1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh

22 5,5K 37
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 93,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệu quả sản xuất kinh doanh" là một phạm trù khoa học của kinh tế vi mô cũng như nền kinh tế vĩ mô nói chung. Nó là mục tiêu mà tất cả các nhà kinh tế đều hướng tới với mục đích rằng họ sẽ thu được lợi nhuận cao, sẽ mở rộng được doanh nghiệp, sẽ chiếm lĩnh được thị trường và muốn nâng cao uy tín của mình trên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP NHÓM 3

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH

DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

HÀ NỘI, 9/2013

Trang 2

A KHÁI LƯỢC VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH

- "Hiệu quả sản xuất kinh doanh" là một phạm trù khoa học của kinh tế vi mô cũngnhư nền kinh tế vĩ mô nói chung Nó là mục tiêu mà tất cả các nhà kinh tế đều hướng tới với mục đích rằng họ sẽ thu được lợi nhuận cao, sẽ mở rộng được doanh nghiệp, sẽ chiếm lĩnh được thị trường và muốn nâng cao uy tín của mình trên thương trường

a, Hiệu quả xét ở góc độ kinh tế học vĩ mô

- Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng của một lượng

hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hoá khác Một nền kinh

tế có hiệu quả nằm trong giới hạn khả năng sản xuất của nó

b, Hiệu quả xét ở góc độ DN

- Hiệu quả kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất tức là giá trị sử dụng của nó (hoặc là doanh thu và nhất là lợi nhuận thu được sau quá trình sản xuất kinh doanh)

- Là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định

- Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏra

=>Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các

nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra

c, Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh :

* Các nhân tố bên trong

- Lực lượng lao động

- Công nghệ kĩ thuật và ứng dụng tiến bộ kĩ thuật

- Nhân tố quản trị doanh nghiệp

- Hệ thống trao đổi và xử lí thông tin

- Nhân tố tính toán kinh tế

- Môi trường pháp lí

* Các nhân tố bên ngoài

- Môi trường kinh tế

-Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng

B CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH

I CÁC NHÂN TỐ BÊN TRONG

Trang 3

1 Lực lượng lao động

a, Khái quát chung

Người ta nhắc đến luận điểm khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng hiện đại

đã trở thành lực lượng lao động trực tiếp, áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện tiên quyết để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Tuy nhiên, cần thấy rằng:

- Thứ nhất, máy móc dù tối tân đến đâu cũng do con người chế tạo Nếu không có

sự lao động sáng tạo của con người sẽ không thể có các máy móc thiết bị đó

- Thứ hai, máy móc thiết bị có hiện đại đến đâu thì cũng phải phù hợp với trình độ

tổ chức kỹ thuật, trình độ sử dụng máy móc của người lao động Thực tế do trình

độ sử dụng kém nên vừa không đem lại năng suất cao vừa tốn kém tiền bạc cho hoạt động sửa chữa, kết cục là hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp

Lực lượng lao động là nhân tố quan trọng liên quan trực tiếp đến năng suất lao động, trình độ sử dụng các nguồn lực khác như vốn, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu nên tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động SXKD Ngày nay hàm lượng khoa học kỹ thuật kết tinh trong sản phẩm ngày càng lớn đòi hỏi người lao động phải có mộ trình độ nhất định để đáp ứng được các yêu cầu đó, điều này phần nào cũng nói lên tầm quan trọng của nhân tố lao động Do vậy vai trò của con người là

vô cùng quan trọng và là yếu tố quyết định

b, Thực trạng ở Việt Nam

*Chưa đáp ứng yêu cầu

- Đó là những yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề, có tay nghề cao

- Thực tế cho thấy hiện chỉ có khoảng 30% lao động VN được qua đào tạo Bên cạnh đó, những lao động có trình độ cao đã được đào tạo hiện nay cũng chỉ đáp ứng được 15-20% yêu cầu của DN, nhưng phải tiếp tục đầo tạo thêm 2-3 năm nữa Điều này dẫn đến việc nhiều DN đang thiếu lao động nhưng không sao tuyển được

