Trên cơ sở được trang bị kiến thức về thể loại, sinh viên có thể chủ động tìm hiểu, đánh giá các hiện tượng văn học dân gian biểu hiện qua văn bản trong đời sống, sinh hoạt của nhân dân,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÀNH NGỮ VĂN
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG HỌC PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
( CÁC THỂ LOẠI TỰ SỰ)
NGƯỜI THỰC HIỆN: TS NGUYỄN THỊ THU VÂN
NĂM 2009
Trang 21
MỤC LỤC
PHẦN DẪN LUẬN
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát về văn học dân gian Việt Nam 6
Chương 2: Thần thoại 14
Chương 3: Truyền thuyết 20
Chương 4: Sử thi 28
Chương 5: Truyện cổ tích 37
Chương 6: Truyện thơ 45
Chương 7: Truyện cười 52
Chương 8: Truyện ngụ ngôn 57 PHẦN KẾT LUẬN
Trang 32
DẪN LUẬN
1 Tên học phần: VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
2 Số đơn vị tín chỉ: 3 (45 tiết)
3 Trình độ: đại học sư phạm Ngữ Văn
4 Phân bố thời gian: học trong 15 tuần, 3 tiết/tuần
5 Điều kiện tiên quyết: Nắm được những nội dung kiến thức nền tảng của chương trình Văn học dân gian ở phổ thông
6 Mục tiêu của học phần:
Giúp sinh viên hiểu sâu về bản chất xã hội và các đặc trưng văn hóa, thẩm mỹ của văn học dân gian Từ đó, sinh viên nhận thức được sự khác biệt của văn học dân gian so với văn học thành văn, mối quan hệ của văn học dân gian với văn hóa
Trên cơ sở được trang bị kiến thức về thể loại, sinh viên có thể chủ động tìm hiểu, đánh giá các hiện tượng văn học dân gian biểu hiện qua văn bản trong đời sống, sinh hoạt của nhân dân, trong điều kiện sống cụ thể, trong lĩõnh vực hoạt động của người học
Nắm được ý đồ cấu tạo chương trình văn học dân gian trong nhà trường phổ thông Từ những hiểu biết sâu sắc trên, chương trình còn giúp sinh viên hình thành một số kĩ năng khai thác kiến thức về các thể loại, áp dụng vào việc giảng dạy văn học dân gian ở trường phổ thông trung học và tìm hiểu sưu tầm văn học dân gian ở địa phương
7 Mô tả vắn tắt nội dung học phần:
Học phần gồm 14 chương Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận khái quát nhất về khoa học nghiên cứu văn học – văn hóa dân gian (đối tượng nghiên cứu, những lĩnh vực nghiên cứu, phân loại văn học dân gian trên thế giới …) Phân biệt
sự khác nhau về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết trên cơ sở một số đặc tính cơ bản
Cung cấp cho học sinh các đặc trưng của các thể loại văn học dân gian và phương pháp tiếp cận tác phẩm của từng thể loại
Học phần cũng trang bị cho sinh viên những kĩ năng cơ bản về thao tác thực tế điền dã, thao tác phân tích trực tiếp các tác phẩm văn học dân gian, khả năng nhận thức giá trị phản ánh, giá trị thẩm mỹ và lịch sử phát triển văn học dân gian
8. Tài liệu học tập:
Trang 43
Giáo trình chính :
1 Đỗ Bình Trị (1991), Văn học dân gian Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội
2 Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội
Sách tham khảo :
1 Ngọc Anh, Đỗ Thiện, Đinh Văn Thành (1961), Truyện cổ Tây nguyên, NXB Văn hóa, Hà Nội
2 Nguyễn Đổng Chi & nhiều tác giả (1956), Lược khảo về thần thoại Việt Nam, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội
3 Đào Tử Chí (1959), Bài ca chàng Đam San, NXB Văn hóa, Hà Nội
4 Trương Chính (1986) Tiếng cười dân gian Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
5 Nguyễn Cừ, Phan Trọng Thưởng (2002), Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội
6 Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang , Phương Tri (1975), Tục ngữ Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội
7 Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (TB 2000), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội
8 Phan Minh Hạnh (1993), Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới, NXB KHXH, Hà Nội
9 Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, NXB KHXH, Hà Nội
10 Nguyễn Xuân Kính (1995), Kho tàng ca dao người Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội
11 Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) (2002), Tuyển tập Văn học dân gian người Việt , NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
12 Nguyễn Xuân Kính (2004), Kho tàng tục ngữ người Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội
13 Mã Giang Lân, Lê Chí Quế (1977), Tục ngữ, câu đố, ca dao dân ca Việt Nam, Đại học Tổng hợp, Hà Nội
14 Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1998), Thi ca bình dân Việt Nam, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội
15 Võ Quang Nhơn (1976), Dân ca Tây nguyên, NXB Văn hóa, Hà Nội
16 Võ Quang Nhơn (1998), Sử thi anh hùng Tây nguyên, NXB Giáo dục, Hà Nội
17 Bùi Mạnh Nhi (chủ biên 2001), Văn học dân gian, Những công trình nghiên cứu, NXB Giáo dục, TP Hồ Chí Minh
18 Bùi Mạnh Nhị (chủ biên 2000), Văn học dân gian – Những tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục, TP Hồ Chí Minh
Trang 54
19 Vũ Ngọc Phan (1978), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, NXB Văn hóa, Hà Nội
20 Mạc Phi (1961), Tiễn dặn người yêu (dịch), NXB Văn hóa, Hà Nội
21 Lê Chí Quế (chủ biên) (1996), Văn học dân gian, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội
22 Vũ Quỳnh, Kiều Phú (1990), Lĩnh nam chích quái, NXB Văn học, Hà Nội
23 Hoàng Tiến Tựu (1983), Mấy vấn đề về phương pháp nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội
24 Hoàng Tiến Tựu (1986), Bình giảng truyện dân gian, NXB Giáo dục, TP Hồ Chí Minh
25 Hoàng Tiến Tựu (1997), Bình giảng ca dao, NXB Giáo dục, Hà Nội
26 Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn, Hà Văn Cầu (chủ biên) (2003), Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 17 (Kịch bản Chèo), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
27 Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn, Kiều Thu Hoạch (chủ biên) (2004), Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 4, 5, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
28 Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn, Nguyễn Thị Huế (chủ biên) (2004), Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 6, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
29 Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn, Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) (2002), Tổng tập Văn học dân gian người Việt -Tập 15 (Ca dao), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
30 Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn (2002), Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 16 (Ca dao tình yêu đôi lứa), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
