Xã hội là môn khoa học đặc thù, nghiên cứu các khía cạnh xã hội của conngười và xã hội loài người từ đó tìm ra những quy luật chung của sự tồn tại,hoạt động của sự phát triển xã hội để n
Trang 1VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ TIN HỌC
TIỂU LUẬN MÔN XÃ HỘI HỌC
ĐỀ TÀI :
THANH NIÊN ,SINH VIÊN VỚI VẤN ĐỀ VIỆC LÀM HIỆN NAY
Sinh Viên Lớp
Hệ đào tạo Cán bộ hướng dẫn Ngày hoàn thành
: TRẦN THẾ CƯỜNG : 04B4
: CHÍNH QUY : ĐOÀN VĂN ĐỨC : 28 THÁNG 10 NĂM 2005
HÀ NỘI THÁNG 10 NĂM 2005
Lời giới thiệu
Trong xã hội hiện nay vấn đề việc làm luôn luôn là vấn đề nóng bỏng,
được không chỉ báo giới, các cơ quan ban ngành, các doanh nghiệp quan tâm
mà nó đã ăn sâu vào suy nghĩ của rất nhiều những sinh viên ngay khi còn ngồi
Trang 2trên ghế nhà trường Sinh viên nói chung đang không ngừng tích luỹ kiếnthức, kinh nghiệm để đạt được mục đích cao đẹp của họ trong tương lai.
Xét về năng lực hành vi, sinh viên là một phần quan trọng trong độ tuổilao động Họ có thể lực, trí lực rất dồi dào Xét về mục đích, sinh viên đi học
là để có kiến thức để có thể lao động và làm việc sau khi ra trường Nhận thứcđược rằng có rất nhiều cách thức học khác nhau và ngày càng có nhiều sinhviên chọn cách thức học ở thực tế
Với mong muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề trên, chúng tôi đã chọn đề tài
“Vấn đề việc làm đối với sinh viên, thanh niên hiện nay” làm đề tài nghiên
cứu của mình
Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề việc làm của thanh niên ,sinh viênhiện nay …
Chúng tôi tin rằng với khả năng sẵn có ở mỗi sinh viên, tại sao các bạn
không vận dụng nó như Kim Woo Chong đã nói : "Thế giới quả là rộng lớn
và
còn rất nhiều việc phải làm"(1) Thế giới thuộc về thanh niên, hãy bắtđầu từ ngay hôm nay bằng những việc làm có Ých!
Nghiên cứu của chúng tôi có các mục tiêu sau:
Đối với Xã hội, Doanh nghiệp: có sự quan tâm hơn nữa đối với thế
hệ trẻ; có sự quản lý, phối kết hợp với Nhà trường nhằm tạo cho sinh viên cónhiều điều kiện học hỏi, thực hành, cọ xát; phát huy tối đa nguồn lực dồi dàotrong sinh viên để mỗi sinh viên sau khi ra trường sẽ không bỡ ngỡ với côngviệc và sẽ phát huy tối đa những gì mà họ đã được học trong giảng đường đạihọc ,tránh hiện tượng sinh viên ra trường vẫn không tìm được việc làm màcác công ty ,doanh nghiệp …vẫn thiếu nguồn nhân lực
Đối với Nhà trường, tổ chức Đoàn, Hội: kết hợp giảng dạy lý thuyết
với thực tế, giúp cho sinh viên có môi trường học tập mang tính chất mở, tạonhiều sân chơi bổ Ých cả về bề nổi và bề sâu…
Trang 3Phương pháp nghiên cứu của đề tài là thu thập dữ liệu thứ cấp kết hợp vớiviệc điều tra nghiên cứu về vấn đề việc làm trong phạm vi các trường ĐạiHọc ở Hà Nội
(1) “Thế giới quả là rộng lớn và còn rất nhiều việc phải làm”, tác giả Kim Woo Chong.
do thời gian có hạn và bản thân em là một sinh viên mới bước vào cổng trường đại học nên trong quá trình làm bài không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong được thầy cô giáo bộ môn đóng góp ý kiến để bài tiểu luận thêm hoàn thiện và có chất lượng cao hơn trong các đề tài tiểu luận sau này
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo đoàn văn đức – bộ môn xã hội – chủ nghĩa xã hội khoa học, một số người bạn khác và một số bài tiểu luận của các anh chị khoá trước đã giúp đỡ em hoàn thành bài tiểu luận
Sinh viên thực hiện :
Trần Thế Cường
CHƯƠNG MÉT
KHÁI QUÁT SƠ QUA VỀ MÔN XÃ HỘI HỌC
Lần đầu tiên, vào năm 1839, Auguste Comte – nhà triết học thực chứng luậnngười Pháp đã đưa thuật ngữ xã hội học (sociology) vào thuật ngữ khoa học,bắt nguồn từ sự ghép nối hai thuật ngữ “societas” tiếng latinh có nghĩa là xã
Trang 4hội và “logos” tiếng Hilạp có nghĩa là quan điểm, lý luận, học thuyết … tổnghợp lại sociology có thể hiểu là học thuyết về xã hội, là khoa học nghiên cứu
về mặt xã hội, về khía cạnh xã hội của xã hội loài người
Chóng ta đều biết rằng xã hội loài người rất phong phú, đa dạng, đượcnghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Các khoa học nghiên cứu về xã hộiđều thuộc về khoa học xã hội Song, khoa học xã hội lại chia ra nghiên cứutừng mặt của xã hội như sử học, triết học, kinh tế học và xã hội học v…v.Các khoa học đặc thù có đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng có quan hệchặt chẽ với nhau
Sù ra đời của con người không chỉ là kết quả của quy luật sinh học mà quantrọng hơn là kết quả của quá trình lao động Đây là quá trình con người tácđộng vào thế giới tự nhiên, khai thác và cải biến thế giới tự nhiên để đáp ứngnhu cầu tồn tại của mình chính trong quá trình lao động, thì cấu tạo của cơthể người ngày càng hoàn thiện hơn làm xuất hiện ngôn ngữ và chữ viết Laođộng và ngôn ngữ là hai thứ kích thích chủ yếu của não bộ của loài vật thành
bộ não con người, tâm lý động vật thành có ý thức
Sự hình thành con người gắn liền với sự hình thành mối quan hệ giữa conngười với con người, quá trình chuyển đổi từ động vật thành con người cũng
là quá trình chuyển đổi từ cộng đồng mang tính bầy đàn, hành động theo bảnnăng thành một cộng đồng mới khác hẳn vật chất, ta gọi là xã hội đấy cũng làquá trình chuyển từ vận động sinh học thành vận động xã hội
Xã hội là hình thái vận động cao nhất của thế giới vật chất Hình thái vậnđộng này lấy con người và sự tác động lẫn nhau giữa con người với con ngườilàm nền tảng Xã hội học biểu hiện bằng tổng số những mối quan hệ và những
quan hệ của các cá nhân, “là sản phẩm tác động qua lại giữa những con
người”.