đủ Ngay như đội ngũ sinh viên cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của DN mà một

Trang 4

trong những nhược điểm lớn nhất của họ hiện nay là thiếu khả năng tư duy, sáng tạo và tính chủ động trong công việc

Bà Florance Marioranjtham - GĐ nhân sự Cty TNHH Panasonic VN cho biết: Năm 2010, Cty có nhu cầu tuyển dụng trên 4.000 người trong đó có không ít

kỹ sư thuộc các ngành: điện, điện tử, cơ khí Nguồn cung chủ yếu là tuyển dụng trực tiếp từ các trường đại học trong nước Thế nhưng dù đã có chương trình tuyển dụng rất sớm, Cty vẫn gặp khó khăn do không có đủ lực lượng đáp ứng yêu cầu

Theo Tổng cục Dạy nghề, trong cơ cấu lực lượng lao động VN từ 2005-2020,

tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tuy có tăng qua các năm, từ 19% năm 2005 (dân

số 83 triệu người) đến 30-32% năm 2010 (dự kiến), 45% năm 2015 và ước tính đạt 55% (dân số ước 98,5 triệu) vào năm 2020, nhưng vẫn rất thấp so với quy mô dân

số và nhu cầu của thị trường.

c, Giải pháp

- Để có thể xây dựng được đội ngũ công nhân lao động lành nghề, đáp ứng được nhu cầu thị trường hiện nay, DN đóng vai trò hết sức quan trọng Cũng bởi điều này mà đã có rất nhiều DN không tiếc tiền của, công sức để đầu tư đào tạo nâng cao trình độ cho những lao động đang làm việc, mặt khác liên tục tuyển dụng với mong muốn xây dựng được đội ngũ nhân sự trình độ cao

Trang 5

Cuộc khảo sát mới đây của Cty Grant Thornton tiến hành trên 34 quốc gia

và vùng lãnh thổ cho thấy, nhiều DN hiện xem nguồn lao động là một tài sản quý báu Họ chú trọng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng cho nhân viên nhiều hơn bao giờ hết 69% DN ở VN nói rằng họ chi cho công tác đào tạo với mức chi phí nhiều hơn so với trước đây, trong khi trung bình của thế giới chỉ có 63% DN làm việc này.

Bản báo cáo về tình hình lao động, nguồn nhân lực mới đây của VCCI cũng chỉ ra rằng, cần tăng cường hơn nữa sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và

DN để thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội mà Chính phủ và Bộ GD

- ĐT đề ra Các hiệp hội DN và các DN cũng đã có những ký kết cụ thể với cơ sở giáo dục đào tạo Tức là DN đặt hàng ngành giáo dục đào tạo trong việc cung ứng lao động chất lượng cao Các DN không thể đứng ngoài hệ thống giáo dục đào tạo, chỉ đòi hỏi, yêu cầu, đặt hàng, mà họ phải trở thành một trong những chủ thể quan trọng nhất của đào tạo, chủ động tổ chức đào tạo để đáp ứng nhu cầu của chính mình và của xã hội.

- Để nâng cao trình độ người lao động, không còn cách nào khác, chính các DN

phải chủ động và có những giải pháp cụ thể Chẳng hạn, các DN cần có những chính sách ưu đãi riêng để “chiêu mộ” người lao động có trình độ chuyên môn cao,tay nghề vững về làm việc trong đơn vị mình Ngoài việc chiêu mộ lao động có taynghề cao, từng DN cần phối hợp với các trường kỹ thuật tiến hành đào tạo, đào tạo lại để người lao động có điều kiện hoàn thiện tay nghề và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công việc Các chuyên gia cũng cảnh báo rằng: Nếu lãnh đạo DN không bắt tay vào việc phát triển nhân tài cho chính DN của mình thì sẽ phải trông chờ vào nơi khác, hoặc phải dùng lương cao và phúc lợi hấp dẫn hơn để thu hút những người mà chưa chắc kiến thức và kỹ năng của họ khiến bạn hài lòng 100%

