm cho mối liên hệ giữa ngành coongn ghiệp dệt may và ngành CNHTtrở nên gần nhau hơn Giamr tối thiểu thời gian giao dịch, tiết kiệm chi phí, thúc đẩyđược sự phát triển của cả ngành dệt may lẫn ngành hỗ trợ
1.3.4 Các chính sách của nhà nước với phát triển CNHT.
Quan điểm của nhà nước về phát triển CNHT ngành dệt may trong đinh hướngphát triển chung của ngành dệt may cả nước tác động trực tiếp đến quy mô, cơ cấucủa ngành CNHT dệt may Mặt khác các chính sách hỗ trợ phát triển khu vựcCNHT như chính sách nội địa hóa, chính sách đầu tư phát triển ngành nguyên liệu,
cơ khí phục vụ ngành dệt may, chính sách thuế đánh vào khâu nhập khẩu và xuấtkhẩu các sản phẩm bông, tơ sợi và mức độ đầu tư của nhà nước vào nghiên cứukhoa học công nghệ, tất cả quyết định sự phát triển của ngành hỗ trợ dệt may
1.3.5 Các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu.
Ngành công nghiệp dệt may không phải là một ngành riêng lẻ, mà nó có mộtchuỗi giá trị toàn cầu Cùng với sự hội nhập kinh tế thế giới, mối liên hệ kinh tếgiữa các quốc gia ngày càng trở nên mật thiết Việc đảm bảo quan hệ giữa ngànhdệt may và các ngành hỗ trợ không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà cầnthực hiện trong phạm vi khu vực và thế giới Điều đó buộc mối quốc gia phải cân
Trang 15nhắc mức độ đầu tư vào ngành hỗ trợ trong nước, không những chỉ dệt may trongnước cân gì thì ngành hỗ trợ mới sản xuất cái đó Mà cần mở rộng xuất khẩu cácsản phẩm hỗ trợ dệt may, và tăng cường tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm dệt may để tạođược lợi thế cho các mặt hàng hệt may xuất khẩu.
1.4 Kinh nghiệm của các nước trong phát triển CNHT dệt may.
CNHT đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ngành công nghiệpchính Thực tế các nước phát triển trên thế giới từ lâu đã rất đầu tư chú trọng pháttriển ngành CNHT để ngành CNHT làm cơ sở cho việc phát triển ngành côngnghiệp chính Có thể rút ra được rất nhiều kinh nghiệm quý báu từ sự phát triểnCNHT dệt may của các nước có ngành dệt may phát triển như Trung Quốc, ấn Độ,Nam Phi
1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Công nghiệp dệt may của Trung Quốc đã và đang phát triển mạnh trong 2 thập
kỷ qua Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia lớn nhất thế giới về sản xuất một số loạisản phẩm dệt may, đồng thời cũng là quốc gia xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thếgiới Quá trình phát triển công nghiệp dệt may của Trung Quốc được chia làm 3 giaiđoạn
- Giai đoạn 1: nhận thức được mối quan hệ mật thiết giữa ngành dệt và may,
Trung Quốc đã coi ngành dệt là ngành hỗ trợ chủ đạo cho ngành may, và sự pháttriển của 2 ngành công nghiệp này là đồng hành, song song cùng tồn tại, sự tăngtrưởng của ngành này là nền tảng cho ngành kia Ngành dệt của Trung Quốc đượcbắt đầu từ năm 1870 Từ năm 1870 cho đến 1940 là giai đoạn đầu phát triển ngànhdệt Trong giai đoạn này, ngành dệt phát triển với tốc độ thấp, nguyên liệu tự cấpvới chất lượng thấp, thiết bị nhập khẩu Hầu hết các nhà máy dệt là của tư nhânđược bố trí ở dọc bờ biển hoặc đường bộ để thuận tiện cho hoạt động chuyên chở vàgiao thương
- Giai đoạn 2: tính từ năm 1949 đến cuối thập kỉ 70 Để đáp ứng nhu cầu may
mặc của nhân dân Trung Quốc, Chính phủ đã hết sức cố gắng mở rộng năng lựcngành dệt Đến cuối năm 1978, sản lượng sợi hoá học sản xuất ở Trung Quốc đạt
280000 tấn, sản xuất vải trước hết được ưu tiên cho nhu cầu thị trường nội địa Dovậy, Trung Quốc đã có các chiến lược ngắn hạn phát triển ngành dệt như là mộttrong những hàng hoá tiêu dùng
Trang 16- Giai đoạn 3: cuối những năm 70, Chính phủ Trung Quốc đã ra các quyết
sách nhằm phát triển kinh tế đất nước theo hướng mở cửa thị trường quốc tế Kể từ
đó đến nay, ngành dệt Trung Quốc đã có sự tăng trưởng vượt bậc và có sự thay đổiđáng kể Chủ sở hữu được đa dạng hoá, khu vực ngoài quốc doanh đã phát triển rấtmạnh Năng lực sản xuất gia tăng đáng kể, đồng thời ngành dệt cũng được củng cốthêm nhờ đổi mới công nghệ và sản phẩm dệt đã có khả năng cạnh tranh Cũngtrong giai đoạn này, khi CNHT đã có một cơ sở vững chắc thì ngành may của TrungQuốc cũng có những bước khởi sắc Cùng với hàng dệt, kim ngạch xuất khẩu hàng
may tăng đáng kể (bảng 1)
Sau nhiều năm vừa cải cách vừa thực hiện, Trung Quốc đã xây dựng đượcngành dệt hoàn hảo, có khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, trở thànhngành CNHT đắc lực đáp ứng mọi nhu cầu của ngành may trong quá trình thâmnhập thị trường các nước trong khu vực và thế giới
Để xây dựng được ngành dệt mạnh như vậy, bên cạnh chiến lược phát triển ngànhtheo từng bước vững chắc, Nhà nước Trung Quốc cũng đã có những biện pháp hỗtrợ như:
Về chính sách hỗ trợ xuất khẩu: năm 1986, hoàn trả thuế trung gian và VAT,
năm 1988 hoàn trả thuế gián tiếp luỹ tiến ở các khâu, hình thành các quĩ hỗ trợ tíndụng nhằm cấp tín dụng xuất khẩu, tín dụng cải tiến kỹ thuật,…để khuyến khích các
DN dệt may đổi mới năng lực và hiện đại hoá công nghệ, thiết bị, dây chuyền sảnxuất, nâng cao chất lượng sản phẩm
Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện
đại, đồng bộ và có những chính sách ưu đãi đặc biệt với các nhà đầu tư nước ngoài,
cụ thể ngày 11/10/1996 “qui định về khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài” đãgiảm mức thuế thu nhập từ 30% xuống còn 15% và cho các DN ở đặc khu kinh tếchỉ còn 10%, miễn thuế 5 năm đầu cho các DN mới thành lập ở đặc khu, miễn thuếthu nhập khi chuyển lãi ra nước ngoài, hoàn trả thuế thu nhập cho phần lợi nhuậndùng để tái đầu tư…
1.4.2 Kinh nghiệm của Nam Phi
Từ năm 1994, Nam Phi đã đầu tư 1 tỷ USD để nâng cấp và hiện đại hoá ngànhcông nghiệp dệt, may mặc và giày dép, giúp ngành này có thể cạnh tranh trên thịtrường quốc tế Nhu cầu của thị trường Nam Phi ngày càng phản ảnh tính phức tạpcủa một thị trường phát triển Ngành dệt may của địa phương đã không ngừng lớn
Trang 17mạnh để cung cấp cho thị trường một loạt các sản phẩm, từ sợi tự nhiên, sợi nhântạo, đến dệt, xe sợi, dệt kim, nhuộm…
Nhờ áp dụng những tiến bộ công nghệ, ngành dệt địa phương đã phát triểnthành một ngành dựa chủ yếu vào thiết bị sản xuất, trong đó sản xuất sợi nhân tạochiếm tỷ trọng ngày càng cao Mặc dù có quy mô tương đối nhỏ, ngành công nghiệpdệt của Nam Phi đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ trên thị trường thếgiới:
- Nhà sản xuất sợi Sans Fibres cung cấp 80% chỉ khâu (may) sử dụng trongngành may mặc trên thế giới)
- Nhà máy dệt vải Gelvenor Textiles cung cấp hơn 50% nhu cầu của thế giới
về vải may dù (parachute fabrics
- Nhà sản xuất quần áo vét House of Monatic đã cung cấp cho thị trường Anhsản phẩm thứ 1 triệu
Một số nhân tố khiến cho việc đầu tư vào ngành dệt may và giày dép tại NamPhi trở nên hấp dẫn hơn Nam Phi có hiệp định thương mại với EU và Mỹ theo đóNam Phi được hưởng mức thuế nhập khẩu ưu đãi 17,5% Tại thị trường Mỹ, xuấtkhẩu dệt may của Nam Phi đã tăng 62% kể từ khi được hưởng ưu đãi theo đạo luậtAGOA Nam Phi cũng được hưởng ưu đãi về thuế mà các nước SADC dành chotheo Hiệp định Thương mại tự do SADC, thực hiện hoàn toàn vào năm 2008
Nam Phi có lợi thế về nguyên liệu thô (sợi tự nhiên)
- Bông: Nam Phi sản xuất 40000 tấn bông một năm Sợi bông cũng có thểnhập từ các nước SADC để phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ
- Da: Nam Phi có đủ nguyên liệu thô cần thiết để sản xuất bất kỳ loại giày dépnào Da bò, đà điểu, cá sấu sông Nile, da thú rừng, dệt và nguyên liệu nhựa PVC …
có thể mua tại địa phương một cách dễ dàng
- Sợi thực vật: Nam Phi đang triển khai khá thành công các dự án trồng và chếbiến sợi tự nhiên, chẳng hạn như cây lanh, cây gai dầu, nhằm đáp ứng nhu cầu ngàycàng tăng lên từ ngành công nghiệp ô tô và hàng không (nguyên liệu tự nhiên sảnxuất một số bộ phận của ô tô và máy bay không gây ô nhiễm môi trường)
- Len và lông cừu: Nam Phi là nước sản xuất lông cừu (mohair) lớn nhất thếgiới và sản xuất len lớn thứ năm trên thế giới
Ngành dệt Nam Phi có 350 nhà máy, sản xuất 560 triệu mét vuông vải từ bôngtrồng tại địa phương, sợi polyester sản xuất tại địa phương và sợi nhập khẩu Giá trị
Trang 1811 tỷ rand năm 2005 Xuất khẩu hàng may mặc đạt 1,4 tỷ rand, hàng dệt đạt 2,5 tỷrand, chủ yếu sang thị trường Mỹ và EU Sản phẩm may mặc chủ yếu sản xuất tạicác tỉnh Western Cape, Kwa-Zulu Natal, Gauteng và Eastern Cape
Năm 2007, Nam Phi xuất khẩu sản phẩm dệt may đạt 5 tỷ rand Nhập khẩu dệtmay khoảng 14 tỷ rand (Tỷ giá tham khảo 1 usd = 7,5 rand
1.4.3 Kinh nghiệm của Ấn Độ.
Ấn Độ là một ví dụ điển hình cho năng lực và kinh nghiệm xây dựng CNHTcho ngành dệt may ở Châu Á Hiện nay, Ấn Độ đang là quốc gia có kim ngạch xuấtkhẩu dệt may lớn trên thế giới Xuất khẩu hàng may đã tăng lên nhanh chóng từthập niên 1970 Năm 1970-1971, ngành này mới đạt 3,9 triệu USD và tỷ trọng trongtổng lượng xuất khẩu chỉ đạt 1,9% Năm 1980-1981, kim ngạch xuất khẩu đã đạt6,96 triệu USD và tương ứng thị phần là 8,2% Từ năm 1997-1998, kim ngạch đãđạt tới 3776 triệu USD, thị phần 9,6%, cho đến nay kim ngạch xuất khẩu hàng dệtmay đã tăng đáng kể, giúp cho Ấn Độ trở thành quốc gia đứng thứ 3 trên thế giới vềxuất khẩu ngành hàng này Vậy đâu là nguyên nhân tạo nên sự tăng trưởng vượt bậcđó?
Thứ nhất, do mức lương khá thấp ở Ấn Độ đã tạo nên lợi thế so sánh trong
ngành công nghiệp may mặc Theo thống kê của Vinatex, mức lương trung bìnhtrong ngành dệt may của Ấn Độ hiện là 0,54 USD/h, thấp hơn 6,3 lần so với HồngKông, 1,6 lần so với Thái Lan
Thứ hai, ngành may mặc Ấn Độ có nguồn vải phong phú với chất lượng đa
dạng và giá khác nhau, vì vậy đã đáp ứng được mọi yêu cầu cho ngành may mặc.Hàng nghìn loại sợi đa dạng đều có nguồn cung cấp trong nước để thích hợp với sởthích và thời trang của khách hàng
Thứ ba, ngành may mặc xuất khẩu đã phát triển mạnh mẽ đặc biệt từ sau cải
cách theo chiến lược định hướng xuất khẩu Điều quan trọng đối với các nhà xuấtkhẩu là cần thay đổi sản phẩm để bắt nhịp với xu hướng thời trang, trên cơ sở đó,các qui trình sản xuất được thực hiện sao cho linh hoạt, mềm dẻo trở nên hết sứcquan trọng
Nhìn chung, ngành may xứng đáng là một trong những ngành chủ lực trongchiến lược xuất khẩu của Ấn Độ Đó cũng là một trong những ngành có thu nhậpngoại tệ nhiều nhất ở Ấn Độ, chiếm gần 16% lượng hàng xuất khẩu của nước này.Hàng may mặc của Ấn Độ được đánh giá cao tại các thị trường lớn ở Châu Âu, Mỹ,
Trang 19các nước Bắc Âu và Úc Chính sách tự do hoá nhập khẩu và hỗ trợ xuất khẩu thời kìcải cách đã góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất Ấn Độ vềnăng suất, công nghệ và mẫu mã với các đối thủ Châu Á khá hùng mạnh như TháiLan, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan.
1.4.4 Bài học kinh nghiệm từ các nước có thể áp dụng ở Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích những đặc điểm của quá trình phát triển ngành dệt may nóichung và ngành CNHT dệt may nói riêng của các nước trên, với các chính sách vàgiải pháp mà các nước đã áp dụng để thúc đẩy sự phát triển của ngành CNHT, có một
số giải pháp hay và thích hợp với điều kiện của Việt Nam Và Việt Nam hoàn toàn cóthể học hỏi và áp dụng các chính sách đó một cách linh hoạt và hợp lý Cụ thể:
- Ở tầm vĩ mô quản lý nhà nước, Việt Nam cần xây dựng một chiến lược pháttriển ngành tổng thể và đồng bộ, trong đó định hướng và quy hoạch rõ sự phát triểncảu ngành dệt may nói chung và ngành CNHT nói riêng theo từng giai đoạn và quátrình cụ thể Qua đó xây dựng các chương trình và kế hoạch cụ thể với các cấp cácđịa phương để tạo một sự phát triển đồng bộ có hệ thống, không chắp vá, nhỏ lẻ gâykhó khăn cho sự phát triển chung của ngành công nghiệp dệt may
- Tận dụng tối đa lợi thế so sánh của Việt Nam có được bởi nguồn lao độngdồi dào và mức lương thấp so với các nước khác Bên cạnh đó quy hoạch khai thácnhững vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng bông, dâu Khai thác sửdụng hiệu quả nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địahóa trong các sản phẩm dệt may, tạo lợi thế cho mặt hàng dệt may xuất khẩu
- Chú trọng đầu tư xây dựng một ngành dệt hoàn hảo, phục vụ tốt cho ngànhmay trong nước hướng tới xuất khẩu Trong đó vai trò định hướng và các chínhsách của chính phủ rất quan trọng Thông qua các chính sách khuyến khích đầu tư,
hỗ trợ xuất khẩu, chính sách thuế cho các ngành hỗ trợ, thu hút đầu tư nước ngoàibằng cơ sở hạ tầng hiện đại, môi trường đầu tư thuận lợi
Trang 20CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỔ
TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM.