Xã hội là môn khoa học đặc thù, nghiên cứu các khía cạnh xã hội của conngười và xã hội loài người từ đó tìm ra những quy luật chung của sự tồn tại,hoạt động của sự phát triển xã hội để nâng cao con người và xã hội loàingười, như mối quan hệ xã hội, sự tác động qua lại của các thành phần cơ bảncủa xã hội để tạo thành xã hội là một chỉnh thể
Như vậy: Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên
Tính đặc thù của bộ phận này thể hiện : Phần còn lại của tự nhiên chỉ cónhân tố vô ý thức và mù quáng tác động lẫn nhau ; còn trong xã hội, nhân tốhoạt động là những con người có ý thức, hoạt động có suy nghĩ và theo đuổinhững mục đích nhất định Hoạt động của con người không chỉ tái sản xuất rachính bản thân mình mà còn tái sản xuất ra thế giới tự nhiên
Với tư cách vừa là bộ phận đặc thù của tự nhiên, vừa là sản phẩm của sự tácđộng qua lại giữa người với người để tồn tại và phát triển, xã hội vừa phảituân theo những quy luật tự nhiên, vừa phải tuân theo những quy luật chỉ vôn
Trang 5có đối với xã hội Cũng như các quy luật tự nhiên và các quy luật chỉ mangtính khách quan Ph-ăngghen nhận xét:” cái đó đúng với tự nhiên thì sẽ đúngvới lịch sử xã hội Song lịch sử phát triển của xã hội về căn bản khác với lịch
sử phát triển của tự nhiên ở các điểm: Trong tự nhiên chỉ có những nhân tố vô
ý thức và mù quáng tác động lẫn nhau, và chính trong sự tác động lẫn nhau
Êy mà quy luật chung biểu hiện ra … Trái lại, trong lịch sử xã hội, nhân tốhoạt động hoàn toàn chỉ là những con người có ý thức, hành động có suy nghĩhay có nhiệt tình theo đuổi những mục đích nhất định, thì không có gì sảy ra
mà không có tính tự giác không có mục đích mong muốn”
Như vậy: Quy luật của tự nhiên được hình thành xuyên qua vô số những tácđộng tự phát, mà quáng của các yếu tố tự nhiên, còn quy luật xã hội đượchình thành trên cơ sở hoạt động có ý thức của con người Xã hội là sản phẩm
hoạt động của con người, mà “ tất cả cái gì thúc đẩy con người hoạt động
thì tất phải thông qua đầu óc họ” Do vậy quy luật xã hội chẳng qua là quy
luật của con người theo đuổi mục đích của mình Hoạt động của con ngườichỉ diễn ra trong các mối quan hệ xã hội, trong sự tác động qua lại giữa conngười với con người và giữa con người với tự nhiên cho nên cũng giống nhưquy luật tự nhiên, quy luật xã hội là những mối quan hệ khách quan, tất yếu
và phổ biến giữa các hiện tượng và các quá trình của xã hội Có nghĩa là,trước tiên quy luật xã hội phải mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của quyluật xã hội nói chung đó là tính khách quan, tất yếu và phổ biến Tính kháchquan của xã hội thể hiện ở chỗ tuy quy luật xã hội được biểu hiện thông quahoạt động của con người nhưng nó không phụ thuộc vào ý thức, ý trí của bất
kỳ một cá nhân, hay một lực lượng xã hội nào đó Bởi vì bằng hoạt động thựctiễn con người tạo ra xã hội, làm nên lịch sử - song những hoạt động của conngười được thực hiện trong những điều kiện sinh hoạt động vật chất nhấtđịnh, trong những quan hệ nhất định giữa con người với con người và giữacon người và thế giới tự nhiên, những điều kiện và mối quan hệ đó là kháchquan đối với mỗi thời đại, mỗi dân téc, mỗi thế hệ, mỗi con người khi họ theođuổi mục đích của bản thân mình
Quy luật xã hội thường biểu hiện ra như là những xu hướng, mang tính đặctrưng của xã hội Những mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau vô cùng phứctạp, giữa những con người và người đã tạo ra những hoạt động khác nhautrong xã hội Tổng hợp những lực tác động lẫn nhau đó tạo thành xu hướngvận động lịch sử, trong đó hoạt động của khối đông người là chủ yếu Điều đó
có nghĩa là, mặc dù hoạt động cua con người trong xã hội biểu thị cho rấtnhiều ý muốn, nhiều mục đích của con người khác nhau, thậm chí đối lậpnhau, mâu thuẫn nhau nhưng quy luật chung của xã hội chỉ là phản ánh những
ý muốn, những mục đích của khối đông người, phù hợp với xu hướng vậnđộng và phát triển của lịch sử Xu hướng này là khách quan, không một thếlực nào có thể lực nào có thể được điều khiển được
Tính tất yếu và tính phổ biến cũng là những đặc trưng quan trọng của quyluật xã hội Những mối quan hệ của con người trong xã hội hình thành một
Trang 6cách tất yếu và phổ biến, nhằm thoả mãn nhu cầu sống của con người, nhucầu tồn tại và phát triển của con người.