- Có thể thấy, nâng cao trình độ cho người lao động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho họ là

Trang 6

một cách thiết thực, cụ thể và nó đang là những nhiệm vụ hàng đầu của cộng đồng

DN Bởi ai cũng hiểu rằng, chăm lo tốt cho người lao động chính là nghĩa vụ trước pháp luật, là tố chất nhân văn của chủ DN đối với người lao động và là đạo đức kinh doanh, văn hóa - văn minh của doanh nghiệp VN trong giai đoạn hiện nay

2 Công nghệ kĩ thuật và ứng dụng tiến bộ kĩ thuật

a, Khái quát chung

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay công nghệ là yếu tố quyết định cho sự pháttriển của sản xuất kinh doanh, là cơ sở để doanh nghiệp khẳng định vị trí cảu mìnhtrên thương trường Chính sách công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đảng và nhànước chính là để khuyến khích các doanh nghiệp thích ứng tốt hơn với những thayđổi trong môi trường công nghệ Sự thay đổi của công nghệ tác động tới doanhnghiệp theo nhiều khía cạnh khác nhau, đặc biệt nó không tách rời khỏi yếu tố conngười Hơn nữa yếu tố con người còn quyết định sự thành công hay thất bại củanhững thay đổi lớn trong công nghệ

Công nghệ và đổi mới công nghệ là động lực là nhân tố của phát triển trong cácdoanh nghiệp Đổi mới công nghệ là yếu tố là biện pháp cơ bản giữ vai trò quyếtđịnh để doanh nghiệp giành thắng lợi trong cạnh tranh Công nghệ lạc hậu sẽ tiêuhao nguyên vật liệu lớn, chi phí nhân công và lao động nhiều, do vậy và giá thànhtăng

- Công nghệ quyết định năng suất lao động và chất lượng sản phẩm

+ Trong cùng một khoảng thời gian nhưng nhờ những tiến bộ khoa học công nghệ không những làm tăng số sản phẩm mà còn tăng về cả chất lượng

Ví dụ: khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra, trong thời kì này nền kinh tế giản đơn, quy mô nhỏ dựa trên lao động chân tay là chủ yếu, được thay thế bằng công nghiệp và chế tạo máy móc quy mô lớn

Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới diễn ra ở nước Anh ( 1870), sau đó lan sang Pháp, Đức, Nga, Mỹ, Nhật Càng về sau do điều kiện học hỏi được kinh nghiệm của các nước đi trước và thành quả mà nó đem lại càng rõ rệt.

Tuy nhiên công nghệ ở trình độ nào lại chịu ảnh hưởng của các nhân tố

• Khả năng sáng tạo của lực lượng lao động

• Hoạt động chuyển giao công nghệ

Trang 7

Điều này làm ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và chất lượng sản phẩm.

- Công nghệ quyết định khả năng về chi phí kinh doanh: ảnh hưởng tới mức độ tiếtkiệm hay tăng phí nguyên vật liệu, mức độ sử dụng, sự hao mòn vô hình của máy móc thiết bị

+ NVL chiếm tỷ trọng cao trong giá thành:

Nhiều DN chế biến, NVL chiếm tới 70% - 80% Công nghệ liên quan đến mọi khâu trong quá trình kinh doanh: từ việc sản xuất đến việc đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng

+Ứng dụng công nghệ kỹ thuật giúp cho doanh nghiệp lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu xác định, quản lí tốt hơn về các tài sản của công ty, tránh sự hao phí không đáng có

=> Nếu doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật sản xuất còn có công nghệ sản xuất tiên tiến và hiện đại sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, còn nếu trình độ kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp thấp kém hoặc công nghệ sản xuất lạc hậu hay thiếu đồng bộ sẽ làm cho năng suất, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp rất thấp, sử dụng lãng phí nguyên vật liệu