31 Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn - Viện Văn học (1999), Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội
32 Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn - Viện Văn học (1999), Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam, tập 5, NXB Giáo dục, Hà Nội
33 Nguyễn Văn Trung (1986), Câu đố Việt Nam, NXB TP HCM
34 Lý Tế Xuyên (1990), Việt điện U Linh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
35 Uỷ ban KHXH Việt Nam (1980), Lịch sử văn học Việt Nam, Tập I, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
36 Uỷ ban KHXH Việt Nam ( Bản dịch và chú thích của Ngô Đức Thọ)(1983), Đại Việt sử kí toàn thư, Tập I, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
37 Sách giáo khoa và giáo viên Ngữ Văn lớp 10
Tạp chí:
1 Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian - Tạp chí Văn hóa dân gian
2 Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian - Tạp chí Nguồn sáng dân gian
Trang 65
9 Giới hạn nghiên cứu:
Vì khuôn khổ trong một năm học nên trong báo cáo này, chúng tôi chỉ khảo sát
8 thể loại tự sự dân gian
10 Kết cấu của báo cáo
Báo cáo gồm các phần sau:
Phần Dẫn luận: giới thiệu khái quát về học phần và tài liệu học tập cho sinh viên Phần Nội dung: gồm 8 chương về 8 thể loại cụ thể
Phần kết luận
Trang 7
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT NHẬP MÔN VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM VĂN HỌC DÂN GIAN (VHDG)
1.1.1 Vấn đề thuật ngữ
Từ xa xưa nhân dân gọi những sáng tác dân gian bằng những tên nôm na: chuyện đời xưa, câu hát, câu hò như hát phường vải, hát giặm, hát quan họ, hò khoan, hát ru, hát ghẹo, vè, câu đố nhưng tên chung để gọi nó thì chưa có
Các nhà nghiên cứu tìm cách định danh cho nó bằng những tên gọi khác nhau để phân biệt với văn học viết (văn chương bác học):
Trên phương diện sáng tác và lưu truyền: văn học (hay văn chương) truyền miệng (truyền khẩu)
Trên phương diện chủ thể sáng tạo: văn học bình dân (hay văn học đại chúng)
Sử dụng thuật ngữ này cần đề phòng khuynh hướng đồng nhất văn học dân gian với văn học và khuynh hướng tiếp cận sáng tác truyền miệng của nhân dân hoàn toàn theo quan điểm của nghiên cứu văn học Các thuật ngữ trên vẫn chưa khái quát đầy đủ bản chất của sáng tác dân gian
+ Từ những năm 50 của thế kỉ 20 có hai thuật ngữ được lưu hành rộng rãi hơn cả là văn học dân gian và folklore
1.1.1.1 Thuật ngữ văn học dân gian có nguồn gốc từ một thuật ngữ của Trung
Quốc là dân gian văn học Thuật ngữ này vẫn mang những nhược điểm của các thuật ngữ cũ
1.1.1.2 Thuật ngữ folklore do hai từ tiếng Anh ghép lại folk (nghĩa là nhân dân,
dân tộc, người thân thuộc) và lore (nghĩa là trí khôn, kiến thức, học thức, cẩm nang, kho, vốn hiểu biết ) Thuật ngữ do nhà sử học người Anh William Thoms đưa ra năm 1846 đã sớm trở thành một thuật ngữ quốc tế Nhưng khoa học các nước hiểu về nó rất khác nhau, theo 3 cách:
• Văn hóa dân gian (folk culture): trường hợp này hiểu folklore theo nghĩa gốc: chỉ tất cả các loại hình của nghệ thuật dân gian, tín ngưỡng tập tục dân gian, toàn bộ những biểu hiện của ý thức dân gian còn lưu truyền trong những hình thức cổ truyền dân gian Nói như GS Trần Quốc Vượng: “Nói folklore Việt Nam là nói tổng thể mọi sáng tạo, mọi thành tựu văn hoá của dân gian ở mọi nơi, mọi thời, của mọi thành phần dân tộc… Sáng tạo dân gian bao trùm mọi lĩnh vực đời
Trang 87
sống, từ đời sống làm ăn thường ngày (ăn, mặc, ở, đi lại) đến đời sống ăn chơi buông xả (thể thao dân gian) hát hò…đến đời sống tâm linh…” (Folklore Việt Nam, trữ lượng và viễn cảnh, Văn hoá Nghệ thuật, số 5/ 1990) Quan niệm này thịnh hành ở các nước Âu – Mỹ
• Văn nghệ dân gian: trường hợp này hiểu folklore là toàn bộ các loại hình nghệ thuật dân gian, trong đó có cả các loại hình nghệ thuật không có yếu tố ngôn từ như nhảy múa, hội hoạ, điêu khắc, mĩ nghệ Quan niệm này thịnh hành ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ
• Văn học dân gian: Ở một số nước, từ folklore có hàm nghĩa hẹp hơn: được dùng để chỉ riêng hình thức ngôn từ – nhạc – vũ – kịch của sáng tác dân gian tập thể
1.1.2 Văn học dân gian là gì ?
Văn học dân gian là một loại hình nghệ thuật mang tính nguyên hợp, trong đó thành phần nghệ thuật ngôn từ chiếm vị trí quan trọng, song bao giờ nó cũng có mối quan hệ hữu cơ với các thành phần nghệ thuật và phi nghệ thuật khác, sinh thành phát triển trong đời sống nhân dân theo phương thức truyền miệng và tập thể Tồn tại và phát triển cho đến ngày nay cùng với mọi sinh hoạt của đời sống con người
- Tỉ lệ và vai trò của thành phần ngôn từ ở các thể loại không giống nhau
- Các thành phần phi ngôn từ, phi nghệ thuật thẩm thấu trong nghệ thuật ngôn từ
1.1.3- Đối tượng nghiên cứu
1.1.3.1- Xét về phương tiện diễn đạt (hay phương diện chất liệu): Là toàn bộ các hiện tượng thuộc lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ trong những sáng tác dân gian Gồm ba hiện tượng:
• Tác phẩm tức thành phần nghệ thuật ngôn từ :Yếu tố chính
• Những sinh hoạt văn học dân gian của nhân dân
• Tác giả và công chúng
Trang 98
1.3.2- Xét về phương diện chức năng (tức phương diện hình thái ý thức): là chức năng nghệ thuật do thành phần ngôn từ trong sáng tác dân gian Nếu không sẽ dễ trở thành nghiên cứu văn hóa dân gian
• Người nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn học dân gian cần phải có kiến thức
cơ bản ở ba lĩnh vực: văn học, folklore học và dân tộc học Cần lưu ý mối quan hệ: tín ngưỡng - tập tục – văn học
1.2- Những thuộc tính cơ bản của văn học dân gian
1.2.1- Những thuộc tính đặc trưng của văn học dân gian
1.2.1.1- VHDG là một loại hình nghệ thuật mang tính nguyên hợp
Nguyên hợp: gốc tiếng Hi Lạp nghĩa là “sự dính liền nhau ngay từ đầu của các loại hình khác nhau trong sáng tạo văn hóa” Theo PGS.Chu Xuân Diên là: sự hòa trộn của nhiều yếu tố với nhau một cách tự nhiên, những yếu tố này chưa bị phân hóa Biểu hiện:
Nguyên hợp về hình thái ý thức: ra đời từ thời nguyên thủy, thời kì tư duy của con người chưa phân biệt đâu là khoa học, nghệ thuật, lịch sử, triết học, tôn giáo Tất cả các hình thái này hoà trộn với nhau một cách tự nhiên, vô ý thức hay nói cách khác là ý thức con người còn ở dạng nguyên hợp nên nội dung văn học dân gian cũng có sự nguyên hợp: Văn học dân gian là một pho “bách khoa toàn thư của mấy ngàn năm, bao gồm các mặt sinh hoạt, phong tục tập quán, lễ giáo, kinh nghiệm sống về vật chất và tinh thần” – [Nguyễn Khánh Toàn – Những ý kiến về văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1966.]