2.1 Đánh giá chung về ngành DMVN hiện nay.
Ngành Dệt - May VN có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Làngành cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho xã hội, giải quyết việc làm cho một lựclượng lớn lao động, đồng thời đã mang lại nguồn ngoại tệ lớn từ xuất khẩu và đónggóp một nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Giá trị sản xuất công nghiệp củaNgành chiếm bình quân trên 9% toàn ngành công nghiệp, kim ngạch xuất khẩuchiếm 14,6% so với tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đã tạo việc làm cho gầnmột triệu lao động công nghiệp Tuy vậy có thể thấy hiện nay mặc dù có nhiều lợithế và điều kiện khá thuận lợi song khả năng cạnh tranh của ngành DMVN hiện nayđang rất thấp Để thấy rõ thực trạng này, có thể đánh giá một số chỉ tiêu:
Điều kiện về cầu: Việt Nam hiện nay có dân số đông, gần 80 triệu người và
sẽ tiếp tục tăng lên nữa, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao vào loại cao nhất thế giới.Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, bình quân các hộ gia đinh Việt Nam chi tiêutrên 3% thu nhập cho may mặc Điều này cho thấy thị trường nội địa đầy tiềm năngvới sức tiêu thụ lớn Thêm vào đó hiện nay, thị trường trong nước đang ngày càngyêu cầu cao về chất lượng, dịch vụ đối với hàng dệt may, đây sẽ là động lực thúcđẩy các DN thường xuyên cải tiến và đổi mới sản phẩm
Cùng với sự dỡ bỏ hạn ngạch của WTO, thị trường nước ngoài đang đặt ranhững tiêu chuẩn cao đối với các sản phẩm không chỉ về mẫu mã, chất lượng màcòn cả dịch vụ đi kèm Điều này đòi hỏi các DN nếu muốn tồn tại và phát triển thìphải không ngừng nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh, đáp ứng tốt nhất yêu cầucủa khách hàng
Điều kiện về các yếu tố sản xuất: Các yếu tố sản xuất bao gồm yếu tố cơ bản và
yếu tố tiên tiến Ngành DMVN được coi là có ưu thế: lao động dồi dào, ngành dệtmay có truyền thống lâu đời, vị trí địa lý thuận lợi…, đã tạo cho Việt Nam có điềukiện về các yếu tố cơ bản khá đầy đủ Tuy nhiên, các yếu tố tiên tiến như cơ sở hạtầng, thông tin liên lạc, viễn thông, nguồn nhân lực kỹ thuật cao (các kỹ thuật viên
đã qua đào tạo, các chuyên gia trong lĩnh vực dệt may) lại rất khan hiếm Điều này
đã gây nhiều khó khăn cho ngành dệt may trong quá trình phát triển lên cấp độ cao,
Trang 21tức là giai đoạn chuyển sang xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao,đòi hỏi khả năng cạnh tranh cao hơn.
Điều kiện về chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành: Thời
gian qua, trên cơ sở xác định dệt may là ngành công nghiệp chủ đạo trong quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nhà nước đã thiết lập “Chiến lược pháttriển ngành dệt may đến năm 2010” Đây là nền tảng giúp các DN DMVN có hướng
đi phù hợp với năng lực cạnh tranh của DN và đòi hỏi của tiến trình phát triển Trong nội bộ ngành dệt may đã xuất hiện nhiều DN có thành tích khá xuất sắc,đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước thông qua hoạt động xuất khẩu, điềunày đã tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nội bộ ngành, thúc đẩy các DN cùngnhau vươn lên
Điều kiện về các ngành CNHT và các ngành liên quan: Ở các nước công
nghiệp phát triển, CNHT thường được phát triển đi trước một bước hoặc ngangbằng so với ngành công nghiệp chính Nhưng thực tế ở Việt Nam, ngành CNHT lạiphát triển rất yếu ớt, thể hiện qua việc 70-80% nguyên phụ liệu cho công nghiệpxuất khẩu phải nhập khẩu từ nước ngoài
2.2 Các chính sách của nhà nước về phát triển CNHT ngành dệt may.
2.2.1 Quan điểm phát triển ngành CNHT dệt may Việt Nam hiện nay.
Như vậy, từ sự đánh giá các yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh ở trên có thểthấy, bên cạnh những cơ hội về thị trường, lợi thế cạnh tranh của ngành DMVN nóichung và lợi thế cạnh tranh quốc gia nói riêng đang bị ảnh hưởng lớn từ sự yếu kémcủa CNHT, các yếu tố tiên tiến chưa phát triển đúng mức, các DN có cạnh tranh,nhưng sự cạnh tranh này chỉ diễn ra trong nội bộ ngành, còn khả năng cạnh tranhtrên thị trường thế giới lại rất yếu
Trong hơn 10 năm qua, Việt Nam đã có định hướng các nhà đầu tư trong vàngoài nước vào phát triển CNHT, nhất là đối với ngành dệt may Đến nay, CNHTdệt may của Việt Nam vẫn ở trong tình trạng kém phát triển với những biểu hiện nổibật là chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao và chủng loại nghèo nàn, không đápứng một cách ổn định và có hiệu quả yêu cầu của các ngành hạ nguồn Thực tế chothấy, ngành may xuất khẩu đang phải nhập khẩu đến 80% nguyên phụ liệu và gầnnhư toàn bộ các loại hoá chất, thuốc nhuộm từ nước ngoài
Trang 22Ngành CNHT trong nước còn non yếu dẫn đến sự phụ thuộc vào nguồn cungứng bên ngoài, giá trị gia tăng trong mỗi sản phẩm thấp và dẫn đến hiệu quả xuấtkhẩu thấp Do đó, việc phát triển CNHT đang trở thành một vấn đề thu hút được sựquan tâm không chỉ của các cơ quan hoạch định chính sách mà còn của chính các
Quan điểm thứ hai cho rằng Việt Nam cần nhanh chóng phát triển CNHT, đặcbiệt là công nghiệp dệt may hoặc những ngành phục vụ sản xuất hàng xuất khẩunhư lắp ráp xe máy, điện tử dân dụng, ô tô…Quan điểm này xuất phát từ tình trạngphụ thuộc vào nước ngoài về các loại nguyên phụ liệu cho sản xuất sản phẩm, giá trịgia tăng được tạo ra từ sản xuất trong nước thấp kém, kéo theo hiệu quả của sảnxuất và xuất khẩu thấp, khả năng sản xuất trong nước và thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài
2.2.2 Quy hoạch phát triển ngành CNHT ngành dệt may Việt Nam.
Quy hoạch phát triển công nghiệp dệt may đến năm 2015, định hướng đếnnăm 2020 đã được Bộ Công thương phê duyệt tại quyết định 42/2008/QĐ- BCTngày 19/11/2008 Quy hoạch đưa ra mục tiêu tổng quát phát triển ngành dệt may trở
Trang 23thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu đảmbảo cho các DN dệt may phát triển bền vững, hiệu quả Giai đoạn 2008 đến 2010,tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 16% đến 18%, tăng trưởng xuất khẩu bình quânđạt 20% và kim ngạch xuất khẩu đạt 12 tỷ USD vào năm 2010, 18 USD tỷ vào năm
2015, 20 USD tỷ vào năm 2020, sử dụng 2,5 triệu lao động đến năm 2010, 3 triệulao động đến năm 2020 v.v
2.2.2.1 Quy hoạch sản phẩm chiến lược
- Tập trung sản xuất vải và phụ liệu phục vụ may xuất khẩu Trong sản xuấtvải, khâu nhuộm và hoàn tất vải đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chấtlượng vải đáp ứng yêu cầu của thị trường và của khách hàng Đầu tư sản xuất vảiphải lựa chọn công nghệ tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giảm chi phínguyên liệu và thân thiện với môi trường;
- Đẩy mạnh đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất bông, xơ, sợi tổng hợp và phụliệu, để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và giảm dần nhập khẩu, tiết kiệmngoại tệ;
- Tăng cường đầu tư phát triển ngành may xuất khẩu để tận dụng cơ hội của thịtrường Các DN may cần đa dạng hoá và nâng cao đẳng cấp mặt hàng, tích cực thayđổi phương thức sản xuất hàng xuất khẩu từ nhận nguyên liệu giao thành phẩm sangmua đứt bán đoạn, đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh của các
DN may như các hoạt động thiết kế mẫu mốt, cung ứng nguyên phụ liệu, xúc tiếnthương mại
Đến năm 2015 đáp ứng được 50% như cầu các sản phẩm xơ, sợi tổng hợp, đếnnăm 2020 đáp ứng 80% nhu cầu sản xuất trong nước và sau năm 2020 bắt đầu thựchiện xuất khẩu; phát triển vải dệt đến 2010 đáp ứng trên 30% nhu cầu, đến 2015 đápứng khoảng 39% và đến 2020 đạt 40% nhu cầu vải dệt thoi Tập trung sản xuất vải
và phụ liệu phục vụ may xuất khẩu, đẩy mạnh đầu tư phát triển các cơ sở sản xuấtbông, xơ, sợi tổng hợp và phụ liệu để giảm dần nhập liệu, tiết kiệm ngoại tệ, tăngcường đầu tư phát triển ngành may xuất khẩu
2.2.2.2 Quy hoạch theo vùng, lãnh thổ
Đối với CNHT dệt may, quy hoạch theo vùng lãnh thổ, ngành này sẽ tập trungvào các nội dung như hình thành 3 trung tâm nguyên phụ liệu dệt may ở phía Bắc,Nam và miền Trung
Trang 24Cụ thể quy hoạch dệt may theo vùng lãnh thổ được phân bố ở các khu vực vớinhững định hướng chính:
- Khu vực I: Vùng đồng bằng sông Hồng
Quy hoạch theo định hướng lấy Hà Nội là trung tâm làm dịch vụ, cung cấpnguyên phụ liệu, công nghệ, mẫu mốt, các cơ sở may sản xuất các sản phẩm có giátrị gia tăng cao Các cơ sở sản xuất di dời về các Khu công nghiệp ở các tỉnh như:Hoà Xá (Nam Định), Nguyễn Đức Cảnh (Thái Bình), Phố Nối B (Hưng Yên), ĐồngVăn (Hà Nam), Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Ninh Bình Tại khu vực này sẽ hình thànhmột cụm công nghiệp may xuất khẩu và ba khu công nghiệp dệt nhuộm hoàn tất tậptrung Đầu tư một nhà máy sản xuất xơ Polyester công suất 160.000 tấn/năm tạiKhu công nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng)
- Khu vực II: Vùng Đông Nam Bộ
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại, thiết kế mẫu mốt, dịch vụcông nghệ dệt may và các nhà máy may các sản phẩm thời trang, có giá trị gia tăngcao Di dời các cơ sở nhuộm, hoàn tất tại Thành phố Hồ Chí Minh về Khu côngnghiệp Long An và các tỉnh lân cận Đây là khu vực đã phát triển nóng về dệt maytrong những năm qua, hiện đang gặp rất nhiều khó khăn về lao động nên khôngkhuyến khích đầu tư mới vào khu vực này để tránh sức ép về lao động
- Khu vực III: Vùng duyên hải Trung bộ
Lấy Thành phố Đà Nẵng làm trung tâm để hình thành một cụm công nghiệpmay xuất khẩu và một số Khu công nghiệp dệt nhuộm - hoàn tất tại Hoà Khánh (ĐàNẵng), Quảng Trị
- Khu vực IV: Đồng bằng sông Cửu Long
Lấy Thành phố Cần Thơ làm trung tâm để hình thành một cụm công nghiệpmay xuất khẩu và một khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung tại Trà Vinh
- Khu vực V: Vùng Đông Bắc và Tây Bắc bộ
Quy hoạch theo hướng bố trí một Khu Công nghiệp dệt tại Phú Thọ, các nhàmáy may bố trí ở các tỉnh Phát triển vùng trồng bông, nguyên liệu tơ tằm ở Sơn La,Điện Biên
- Khu vực VI: Vùng Bắc Trung bộ
Quy hoạch theo hướng bố trí các DN dệt may theo trục quốc lộ 1 với một sốcụm, điểm công nghiệp tại Bỉm Sơn (Thanh Hoá), Vinh (Nghệ An), Huế (ThừaThiên Huế) Hình thành ba khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung tại Diễn Châu(Nghệ An), Hà Tĩnh, Quảng Trị trong giai đoạn từ 2012 đến 2015
Trang 25- Khu vực VII: Vùng Tây nguyên
Định hướng đẩy mạnh chuyên môn hoá các cây nguyên liệu dệt như dâu tằm,bông gắn liền với chế biến tạo ra các sản phẩm cho thị trường xuất khẩu và nộiđịa Đồng thời kết hợp phát triển các cơ sở may phục vụ nội địa hoặc làm vệ tinhcho ngành may của khu vực II và khu vực III
Quy hoạch đưa ra hệ thống các giải pháp và chính sách thực hiện Quy hoạch.Các DN trong ngành dệt may tổ chức và mở rộng mạng lưới bán lẻ trong nước,quan tâm đến việc xây dựng và quảng bá thương hiệu sản phẩm, xây dựng hình ảnhngành DMVN “chất lượng-trách nhiệm-thân thiện môi trường” trên thị trường quốc
tế Hiệp hội Dệt May và Tập đoàn DMVN là đầu mối để phối hợp và liên kết vớicác cơ sở đào tạo trong và ngoài nước triển khai Chương trình đào tạo nguồn nhânlực cho ngành Tập đoàn DMVN có trách nhiệm phát triển đầu tư những dự án dệtmay có quy mô lớn
Theo số liệu của Tập đoàn DMVN, diện tích quy hoạch sản xuất bông đến
2020 trên toàn quốc là 76.000 ha Trong đó, các tỉnh Tây Nguyên khoảng 32.000
ha, Nam Trung Bộ 27.000 ha, Trung Bô 12.000 ha và miền Bắc trên 2.000 ha
Về quy hoạch phát triển trang trại: tỉnh Bình Thuận sẽ đầu tư 10 trang trại vớidiện tích 1.300 ha; Ninh Thuận với 5 trang trại, diện tích 2.800 ha; Đăk Lắk 10trang trại, diện tích trên 4.500 ha; Gia Lai 12 trang trại, diện tích 3.450 ha; ĐắkNông 7 trang trại, diện tích 2.400 ha;
Ngoài các chính sách tăng diện tích và trang trại trồng bông, các chính sáchđầu tư về công trình thủy lợi trọng điểm cũng được đẩy mạnh như: Dự án tưới Phan
Rí – Phan Thiết, khởi công 2009
2.2.3 Chính sách vốn:
2.2.3.1 Vốn cho đầu tư phát triển
Để giải quyết vốn cho đầu tư phát triển, ngành DMVN huy động vốn từ các
thành phần kinh tế trong và ngoài nước thông qua các hình thức hợp tác kinh doanh,
công ty liên doanh, công ty liên kết, cổ phần hoá các DN, DN có 100% vốn đầu tưnước ngoài Khuyến khích các DN huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán(phát hành trái phiếu, cổ phiếu, trái phiếu quốc tế), vay thương mại với điều kiện cóhoặc không có sự bảo lãnh của Chính phủ
Trang 26Ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí để đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng,các công trình thủy lợi, hệ thống tưới tiêu tại các vùng được quy hoạch trồng bôngvải có tưới tập trung