* Nhân tố này tác động vào hiệu quả kinh doanh theo các hướng sau:

- Sự phát triển của công nghệ kỹ thuật tạo ra cơ hội để nắm bắt thông tin trong quá trình hoạch định kinh doanh cũng như trong quá trình điều chỉnh, định hướng lại hoặc chuyển hướng kinh doanh:

Công nghệ ngày càng phát triển, con người có thể ngồi ở nhà và biết rõ thông tin cần thiết phục vụ lợi ích của mình, hay những ứng dụng mang tính đột phá thay đoiỉ hoàn toàn kế hoạch kinh doanh…

- Công nghệ kỹ thuật sẽ tác động đến việc tiết kiệm chi phí vật chất trong quá trình kinh doanh làm cho chúng ta sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm chi phí vật chất trong quá trình kinh doanh

Công nghệ kỹ thuật giúp doanh nghiệp quản lí được nguyên vật liệu cũng như thời gian hoạt động dây chuyền…nhằm giúp doanh nghiệp đạt lợi nhuận tối đa

- Ứng dụng của tiến bộ khoa học kỹ thuật: Ứng dụng của tiến bộ khoa học kỹ thuật

sẽ tạo ra đa ngành nghề kinh doanh:

Doanh nghiệp có thể sử dụng máy móc thiết bị hay chung hơn là công nghệ để phát triển một số ngành nghề tương tự và liên quan đến nhau

=> Công nghệ kỹ thuật và ứng dụng tiến công nghệ kỹ thuật sẽ đem lại cho doanh nghiệp một tài sản rất lớn đó là lợi thế kinh doanh đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao

Trang 8

b, Thực trạng ở Việt Nam

Nước ta đã và đang thúc đẩy nghiên cứu, làm chủ và tạo ra công nghệ cao; ứng dụng hiệu quả công nghệ cao trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội; sản xuất sản phẩm, hình thành doanh nghiệp và phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao; xây dựng hạ tầng kỹ thuật và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao

Thời gian qua, nước ta đã xây dựng được một mạng lưới các tổ chức KH&CN với trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó

có gần 500 tổ chức ngoài nhà nước; 197 trường đại học và cao đẳng, trong đó có

30 trường ngoài công lập Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các viện, trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin KH&CN, thư viện, cũng được tăng cường và nâng cấp Đã xuất hiện một số loại hình gắn kết tốt giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với sản xuất - kinh doanh

Mặc dù ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, nhưng với sự nỗ lực rất lớn của Nhà nước, từ năm 2000 tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho KH&CN đã đạt 2%, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách đầu tư phát triển

KH&CN của Đảng và Nhà nước

Khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng trong việc tiếp thu, làm chủ, thích nghi và khai thác có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài Nhờ đó, trình độ công nghệ trong một số ngành sản xuất, dịch vụ đã được nâng lên đáng kể, nhiều sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh cao hơn Đặc biệt, trong lĩnh vực nông

nghiệp KH&CN đã tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đưa nước ta từ chỗ là nước nhập khẩu lương thực trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo, cà phê,v.v hàng đầu trên thế giới

Các chương trình nghiên cứu trọng điểm về công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, tự động hoá, công nghệ cơ khí - chế tạo máy, đã góp phần nâng cao năng lực nội sinh trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nhiều ngành kinh tế

Khoa học và công nghệ trong những năm qua đã góp phần đào tạo và nâng cao trình độ nhân lực, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc

và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc

Ví dụ :

- Tại tỉnh Gia Lai, thông qua mô hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nuôi ong, người dân đã phát triển nghề nuôi ong trở thành một ngành sản xuất hàng hóa và đã

Trang 9

xuất 450 tấn mật ong sang thị trường một số nước khối EU và Mỹ, thu 13 tỷ đồng/ năm.