Nguyên hợp về các loại hình nghệ thuật: nghệ thuật ngôn từ trong VHDG luôn gắn liền với các loại hình nghệ thuật dân gian khác như âm nhạc, vũ đạo, tạo hình (hò kéo lưới, kéo gỗ gắn liền với động tác, chèo gắn liền với vũ đạo và hóa trang)
Nguyên hợp về phương pháp sáng tác: vừa hiện thực, vừa lãng mạn
Nguyên hợp về phương thức biểu hiện: các yếu tố tự sự, trữ tình, kịch kết hợp với nhau
1.2.1.2 VHDG là một loại hình nghệ thuật mang tính đa chức năng trong đó
chức năng sinh hoạt thực hành là quan trọng nhất
Nguồn gốc và phương thức tồn tại: Văn học dân gian là một loại hình nghệ thuật gắn liền với sinh hoạt của nhân dân Mảnh đất nảy sinh, nguồn nuôi dưỡng VHDG là những nhu cầu của sinh hoạt nhân dân
Ngược lại, VHDG là một yếu tố để duy trì những sinh hoạt truyền thống: mỗi lĩnh vực sinh hoạt truyền thống cũng không thể hoạt động bình thường mà lại thiếu yếu tố văn học dân gian của nó
Trang 109
Tìm hiểu tác phẩm VHDG phải gắn chặt với những hình thức truyền thống của nếp sinh hoạt, với tổng hòa những quan hệ gia đình, lao động sản xuất, quan hệ sinh hoạt – xã hội VHDG là một yếu tố của một cơ cấu thực hành sinh hoạt của một cộng đồng và người ta chỉ thật sự hiểu nó khi ở trong cơ cấu ấy, nghĩa là nó đang sống một cách tự nhiên nơi diễn xướng (tộc người nào, xã thôn nào, phường hội nào, ngôn ngữ, tập tục, văn hóa, lịch sử của mỗi địa phương…)
1.2.1.3- Tính tập thể, tính truyền miệng và tính dị bản
Tính tập thể (phương thức sáng tác và lưu truyền)
- Quá trình sáng tác: ban đầu do một người sáng tác Trong quá trình lưu truyền, vai trò của cá nhân dần dần bị phai mờ, vai trò của tập thể tăng dần lên vì qua nhiều đối tượng, nhiều địa phương và nhiều thời đại khác nhau nó đã được chỉnh sửa bởi một tập thể Tác phẩm VHDG trở thành tác phẩm của quần chúng nhân dân Tập thể này có thể là một quốc gia, một cộng đồng, một bộ tộc, bộ lạc cũng có thể chỉ là một làng xã, một nhóm người có cùng chung cảnh ngộ
- Tính tập thể tạo nên tính vô danh nhưng không vô chủ, không có nghĩa là không có tác giả, mà là tác giả không để tên Những trường hợp có tên người sáng tác: Anh đi anh nhớ của Trần Tuấn Khải, Gió đưa canh trúc của Dương Khuê, Hỡi cô tát nước của Bàng Bá Lân, Tháp mười đẹp nhất bông sen của Bảo Định Giang…
vì vậy cần lưu ý vai trò của nghệ nhân sáng tác
- Lưu ý khái niệm của nhân dân: không phải chỉ có ý nghĩa nguồn gốc mà là một tác phẩm được lưu truyền và tồn tại trong dân gian Những tác phẩm được lưu truyền có nghĩa là đã thành tựu, đã được công nhận
Tính truyền miệng - tính diễn xướng (phương thức sáng tác và lưu truyền)
- Khi chưa có chữ viết thì đây là phương thức duy nhất để sáng tác và lưu truyền nền văn học dân tộc
- Sinh ra, lớn lên và tồn tại sinh động nhất trong diễn xướng Cái làm nên sự hồn nhiên, sinh động mà văn học viết không thể có được (do việc dùng khẩu ngữ một cách tự nhiên) Tức là sự giao tiếp một cách trực tiếp: có âm điệu, ngữ điệu, điệu bộ, động tác…
- Tính truyền miệng không đơn thuần chỉ có tính phương tiện hay kĩ thuật, mà nó có ý nghĩa là bản chất của hiện tượng Nó chỉ ra cái đời sống khác nhau của hai loại hình VH: VHDG gắn liền với nghệ thuật diễn xướng (VHV là thuần túy ngôn từ) có khâu trung gian là người diễn xướng Vì vậy tác phẩm luôn được nhào nặn lại, loại bỏ, bổ sung cho phù hợp, luôn vận động
Trang 1110
Tính dị bản
- Là hệ quả của tính tập thể và tính truyền miệng
- Thể hiện khả năng biến đổi, biến thiên, không cố định về mặt văn bản
- Tạo cho nó ưu thế: theo sát lịch sử, gắn với thực tế cuộc sống
- Làm cho văn học dân gian phong phú, phức tạp
1.2.2 Những thuộc tính khác
1.2.2.1- Tính quốc tế
Đó là những hiện tượng trùng lặp hoặc tương tự nhau về đề tài, cốt truyện, loại kiểu nhân vật, môtip và nhiều yếu tố thi pháp… (ví dụ: môtip phù thủy ăn thịt người, phép trường sinh bất tử, nhiều mặt trời, cây vũ trụ, kiểu truyện người xấu xí mà tài ba, Tấm cám…)
1.2.2.2- Tính dân tộc
Tuy có những điểm giống nhau nhưng văn học dân gian dân tộc nào cũng in đậm bản sắc dân tộc của mình trong mỗi tác phẩm, đó là: cảnh sắc quê hương đất nước, tâm tư, tình cảm, ước vọng, tâm lí, đời sống, tinh thần, ý thức dân tộc, tư duy, ngôn ngữ, thể loại… nó thể hiện cái riêng ngay trong cái chung 1.2.2.3- Tính truyền thống: Trong VHDG của mỗi dân tộc lại có những điểm giống nhau tạo thành một cái kho, cái vốn, cái truyền thống cho người sáng tác và người thưởng thức
1.2.2.4- Tính địa phương
- Thể hiện ở phương ngôn:
Đi mô cho thiếp đi cùng Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam
Đôi ta yêu chắc mần ri Mẹ cha mần rứa, ta thì mần răng
- Phong tục, tập quán:
Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy Vui thì vui vậy chẳng tày Rã La (La Sơn, La Cả)
Chết thì bỏ con bỏ cháu Sống không bỏ ngày mùng 6 tháng giêng
- Cảnh sắc 1.3 Sự khác nhau giữa VHDG và Văn học viết
Tuy giữa VHDG và văn học viết cũng là “văn học” nhưng giữa chúng có sự khác nhau rõ rệt Sự khác nhau đó trên bốn bình diện:
Trang 1211
Về chủ thể sáng tác: Điều này tưởng chừng như đã khá rõ, một bên là tập thể và một bên là cá nhân Tuy nhiên nếu đối lập tuyệt đối giữa cá nhân và tập thể thì sẽ không đúng Trong sáng tác dân gian, không có một tập thể chung chung, tập thể phải bắt nguồn từ cá nhân và một nhóm cá nhân sáng tác Một tác phẩm dân gian khởi nguồn từ một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân rồi lưu truyền trong dân gian Trong quá trình lưu truyền, nhân dân tham gia sáng tác lại rồi trở thành tài sản chung của tập thể
Về chất liệu xây dựng: cùng chung là thành phần ngôn từ
- VHDG là lời nói (truyền miệng):
• Luôn luôn thay đổi, không ổn định
• Không phải là nghệ thuật ngôn từ thuần túy, chuyên môn hóa cao, ngôn từ chỉ có tính độc lập tương đối trong sự nguyên hợp Nó không được trau chuốt ngay, kĩ lưỡng mà tự phát nên nó có chất hồn nhiên giản dị Là 1 phương tiện để giao tiếp 1 cách trực tiếp
• Đặc biệt lời nói trong VHDG không phải là lời nói thường, lời nói tự nhiên hàng ngày mà là lời nói nghệ thuật có thể gắn liền với điệu bộ, động tác ngoài ý nghĩa của lời còn có ý nghĩa của nhạc, điệu bộ, văn cảnh
- Vậy nên, muốn nghiên cứu một tác phẩm VHDG:
• Cần phải đặt nó trong môi trường diễn xướng thì mới nắm bắt hết thần thái, ý nghĩa của tác phẩm
• Phải nghiên cứu một khối lượng tài liệu lớn
