1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế toán trong các tập đoàn kinh tế khuynh hướng thế giới và tại Việt Nam

12 469 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế toán trong các tập đoàn kinh tế - khuynh hướng thế giới và tại Việt Nam
Tác giả Lưu Vũ Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Tài Chính
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có quy mô lớn, có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, g

Trang 1

Bài tập nhóm môn: KINH TẾ TÀI CHÍNH

Học viên: Lưu Vũ Nam

Đề tài: Kế toán trong các tập đoàn kinh tế - khuynh hướng thế giới

và tại Việt Nam

1 TÌM HIỂU CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ

Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có quy mô lớn, có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ - công ty con

Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn do các công ty lập thành tập đoàn tự thỏa thuận quyết định Công ty mẹ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, đáp ứng điều kiện nêu tại khoản 15 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp Công ty con được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc của pháp luật liên quan

Công ty mẹ, công ty con và các công ty khác hợp thành tập đoàn kinh

tế có các quyền, nghĩa vụ, cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động phù hợp với hình thức tổ chức doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật liên quan và Điều lệ công ty

2 TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG

Ngày 07/03/1994 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 90 và 91 thành lập các Tổng công ty nhà nước, đến năm 2005 thì một số Tổng công ty

Trang 2

được tổ chức thành tập đoàn kinh tế Đến năm 2011 có 13 tập đoàn kinh tế

và 96 Tổng Công ty nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con Danh sách các tập đoàn kinh tế Việt Nam cho đến năm 2011 có:

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin)

Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam)

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)

Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin)

Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex)

Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG)

Tập đoàn Tài chính-Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo Việt)

Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel)

Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam (Vinachem)

Tập đoàn phát triển nhà và đô thị việt nam (HUD Holdings)

Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam (Songda)

Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex)

* Nhu cầu tất yếu của sự hình thành tập đoàn kinh tế

Do mở cửa hội nhập nên cần phải tổ chức sắp xếp các doanh nghiệp nhỏ, manh mún thành những doanh nghiệp lớn để đủ khả năng đối tác cũng như cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, tăng cường vị trí của doanh nghiệp nhà nước trong việc bảo đảm vai trò chủ đạo, dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác hoạt động theo định hướng xã hội chủ nghĩa, và các tập đoàn hoạt động có hiệu quả sẽ làm nòng cốt trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Do nền kinh tế hội nhập sẽ phải chấp nhận cạnh tranh, cạnh tranh tất yếu dẫn đến tích tụ và tập trung vốn vì vậy tất yếu sẽ hình thành doanh nghiệp lớn, tức các tập đoàn kinh tế

Trang 3

Song khác với các tập đoàn kinh tế thế giới, hầu hết đều đi từ các các công ty nhỏ, hoạt động rất hiệu quả, tích tụ vốn và phát triển quy mô dần trở thành các tập đoàn khổng lồ, các tập đoàn kinh tế Việt Nam được thành lập dựa trên các tổng công ty có quy mô chưa lớn, yếu kém trong quản lý, quen dựa vào bao cấp đã vừa độc quyền lại thích có thêm quyền, phần lớn vị trí chủ chốt được bổ nhiệm vì lý do chính trị chứ không dựa trên năng lực quản trị kinh doanh nên sự tác hại của tập đoàn kinh tế khi làm ăn thiếu hiệu quả

có thể gây tác hại lớn cho nền kinh tế, cần thận trọng trong việc thành lập

* Thực trạng hoạt động

Tám tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng công ty, công ty lớn của Nhà nước sở hữu gần 400.000 tỉ đồng, chiếm hầu hết vốn của Nhà nước có tại các doanh nghiệp nhà nước Các tập đoàn và tổng công ty đang nắm giữ 75% tài sản cố định của quốc gia, khoảng 60% tổng tín dụng ngân hàng trong nước và tổng vốn vay nước ngoài nhưng chỉ tạo ra khoảng 40% tổng sản phẩm trong nước, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các đơn vị này là 17%, 28,8% thu ngân sách Tính đến cuối năm 2007, tổng số vốn chủ

sở hữu của các tập đoàn và tổng công ty đã tăng 18%, tổng tài sản tăng 26%

Có nhiều số liệu khác nhau và nhiều cách nhìn nhận khác nhau về tỷ lệ

nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước mà các tập đoàn kinh tế nhà nước và các Tổng công ty nhà nước là các chủ thể chiếm tỷ trọng tuyệt đối về vốn