- Tại Quảng Ninh, việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đã giúp một đơn vị tiếp nhận, làm chủ được công nghệ sản xuất giống và nuôi tu hài thương phẩm Trước khi thực hiện dự án doanh thu công ty chỉ đạt hai tỷ đồng/năm, sau khi triển khai thực hiện dự án một năm (năm 2007) doanh thu của công ty đã tăng lên 10 tỷ đồng, đến năm 2009 đạt 150 tỷ đồng và dự kiến năm 2010 đạt 200 tỷ đồng Ðến nay, việc nhân giống và nuôi thương phẩm tu hài đã được nhân rộng ra toàn huyện đảo Vân Ðồn (Quảng Ninh) và các tỉnh Hải Phòng, Nghệ An, Thanh Hóa

3 Nhân tố quản trị doanh nghiệp

a, Khái quát chung

Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, bộ máy quản trị doanh nghiệp

có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp, bộ máy quản trị doanh nghiệp phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau

- Nhiệm vụ đầu tiên của bộ máy quản trị doanh nghiệp và xây dựng cho doanh nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Nếu xây dựng được một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp hợp lý (phù hợp với môi trường kinh doanh, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp) sẽ là cơ sở là định hướng tốt để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả

- Xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh và kế hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp đã xây dựng

- Tổ chức thực hiện các kế hoạch, các phương án và các hoạt động sản xuất kinh doanh đã đề ra

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các quá trình trên

Với chức năng và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của bộ máy quản trị doanh nghiệp,

ta có thể khẳng định rằng chất lượng của bộ máy quản trị quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu bộ máy quản trị được tổ chức

Trang 10

với cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gọn nhẹ linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, có cơ chế phối hợp hành động hợp lý, với một đội ngũ quản trị viên có năng lực và tinh thần trách nhiệm cao sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao Nếu bộ máy quản trị doanh nghiệp được tổ chức hoạt động không hợp lý (quá cồng kềnh hoặc quá đơn giản), chức năng nhiệm vụ chồng chéo và không rõ ràng hoặc là phải kiểm nhiệm quá nhiều, sự phối hợp trong hoạt động không chặt chẽ, các quản trị viên thì thiếu năng lực và tinh thần trách nhiệm sẽ dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không cao.

b, Thực trạng ở Việt Nam

Thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam mặc dù có sự tăng trưởng mạnh về số lượng, tuy nhiên chất lượng doanh nghiệp còn thấp, năng lực cạnh tranh yếu.Một trong những nguyên nhân cơ bản là năng lực quản trị, đặc biệt là quản trị công ty còn hết sức hạn chế.Sau hơn 20 năm đổi mới thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, hệthống doanh nghiệp ở Việt Nam đã hình thành và phát triển rộng khắp trên cả nước ở tất cả các ngành kinh tế Cùng với sự phát triển nhanh chóng

về số lượng, sự xuất hiện của các công ty lớn, quản trị công ty (QTCT) đang ngày càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà xây dựng pháp luật về doanh nghiệp Sau gần 20 năm đổimới, cùng với quá trình hoàn thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, khung quản trị về công ty cũng đã từng bước xây dựng, bổ sung và hoàn thiện Cho đến nay, khung QTCT ở Việt Nam được đánh giá là phù hợp với các yêu cầu và nguyên tắc quản trị phổbiến được thừa nhận trên thế giới Tuy nhiên, hoạt động QTCT ở Việt Nam vẫn còn nhiều điểm hạn chế và yếu kém Khái niệm “QTCT” vẫn còn rất mới mẻ Theo một điều tra trên

các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam do IFC-MPDF (Dự án Nâng cao năng lực quản

lý cho các doanh nghiệp) thực hiện, chỉ có 23% số người được hỏi cho rằng các doanh nhân ở Việt Nam đã hiểu khái niệm và nguyên tắc cơ bản của QTCT Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp còn lẫn lộn giữa QTCT với quản lý tác nghiệp Theo kết quả khảo sát thực tiễn về QTCT ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên năm 2009