• Phải có kiến thức tổng hợp của nhiều chuyên ngành liên quan, đặc biệt là văn hóa dân gian và dân tộc học
- Văn học viết là lời văn:
• Định hình và ổn định
• Ngôn từ gắn liền với tự do cá nhân của người sáng tác, được trau chuốt, rèn giũa, sửa đổi trên bản thảo
• Muốn nghiên cứu t/p thì nghiên cứu t/g
Về chức năng: Ngoài các chức năng giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ, VHDG còn có chức năng rất quan trọng là chức năng sinh hoạt thực hành Tuy nhiên, ngay cả ba chức năng giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ cũng không đơn thuần giống như VHV Chức năng của VHV gắn liền với nghệ thuật ngôn từ trong khi đó ở VHDG, nó không chỉ gắn với nghệ thuật ngôn từ mà còn gắn với các loại hình nghệ thuật khác Mặt khác ba chức năng này lại gắn liền với chức năng sinh hoạt thực hành
Trang 1312
Về hình thái ý thức: VHDG ra đời từ thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thủy, chưa có chữ viết và nó vẫn tồn tại, phát triển trong xã hội phân chia giai cấp và có chữ viết Tuy nhiên, càng về sau, khi xã hội đã có sự phân công lao động rạch ròi, khoa học phát triển, đặc biệt là nền văn học viết phát triển, một số thể loại dần mất đi như thần thoại, truyền thuyết
Tóm lại:
- Đều là nghệ thuật sử dụng ngôn từ
- Đều là văn học Chúng có thể giống nhau về mặt phân chia: phương thức sáng tác, biểu hiện, các loại và thể loại sáng tác
- Hai loại sáng tác này có quan hệ với nhau về nhiều phương diện: thi pháp, thi liệu…
- VHDG là ngọn nguồn của VH viết
Không thể nghiên cứu VHDG như nghiên cứu VH vì “việc phân tích VH chỉ có thể xác định được các hiện tượng và tính quy luật của thi pháp phônclo chứ không có hiệu lực gì trong việc giải thích những hiện tượng và quy luật ấy” Prốp Đặc biệt là việc nghiên cứu những cấu trúc bên trong, kết cấu, cấu tạo
1.4 Vấn đề phân loại , phân kỳ, phân vùng của VHDG Việt Nam
1.4.1 Vấn đề phân loại
Thể loại (là đơn vị cơ sở): Việc xác định đúng thể loại của tác phẩm khi tiếp cận là hết sức quan trọng
Bảng phân loại tổng quát các thể loại VHDG
Phương thức
diễn xướng chính Tác phẩm văn học dân gian
Phương thức phản ánh
Kể Các loại truyện kể xuôi, kể vần (Thần
thoại, truyền thuyết, sử thi, truyện thơ, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn), vè kể chuyện
Tự sự
Diễn Các loại trò diễn dân gian (chèo, tuồng
Trang 1413
VD: thể loại truyện cổ tích gồm các biến thể: truyện cổ tích thần kì, truyện cổ
tích sinh hoạt, truyện cổ tích loài vật
Kiểu loại tác phẩm (kiểu truyện hoặc nhóm tác phẩm): biến thể của thể loại có thể được phân chia tiếp
VD: Tiểu loại cổ tích thần kì có thể phân thành nhiều kiểu truyện: kiểu truyện
người xấu xí mà tài ba, kiểu truyện người nghèo gặp may mắn, kiểu truyện đá vọng phu…
1.4.2 Vấn đề phân kỳ: Tiến trình lịch sử của VHDG Việt Nam
1.4.3 Vấn đề phân vùng
Trang 15
14
CHƯƠNG HAI THẦN THOẠI
2.1 Những vấn đề chung
2.1.1 Khái niệm: Thần thoại là tập hợp những truyện kể dân gian về các vị thần,
các nhân vật anh hùng thần linh, các nhân vật sáng tạo văn hóa thần linh, phản ánh quan niệm của con người cổ về thế giới tự nhiên và đời sống xã hội con người
2.1.2 Cơ sở lịch sử – xã hội: chế độ công xã nguyên thủy, thời kỳ ấu thơ của
nhân loại, tầm hiểu biết, nhận thức còn hạn chế, sinh hoạt bầy đàn, quần hôn, chưa có sự phân chia quyền lợi (quyền bình đẳng dân chủ tối thiểu) Những lớp đầu tiên có thể xuất hiện rất sớm, nhưng phát triển rực rỡ nhất phải là lúc về mọi mặt trình độ của cộng đồng người Việt đã không còn quá mông muội Tức là giai đoạn phát triển cao nhất của công xã nguyên thủy, tương ứng với bước chuyển từ xã hội thị tộc mẫu hệ và bộ lạc riêng lẻ sang hình thức liên minh bộ lạc, bộ tộc theo chế độ phụ hệ và tiến tới sự thành lập nước Văn Lang của các vua Hùng
2.1.3 Đề tài: chủ yếu là về các hiện tượng tự nhiên tuy nhiên cũng có đề cập đến
các hiện tượng xã hội
2.1.4 Chức năng: nhận thức và lí giải các hiện tượng tự nhiên của người cổ đại
bằng tưởng tượng và thế giới quan thần linh
- Mác: "Thần thoại nào cũng chinh phục, chi phối và nhào nặn những sức mạnh tự nhiên ở trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng"
- Thế giới quan thần linh:
• Tín ngưỡng vật linh: là cơ sở của tư duy thần thoại, có trước những quan niệm thần thoại rất lâu Là sự đồng nhất các hiện tượng tự nhiên với các sinh vật, tức là quan niệm mỗi sự vật đều có linh hồn, đều là một sinh thể
• Quan niệm ma thuật: cũng xuất phát từ tín ngưỡng vật linh Là niềm tin vào ma lực của lời nói và động tác đối với ngoại giới Dẫn đến những hoạt động có tính chất ma thuật: nghi thức chống lụt (nhổ cây, vận đá, dùng cung nỏ bắn xuống nước)
• Quan niệm về tôtem (tiếng Angôkin – một bộ lạc Anhđiêng Bắc Mĩ – có nghĩa là họ hàng của nó): là tín ngưỡng đối với một loài vật hay thực vật được coi là thủy tổ của bộ lạc Tôtem không phải là thần mà
Trang 162.1.5 Phương thức diễn xướng: Người ta chỉ kể thần thoại trong những dịp nhất
định (sau mùa hái lượm, lễ tống táng người chết), đó là những cuộc trình diễn có tính chất nghi lễ và chỉ có những nhân vật đặc biệt mới được kể (trưởng lão, thầy mo) Bởi vì thần thoại mang ý nghĩa thiêng liêng của 1 tín ngưỡng chung của 1 cộng đồng bộ lạc, ý nghĩa của 1 phả hệ – 1 pho sử gốc 2.1.6 Tình hình sưu tầm
- Nhìn chung do không được ghi chép sớm và có hình thức thơ ca ổn định cho nên đã bị pha tạp và tha hóa nhiều (bị truyền thuyết hóa, cổ tích hóa, ngụ ngôn hóa, tiếu lâm hóa) Việc sưu tầm, khôi phục, nghiên cứu phát hiện và bảo vệ những giá trị nội dung và nghệ thuật của thần thoại là công việc hết sức phức tạp và khó khăn
- Trong thư tịch cổ thời phong kiến chỉ có một số ít sách có ghi chép thần thoại như: Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử kí toàn thư Số lượng truyện không nhiều và hầu hết đã bị truyền thuyết hóa (Họ Hồng Bàng, Lạc Long Quân, Thần núi Tản Viên…)
- Bị Hán hóa nhiều, từ ngôn ngữ đến cách nhận thức, lí giải, tên truyện, tên nhân vật (Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Ngưu Lang, Chức Nữ, Lạc Long Quan, Kinh Dương Vương, Hùng Vương…)
- Truyện về nữ thần ít hơn, đều đơn giản, mộc mạc, ít tình tiết và nhiều khi chưa thành truyện Chứng tỏ được sưu tầm muộn
- Truyện về nam thần nhiều, nhiều truyện phong phú, giàu tình tiết
2.2 Nội dung của thần thoại Việt
2.2.1- Thần thoại giải thích nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên
Thần thoại về nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên (Thần Trụ Trời, Thần Mưa, Ẵm ệt luông - Thái, Khúa Kê – Hmông, Đẻ đất đẻ nước - Mường …): thể hiện những quan niệm nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên Đây là nội dung chủ yếu của thần thoại Việt Nam
Điều quan tâm đầu tiên của người nguyên thủy là vũ trụ do đâu mà có, ai làm ra trời đất, sông ngòi và các hiện tượng tự nhiên như trăng, sao, sấm chớp, mưa gió có 2 kiểu quan niệm:
Trang 1716
• Quan niệm “Vạn vật nhất thể”: người Việt, người Dao, người Ê Đê…
• Một số dân tộc khác theo quan niệm lưỡng thể Trời đất do cặp vợ chồng phối hợp nhau tạo ra Đây là hai mặt đối lập và thống nhất trong thiên nhiên vũ trụ, thể hiện triết lý âm dương tương hợp tạo ra trời đất: Trời là dương, đất là âm Và các cặp đối lập: cao thấp, đêm ngày, sáng tối, rừng núi – sông biển, mặt trăng – mặt trời, đất nước…
Tiếp theo là công việc của các thần cải tạo, khai khẩn thế giới còn đang sơ khai Trong Thần Trụ Trời là các thần: “Ông đếm cát, ông tát bể, ông kể sao, ông đào sông, ông trồng cây, ông xây rú ” Thần thoại Thái là các ông “Chẩu răng dệt pú” đắp núi cao, “Chẩu răng dệt phẳng” đào khe sâu, “Chẩu chục chẩu chao” san gò đống, đắp hồ ao, tạo nên ruộng nương Người Tày là 2 ông bà khổng lồ Pú Luông – Gìa Cải khai phá các cánh đồng, người Êđê là chàng khổng lồ Prong Pha đạp núi lấy nước uống…
Cơ chế xã hội trong thần thoại Việt đã phát triển cao hơn Các thần đời sau đã tổ chức và quản lý trong một hệ thống tương đối chặt chẽ, gồm 4 cõi:
- Cõi trời (Thiên đình), đấng tối cao cai quản các thần là Ngọc Hoàng (ông Trời) rồi đến các thần Mưa, thần Gió, thần Mặt trăng, thần Mặt trời, thần Sấm (Thiên lôi)… Trời là cơ quan chỉ huy các hoạt động dưới mặt đất và mặt nước nên Ngọc Hoàng cũng là thần đứng đầu các thần, cai quản cả vũ trụ
- Cõi nước (Thủy Cung), có Long Vương (vua Thủy Tề, Hà Bá) cai quản các thần như thần Biển, thần Sông, Ba Ba, Thuồng Luồng…
- Cõi đất (Địa cung) là nơi hoạt động đi lại của các thần để chăm sóc và cai quản con người: Thần Núi, thần Cây, thần Bếp, thần Đất
- Cõi âm (Âm phủ) có Diêm Vương cai quản 18 tầng địa ngục và các tay chân như Ngưu Đầu, Mã Diện, chợ Mạnh Ma, cháo Lú,
Các cõi không phải là cố định, ngăn cách thành thế giới riêng biệt mà thần, người, vật ở các cõi khác nhau vẫn có thể xâm nhập vào cõi của nhau Xâm nhập chứ không được chiếm lĩnh không gian của nhau
Có nhiều truyện về các vị thần ở cõi trời, ba nhân vật hay được nhắc đến là nữ thần Mặt Trời, Mặt Trăng và ông Trời Điều này phản ánh tín ngưỡng dân gian của các tộc người chủ yếu sống bằng nghề nông, các hiện tượng tự nhiên trên có liên quan mật thiết đến cuộc sống lao động và sản xuất của họ
Trang 1817
Thần thoại về nguồn gốc các loài (bao gồm cả động vật và thực vật) (Thần lúa, truyện Ngọc Hoàng tu bổ các giống vật…), nguồn gốc một số sự vật hiện tượng (Rắn già rắn lột, Chú Cuội cung trăng, Ngưu Lang – Chức Nữ, thần Bếp)
- Thể hiện trình độ hiểu biết, Họ có nhận biết được những quy luật (mọi vật đều từ vật chất sinh ra, không phải nhất thành bất biến có thể thay đổi, cải tạo – thần Trụ Trời, hiện tượng mưa – phản ánh sự tuần hoàn của nước…)
- Thể hiện những ước mơ hồn nhiên giản dị nhưng táo bạo và đẹp đẽ, sức tưởng tượng, khát vọng, cách cảm nghĩ vĩ đại của người nguyên thủy
2.2.2 Thần thoại về nguồn gốc con người và nguồn gốc các dân tộc ở Việt Nam
(Truyện Ngọc Hoàng nặn người, Mười hai bà Mụ, Họ Hồng Bàng, Sự tích trăm trứng, Đẻ Đất Đẻ Nước, Trứng điếng, Trăm con…)
Phản ánh nhận thức về xã hội trước hết là con người nhận thức ngay chính bản thân mình
Lý giải nguồn gốc của các dân tộc Đó là hệ thống thần thoại suy nguyên về vật tổ: Con Rồng của người Việt, con Nâga của người Chăm, con Ngược của người Thái, con Đuống của người Tày, con Prưđông của người Khơ Me Thần thoại các dân tộc Việt Nam, dù có đôi nét khác nhau nhưng đều thể hiện một quan điểm, nhận thức thống nhất rằng tất cả các dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam đều có cùng nguồn gốc, cùng nền văn hóa thông qua hình tượng Bọc trăm trứng (Mường,Tày, H’Mông…), Bọc trăm con, Quả bầu mẹ Đây là hình thức sơ khai của tôn giáo nguyên thủy về vật linh, vật tổ Khởi đầu cho phong tục thờ cúng tổ tiên
- Ý thức tự hào, đề cao, coi trọng dân tộc, đất nước, nòi giống
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, truyền thống thiêng liêng đáng được lưu truyền
2.2.3 Thần thoại phản ánh công cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên và sáng tạo
văn hóa (Lạc Long Quân diệt ba quái vật, Vua Hùng dạy dân cấy lúa, Đăm xăn lên trời lấy thóc giống, ông Nđu mang thóc từ âm phủ lên cho người Xrê và người Mạ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Sơn Tinh dạy dân làm lửa (Mường,Thái, Dao…), Cóc kiện trời, Nữ thần nghề Mộc, Tổ sư nghề rèn, Sự tích bánh chưng - bánh dày, Sự tích dưa hấu)
- Nội dung mang tính chất khẳng định, biểu dương ca ngợi
- Các truyện phản ánh công cuộc chinh phục tự nhiên (Sơn Tinh – Thủy Tinh, Cóc kiện trời) đều mang tính chất anh hùng ca, phản ánh tinh thần bất khuất, khí thế xung thiên của người Việt trong thời kì dựng nước
Trang 1918
2.3 Thi pháp: Nghệ thuật vô ý thức, nói đến phẩm chất nghệ thuật chứ không phải chức năng nghệ thuật
2.3.1 Cốt truyện ngắn gọn, đơn giản, ít tình tiết, ít nhân vật, trừ một số truyện
như Chú Cuội cung trăng, Cóc kiện trời …
2.3.2 Nhân vật
Nhân vật chính là các vị thần, có hai loại:
- Giai đoạn đầu những vị thần trong thần thoại phần lớn là những lực lượng tự nhiên mà người ta chưa chế ngự được, tên gọi là tên của các hiện tượng tự nhiên như: thần Trụ Trời, thần Mặt Trăng, thần Mặt Trời, thần Mưa, thần Núi, thần Gió, thần Biển
• Đây là lớp thần thoại đầu tiên, thần thoại suy nguyên Ngoài lớp thần thoại suy nguyên về các hiện tượng thiên nhiên thì có lớp thần thoại suy nguyên về nguồn gốc con người và các tộc người Đó là hệ thống thần thoại suy nguyên về vật tổ
• Hành động và cốt cách của thần mang đặc điểm của hiện tượng tự nhiên mà thần thể hiện
• Biện pháp chủ yếu để xây dựng nhân vật là nhân cách hóa và thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên Đây là biện pháp nghệ thuật “Vô ý thức” bắt nguồn từ thế giới quan thần linh
- Giai đoạn sau, nhiều thần thoại đã được sáng tác để ca ngợi những vị thần bảo vệ thị tộc, bảo vệ bộ lạc Những vị thần từ cõi người (nhân thần, bán thần) Long Quân, Âu Cơ, Tản Viên…