Quan hệ của con người trong xã hội có nhiều cấp độ khác nhau: Loại quan
hệ xã hội tồn tại phổ biến cho mọi hình thái kinh tế – xã hội như quan hệ giữalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức
xã hội; quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng … Những quyluật phản ánh các mối quan hệ này hoạt động ở mọi hình thái xã hội chẳnghạn như quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa tại xã hội và
ý thức xã hội … Loại quan hệ xã hội chỉ tồn tại trong một số hình thái nhưquan hệ giai cấp, quan hệ thị téc, quan hệ gia đình … Loại quan hệ xã hội chỉriêng có ở một hình thái xã hội nhất định như: Quan hệ giữa chủ nô và nô lệ,quan hệ giữa địa chủ và nông dân (nông nô), quan hệ giữa tư sản và vô sản.Loại quan hệ dành riêng cho từng lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, vănhóa … Như quan hệ giữa các đảng phái chính trị, quan hệ buôn bán thươngmại, quan hệ đạo đức, giáo dục, pháp luật … Tùy thuộc vào mức độ quantrọng và phổ biến của các mối quan hệ xã hội mà các quy luật thực hiệnchúng cũng có mức độ tất yếu và phổ biến khác nhau
Quy luật xã hội tồn tại và tác động trong những điều kiện nhất định Khinhững điều kiện tồn tại tất yếu của quy luật xã hội bị xoá bỏ, thì quy luật cũngkhông còn tồn tại Chẳng hạn, đấu tranh giai cấp là một trong những động lựccủa lịch sử, là quy luật của các xã hội có sự đối kháng giai cấp Quy luật đấutranh giai cấp sẽ chấm dứt hoàn toàn sự phân chia thành những giai cấp đốikháng
Hình thức biểu hiện sự tác động của các quy luật xã hội thường bị biến dạngnhiều là do sự biến đổi lịch sử của từng giai đoạn, từng thời đại, từng nướckhác nhau và còn tùy thuộc vào trạng thái phát triển của các quan hệ xã hội.Các quy luật xã hội thể hiện một cách rõ rệt khi các quan hệ xã hội vốn có của
nó đạt đến trình độ chín muồi nhất định Chẳng hạn, quy luật giá trị thặng dư– quy luật kinh tế cơ bản của nền tư bản xã hội chủ nghĩa, được C.Mác pháthiện ra khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến trình độ cao, nó phản ánh mộtcách sâu sắc và đầy đủ nhất mối quan hệ cơ bản trong xã hội tư bản chủnghĩa
Sự tác động của quy luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con người.Động lực cơ bản thúc đẩy con người hoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội
là lợi Ých của hoạt động chủ thể Do vậy, lợi Ých trở thành một yếu tố quantrọng trong cơ chế hoạt động của quy luật xã hội và trong sự nhận thức củacon người về nó Điều này không làm mất đi tính khách quan vốn có của quyluật xã hội, bởi vì: Tùy hoạt động của con người bao giê cũng nhằm theo đuổinhững lợi Ých và mục đích khác nhau, những kết quả tác động của quy luật
xã hội lại không phụ thuộc vào từng ý muốn của từng cá nhân mà hướng đến
Trang 7ý muốn ưu trội của khối đông người Do đó, lợi Ých ở đây không thể nào làlợi Ých cá nhân, mà phải là lợi Ých của cộng đồng, của giai cấp…
Một đặc điểm nữa của quy luật xã hội là để nhận thức được nó cần phải cóphương pháp khái quát hoá và trừu tượng hài hoà rất cao Bởi vì sự biểu hiện
và tác động của xã hội thường diễn ra trong thời gian rất lâu, có khi là trongsuốt quá trình lịch sử, do đó không thể tính thực nghiệm để kiểm tra nhưnhững quy luật của tự nhiên, cũng không thể tính nối suy diễn logic một cách
đơn thuần đúng như C.Mác đã viết: “ khi phân tích những hình thái kinh
tế, người ta không thể dùng kính hiển vi hay những vật phản ứng hoá học được Sự trừu tượng hoá phải được thể hiện cho cả hai cái đó”.