2.2.3.2 Vốn cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và xử lý môi trường.
Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các Việnnghiên cứu, các Trường đào tạo trong ngành DMVN để tăng cường cơ sở vật chất
và thực hiện các hoạt động nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành DệtMay theo nguyên tắc phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.Nhà nước cho DN Dệt May được vay vốn tín dụng nhà nước, vốn ODA và vốn củaquỹ môi trường để thực hiện các dự án xử lý môi trường
2.2.4 Chính sách nguyên nhiên liệu:
a) Xây dựng các Trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu tại Thành phố Hà Nội,Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn để cung ứng kịp thời nguyên phụ liệucho các DN trong ngành
b) Xây dựng các DN kinh doanh nguyên phụ liệu tập trung nhằm đáp ứngđược nhu cầu nguyên phụ liệu cho các DN với chất lượng cao và giá nhập khẩu hợplý
Đặc biệt để giải quyết vấn đề cung cấp bông cho ngành dệt may, giảm tỷ lệnhập khẩu, tăng tỷ kệ nội địa hóa, chính sách phát triển nghề trồng bông được ápdụng hợp lý Mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế sẽ được phát huy cùng sự
hỗ trợ của Nhà nước cho đầu tư phát triển cây bông vải, gắn kết lợi ích giữa giacông chế biến, tiêu thụ với lợi ích của người trồng bông Đồng thời, Nhà nước đầu
tư cho công tác nghiên cứu, khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng caonăng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất bông
Chương trình khuyến khích các DN chế biến bông xơ hỗ trợ người trồng bôngđầu tư cơ giới hóa các khâu từ làm đất đến thu hoạch, bảo quản, xơ chế, hệ thốngtưới tiết kiệm để tăng năng suất lao động nhằm tạo bước đột phá trong phát triểncây bông vải Việt Nam
Trang 27Xây dựng các khu công nghiệp chuyên ngành Dệt May có đủ điều kiện hạ tầngcung cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải, đảm bảo các yêu cầu về môi trường và laođộng có khả năng đào tạo.
Phối hợp với các địa phương đầu tư phát triển cây bông, trong đó chú trọng xâydựng vùng bông có tưới, từng bước đáp ứng nhu cầu bông cho ngành dệt, sợi
Mở các khoá đào tạo về thiết kế và phân tích vải, kỹ năng quản lý sản xuất, kỹnăng bán hàng (gồm các kỹ năng thiết kế, làm mẫu, bán hàng, kiến thức về tiêuchuẩn nguyên liệu, sản phẩm, tiêu chuẩn môi trường và lao động)
Liên kết với các tổ chức quốc tế để cử cán bộ, học sinh tham gia các khoá đàotạo cán bộ quản lý, cán bộ pháp chế, cán bộ kỹ thuật, cán bộ bán hàng, đào tạo côngnhân kỹ thuật có tay nghề cao tại các cơ sở đào tạo ở nước ngoài
Kết hợp việc đào tạo dài hạn với đào tạo ngắn hạn, kết hợp giữa đào tạo chínhquy với đào tạo tại chỗ, kết hợp giữa đào tạo trong nước với việc cử cán bộ ra nướcngoài để đào tạo
Củng cố và mở rộng hệ thống đào tạo chuyên ngành Dệt May, xây dựng TrườngĐại học Dệt May và Thời trang để tạo cơ sở vất chất cho việc triển khai các lớp đàotạo
Duy trì thường xuyên các lớp đào tạo hệ cao đẳng, trung cấp, công nhân thông
Trang 28nguồn nhân lực cho ngành Hiệp hội DMVN và Tập đoàn DMVN là đầu mối đểphối hợp và liên kết với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước triển khai Chươngtrình đạo tạo nguồn nhân lực cho ngành.
c) Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sản phẩm dệt may phùhợp và hài hoà với pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thông lệ quốc tế
Hỗ trợ nâng cấp các trung tâm giám định, kiểm tra chất lượng sản phẩm Dệt May,
hỗ trợ cho các DN Dệt May trong quản lý chất lượng và khắc phục các rào cản kỹthuật
d) Xây dựng phòng thí nghiệm sinh thái Dệt May và Trung tâm phát triển cácmặt hàng vải trong giai đoạn 2008-2010
e) Xây dựng cơ sở dữ liệu về ngành Dệt May, nâng cao chất lượng của trangthông tin điện tử
g) Nghiên cứu xây dựng các chính sách khuyến khích thúc đẩy chuyển giaocông nghệ trong ngành Dệt May
Trang 29d) Tăng cường công tác tư vấn pháp luật thương mại quốc tế Chuẩn bị kỹ việcchống các rào cản kỹ thuật mới của các nước nhập khẩu cho các DN xuất khẩu.
e) Tổ chức mạng lưới bán lẻ trong nước, đổi mới phương thức tiếp thị xuất
khẩu, đồng thời quan tâm đến việc xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm, xâydựng hình ảnh của ngành DMVN trên thị trường trong nước và quốc tế
g) Bố trí đủ cán bộ pháp chế cho các DN trong ngành để tham gia soạn thảo,đàm phán và giải quyết các tranh chấp hợp đồng, nhất là hợp đồng thương mại quốc
tế
2.3 Thực trạng phát triển CNHT ngành DMVN hiện nay.
Có thể nhận thấy trong thời gian qua Chính phủ đã tập trung chú ý đến sự phát
triển của ngành CNHT cho ngành dệt may để tạo sự cân xứng với sự phát triển củangành Các chính sách khuyến khích phát triển đã được áp dụng khá đồng bộ Tạođược nhiều điều kiện thuận lợi cho ngành hỗ trợ phát triển
đó bông và xơ tổng hợp là hai loại nguyên liệu chính của ngành dệt Sự phụ thuộcquá nhiều các yếu tố đầu vào như vậy không những làm ảnh hưởng đến hiệu quảkinh tế của ngành dệt may mà còn gây tình trạng bị động trong điều hành sản xuất,
tổ chức các quan hệ liên kết dệt - may, dẫn đến một điểm yếu căn bản của ngành dệtmay- “dệt kém nên may phải gia công”, lợi nhuận thu được thấp
Thực tế phát triển dệt may cho thấy, nguyên liệu cho công nghiệp dệt của ViệtNam chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài, tính từ năm 1997 cho đến nay, trungbình mỗi năm cả nước nhập từ 91 triệu đến 109,7 triệu USD bông xơ, tương đươngvới 5-6 vạn tấn bông xơ Theo Vinatas, hiện nay Việt Nam đang sản xuất khoảng
170000 tấn sợi/năm, nhập khẩu khoảng 200000 tấn sợi/năm Trong đó sợi bông trảithô và OE chiếm 40%, Pe/Co chiếm 36%, sợi bông trải kỹ chiếm 2% và các loại sợikhác là 2% Khối lượng này chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu sử dụng