- Vai trò của con người bắt đầu xuất hiện, báo hiệu sự tiêu vong của thần thoại như là một thể loại
Đối với người nguyên thủy, thần thánh không phải là một khái niệm trừu tượng, một nhân vật quái dị mà là một nhân vật có thật Họ tin vào điều đó một cách chân thành và tuyệt đối Có một cuộc sống như con người nhưng hết sức đơn giản
Không được mô tả kĩ về hình dạng, không có tâm lí, tính cách Họ hành động khách quan vô tư như những quy luật tự nhiên
Tên nhân vật trong thần thoại người Việt thường đã bị Hán hóa Trong khi đó, thần thoại các dân tộc, tên nhân vật vẫn được gọi theo ngôn ngữ của họ: “Chẩu răng dệt pú, “Chẩu răng dệt phẳng”, “Chẩu chục chẩu chao”…
2.3.3 Không gian thần thoại
Trang 2019
Không gian thần thoại là không gian vũ trụ, không gian thiên nhiên khó xác định cụ thể kích cỡ, nơi chốn, vị trí Có 4 không gian chủ yếu: trên trời, mặt đất, dưới nước, dưới mặt đất; tương ứng với 4 cõi: cõi trời, cõi đất, cõi nước và cõi âm
2.3.4 Thời gian thần thoại
Thời gian trong thần thoại cũng không xác định Thời gian vĩnh hằng Các truyện không chỉ ra vào thời gian nào, chỉ biết thuở xưa, thuở mới khai thiên lập địa Thần không có tuổi, không biết thần sinh ra khi nào Thần không bao giờ chết
2.3.5 Các thủ pháp nghệ thuật khác
Lần đầu tiên, con người đã vô ý thức làm nên nghệ thuật với hàng loạt những thủ pháp (tưởng tượng, hư cấu, phóng đại, hình tượng hóa, nhân cách hóa, lí tưởng hóa…)đã tạo được những hình tượng nghệ thuật kì vĩ, sống động, độc đáo và tài tình, “một đi không trở lại”
Kết luận: Thần thoại có giá trị rất lớn với các hình thái ý thức tinh thần sau này như một nguồn nước chung của nhiều dòng, nhiều loại nghệ thuật Một truyện thần thoại có thể phát triển thành sử thi, truyền thuyết hay truyện cổ tích tùy theo nhu cầu, mục đích và phương pháp sử dụng của tác giả dân gian Có khi một truyện hoặc một nhân vật thần thoại đã trở thành chất liệu, môtip chung cho nhiều tác phẩm cụ thể có đặc trưng thể loại khác nhau
Trang 21
20
CHƯƠNG BA TRUYỀN THUYẾT
3.1 Những vấn đề chung
3.1.1 Khái niệm: Truyền thuyết là một thể loại tự sự dân gian phản ánh những sự
kiện, nhân vật lịch sử hay di tích ảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kì
3.1.2 Cơ sở lịch sử xã hội: thời kì Hùng Vương bắt đầu dựng nước, là “ giai
đoạn quá độ lâu dài từ một xã hội mạt kì nguyên thủy tiến lên một xã hội thai nghén nhà nước với những thể chế bước đầu của nó”, là buổi bình minh của lịch sử dân tộc Thời đại đó “đã xuất hiện trên đất nước chúng ta một nền văn hóa khá cao, một nền văn minh nông nghiệp rực rỡ”
3.1.3 Đề tài: chủ yếu hướng vào những sự kiện, những biến cố lịch sử có ý nghĩa
trọng đại và những nhân vật lịch sử nổi lên trong những sự kiện, những biến cố ấy
3.1.4 Chức năng: chủ yếu của truyền thuyết là phản ánh, nhận thức và lý giải
lịch sử (bao gồm lịch sử của các bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, quốc gia) “Làm sử”
Nói như GS Đỗ Bình Trị là: “Không có lịch sử nước nào mà không bắt đầu bằng những truyền thuyết mang đậm màu sắc của dân tộc mình”
Phương pháp phản ánh và lí giải lịch sử của truyền thuyết: “Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tưởng hóa, gởi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời còn ưa thích” (PHẠM VĂN ĐỒNG - Nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương 29/4/1969)
Lưu ý: Tính chất vừa là văn, vừa là sử của truyền thuyết: Vì không phải là chính sử nên, trước hết, truyền thuyết là văn học nhưng chính cái nội dung lịch sử lại là đối tượng phản ánh chuyên biệt của thể loại này Nhân dân thời xưa tin vào tính chất xác thực của các yếu tố được kể trong truyền thuyết
Vì vậy, phủ nhận hoặc đề cao quá đáng tính chất này hay tính chất kia đều là không đúng
Chính hai tính chất văn, sử kết hợp với nhau như thế vừa tạo nên chức năng
đặc biệt, vừa là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt truyền
Trang 2221
thuyết với các truyện dân gian khác, là một nét đặc trưng của cách tiếp nhận thể loại này
3.1.5 Phân loại
- Truyền thuyết lịch sử: truyền thuyết về các sự kiện và nhân vật lịch sử
- Truyền thuyết địa danh: truyền thuyết về sự ra đời của những làng mạc, thị tứ, về nguồn gốc tên gọi của chúng và về các địa phương gắn với các sự kiện lịch sử đặc biệt
3.1.6 Phương thức diễn xướng
Mỗi một truyền thuyết dân gian đều gắn với một truyền thống, tập tục, lễ
hội nào đó ở mỗi địa phương hay nói cách khác là với các hình thức văn hóa
dân gian khác nhau Truyền thuyết Thánh Gióng được diễn trong hội Gióng, truyền thuyết An Dương Vương được trình diễn lại trong hội đền Cổ Loa Người dân học sử trong các lễ hội Cứ mỗi năm trang sử ấy lại được mở
ra
3.1.7 Tiến trình phát triển: có 2 cách phân chia
Cách thứ nhất: Chia truyền thuyết làm 2 giai đoạn:
- Truyền thuyết thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc
- Truyền thuyết thời kỳ Bắc thuộc đến tự chủ
Cách thứ hai : Chia truyền thuyết làm 4 giai đoạn:
- Truyền thuyết về "Họ Hồng Bàng" và thời kỳ Văn Lang
- Truyền thuyết thời kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc
- Truyền thuyết thời kỳ phong kiến tự chủ
- Truyền thuyết thời kỳ Pháp thuộc
3.2.1.1 Hệ truyền thuyết về “Họ Hồng Bàng”: “Hồng” có nghĩa là mênh
mông, “Bàng” có nghĩa là rộng lớn
Trang 23ĐẾ LAI
LỘC TỤC - KINH DƯƠNG VƯƠNG (PhươngNam)
CON GÁI LONG VƯƠNG (Nước)
ÂU CƠ (Tiên)
SÙNG LÃM-LẠC LONG QUÂN(Rồng)
BỌC 100 TRỨNG
100 NGƯỜI CON TRAI (Thủy tổ bách Việt)
50 NGƯỜITHEO MẸ LÊN NÚI
50 NGƯỜITHEO CHA XUỐNG BIỂN
18 ĐỜI VUA HÙNG
CON TRAI (QUAN LANG)
CON GÁI (MỊ NƯƠNG)
Trang 2423
Sự kết hợp “Rồng Tiên”: Cuộc hôn phối đầu tiên trong lịch sử tộc người của hai nhân vật có tính chất phi thường, con của hai vị bán thần, có những ý nghĩa sau:
• Thứ 1: Phản ánh quan niệm vật tổ (tôtem) của người Lạc Việt: sự kết hợp của 2 loài: tiên và rồng Một ở dưới nước, một ở trên cạn vốn là vật tổ của các cư dân ở 2 miền: miền núi và miền đồng bằng sông nước
Tính chất lí tưởng hóa, thần thánh hóa để thể hiện lòng tự hào về nguồn gốc của dân tộc
• Thứ 2: Phản ánh quan niệm lưỡng hợp, âm dương, trời đất, đực cái
• Thứ 3: phản ánh quá trình kết hợp giữa các bộ lạc thành Lạc Việt để tạo thành nhà nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt và cách tổ chức xắp xếp nhà nước