Xã hội là một ngành khoa học nghiên cứu về xã hội, nghiên cứu các hoạtđộng xã hội của con người với con người, con người với xã hội loài người, và
hệ thống tự nhiên – xã hội với xã hội trong quá trình vận động và phát triển.Trong đó hệ thống tự nhiên – xã hội giữ vai trò quan trọng, trong quá trìnhtồn tại và phát triển của xã hội loài người, là môi trường sống của cả hành tinh
bé nhỏ và cũng rất lớn lao của chúng ta Vì chỉ có tự nhiên mới cung cấp đượcnhững điều kiện cần thiết nhất cho sự sống của con người và cũng chỉ có tùnhiên mới cung cấp những điều kiện cần thiết cho các hoạt động sản xuất xãhội Theo C.Mác con người không thể sáng tạo ra được cái gì nếu không có tựnhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài đó là vật liệu trong đó laođọng của con người được thực hiện, trong đó lao động của con người được tácđộng, nhờ đó lao động của con người sản xuất ra sản phẩm Xã hội gắn bó với
tự nhiên thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của con người, trước hết làquá trình lao động sản xuất của xã hội loài người Lao động là đặc trưng cơbản để phân biệt giữa con người với động vật Song lao động cũng là yếu tốđầu tiên, cơ bản nhất quan trọng nhất tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa conngười với tự nhiên bởi:” lao động trước hết là quá trình diễn ra giữa conngười và tự nhiên, một quá trình đó bằng hoạt động của chính mình con người
là trung gian điều tiết và kiểm tra sù trao đổi chất giữa họ với tự nhiên”
Chính vì vậy, trong sự tác động qua lại giữa tự nhiên và xã hội thì yếu tố xãhội ngày càng giữ vai trò quan trọng Để giữ được môi trường tồn tại và pháttriển của mình, con người phải nắm chắc các quy luật tự nhiên, kiểm tra, điềutiết hợp lý việc bảo quản, khai thác và sử dụng tái tạo nguồn vật chất của tựnhiên để đảm bảo sự cân bằng của hệ thống tự nhiên – xã hội
Phương pháp chung là xã hội có một số phương pháp chung được sử dụngnhiều bao gồm các phương pháp chung với khoa học xã hội Những phươngpháp chung mà xã hội thường sử dụng nhất là phương pháp thông tin, phươngpháp sinh học, phương pháp thống kê… xã hội học phải tuân theo nhữngnguyên tắc của logic biện chứng trong quá trình nghiên cứu như nguyên tắc
Trang 8toàn diện, nguyên tắc lịch sử cụ thể, nguyên tắc phân đổi cái thống nhất vànhận thức bộ phận đối lập của nó có sự tác động qua lại, đó là nguyên tắcthống nhất giữa lý luận và thực tiễn đồng thời xã hội học cũng sử dụngphương pháp biến đổi của các ngành khoa học như y học, các ngành nghiêncứu chống các căn bệnh khó chữa như máu trắng, HIV…, các ngành khoa họckhác…
Phương pháp riêng mà xã hội học sử dụng là phương pháp điều tra xã hộihọc Trong đó phương pháp thống nhất là phân tích, quan sát đặc trưng ýkiến…
Ngoài ra các nhà xã hội học nghiên cứu không chỉ sử dụng hai phương phápchung và phương pháp riêng mà còn có một số phương pháp khác như:
Phương pháp phân tích
Phương pháp hệ thống, quy nạp, diễn dịch, phương pháp duy vật biệnchứng
Phương pháp điều tra xã hội(phương pháp tiếp cận xã hội)
Dân số là lượng người sinh sống trong một vùng lãnh thổ nhất định Kháiniệm dân số bao hàm nhiều mặt như: số lượng dân cư, chất lượng dân cư, mật
độ dân cư, sự phân bố dân cư, sự tăng dân số …
Vai trò của dân số đối với sự phát triển của xã hội thể hiện trước hết qua sốlượng dân cư và chất lượng dân cư
Số lượng dân cư là số lượng người của dân số Số lượng dân cư hiện sứcmạnh về lượng của dân số trong đó quan trọng nhất là sức mạnh thuộc về thểlực, tính theo lao động cơ bắp của con người Sức mạnh của số lượng dân cưphụ thuộc rất nhiều vào trình độ tổ chức, quản lý và sự đoàn kết liên kết giữangười với người trong một cộng đồng
Chất lượng dân cư là chất lượng người của dân số Chất lượng dân cư thểhiện băng sức mạnh trí lực và năng lực của cong người như: lao động, trí tuệ,thông minh, sáng tạo, năng lực thực hành kĩ năng, kĩ xảo…sức mạnh dân cưphụ thuộc vào chất lượng của cuộc sống về giáo dục, truyền thống văn hoá,trình độ phát triển của khoa học kĩ thuật công nghệ…
Dân số là một điều kiện thường xuyên, tất yếu của sự phát triển xã hội.Sốlượng dân cư, mật độ dân cư ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lao động xã hội,được tổ chức, phân công lao động Những nơi có số lượng dân cư và mật độdân cư hợp lý sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc tổ chức, phân công laođộng, sản xuất có điều kiện để thúc đẩy xã hội phát triển
Tuy nhiên, sức mạnh về số lượng dân cư chỉ được phát huy mạnh khi trình
độ phát triển của xã hội còn thấp, khi sản xuất chủ yếu mới sử dụng lao động
cơ bắp với sự hỗ trợ của các công cụ thủ công Từ cuối thế kỷ XVII với sự rađời của công nghệ cơ khí máy móc thì vai trò của số lượng dân cư bị giảmbớt đặc biệt ngày nay, khi công nghệ tin học đang dần thay thế cho công
Trang 9nghệ cơ khí máy móc thì lao động trí tuệ cũng đang dần thay thế lao động cơbắp, sức mạnh về chất lượng dân cư đang dân thay thế cho sức mạnh về sốlượng dân cư và vai trò của nó ngày càng trở lên quan trọng.