Tỷ lệ nợ phải trả 8 tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng công ty, công ty lớn của Nhà nước lên đến 1,36 lần, tính đến cuối năm 2007 và nợ của các tập đoàn kinh tế vẫn trong vòng kiểm soát[7]

Tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước rất cao, cá biệt lên đến 42 lần trên vốn của chủ sở hữu So với mức tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các tập đoàn kinh tế quốc tế là chỉ từ 1 đến 3 lần thì

tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở hữu của các tập đoàn kinh tế Việt Nam nếu được

công bố sẽ khiến "thế giới phải giật mình", có đại biểu quốc hội đặt nghi vấn

cho rằng nguyên nhân của việc thiếu rõ ràng trong bảo lãnh tín dụng, độc

Trang 4

quyền, khó kiểm soát nợ của doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước có gốc gác từ lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm

Hoạt động yếu kém, sử dụng quá nhiều nguồn lực, được quá nhiều ưu

ái, ưu đãi kể cả lúc kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, cạnh tranh không bình đẳng, không làm tròn vai trò nòng cốt của nền kinh tế thậm chí đã trở thành là gánh nặng của nền kinh tế, lũng đoạn thông qua quan hệ, coi trọng lợi ích nhóm, các tập đoàn kinh tế được xem là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cao vào năm 2008

3 PHƯƠNG THỨC KẾ TOÁN TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ

Kế toán với tư cách là công cụ quản lý kinh tế, có nhiệm vụ thu thập,

xử lý thông tin kinh tế và tài chính Tổ chức phương pháp kế toán khoa học

và hợp lý tại các tập đoàn kinh tế giúp cho việc cung cấp thông tin kế toán một cách kịp thời, đầy đủ, phản ánh kịp thời tình hình biến động của tài sản, doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động kinh doanh, qua đó, làm giảm bớt công tác kế toán trùng lặp, tiết kiệm chi phí, đồng thời giúp cho việc kiểm kê, kiểm soát tài sản, nguồn vốn, hoạt động kinh tế, đo lường và đánh giá hiệu quả kinh tế, xác định lợi ích của Nhà nước và các chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trường Vấn đề đặt ra là phải hoàn thiện tổ chức công tác kế toán

để đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ của các tập đoàn kinh tế

Tập đoàn kinh tế (TĐKT) phải lựa chọn hình thức công tác kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động, quy mô đầu tư và địa bàn tổ chức sản xuất kinh doanh, với mức độ phân cấp quản lý kinh tế tài chính tại tập đoàn Lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán thích hợp nhằ thu nhận, xử lý hệ thống hoá và cung cấp được đầy đủ, kịp thời toàn bộ thông tin về hoạt động kinh

tế, tài chính phát sinh, tình hình biến động tài sản, nguồn vốn, cho phí, doanh thu và kết quả hoạt động kinh doanh

Về cơ bản, việc tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp có ba hình thức:

- Hình thức 1: Tổ chức công tác kế toán tập trung.

Trang 5

Theo hình thức này, doanh nghiệp chỉ tổ chức một phòng kế toán (ở văn phòng công ty, Tổng công ty, Tập đoàn) còn ở các đơn vị phụ thuộc không có tổ chức kế toán riêng Phòng kế toán trung tâm thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ thu nhận, xử lý và hệ thống hoá toàn bộ thông tin kế toán

- Hình thức 2: Hình thức tổ chức công tác kế toán phân tán.