• Thứ 4: Lí giải tín ngưỡng thờ mặt trời của các cư dân Lạc Việt cổ (hình mặt trời trên trống đồng) Bởi vì Lạc Long Quân và Âu Cơ đều là dòng dõi Viêm Đế Thần Nông
Hình tượng 100 người con trai sinh ra từ cái bọc trăm trứng (tổ tiên của Bách Việt), chia đi các miền, có những ý nghĩa sau:
• Thứ 1: Tư tưởng cộng đồng, tinh thần đoàn kết của dân tộc
• Thứ 2: chuyển sang chế độ phụ hệ
• Thứ 3: Phản ánh quan niệm lưỡng phân
• Thứ 4: Thể hiện quá trình phát triển dân số và phân bố dân cư trên lãnh thổ Văn Lang cổ đại, chia nước làm 15 bộ: Việt Thường, Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phước Lộc, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lạc Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Định, Văn Lang, Quế Lâm, Tượng Quận do thủ lĩnh Hùng Vương đứng đầu, truyền đến 18 đời
Việc xắp xếp của 50 người con ở lại: phản ánh sự hình thành và xắp xếp tổ chức nhà nước: quan văn, võ, con trai, con gái
Lạc Long Quân và những kì tích diệt Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh là sự tổng hợp, hình tượng hóa, thần thoại hoá những thành tích lao động, đấu tranh với thiên nhiên, mở mang bờ cõi của tổ tiên
Tóm lại: thông qua việc lí giải nguồn gốc tộc người và đất nước cho thấy đến lúc
này dân tộc Việt đã bắt đầu hình thành một nền văn minh vật chất và tinh thần: có nghề nghiệp, công cụ lao động, có thể chế nhà nước, có phong tục, tập quán, tín ngưỡng, truyền thống dân tộc và niềm tự hào sâu sắc về tổ tiên Ý thức dân tộc của người Việt đã nảy nở từ rất sớm Và nó càng được chứng minh ở những truyền thuyết sau
Trang 2524
3.2.1.2 Truyền thuyết về thời kì Văn Lang (18 đời vua Hùng): nối tiếp hệ
thống truyền thuyết họ Hồng Bàng Là phần đầu của bộ sử thi vĩ đại của người Việt, phản ánh buổi bình minh của lịch sử văn hóa Việt Nam Gần
200 truyền thuyết, gắn liền với lịch sử, với mỗi đền thờ, mỗi địa danh, phong tục văn hóa nào đó, còn có tên là Truyền thuyết Hùng Vương 3.2.2 Truyền thuyết chống xâm lăng (Gần tương ứng với thời kỳ Âu Lạc và Bắc
thuộc): Đây là bộ phận truyền thuyết khá đặc sắc và phong phú Nhân vật trung tâm là những nhân vật anh hùng chống xâm lăng Đó là những tướng lĩnh hoặc các nhà lãnh đạo Bộ phận truyền thuyết này giàu chất sử thi
3.2.2.1 Giai đoạn Văn Lang - Âu Lạc có 2 truyền thuyết tiêu biểu:
Thánh Gióng mở đầu cho bộ phận truyền thuyết chống xâm lăng
- Chủ đề: ca ngợi ý thức bảo vệ độc lập tự do, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và sức mạnh quật khởi của cuộc chiến tranh nhân dân chống giặc ngoại xâm của đất nước Văn Lang
- Hình tượng Gióng là tổng hợp của ý chí và sức mạnh của toàn bộ hệ thống quân sự và chính trị thời Hùng Vương
Truyền thuyết An Dương Vương
Nước Âu Lạc do An Dương Vương thành lập và lãnh đạo chỉ tồn tại khoảng 50 năm (229-179 tr CN), gần với thời Bắc thuộc đặc biệt là tính chất bi hùng của lịch sử chống ngoại xâm
Từ khi An Dương Vương thành lập nước cho đến năm 938 là thời kì dân tộc ta bị uy hiếp và thử thách lâu dài, nặng nề gay go, khốc liệt nhất Nếu không có một sức sống mãnh liệt, một bản lĩnh thì có lẽ dân tộc ta đã bị diệt vong như một số dân tộc khác?
Truyền thuyết An Dương Vương là tác phẩm hay nhất, tiêu biểu nhất của thời kì lịch sử này
3.2.2.2 Giai đoạn 10 thế kỷ Bắc thuộc
Sau khi nhà Triệu thất bại, từ đây là gần 10 thế kỷ Bắc thuộc Đây là thời kỳ xuất hiện các truyền thuyết phản kháng lại chế độ, chính sách xâm lược thâm độc của nhà Hán
Chủ đề chính của truyền thuyết giai đoạn này là tự khẳng định, tự nhận thức về mình và đề ra yêu cầu cho mình (truyền thuyết về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, truyền thuyết về Lý Bí, Mai Hắc Đế, Bố Cái Đại Vương, Lê Lợi – Sự tích hồ Gươm…)
Chủ đề phụ là nhận thức về kẻ thù (Cột đồng Mã Viện, Thần sông Tô Lịch, Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non Thần núi Tản Viên)
Trang 2625
3.3 Thi pháp truyền thuyết
3.3.1 Cốt truyện truyền thuyết
Cốt truyện truyền thuyết tập trung xây dựng nhân vật chính Có trình tự, lớp lang, nhiều tình tiết, kiểu dáng công phu hơn thần thoại, mang dáng dấp của một lược đồ gồm 3 phần:
- Hoàn cảnh xuất hiện nhân vật chính ( anh hùng, danh nhân )
- Sự nghiệp của nhân vật chính ( chiến công, công trạng )
- Chung cục về thân thế nhân vật (sự vinh phong, sự thờ cúng, sự hiển linh, hiển thánh )
3.3.2 Nhân vật truyền thuyết
- Nhân vật chính của truyền thuyết chủ yếu là người và bán thần
• Nhân vật chính là bán thần như: Lạc Long Quân, Âu Cơ, Sơn Tinh, Thủy Tinh, đây là những nhân vật không rõ hình hài, tính cách thì người nhưng hành động, hình dáng thì thần Đây là những nhân vật mang ảnh hưởng kiểu nhân vật thần thoại
• Nhân vật chính là con người như: Hùng Vương, Thánh Gióng, An Dương Vương, Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi Trong số nhân vật chính là con người, chỉ có Thánh Gióng mang đậm màu sắc huyền thoại, còn lại các nhân vật khác đều là nhân vật có thật trong lịch sử Nhân vật huyền thoại Thánh Gióng mang trong mình sức mạnh thần linh, còn nhân vật lịch sử bản thân không mang sức mạnh thần linh nhưng được thần linh trợ giúp như, An Dương Vương, Lê Lợi
- Đặc điểm:
• Có lí lịch rõ ràng, trải qua các bước đường của cuộc đời, có xác định được thời gian sinh thành và kết thúc Thường có 2 kiếp tồn tại: kiếp người bình thường và hóa bất tử
• Có lời nói, bước đầu có tính cách, thái độ
3.3.3 Thời gian truyền thuyết
Thời gian truyền thuyết là thời gian lịch sử, được xác định cụ thể hơn so với thời gian thần thoại Câu chuyện xảy ra có khi kéo dài nhiều triều đại như truyền thuyết Họ Hồng Bàng, một triều đại như truyện An Dương Vương, Sự tích Hồ Gươm, Thánh Gióng Tuy nhiên thời gian của truyền thuyết không ghi rõ thời điểm, ngày tháng, câu chuyện xảy ra lúc nào, bao lâu
3.3.4 Không gian truyền thuyết
Trang 2726
Không gian truyền thuyết là không gian đời thường, không gian chiến trường và không gian xã hội, đất nước Trong truyền thuyết Thánh Gióng có không gian đời thường khi Gióng còn nhỏ và không gian chiến trường khi Gióng
ra trận Truyền thuyết An Dương Vương vừa có không gian đất nước bao quát một vùng đất vừa có không gian đời thường trong phạm vi gia đình Vua, vừa có không gian chiến trường Không gian truyền thuyết gắn liền với các địa danh,
di tích cụ thể như làng Phù Đổng, huyện Quế Võ, Trân Sơn, núi Sóc Sơn (Thánh Gióng), Phong Khê, núi Thất Diệu, Dạ Sơn (An Dương Vương), Thanh Hóa, Lam Sơn, hồ Tả Vọng (Sự tích Hồ Gươm) Những địa danh di tích ấy đều gắn liền với sự nghiệp của nhân vật truyền thuyết