Sù gia tăng dân số ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng dân cư, mật độ dân cư
và tác động mạnh mẽ đến tất cả các mặt trong đời sống con người Sự gia tăngdân số quá chậm hoặc quá nhanh so với điều kiện kinh tế – xã hội đều có ảnhhưởng tiêu cực đến sự phát triển của xã hội Dân cư tăng quá chậm sẽ dẫn đếnthiếu lao động xã hội, gây khó khăn cho sản xuất, dịch vụ và chi phí rất nhiều.Ngược lại dân số tăng quá nhanh sẽ dẫn đến hiện tượng di dân tự phát từ vùngnày, nước này sang nước khác, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh chính trị, toànvẹn lãnh thổ, trật tự an ninh xã hội …
Là điều kiện thường xuyên, tất yếu của sự phát triển xã hội, vấn đề dân sốvừa phụ thuộc vào các quy luật tự nhiên, liên quan đến môi trường tự nhiên,vừa phụ thuộc vào các điều kiện xã hội, liên quan đến bản chất của chế độ xãhội và các chính sách của nhà nước trong chế độ xã hội đó
Giải quyết tối ưu vấn đề dân số trước hết là nhiệm vụ của mỗi quốc gianhưng nó mang tính chất toàn cầu Nó đòi hỏi phải xác định được và giữ tỷ lệtăng dân số hợp lý trên cơ sở nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội phù hợp vớiđiều kiện môi trường tự nhiên Mặt khác bên cạnh giữ được tỷ lệ gia tăng dân
số hợp lý phải có chính sách bố trí hợp lý và đặc biệt phải tăng cường chấtlượng dân cư để đảm bảo sự phát triển hài hoà lâu bền của cả tự nhiên và xãhội
2.Vai trò của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội:
Môi trường là toàn bộ những điều kiện mà trong đó con người sinh sống.Khái niệm môi trường bao hàm cả môi trường tự nhiên và các môi trường xãhội Môi trường tự nhiên được sử dụng dưới nhiều cái tên khác nhau như sinhquyển ( vùng lưu hành sự sống trên trái đất), môi trường sinh - địa - hoá học,môi trường sống… thường được gọi chung là môi trường sinh thái
Ở trình độ mộng muội, khi con người chỉ biết chủ yếu hái lượm những sảnphẩm có sẵn trong tự nhiên thì hầu như con người bị giới tự nhiên hoàn toànthống trị Cuộc sống của xã hội phụ thuộc vào môi trường tự nhiên
Ở trình độ văn minh cao hơn, nhất là khi khoa học – kỹ thuật phát triển thìcon người đã từng bước chế ngự được tự nhiên, biết khai thác tự nhiên phục
vụ cho nhu cầu của mình Nhiều ngành nghề được hình thành từ những điềukiện có sẵn của môi trường tự nhiên như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngưnghiệp, các ngành khai thác khác… Song nhìn chung, môi trường tự nhiênvẫn giữ vai trò to lớn trong việc tổ chức, phân công lao động, phân bố lựclượng lao động sản xuất và vẫn tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho quátrình sản xuất, do đó ảnh hưởng tới năng xuất lao động, đến tốc độ phát triểncủa xã hội
Khi con người bất chấp quy luật phạm vi nhưng nguyên tắc đảm bảo cho sựphát triển bền vững, biến”khai thác” thành”chiếm đoạt” tự nhiên thì môitrường tự nhiên không phải chỉ gây khó khăn cho quá trình sản xuất nữa, mà
Trang 10còn đe dọa đến sự sống của toàn xã hội Biểu hiện trước hết của sự đe doạ là
sự khan hiếm và cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, đất,nước ngọt, động thực vật, khoáng sản… là nạn ô nhiễm môi trường sống ngày
càng nặng nề Hiện tượng to lớn ảnh hưởng tới tất cả mọi sự sống đó là”hiệu
ứng nhà kính” và”lỗ thủng tầng ozon” sù sa mạc hoá đang diễn ra ngày càng
nhanh và hiện tượng nóng lên của trái đất…
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên song nguyên nhân quantrọng nhất, cơ bản và sâu sắc nhất thuộc về chế độ xã hội Chủ nghĩa tư sảnvới chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, với quy luật cạnh tranh tù do
và bóc lột giá trị thặng dư Chủ nghĩa tư sản đã từng tận dụng một cách triệt
để những thành tựu của nền văn minh công nghiệp để bóc lột con người vàbóc lột giới tự nhiên nhằm mang lại nhu cầu tối đa trước mắt, bất chấp nhữngquy luật phát triển của tự nhiên Bởi vậy việc xoá bỏ chủ nghĩa tư sản –nguyên nhân sâu xa của việc tàn phá tự nhiên – là điều tất yếu Song việc xoá
bỏ chế độ này chỉ là tiền đề là điều kiện cần nhưng chưa đủ để thiết lập lạimối quan hệ hài hoà giữa tự nhiên và xã hội Để điều này có thể trở thànhhiện thực, con người phải không ngừng nâng cao nhận thức về tự nhiên, xâydựng ý thức sinh thái, đặc biệt là đạo đức sinh thái để kết hợp mục tiêu kinh tếvới mục tiêu sinh thái đảm bảo cho hệ thống tự nhiên – xã hội phát triển bềnvững
Phần mét: Xã hội học đại cương: Nghiên cứu các vấn đề chung nhất của
cấu trúc xã hội và hành vi của con người Đâu là cấp cơ sơ của hệ thống lýthuyết của xã hội học
Phần hai: Xã hội học chuyên ngành: Đi sâu nghiên cứu các mặt cụ thể của
đời sống xã hội Hiện nay đã có hơn 200 chuyên ngành như: Xã hội học nôngthôn, Xã hội học đô thị, Xã hội học giáo dục, Xã hội học thanh niên…Xã hộihọc chuyên ngành là cấp độ chuyên sâu của hệ thống lý thuyết xã hội
Phần ba: Xã hội học thực nghiệm: Có đặc điểm là xây dung hệ thống lý
thuyết xã hội học bắt đầu từ thực nghiệm đó là sự nối liền các khâu:
- Khảo sát kiểm tra
- Phân tích đánh giá, vạch ra các dự báo, dự kiến
- Tổ chức thí điểm để thẩm định các dự kiến
- Tổng kết phát hiện quy luật và xây dựng hệ thống lý luận xã hội
Xã hội học có hai chức năng: chức năng nhận thức và chức năng thực tiễn.Nói như vậy là quá chung chung, cho nên cần phải đi tới một cách cụ thể hơntrong việc trình bày những chức năng xã hội của nó Như vậy có thể nêu lên 4chức năng cơ bản của xã hội học: chức năng tư tưởng, chức năng phươngpháp luận, chức năng văn hoá và chức năng quản lý
Trang 11Hệ tư tưởng là một hệ thống tổng hợp của những quan điểm hay những lýtưởng về mặt triết học, xã hội học, kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức, vănhóc nghệ thuật, tôn giáo… Đối với xã hội hay đối với vị trí của con ngườitrong xã hội Quan điểm xã hội đối với đời sống là một hệ thống thống nhất,tổng hợp của sự nhận thức về xã hội.