Trang 30của ngành dệt may Điều đáng chú ý là cho đến nay Việt Nam vẫn chưa sản xuấtđược các loại xơ- sợi tổng hợp từ các sản phẩm hoá dầu Ngành công nghiệp hoádầu của Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu phát triển, tập chung chủ yếu vào khâugia công các sản phẩm hoá dầu từ nguyên liệu nhập khẩu gần 100% Theo Tập đoànDMVN, năm 2006 tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu là 5,696 tỷ USD(chưa kể một số hóa chất nhuộm) so với 5,834 tỷ USD tổng kim ngạch xuất khẩu.Tính đến năm 2007, ngành dệt may vẫn phải nhập khẩu đến 90% bông, gần 100%các loại xơ sợi tổng hợp, 70% nguyên phụ liệu vải và các phụ liệu may xuất khẩukhác Sản lượng thực tế ngành dệt Việt Nam trong thời gian qua là 376 triệu mét vải(năm 2003 là 513 triệu mét), tổng công suất thiết kế là 800 triệu mét vải Song phầnlớn số vải sản xuất trong nước không đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng may mặcxuất khẩu Chính vì vậy, hàng năm các DN may mặc trong nước phải nhập khẩukhoảng 300 triệu mét vải các loại, chiếm khoảng 80% lượng vải và sợi cần thiết chosản xuất trong nước (chủ yếu sử dụng cho hình thức gia công CMT, CMP), cao gấphơn 3 lần so với lượng vải có thể cung cấp trong nước cho sản xuất sản phẩm xuấtkhẩu Theo mục tiêu của kế hoạch tăng tốc, đến năm 2005, sản lượng vải trongnước đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất sản phẩm xuất khẩu sẽ phải đạt đến 1 tỷ mét Theo đó, ngành DMVN thường xuyên phải đối mặt với nhiều khó khăn; chiphí nguyên liệu cao dẫn đến giá thành sản xuất cao, tất yếu giảm sức cạnh tranh củacác sản phẩm, không chủ động trong kế hoạch kinh doanh, các DN sản xuất chịusức ép từ các nhà cung cấp nguyên phụ liệu
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất xơ- sợi tổng hợp của Việt Nam 2002- 2008
Đơn vị: 1000 tấn
Nhu cầu sợi tổng hợp các
loại
Nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp
Theo thống kê, trong khoảng 5 năm trở lại đây, diện tích trồng bông tại ViệtNam đã giảm nghiêm trọng Ở thời điểm năm 2001-2002, diện tích trồng bông trên
cả nước trên 32.600 ha Nhưng đến niên vụ 2008-2009, chỉ còn dưới 3.000 ha Sản
Trang 31lượng bông vải trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 2% nhu cầu bông xơ chongành sợi Ngành dệt sợi của Việt Nam xem như mất trắng nguồn cung nguyên liệu
từ trong nước và phải nhập khẩu gần 100% bông xơ từ nước ngoài
Nguyên nhân chính khiến diện tích bông vải giảm mạnh là do năng suất quáthấp (chỉ chừng 21 tạ/ha) và giá thu mua không cao (9.000 đồng/kg), khiến nôngdân không “mặn mà” với cây bông vải bằng một số loại cây công nghiệp ngắn ngàykhác
Để ngành Bông phát triển thay thế nguyên liệu nhập khẩu, các Cty Bông thuộcCty CP Bông Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ cho người trồngbông như: hỗ trợ 100% giống bông, đầu tư chất điều hòa sinh trưởng, thuốc bảo vệthực vật và phân bón bình quân 3 triệu đồng/ha,…sản phẩm được Cty bao tiêu toàn
bộ với giá thấp nhất là 9.000 đồng/kg và sẽ điều chỉnh theo thời giá Với chiến lượcnày ngành bông bước đầu đã có tín hiệu vui khi diện tích trồng niên vụ 2008 – 2009
đã tăng trở lại
Hiện nay, Chính phủ đã giao cho Tập đoàn DMVN (Vinatex) làm đầu mối hồiphục phát triển cây bông, đi cùng với đó là các dự án phát triển thủy lợi phục vụnước tưới ở vùng trọng điểm trồng bông
Hiện đã có 8 dự án phát triển cây bông của VinatexMart, Viện Nghiên cứubông Nha Hố, Công ty CP Bông Tây Nguyên… được đầu tư quy mô, trồng theo môhình trang trại, nông trường ở các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung trên diệntích 22.000 ha Diện tích mỗi trang trại từ 1.000 ha đến 4.500 ha, tập trung ở cáctỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Giai Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông
Cũng để chuẩn bị trồng trên diện rộng, hiện các đơn vị đã tiến hành trồng thửnghiệm trồng bông trên diện tích nhỏ, ở 2 trung tâm giống tại Phan Rang (NinhThuận) Hiện nay, việc đầu tư sản xuất cây bông vải chủ yếu đầu tư, liên kết sảnxuất trong nông dân Theo kế hoạch của Công ty CP Bông Việt Nam, việc hồi phụcphát triển cây bông mới bắt đầu, hiện tại chỉ dừng lại ở việc duy trì sản xuất vàchuẩn bị cho việc mở rộng diện tích sau này Giống cây trồng vẫn sử dụng nguồngiống có sẵn trong nước
2.3.2 Ngành kéo sợi.
Ngành kéo sợi của Việt Nam hiện nay còn rất yếu và kém phát triển Việt Namhầu như chưa có nhà máy sợi tổng hợp hiện đại nào mà mới chỉ có những nhà máy
Trang 32kéo sợi từ nguyên liệu tự nhiên Dẫn đến hạn chế lớn trong khả năng cung cấpnguyên liệu tơ sợi trong nước cho ngành may
Nhu cầu sử dụng sợi PP: Từ năm 1996- 1999, nhu cầu sử dụng PP tăng hàng
năm khoảng 30%, và tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây Thể hiện quacác con số sau:
Bảng 2.2: Nhu cầu tiêu thụ của cả nước giai đoạn 2001- 2008
Đơn vị: nghìn tấn
Nguồn: Bộ công nghiệp
Nhu cầu tiêu thụ sợi polyeste:
Đây là loại sợi có nhiều công dụng và đuợc sử dụng nhiều nhất ở thị trườngViệt Nam( khoảng 80% sản lượng sơ sợi tổng hợp) Ngành công nghiệp Dệt May làngành tiêu dùng xơ sợi Polyeste nhiều nhất, và đặc biệt tăng nhanh chóng từ năm
Ngành dệt vải Việt Nam hiện nay còn phát triển chậm, trình độ máy móc thiết
bị trong ngành còn lạc hậu Hiện Việt Nam chưa có nhà máy dệt nào hiện đại đạttiêu chuẩn Các nhà máy dệt chủ yếu lâu đời và cũ kỹ Hiện nay một số dự án đầu tư
đã bắt đầu được áp dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng nhà xướng , máy móc cho cácnhà máy dệt trong các cụm khu công nghiệp mới
Bảng 2.4: Số liệu tình hình sản xuất và XNK ngành dệt Việt Nam giai đoạn
2006-2009
Trang 33Giá trị gia tăng, triệu đô la Mỹ 3.205,5 3.899,6 5.136,8 4.789,3
Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng, % 13,2 13,5 9,2 -3,0
Giá trị gia tăng ngành dệt, triệu đô la
Mỹ
Kim ngạch XK hàng dệt, triệu đôla Mỹ 1.058,0 1.352,0 1.690,0 1.318,2
Tăng trưởng kim ngạch XK hàng dệt
Hiện nay các loại chất trợ này hấu hết phải nhập với khối lượng lớn làm cho tỷ
lệ giá nguyên liệu và phụ liệu thanh toán bằng ngoại tệ chiếm khá cao trong giáthành sản phẩm dệt nhuộm Chương trình phát triển hàng tiêu dùng cấp Nhà nước(KC-07) đã giao cho Viện Hóa học Công nghiệp (VHHCN) chủ trì đề tài KC-07-16nghiên cứu sản xuất một số chất trợ có chất lượng cao dùng cho ngành dệt nhằm
Trang 34từng bước thay thế các chế phẩm nhập ngoại trên cơ sở nguyên liệu sẵn có trongnước.
Nhuộm- in hoa- hoàn tất là một bộ phận có vị trí quan trọng trong ngành dệtmay.Hàng năm ngành dệt Việt Nam tạo ra hàng nghìn sản phẩm từ chỉ khâu, vảimàn, vải thành phẩm, khăn các loại…tất cả đều có nhu cầu sử dụng thuốc nhuộm
Vì thế nhu cầu sử dụng thuốc nhuộm là rất lớn
Bảng 2.5: Nhu cầu hoá chất, thuốc nhuộm của DMVN năm 2001- 2006
Nguồn: Bộ công nghiệp
Tình hình cung cấp hoá chất phục vụ công đoạn nhuộm in hoa, hoàn tất.