Theo hình thức này, doanh nghiệp thành lập phòng kế toán tập trung tâm (đơn vị kế toán cấp trên), còn ở các đơn vị kế toán cấp cơ sở đều có tổ chức kế toán riêng (đơn vị kế toán cơ sở) Công việc kế toán của doanh nghiệp được phân công như sau:

Phòng kế toán trung tâm có nhiệm vụ: Thực hiện các phần công việc kế toán phát sinh ở đơn vị kế toán cấp trên và công tác tài chính của doanh nghiệp Hướng dẫn và kiểm tra công tác kế toán ở các đơn vị cấp cơ sở; Thu nhận, kiểm tra báo cáo tài chính (BCTC) của các đơn vị cơ sở gửi lên và cùng với BCTC ở đơn vị cấp trên để lập BCTC toàn doanh nghiệp

Ở các đơn vi kế toán cấp cơ sở: Thực hiện công tác kế toán ở đơn vị cấp cơ sở, tổ chức thu nhận, xử lý và hệ thống hoá toàn bộ thông tin kế toán

ở đơn vị để lập được các BCTC định kỳ gửi về phòng kế toán trung tâm

- Hình thức 3: Tổ chức kế toán vùa tập trung, vừa phân tán: Theo hình

thức tổ chức công tác kế toán này, ở đơn vị kế toán cấp cở thực hiện một số phần hành kế toán theo phân cấp và định kỳ lập BCTC, hoặc báo cáo phần hành nghiệp vụ gửi về phòng kế toán trung tâm, cùng chứng từ kế toán

Ở các TĐKT với quy mô lớn, có nhiều đơn vị thành viên và trực thuộc nên thực hiện hình thức tổ chức công tác kế toán và phân tán như sau:

Cấp 1: Bộ phận kế toán tại trung tâm kế toán (gọi là kế toán tại ngành):

Tại trung tâm của tập đoàn có bộ máy làm nhiệm vụ kế toán, lập BCTC, lập

BC kế toán quản trị; báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố; doanh thu, chi phí, lãi lỗ của từng sản phẩm,

Cấp 2: Bộ phận kế toán tại các đơn vị thành viên và trực thuộc TĐ Đối

với các đơn vị thành viên (ĐVTV) là các công ty trách nhiệm hữu hạn

Trang 6

(TNHH) một thành viên do TĐ nắm giữ 100% vốn điều lệ, các công ty cổ phần (CTCP) do TĐ nắm giữ cổ phần chi phối, các công ty liên kết với TĐ

là các đơn vị có tổ chức bộ máy kế toán riêng Các đơn vị thực hiện lập BCTC hợp nhất của công ty Riêng đối với các Tổng công ty hoạt động theo

mô hình công ty me – công ty con thì tổng công ty phải lập BCTC của công

ty mẹ và BCTC hợp nhất, các ĐVTV lập báo cáo KTQT Các đơn vị trực thuộc tập đoàn thực hiện tổ chức bộ máy kế toán riêng và thực hiện lập BCTC và BC KTQT của đơn vị gửi về tập đoàn để tập đoàn tổng hợp

Cấp 3: Bộ phận kế toán tại các ĐVTV trực thuộc của các Tổng công

ty, công ty là các ĐVTV trực thuộc TĐ Các đơn vị trực thuộc các đơn vị cấp 2 của TĐ thực hiện tổ chức bộ máy kế toán riêng và thực hiện lập BCTC

và BCKTQT của đơn vị gửi về công ty cấp 2 Trong các TCty, các đơn vị cấp 3 gửi BCTC và BCKTQT về Cty mẹ của TCty để tổng hợp vào BCTC

và BCKTQT của Cty mẹ, TCty

* Tiêu chuẩn kế toán áp dụng thống nhất trong một tập đoàn

Trên cơ sở các quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam (CMKTVN), các văn bản hướng dẫn về chế độ tài chính của bộ tài chính (BTC) và các đặc thù riêng của từng TĐKT, các TĐKT cần nghiên cứu xây dựng chế độ

kế toán áp dụng riêng trong nội bộ TĐ trên nguyên tắc vừa đảm bảo tuân thủ CMKTVN vừa đáp ứng được đặc thù của TĐ, đáp ứng được cả kế toán quản trị Chế độ kế toán là cơ sở nền tảng để xây dựng chuẩn hoá chương trình phần mề kế toán áp dụng cho công ty mẹ, các ĐVTV và trực thuộc trong TĐKT Nội dung hệ thống kế toán áp dụng trong TĐKT gồm:

Một là: Hệ thống tài khoản kế toán (TKKT), được chia ra các nội

dung: Hệ thống TKKT; Hệ thống mã TKKT; giải thích nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép TKKT; Hướng dẫn hạch toán một số tài khoản đặc thù riêng của TĐKT