Những sự hình thành của quan điểm Mác-Lênin là tư tưởng Hồ Chí Minhđối với đời sống không chỉ thu hẹp vào vấn đề nhận thức, nó còn bao gồm quátrình biến đổi từ nhận thức thành niềm tin, thành những tư tưởng và tiêuchuẩn, thành những nhân tố kích thích hành động Cho nên chức năng tưtưởng của xã hội học lại bao gồm những chức năng riêng biệt: Chức năng nộidung, chức năng chỉ định và chức năng phê phán
Chức năng nội dung: bảo đảm cho xã hội học góp phần mở rộng nội dungkhoa học của hệ tư tưởng một cách đáng kể Nó có vai trò quan trọng trongviệc xây dựng nền tảng xã hội học Mác-Lênin đối với đời sống xã hội
Chức năng chỉ định: Bắt nguồn từ vai trò của xã hội học trong việc tổ chức
và quản lý quá trình tư tưởng Chức năng này phục vụ cho chức năng quản lý
xã hội học Hệ tư tưởng là lĩnh vực tinh tế và nhậy cảm nhất của quản lý xãhội
Chức năng phê phán của xã hội: Bắt nguồn từ thực tế là sự củng cố quanđiểm xã hội chủ nghĩa và đời sống luôn nằm trong những điều kiện đấu tranh
tư tưởng với các quan điểm tư sản và tiểu tư sản và với những bước đi chệchquỹ đạo chủ nghĩa Mác-Lênin Không đánh giá thấp các khoa học xã hội khácnhưng rõ ràng xã hội học đóng vai trò quyết định trong lĩnh vực này
Chức năng tư tưởng của xã hội: Không tách rời các chức năng nhận thức vàthực tiễn, không tách rời bản tính của xã hội học là khoa học vừa có tính chất
lý thuyết, vừa có tính chất thực nghiệm Trong khi tái tạo thực trạng và dựbáo tương lai của các hiện tượng và quá trình xã hội Xã hội học, một cáchtrực tiếp hoặc gián tiếp, đồng thời cũng tái tạo thực trạng và dự báo tương laicủa các hiện tượng và quá trình tư tưởng Do đó xã hội học là cơ sở quantrọng để đề ra các biện pháp quản lý về tư tưởng Xã hội học giúp các cơ quanthông tin tuyên truyền định hướng lý luận và số liệu thực tế để thực hiệnnhiệm vụ giáo dục tư tưởng, ngăn chặn những khuynh hướng tư tưởng sailầm, truyền bá và khuyến khích những khuynh hướng tư tưởng tích cực, tiến
bộ Xã hội học giúp cho các cá nhân phát huy tích cực sáng tạo, nhận rõ bảnthân mình xây dựng lòng tin vào khoa học và xã hội, vào con người và tươnglai thông qua việc tăng cường khả năng nhân thức và hoạt động xã hội Nócũng giúp con người có thãi quen suy nghĩ theo quan điểm khoa học đối vớicác hiện tượng của đời sống xã hội Cũng cần nhận rõ rằng, các quan điểm xãhội học đến cùng đều có tính gia cấp và tính cá nhân Do vậy, việc tìm hiểucác quan điểm xã hội khác nhau sẽ giúp chúng ta chủ động đứng vững trênnền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trongviệc xem xét và nghiên cứu các vấn đề xã hội
2 Chức năng phương pháp luận:
Trang 12Chức năng phương pháp luận của xã hội học có ý nghĩa rất lớn về mặt xãhội và thực tiễn Khoa học càng đóng vai trò quan trọng trong mọi hoạt độngcủa xã hội bao nhiêu thì những vấn đề về phương pháp luận càng quan trọngbấy nhiêu Việc tích luỹ nhanh chóng những kiến thức khoa học mới đòi hỏiphải có sự khái quát về lý luận và phương pháp luận Mặt khác, sự phát triểncủa phương pháp luận lại thúc đẩy những bước tiến của khoa học Phươngpháp luận của xã hội còn có ý nghĩa đối với các khoa học xã hội khác.