Hiện nay ở Việt Nam, công nghiệp sản xuất thuốc nhuộm phục vụ cho ngànhdệt may chưa phát triển, chúng ta chưa tự sản xuất được các sản phẩm thuốc nhuộmhoặc sản xuất với giá thành rất cao nên 100% thuốc nhuộm trong ngành dệt mayđều phải nhập khẩu
Trước những năm 1990, nguồn thuốc nhuộm phục vụ cho Dệt May được nhập
từ các nước XHCN như: Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan…Một số laọi đặc biệt đượcnhập từ các nứoc công nghiệp phát triển như: Nhật Bản, Thuỵ Sĩ…
Sau năm 1990, nguồn thuốc nhuộm được nhập chủ yếu từ các nước côngnghiệp phát triển như: Nhật Bản, Thuỵ Sỹ, Trung Quốc…Những năm gần đây thuốcnhuộm của một số nước trong khu vục được sử dụng một cách rộng rãi với giáthành rẻ như: Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Hàn Quốc…
Trang 35Bảng 2.6: Tình hình cung cấp thuốc nhuộm của Viẹt Nam năm 2008
Lượng nhập khẩu (tấn/năm)
nhập khẩu (%)
Nguồn: Bộ công nghiệp
Thuốc nhuộm chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị hoá chất( khoảng 50%), sửdụng cho ngành dệt may, nhưng Việt Nam chưa cung cấp được sản phẩm này dotrình độ phát triển còn thấp và chưa có sự quan tâm cần thiết
Ngoài thuốc nhuộm, ngành Dệt và nhuộm- in hoa- hoàn tất còn sử dụng mộtlượng lớn các chất trợ và các loại hoá chất khác Tuy nhiên, với thiết bị cũ kĩ, côngnghệ lạc hậu, chậm đổi mới và thiếu đồng bộ, thì tỷ lệ chất trợ và hoá chất cơ bảntrong nước cung cấp cho ngành Dệt may chỉ chiếm từ 5- 15% nhưng hầu hết lại lànhững sản phẩm có giá trị thấp, chỉ đạt 55% nhu cầu của ngành dệt
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất chất trợ của Việt Nam năm 2008
dụng tấn/năm)
Lượng sản xuất được(tấn/năm)
Máy móc thiết bị ngành Dệt phần lớn là cũ kỹ, lạc hậu và có xuất xứ từ nhiềunước Ngành Dệt có gần 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm nên hư hang nhiều,mất tính năng vận hành tự động nên năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp, giáthành cao.Trong nhiều năm qua, hầu hết các DN đã sử dụng nguồn vốn tự có, vốn
Trang 36vay trung hạn, dài hạn để mua sắm thiết bị,góp phần năng cao chất lương côngnghệ, đa dang hoá sản phảm.Hàng ngàn máy dệt không thoi, có thoi khổ rông đãđược nhập về, nhiều bộ đồ mắc mới , hiện đại đã được trang bị thay thế cho nhữngthiết bị quá cũ Tuy ngành Dệt đã có nhiều cố gắng trong đầu tư đổi mới công nghệnhưng cho đến nay trình độ kỹ thuật của ngành vẫn còn lạc hậu so với khu vực vàthế giới
Trong 5 năm gần đây , toàn ngành đã tranh bị thêm được gần 20.000 máymay hiện đại các loại để sản xuất các mặt hàng sơ mi, jacket, đồ bảo hộ lao động, áophông các loại… cải thiện một bước chất lượng hàng may xuất khẩu và nội địa.Ngành may liên tục đầu tư mở rộng sản xuất và đổi mới thiết bị để đáp ứng yêu cầuchất lượng của thị trường thế giới.Các máy may được sử dụng hiện nay phần lớn làhiện đại, có tốc độ cao(4.000-5.000 vòng/phút), có bơm dầu tự động, đảm bảo vệsinh công nghiệp Một số DN đã đầu tư dây chuyền đồng bộ, sử dụng nhiều máychuyên dùng sản xuất một mặt hàng như đây chuyền may sư mi của May 10, đâychuyền may quần đứng có thao tác bộ phận tự động theo chương trình, đây chuyềnsản xuất quần Jean có hệ thống máy giặt mài
Cơ khí công nghiệp nhẹ là lực lượng sản xuất hậu cần quan trọng, có nhiệm vụđáp ứng nhu cầu phụ tùng và đổi mới thiết bị trong các nhà máy công nghệ củangành công nghiệp nhẹ Bộ phận này được hình thành với sự ra đời đầu tiên của nhàmáy cơ khí Quang Trung Hiện nay phục vụ cho công nghiệp Dệt May co 4 nhàmáy chính là:
Công ty cơ khí dêt may Hưng Yên
Công ty cơ khí may Gia Lâm
Công ty cơ khí Dệt May Nam Định
Công ty cơ khí Dệt May Thủ Đức
Trong thời gia qua các dơn vi này tuy có nhiều cố gắng tuy nhiên giá trị sảnxuất mỗi năm chỉ khaỏn 9 triệu USD Nhìn chung năng lực sản xuất của các công tynày chưa phát huy hết công suất thiết kế ban đầu, do: dây chuyền sản xuất thiếuđồng bộ, lạc hậu, chất lượng thiết bị xuống cấp, độ chính xác thấp Ngoài ra trong
cơ chế thị trường, các công ty cơ khí nói chung vẫn chưa tập trung đầu tư thíchđáng, công tác xúc tiến bán hàng còn nhiều bất cấp dẫn đến tình trạng sản phảm sảnxuất ra không có đầu ra
Trang 37Nhu cầu sử dụng các sản phẩm cơ khí Dệt may:
Ngành công nghiệp dệt may là một trong những ngành sử dụng máy móc, thiết
bị có nhiều chi tiêt nhỏ, trong quá trình sản xuất các chi tiêt bị mài mòn, hư hỏngcần thay thế như: các chi tiêt bánh răng, trục truyền động, sắt suốt…Việc thay thêcác chi tiết này phải tiến hành thường xuyên, do đó trong những năm qua nhu cầu
sử dụng các sản phẩm của ngành công nghiệp cơ khí phục vụ cho mục đích này củaDMVN là rất lớn
Bảng 2.8: Nhu cầu của ngành DMVN đối với các sản phẩm cơ khí năm 2008.
1 Cọc sợi, suốt sắt, lõi suốt cao su, nồi, khuyên, bánh răng, trục
chuyển động…
350
2 Các phụ tùng go, khung go máy dệt, cam máy dệt… 150
3 Các phụ tùng cho thiết bị nhuộm hoàn tất 150
2.3.6 Ngành sản xuất phụ liệu may.
Hiện nay, khả năng đáp ứng nhu cầu phụ liệu may của các cơ sở trong nướccòn rất hạn chế Đối với mặt hàng đã sản xuất được thì khả năng cung cấp trongnước chỉ đạt từ 15- 38% Còn nhiều loại sản phẩm trong nước vẫn chưa có khả năngsản xuất như: các loại băng dệt, băng gai…
Trang 38Bảng 2.9: Tình hình cung cấp các loại phụ liệu may trong nước
xuất
Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu(%)
Nhập khẩu
Nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp
2.4 Đánh giá chung về phát triển CNHT ngành DMVN.