Hai là: Hướng dẫn một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu mang tính đặc thù

của TĐKT, gồm: hướng dẫn một số nghiệp vụ cho khối SXKD , cho khối đầu tư xây dựng, cho khối sự nghiệp, một số sơ đồ kế toán chủ yếu

Trang 7

Ba là: Chế dộ BCTC và BCKTQT gồm: những quy định chung; hệ

thống BCTC, BCKTQT; hướng dẫn lập BCTC tổng hợp và BCTC hợp nhất; BCTCQT

Bốn là: Chế độ chứng từ, sổ kế toán gồm: chế độ chứng từ kế toán, chế

độ sổ kế toán, được quy định cụ thế cho các đơn vị thành viên và phụ thuộc, phương pháp ghi sổ kế toán

Hệ thống tài khoản kế toán.

Để xây dựng và vận hành thành công được chương trình phần mềm kế toán, một trong những yếu tố rất quan trọng là các TĐKT phải chuẩn hoá hệ thống TKKT và các TKKT được mã hoá hệ thống TKKT được áp dụng thống nhất cho Cty mẹ và các Cty thành viên và phụ thuộc của TĐ và được thống nhất từ đơn vị cấp 1 đến đơn vị cấp 2,3,4 của toàn TĐ Cần quy định

rõ những TKKT do nhà nước quy định, TKKT do TĐ mở thêm TĐKT có thể đưa ra tài khoản cấp cụ thể của từng loại tài khoản theo yêu cầu của quản

lý nhưng không quá 24 số

Hệ thống báo cáo tài chính

Xây dựng một hệ thống mẫu BCTC để áp dụng thống nhất cho Cty mẹ

và các ĐVTV, trực thuộc làm cơ sở cho việc thiết lâp một chương trình kế toán chuẩn hoá từ Cty mẹ đến Cty con và các đơn vị liên kết BCTC cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của đơn vị, đáp ứng yêu cầu quản lý của đơn vị và của TĐ, cơ quan nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế BCTC cung cấp thông tin về tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, Doanh thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác; lãi lỗ và phân chia KQKD; Thuế và các khoản nộp nhà nước; Tài sản có liên quan đến đơn vị kế toán; các luồng tiền Ngoài ra, trong bản thuyết minh BCTC giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên các BCTC tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày BCTC

Trang 8

Hệ thống BCTC năm áp dụng cho các TĐ, các ĐVTV và phụ thuộc.

TĐ lập BCTC hợp nhất phải tuân thủ quy định tại CMKT số 25 – “BCTC hợp nhất và kế toán đầu tư vào Cty con” Hệ thống BCTC gồm BCTC năm

và BCTC giữa niên độ, cụ thể:

BCTC gồm: Bảng CĐKT; báo cáo kết quả HĐKD; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bản thuyết minh BCTC BCTC giữa niên độ: Để thuận tiện trong việc thiết lập phần mềm kế toán và thống nhất trong các kỳ kế toán và luỹ kế

cả năm, các TĐKT nên quy định thống nhất báo cáo quy; Bảng CĐKT; Báo cáo kết quả HĐKD; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; bản thuyết minh BCTC Riêng bản thuyết minh BCTC tuỳ từng TĐKT có thể trình bày đầy đủ hoặc chọn lọc

TĐKT có trách nhiệm lập BCTC hợp nhất và BCTC tổng hợp, trình bày tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu

ở thời điểm lập BCTC; tình hình và kết quả HĐKD trong kỳ báo cáo của đơn vị Hệ thống BCTC bao gồm bốn biểu mẫu báo cáo: Bảng CĐKT; Báo cáo kết quả HĐKD; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bản thuyết minh BCTC Các ĐVTV và phụ thuộc của TĐKT laapjBCTC tổng hợp để trình bày tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu ở thời điểm lập BCTC, kết quả HĐKD

Đối với Cty mẹ của TĐ vừa phải lập BCTC tổng hợp vừa phải lập BCTCHN thì phải lập BCTC tổng hợp trước (tổng hợp theo loại hình hoạt động SXKD, đầu tư xây dựng cơ bản hoặc sự nghiệp), sau đó lập BCTC hợp nhất