Chức năng văn hóa bắt nguồn từ vai trò của xã hội học trong hệ thống vănhoá của con người Xã hội học với tư cách là một thành tựu về một bộ môncủa văn hoá trong sự phát triển tư duy, thái độ sáng tạo, năng lực phân tích vàtổng hợp của con người cũng như trong việc xây dựng phong cách tư duy của
nó Xã hội học góp phần vào việc tăng tính hiểu biết về lịch sử phát triển của
xã hội loài người, một quá trình phức tạp bao gồm rất nhiều vấn đề có liênquan như thể chế, hiện tượng, cơ cấu xã hội v.v…
Đây là một trong những chức năng cơ bản của xã hội học Bằng chức năngnày, xã hội học có ảnh hưởng trực tiếp đối với những hoạt động thực tiễn củacác cơ quan quản lý và của quần chúng nhân dân
Xã hội học đóng một vai trò ngày càng to lớn trong việc kế hoạch hoá xã hội– kinh tế trong phạm vi cả nước cũng như trong từng địa phương thông quachức năng này xã hội học đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề trong các lĩnhvực như: Sản xuất vật chất, quan hệ xã hội, văn hoá, giáo dục v.v… Xã hộihọc cung cấp những thông tin cần thiết về cả chủ lẫn khách thể của quản lý,
về toàn cơ chế quản lý và chu kỳ quản lý
Xã hội học có liên quan với thực tiễn xã hội học một cách chặt chẽ Nếu triếthọc gắn liền với thực tiễn chỉ bằng cách thông qua hiệu quả tư tưởng vàphương pháp của nó với các ngành khoa học chuyên biệt và cụ thể đối với xãhội của quần chúng, thì xã hội học lại có tác dụng thực tiễn bằng cả ảnhhưởng của nó với các khoa học khác, đối với lối suy nghĩ của con người cũngnhư bằng ảnh hưởng trực tiếp, vì nó được coi là cơ sở thông qua những quyếtđịnh quản lý
Căn cứ vào các chức năng trên, xuất phát từ nội dung, tính chất của xã hội
1.Nhiệm vụ hành đầu của xã hội học hiện nay: Là nghiên cứu các hình thái
biểu hiện cơ chế hoạt động của các quy luật hoạt động trong xã hội
2 Nhiệm vụ tiếp theo của xã hội học: Là phục vụ cho công tác tổ chức và
quản lý xã hội một cách trực tiếp và gián tiếp Xã hội học đại cương cung cấpthông tin phục vụ gián tiếp cho công tác quản lý xã hội vĩ mô, xem như là một
bộ phận của nhân sinh quan, như cơ sở phương pháp luận của các xã hội họcchuyên ngành và kể cả các khoa học khác trong hệ thống khoa học xã hội
Trang 13Thật ra phân định ranh giới, mức độ giữa lý thuyết đại cương và lý thuyết xãhội học cũng chỉ có ý nghĩa tương đối Việc vận dụng tổng hợp các kiến thức
và kỹ năng nghiên cứu xã hội học phục vụ cho công tác quản lý xã hội vàcông tác xã hội nói chung càng nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ của xãhội học đối với đời sống thực tiễn, càng tăng thêm ý nghĩa quản lý trực tiếpcủa thông tin xã hội
Trang 14CHƯƠNG HAI
VÀI NÉT VỀ XÃ HỘI HOÁ Ở VIỆT NAM
Nhìn chung xã hội truyền thống là trạng thái xã hội cũ, trước chủ nghĩa tưbản về bản chất, xã hội truyền thống thuộc về”văn minh công nghiệp” vớimột số đặc trưng cơ bản sau:
- Kinh tế tự cung tự cấp, không có hoặc có không đáng kể các quan hệ hànghoá - tiền tệ, thị trường chưa phát triển
- Lao động thủ công, phân công lao động chưa phát triển
- Các quan hệ gia trưởng trong gia đình và xã hội là phổ biến
- Cư dân nông thôn chiếm tuyệt đại đa số trong xã hội, chưa có đô thị dùavào các quan hệ kinh tế là chủ yếu( đô thị chủ yếu là những trung tâm hànhchính)
- Văn hoá nông thôn chiếm ưu thế
- Chính thể quân chủ dưới những hình thức khác nhau giữ vị trí thống soái
Xã hội truyền thống việt nam còng mang những đặc trưng cơ bản đó, nhưngcũng có những đặc trưng riêng biệt Ở việt nam đã có sự tồn tại lâu dài củacác phương thức sản xuất châu á với chế độ ruộng công định kỳ phân chia ởcác làng xã, với nền nông nghiệp trồng lúa nước tự cung, tự cấp Đồng thời,trong gần 80 năm đô hộ của thực dân pháp với chính sách khai thác địa Êp đặtnền văn minh phương tây vào nước ta đã phần nào tác động đến nền kinh tế,chính trị, văn hoá ở Việt Nam đã có những đặc điểm không giống với các xãhội truyền thống ở nơi khác Trong xã hội truyền thống cũng có sự xuất hiệncủa một số những yếu tố hiện đại, tự nhiên, ở nước ta yếu tố truyền thốngtrong thời kỳ này vẫn chiếm ưu thế
Trong thời kỳ này, những giá trị chuẩn mực văn hoá - xã hội chịu ảnh hưởngcủa các tôn giáo nói chung, đặc biệt là phật giáo và nho giáo, nhưng các hệ tưtưởng và các tôn giáo ở bên ngoài khi vào việt nam đều được điều chỉnh vàcấu trúc lại cho phù hợp với điều kiện kinh tế – văn hoá và truyền thống vănhoá của người Việt Nam Các kênh chủ yếu thực hiện chức năng xã hội hoágiáo dục và rèn luyện nhân cách con người là gia đình và dòng họ Gia đình
và dòng họ thực hiện chức năng xã hội hoá giáo dục đạo đức tức là lễ, cái gốccủa nhân cách, giáo dục tôn ti trật tự và thứ bậc trong gia đình, ý thức tônkính tổ tiên, giáo dục đức hiếu với cha mẹ, ông bà…
Phương pháp thực hiện chức năng xã hội hoá chủ yếu sử dụng quyền uy củachủ thể xã hội hoá phải tuân theo và chấp hành dưới sự kiểm soát nghiêmngặt của chủ thể xã hội hoá Điều đó cũng phản ánh phần nào đặc điểm củachế độ quân chủ chuyên chế phong kiến
Ngoài ra, phương thức thực hiện chức năng xã hội hoá còn sử dụng hìnhthức nêu gương đối với khách thể xã hội hoá, cũng như hình thức lao động vàthông qua lao động để xã hội hoá con người
Trong thời kỳ Pháp thuộc, tuy tiếp xúc với văn hoá phương Tây những ảnhhưởng của giá trị văn hoá phương Tây mới dừng lại ở một số thành thị Còn
Trang 15nông thôn việt nam dường như vẫn giữ nguyên giá trị truyền thống của nótrong việc thực hiện chức năng xã hội hoá con người ở mỗi gia đình.