Lưu ý:
- Tính cụ thể, xác định tương đối của truyền thuyết: Trong truyền thuyết những danh từ riêng chỉ tên người, tên đất, tên sự việc, tên thời kỳ lịch sử rất được coi trọng vì chúng góp phần vào việc dựng lại không khí lịch sử của truyện Truyện được kể phải có một thời đại lịch sử nào đó tương đối xác định (triều đại nào), phải có một địa điểm cố định (làng xã nào? dòng sông nào? ngọn núi nào, thành ốc nào?), phải có một nhân vật xác định (vị vua nào? nhân vật anh hùng nào?), phải có một sự kiện xác định (sự việc nào?) Đó là những đặc tính hết sức quan trọng để phân biệt truyền thuyết với các thể loại truyện kể dân gian khác
- Đậm chất anh hùng ca
- Tính hiện thực cao: thế giới của truyền thuyết hiện lên qua vẻ đẹp của các nhân vật và sự kiện lịch sử, một lịch sử đã được tái tạo lại và được lí tưởng hóa thông qua lòng yêu quý và ngưỡng mộ của nhân dân chứ không phải là bản sao Nhưng vẫn phải bám sát lịch sử chứ không có phép mầu nào có thể đảo ngược sự thật lịch sử
- Ra đời sau thần thoại nhưng vẫn có những nét song trùng với thần thoại Hệ truyền thuyết ẩn chìm dưới lớp thần thoại dày đặc Vì vậy, vẫn còn những yếu tố thần thoại: hình ảnh hào hùng mĩ lệ bên cạnh những hình ảnh bình thường (Thánh Gióng nằm bụng mẹ, ăn cơm, cà, uống nước, mặc quần áo bằng vải), nhân vật có tầm hoạt động rộng, sức mạnh và khả năng phi thường (sinh ra, lớn lên, đánh giặc, chết ) càng về sau những yếu tố này càng mất dần
Trang 2827
KẾT LUẬN
- Không có một vùng quê nào trên nước ta mà lại không có những truyền thuyết của riêng mình Đồng thời, cũng không có một loại truyện dân gian nào được kể lại với một niềm thành kính, tự hào và sự hoài niệm về người xưa, về ngày xưa như thể loại truyền thuyết Chính niềm tin ấy đã làm nên tình yêu làng xóm, tình yêu quê hương xứ sở của nhân dân ta
- Qua một số nét phác họa, hệ thống truyền thuyết Việt đã phản ánh buổi bình minh của lịch sử dân tộc, phản ánh quá trình hàng nghìn năm làm chủ một bờ cõi của cộng đồng người Việt Người Việt bắt đầu đã có một số đặc tính ổn định, thể hiện ở ngôn ngữ, ở nền văn minh vật chất, văn hóa tinh thần, ở ý thức dân tộc… đó là tiền đề để chúng ta hiểu vì sao người Việt luôn giữ được bản sắc văn hóa và nền độc lập của mình
- Đối với người Việt, nền văn hóa cổ truyền của ông cha thời dựng nước có thể ví như mẹ đất đối với Ăngtê Bộ phận lung linh nhất của truyền thống chính là truyền thuyết, tập tục và tín ngưỡng dân gian Nó không chỉ hướng về quá khứ, nó cần cả cho những người đang sống và là di sản thiêng liêng cho mai sau Vì vậy, bảo tồn vốn văn hóa truyền thống là một vấn đề sống còn của dân tộc ta
Trang 2928
CHƯƠNG 4 SỬ THI
4.1 Những vấn đề về thể loại sử thi
4.1.1.Vấn đề thuật ngữ
Các tác phẩm như: Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường, Ẵm ệt Luông của dân tộc Thái, Đăm Săn, Sinh Nhã, Đăm Di, Khinh Dú của các dân tộc Tây Nguyên lâu nay được các nhà nghiên cứu folklore dùng với các tên gọi khác nhau:
- Đào Tử Chí, năm 1957, khi dịch và giới thiệu tác phẩm Đăm Săn trên tạp chí Văn nghệ đã dùng khái niệm truyện Sau đó khi in thành sách, người dịch lại dùng tên gọi Bài ca chàng Đăm Săn, ghi chú thêm Truyện thơ dân tộc Ê Đê và các nhà soạn sách cũng thống nhất dùng tên gọi truyện thơ
- Cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập I của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam chủ trì biên soạn gọi là trường ca cho các tác phẩm nói trên
- Các nhà soạn giáo trình Đại học Sư phạm xếp các tác phẩm thuộc loại trên thành hai loại: Trường ca anh hùng như tác phẩm: Đăm Săn và trường ca trữ tình như tác phẩm: Xống chụ xon xao
- Khi dịch và giới thiệu các tác phẩm Đăm Săn, Đăm Di, nhà nghiên cứu Xô Viết N.NiKuTin lại dùng khái niệm truyền thuyết anh hùng
- Gần đây, các nhà nghiên cứu folklore có xu hướng gọi là sử thi như Phan Đăng Nhật, Võ Quang Nhơn, Đỗ Bình Trị, Hoàng Tiến Tựu và xếp các tác phẩm Đăm Săn, Đăm Di, Xinh Nhã là loại sử thi anh hùng, các tác phẩm Đẻ đất đẻ nước, Ẵm Ệt Luông là thần thoại hay sử thi thần thoại
Như vậy, cùng một loại tác phẩm dân gian mà có nhiều tên gọi khác nhau: Truyện, Truyện thơ, bài ca, trường ca, truyền thuyết, sử thi Gọi là truyện cũng đúng bởi đặc trưng của các tác phẩm này là kể truyện, thuộc loại hình tự sự dân gian Gọi là trường ca cũng phù hợp bởi nó là những bài ca dài mang đậm chất trữ tình, anh hùng ca Tuy nhiên tên gọi sử thi là phù hợp nhất bởi tính quy mô, tính tổng hợp của thể loại này
4.1.2 Sử thi là gì?
Tiếng Hilạp là epos, có 2 nghĩa:
- Rộng: là tự sự, 1 trong 3 phương thức biểu hiện chính của văn học
- Hẹp: chỉ một nhóm thể loại trong tự sự, đó là sử thi anh hùng, tức là những thiên tự sự kể về quá khứ anh hùng, về đời sống nhân dân và những anh
Trang 30bi hùng, vừa hùng hồn vừa bi tráng trong việc xây dựng nhân vật và cốt truyện, nổi bật là âm hưởng ngợi ca người anh hùng
- Sử thi là thuật ngữ khoa học chung nhưng tuỳ theo từng dân tộc mà có các tên gọi riêng: Mo (Mường), Hơmon (Ba Na), Khắp (Thái), Hơ ri (Gia Rai), Khan (Ê Đê)
4.1.3 Phân loại: Có hai loại
- Sử thi thần thoại: thể loại phản ánh chủ yếu là thần thoại, ngoài ra nó còn có phong cách của truyền thuyết, là một biên niên sử dân tộc từ thời hồng hoang đến thời phong kiến, nhân vật trung tâm là anh hùng văn hoá hoặc thần đã được nhân hóa
- Sử thi anh hùng: thể loại phản ánh gần với truyền thuyết hơn thần thoại, nhân vật trung tâm là anh hùng chiến trận, con người cộng đồng
4.1.4 Cơ sở lịch sử xã hội
- Sử thi thần thoại: từ chế độ cộng sản nguyên thủy đến chế độ phong kiến áp bức phân chia đẳng cấp
- Sử thi anh hùng: chế độ thị tộc cuối mẫu quyền chuẩn bị sang đầu phụ quyền 4.1.5 Đề tài
- Sử thi thần thoại: hướng đến các hiện tượng tự nhiên và xã hội
- Sử thi anh hùng: là những cuộc chiến tranh giữa các thị tộc, bộ lạc
4.1.6 Chức năng
- Sử thi thần thoại: phát biểu những suy tưởng có tính chất thần kì về sự hình thành vũ trụ trời đất con người và những phát kiến văn hóa nguyên thủy Sử hithần hoại cũn có hể gọi là sử hi l ch sử vì nó à b ä sử biên niên về quá rình hình hành và pháttriển của dân ộc
- Sử thi anh hùng: ca ngợi những nhân vật anh hùng có công bảo vệ cộng đồng Tự hào khẳng định sự tồn tại và phát triển của cộng đồng
4.1.7 Phương thức diễn xướng