2.4.1 Những kết quả đạt được của ngành CNHT ngành DMVN.
Những năm gần đây, luồng vốn đầu tư nước ngoài theo chân các tập đoàn, cáctổng công ty, DN, nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là rất lớn Năm 2007, ViệtNam đã thu hút được 20,3 tỷ USD vốn đầu tư từ nước ngoài, tăng 69,3% so với nămtrước, vượt 53,2% kế hoạch dự kiến năm, đây là mức vốn lớn nhất từ khi Việt Nam
mở cửa hội nhập với thế giới và khu vực Các nhà sản xuất Nhật Bản, Hàn Quốc,Đài Loan… đang có xu hướng chuyển dần công nghệ và nhà máy vào Việt Nam.Điều này kéo theo nhu cầu cao về linh kiện tại chỗ của các nhà sản xuất này nhằm
hạ giá thành sản phẩm Một cơ hội để các nhà cung ứng nội địa tận dụng
Tuy nhiên, tận dụng cơ hội này không dễ khi mà yêu cầu về chất lượng sản phẩmcủa các nhà đặt hàng là rất cao, không phải nhà cung ứng Việt Nam nào cũng có thểđáp ứng Trong khi các DN Việt Nam luôn gặp những khó khăn muôn thuở như ítvốn, công nghệ, trình độ quản lý, khả năng tiếp thị còn hạn chế Đây cũng lànhững rào cản khiến số lượng và sự phát triển các DN trong ngành CNHT bị hạnchế
Thực tế, Việt Nam có tiềm năng lớn về phát triển CNHT, trong đó cơ bản dựatrên khả năng tiếp thu công nghệ mới và sự khéo tay của người thợ Một chuyên giakinh tế Nhật Bản nhận định, so với Thái Lan, một trong những quốc gia hàng đầu
về CNHT, Việt Nam không chỉ theo kịp mà còn có thể vượt qua Tuy nhiên, phảilàm sao biến tiềm năng trở thành hiện thực? Điều này cần phải có sự nỗ lực củakhông chỉ các các DN mà còn của cả cơ quan Nhà nước Trong đó yêu cầu hàng đầu
Trang 39là đào tạo nhân lực, các DN phải đảm bảo được các yếu tố chất lượng hàng hóa,giảm giá thành, tuân thủ nghiêm ngặt thời hạn giao hàng, bảo vệ môi trường đồngthời phải phát triển nhanh hạ tầng giao thông, cầu cảng
Ngành CNHT Việt Nam sẽ ngày càng “còi cọc” nếu không có những biện phápđúng đắn và kịp thời
Thực tế trong thời gian qua, nhằm thực hiện mục tiêu của “Chiến lược tăngtốc cho ngành dệt may đến năm 2010”, bản thân ngành dệt may đã rất cố gắng, nỗlực cùng với sự chỉ đạo của Nhà nước, phát triển CNHT ngành dệt may với nhữngthành công bước đầu, tạo tiền đề cho sự phát triển của ngành dệt may trong giaiđoạn tiếp theo:
Một là, cho đến nay, lĩnh vực trồng bông của Việt Nam đã phát triển khá cả về
diện tích lẫn sản lượng Từ 1 vụ/năm lên 2 vụ/năm, năng suất chất lượng cao hơn.Khâu dệt kim (hàng thun), kéo sợi tăng gấp 2 lần, lực lượng sản xuất hàng may mặctăng 1,8 lần so với trước khi có “Chiến lược tăng tốc ngành dệt may đến năm 2010”
do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 4/2001 Hiện toàn ngành có gần 2 triệucọc sợi các loại Các dự án về dệt, trong đó có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưFormosa đã được triển khai, góp phần từng bước hiện đại hoá công nghệ, thiết bịmáy móc cho ngành công nghiệp dệt, đáp ứng được yêu cầu cung cấp nguyên liệucho ngành may sản xuất hàng xuất khẩu
Hai là, tình hình phát triển CNHT gần đây có nhiều khởi sắc: bắt đầu hình
thành các chợ nguyên phụ liệu giữa các DN Đây là một mô hình kinh tế góp phần
hỗ trợ cho công nghiệp sản xuất phụ liệu DMVN phát triển và từ đó, lượng hàngViệt Nam xuất khẩu theo hình thức FOB sẽ tăng dần thay vì phải làm hàng gia côngnhư hiện nay Cụ thể là ngành DMVN đã khởi động cho việc tiến tới thành lập mộtchợ nguyên phụ liệu bằng cách xây dựng một trung tâm kinh doanh nguyên phụ liệuđặt tại trụ sở Vinatex và Thành phố Hồ Chí Minh Trung tâm này đã đi vào trưngbày khoảng 2000 mặt hàng nguyên phụ liệu của trên 100 nhà cung ứng trong vàngoài nước Theo giám đốc trung tâm thì bước đầu, hoạt động của trung tâm đã trởthành cầu nối giữa các nhà cung ứng và các nhà sử dụng nguyên phụ liệu trongngành dệt may Trung tâm đã mở một cửa hàng trưng bày với 6 gian hàng đượcthiết kế hiện đại đầy tính thẩm mỹ Chỉ trong vòng 1 tuần, sản phẩm của khách hàng
sẽ được quảng bá rộng rãi bằng các kênh tiếp thị của trung tâm như quảng cáo trênbáo chí, trên mạng Internet, và gửi thư giới thiệu tới trên 1000 DN dệt may Trung
Trang 40cho ngành may mặc Đây cũng là nơi thể hiện năng lực cung ứng của Việt Nam vớikhách hàng trong và ngoài nước Hiện tại, trung tâm đã có 3 công ty sản xuất vải làPhong Phú, Formosa Tafeeta, Sunport và 3 công ty sản xuất phụ liệu là Phụ liệumay Nha Trang chuyên dây kéo, nút, băng dính, thun, công ty Paiho chuyên trangtrí, dây luồn, băng gai nhóm và công ty KangNing chuyên sản xuất móc treo xuấtvào thị trường Mỹ Các nhà kinh tế dự đoán trong thời gian tới, trung tâm sẽ thu hútđược nhiều hơn sự chú ý của các DN dệt may trong và ngoài nước, trở thành nơigặp gỡ cung cầu của ngành DMVN.
Ba là, các DN đã bắt đầu chú ý hơn đến việc sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn
có trong nước, nâng cao tỉ lệ nội địa hoá của sản phẩm
Bốn là, trong ngành dệt may đã có sự phát triển các sản phẩm cao cấp và hình
thành chuỗi liên kết để nâng cấp khả năng cạnh tranh Sớm nhận thức được nhữngkhó khăn thách thức, một số DN thuộc Vinatex đã làm tốt điều này với các sảnphẩm có hàm lượng chất xám và kỹ thuật cao như bộ veston và các sản phẩm thờitrang cao cấp Nhiều DN hiện đã khẳng định được thương hiệu và chiếm lĩnh thịtrường nội địa, trong đó điển hình là May Việt Tiến, Nhà Bè, Đức Giang, PhươngĐông, May 10, Thăng Long, Việt Thắng…Các DN dệt như Dệt Phước Thịnh, TháiTuấn, Thế Hoà…,các nhãn hiệu thời trang tư nhân nổi tiếng như Vera, WOW, Max,
PT 2000, Nino Max, Khaisilk, Legamex…với các mặt hàng trung và cao cấp Mặtkhác, ngành dệt may đang hình thành các chuỗi liên kết, điều này đặc biệt quantrọng đối với các DN nhỏ vì các DN này nếu không liên kết sẽ rất khó khăn khi phảicạnh tranh với ngay các DN lớn trong nước, chứ chưa nói đến cạnh tranh với DNnước ngoài trên thị trường thế giới
Năm là, các thiết bị, máy móc phục vụ cho ngành công nghiệp dệt may đã từng
bước được cải thiện và đóng góp không nhỏ vào việc cải tiến khoa học công nghệ,nâng cao năng suất lao động, tăng cường sức cạnh tranh của sản phẩm Tại triển lãmquốc tế lần thứ IV về máy và thiết bị công nghiệp ngành dệt may, vài và phụ liệunăm 2004 do công ty quảng cáo và hội chợ thương mại phối hợp với công tyYorkers Trade&Marketing Service Co.Ltd (Hồng Kông) tổ chức tại Trung tâm triểnlãm quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều chuyên gia kinh tế đã nhận xét: trongthời gian qua, ngành DMVN đã nổi lên như một thị trường thiết bị và máy móccông nghiệp vào loại lớn nhất thế giới 3,4 tỷ USD giá trị thiết bị và máy móc côngnghiệp đã được nhập khẩu vào Việt Nam chỉ trong 8 tháng đầu năm 2004, trong đó,