Đối với các ĐVTV có hoạt động đầu tư tài chính vào các Cty con, Cty liên kết thì ngoài việc lập BCTC tổng hợp, các đơn vị cũng phải lập BCTC hợp nhất

Ngoài bốn biểu BCTC tổng hợp còn bao gồm cả các BCKTQT tuỷ đặc thù của từng TĐKT để quy định cụ thể từng mẫu biểu

4 KHUYNH HƯƠNG KẾ TOÁN TẬP ĐOÀN KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Trang 9

Tình hình tài chính doanh nghiệp ổn định và minh bạch là một trong những điều kiện tiên quyết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn

ra một cách nhịp nhàng, đồng bộ, đạt hiệu quả cao Sự ổn định đó có được hay không phụ thuộc phần lớn vào khả năng quản trị tài chính của doanh nghiệp

4.1 Vai trò của quản trị tài chính trong doanh nghiệp:

Ở nhiều nước như Mỹ và châu Âu, trong các công ty, tập đoàn kinh tế lớn như General Motor, Microsoft, Apple, Vodaphone, quản trị tài chính được tách rời đối với công tác kế toán thống kê Tại các hãng này, quản trị tài chính là tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về tài chính và đưa ra những quyết định về mặt tài chính ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp

Bộ phận quản trị tài chính trong các doanh nghiệp Mỹ và châu Âu dựa vào các báo cáo kế toán, báo cáo doanh thu, chi phí, báo cáo nhân sự và tiền lượng, do các bộ phận kế toán tài chính, kế toán quản trị, thống kê cung cấp, kết hợp với những yếu tố khách quan để tiến hành phân loại, tổng, hợp, phân tích và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, so sánh kế quả phân loại của kỳ này với kỳ trước của doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp cùng ngành, lĩnh vực sản xuất, so sánh với các chuẩn mực của ngành Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy bén mà bộ phận quản trị tài chính có thể chỉ ra những mặt mạnh cũng như những thiếu sót của doanh nghiệp trong

kỳ Ngoài ra, bộ phận quản trị tài chính còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn và dài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm: chiến lược tham gia vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán; xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất Thông qua đó, đánh giá, dự đoán có hiệu quả các dự án đầu tư, các hoạt động liên doanh liên kết, phát hiện âm mưu thôn

Trang 10

tính doanh nghiệp của các đối tác cạnh tranh; đề xuất phương án chia tách hay sáp nhập

Nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn có những biến động nhất định trong từng thời kỳ Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản trị tài chính là xem xét, lựa chọn cơ cấu vốn sử dụng sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất:

- Quản trị tài chính trong doanh nghiệp phải tiến hành phân tích và đưa

ra một cơ cấu nguồn vốn huy động tối ưu cho doanh nghiệp trong từng thời kỳ

- Quản trị tài chính phải thiết lập một chính sách phân chia lợi nhuận một cách hợp lý đối với doanh nghiệp, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ doanh nghiệp và các cổ đông, vừa đảm bảo được lợi ích hợp pháp, hợp lý cho người lao động; xác định phần lợi nhuận để lại từ sự phân phối này là nguồn quan trọng cho phép doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, sản phẩm mới, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có mức độ tăng trưởng cao và bền vững

- Quản trị tài chính trong doanh nghiệp còn có nhiệm vụ kiểm soát việc

sử dụng cả các tài sản trong doanh nghiệp, tránh tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích Có thể nói, nhiệm vụ của bộ phận quản trị tài chính, bộ não của doanh nghiệp, rộng hơn và phức tạp hơn rất nhiều so với bộ phận kế toán - thống kê Người đứng đầu bộ phận quan trọng này được gọi là giám đốc tài chính (CFO) Trong các tập đoàn kinh tế đa quốc gia trên thế giới, giám đốc tài chính chịu trách nhiệm toàn bộ về mặt tài chính kế toán trước tổng giám đốc và quản trị tài chính là bộ phận chức năng quan trọng nhất trong các bộ phận chức năng của doanh nghiệp

4.2 Thực trạng quản trị tài chính ở Việt Nam:

Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, tại Việt Nam rất nhiều công

ty được thành lập có quy mô lớn nhỏ khác nhau Tuy nhiên, trừ một số doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài còn lại đại

Ngày đăng: 10/05/2014, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w