có tới 95.6% số doanh nghiệp được điều tra chưa thực hiện đầy đủ công tác QTCT.Thực hành quản lý theo kiểu thuận tiện, thiếu vắng các yếu tố của QTCT làm cho năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gặp nhiều hạn chế, doanh nghiệp lúng túng

và chậm

Trang 11

phản ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, đặc biệt là trong bối cảnh khủng

khoảng tài chính Sự yếu kém về quản trị cũng làm cho doanh nghiệp Việt Nam

“chậm

lớn”, đông về số lượng, tuy nhiên yếu kém về chất lượng

- Về quản trị chiến lược: Đại bộ phận doanh nghiệp đều không xác định rõ ràng

sứmệnh tồn tại, không có mục tiêu dài hạn và không xác định được mô hình chiến lược phát triển (trên 95%) Hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu được xác lập thông qua các kế hoạch vận hành ngắn hạn, phần lớn là kế hoạch tháng, thậm chí ngắn hơn Có thể nói, tư duy ngắn hạn, thiếu phương hướng hoạt động dài hạn đang là một đặc điểm lớn chi phối quá trình hoạt động của doanh nghiệp Tuổi thọ bình quân của doanh nghiệp rất ngắn, chỉ khoảng 3,4 năm Rất nhiều doanh nghiệpđược thành lập chỉ nhằm mục đích khai thác một cơ hội kinh doanh nào đó, khi cơ hội đó không còn nữa, doanh nghiệp cũng kết thúc hoạt động

- Về quản trị tài chính và kế toán: Đặc điểm chung là các doanh nghiệp của Việt

Nam chưa thực sự vận hành hệ thống quản trị tài chính một cách khoa học và minhbạch, phần lớn chỉ mới chú trọng chức năng kế toán, đặc biệt là kế toán thuế nhằm ứng phó với cơ quan Thuế Quản trị dòng tiền đang là một khái niệm khá mới mẻ, phần lớn chỉ mới chú trọng việc hạch toán đúng doanh thu và chi phí để xác định lợi nhuận trong từng năm hoạt động hoặc từng tác nghiệp riêng rẽ Nhiều doanh nghiệp doanh thu tăng nhưng luồng tiền vào và ra doanh nghiệp vẫn bị ách tắc, lúng túng trong huy động và sửdụng nguồn vốn Chưa thiết lập kế toán quản trị hoặc kế toán quản trị chưa cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin kế toán, tài chính phục vụ ra quyết định quản lý của lãnh đạo đơn vị Về hoạt động kiểm soát của kế toán, nhiều khoản chi chứng từ không hợp pháp, hợp lệ; kế toán chỉ tập hợp chứng

từ quyết toán, chưa thực hiện kiểm soát hoặc kiểm soát không đầy đủ; không kiểm soát được hoặc kiểm soát không chặt chẽ tiêu hao vật tư, nguyên liệu, chi phí sửa chữa máy móc, thiết bị, công cụ, dụng cụ; kế toán không tham gia kiểm soát vật chất, kiểm soát trực tiếp các hoạt động quan trọng của đơn vị

- Về quản trị nguồn nhân lực: Nhân lực là một yếu tố căn bản quyết định năng

lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tuy nhiên tình hình chung của các doanh nghiệp Việt Nam là chất lượng nguồn nhân lực thấp và rất thiếu ổn định Bên cạnh các nguyên nhân về hệthống đào tạo quốc gia, một trong những lý do chính của tình trạng này là cách quản trịcông ty của doanh nghiệp Cách quản trị ấy không đáp ứng những nhu cầu nhân bản của người lao động là: công việc phù hợp khả năng, phân công hợp lý, phát huy được khảnăng, thù lao tương xứng và cơ hội thăng tiến

Do đó doanh nghiệp không sản sinh ra những quản trị viên có khả năng, nhiều

Ngày đăng: 10/05/2014, 13:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w