Xã hội hiện đại khác hẳn các xã hội truyền thống Về mặt lịch sử ở nhiềunước, xã hội hiện đại ra đời cùng với chủ nghĩa tư bản và quá trình côngnghiệp hoá Những đặc trưng cơ bản của nó thể hiện như sau:
+ Kinh tế hàng hoá phát triển
+ Phân công lao động phát triển theo chiều sâu, đạt trình độ cao
+Công nghiệp phát triển, năng suất lao động ngày càng cao
+ Dân cư đô thị chiếm số đông, quá trình đô thị hoá phát triển mạnh mẽ.+ Văn hoá đô thị phát triển mạnh mẽ
+ Có những chính thể khác nhau( độc tài, dân chủ) nhưng xu hướng dân chủhoá ngày càng cao
Xã hội hiện đại có nhiều trình độ khác nhau, tuỳ theo quan điểm xuất phátcủa các nước khi tiến hành hiện đại hoá Hiện đại hoá không có nghĩa là gạt
bỏ tất cả những giá trị truyền thống, đặc biệt là lĩnh vực đời sống văn hoá,tinh thần Một xu hướng đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới là sự kết hợpgiữa hiện đại hoá về kinh tế, kỹ thuật với những giá trị văn hoá truyền thốngmang đậm bản sắc dân téc
Xã hội hiện đại việt nam còng mang những nét đặc trưng trên nhưng nó cónhững đặc trưng đặc thù riêng biệt
Sau cách mạng tháng tám năm 1945, nhất là thời kỳ hợp tác hoá sản xuấtnông nghiệp vào những năm 1960, xã hội mới dường như có xu hướng phủđịnh quá thái độ với ý thức hệ phong kiến, tư bản, có nơi có những lúc quytoàn bộ những giá trị, chuẩn mực của xã hội phong kiến vào cái bảo thủ, lạchậu Từ đó dẫn đến hành động cực đoan ảnh hưởng nhất định tới quá trình xãhội hoá cá nhân xã hội hoá đã không hoàn toàn diễn ra như chúng ta mongmuốn, thậm chí, có những phiếu diện nhất định
Nền sản xuất nhỏ manh mún, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp đã tạo lênmột số nét định hướng giá trị về một số năng lực và nếp sống, thãi quen củacon người Việt Nam nước ta như sau:
- Về định hướng giá trị: coi trọng cổ đông, xem nhẹ cá nhân; coi trọng tìnhnghĩa hơn lý lẽ; coi trọng giá trị tinh thần của cải vật chất; coi trọng việc họcđạo lý; xem nhẹ việc học kỹ thuật; coi trong nông nghiệp xem nhẹ côngnghiệp và buôn bán
- Về năng lực: con người Việt Nam khéo tay hay làm; có nhiều kinh nghiệmlàm lúa nước và đánh giặc nhưng mang tư duy logic hạn chế, làm kinh tế thịtrường kém
- Về thãi quen nếp sống: có thãi quen “dĩ hoà vi quý” nói thay làm, có tínhquan liêu, gia trưởng
Hiện nay, dưới tác động của cơ chế thị trường, hệ giá trị, thang giá trị và cácđịnh hướng giá trị đang dần dần biến đổi
Trang 16Việt Nam đang bước vào thời kỳ đổi mới Nhà nước đang xây dung chiếnlược ổn định và phát triển kinh tê – xã hội đến năm 2010 một tư tưởng xuấtphát điểm của chiến lược này là tư tưởng đặt con người vào vị trí trung tâmcủa chiến lược kinh tế – xã hội Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội của đảng ta đang khẳng định: “ nguồn lực lớnnhất, quý báu nhất là tiềm lực con người Việt Nam “ đầu tư vào con người là
cơ sở chắc chắn của sự phát triển kinh tê – xã hội Việt Nam đang ở trong quátrình vận động từ cơ chế quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Có thể vạch ra một số vấn đề bức xúc nhất của xã hội hoá hiện nay ở nướcviệt nam ta hiện nay như sau:
- Sù chuyển đổi hệ giá trị, thang giá trị và chuẩn giá trị Sự định hướng giátrị bảo đảm cho sự kế thừa và duy nhất của giá trị bảo đảm cho sự kế thừa vàduy trì các giá trị truyền thống, hình thành những giá trị chuẩn mực văn hoá
xã hội phù hợp với nhu cầu mới của xã hội
- Các kênh thực hiện chức năng xã hội hóa cũng nằm trong sự vận động,biến đổi theo sự vận động và biến đổi theo quan hệ thị trường
- Gia đình truyền thống dần dần chuyển sang gia đình hiện đại
Từ những vấn đề bức xúc trên đòi hỏi Đảng và nhà nước cần xác định hệthống giá trị cơ bản của người Việt Nam để thực hiện chức năng xã hội hoáqua những môi trường của nó như gia đình, nhà trường, đoàn thể xã hội, cácphương tiện thông tin đại chúng và xã hội nói chung Hệ thống giá trị của một
xã hội, một quốc gia luôn thể hiện tập trung trong các chủ trương, chính sách,luật pháp của nhà nước Vì vậy, đảng và nhà nước phải quan tâm hơn nữa đếnchính sách đồng bộ về mọi mặt nhằm tạo nên hệ thống giá trị ổn định, bềnvững làm nền tảng cho sự phát triển lâu bền đất nước
Theo đánh giá của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông Đỗ Trung Tá, trongnhững năm qua, Bắc Giang là một tỉnh đã có nhiều cố gắng trong việc xâydựng mạng lưới bưu chính, viễn thông và đã tập trung cao độ để xây dựng hệthống thông tin đưa Internet đến 100% trường học của tỉnh Hiện cả nước có
12 tỉnh đã hoàn thành chương trình này, nhưng Bắc Giang là tỉnh đầu tiên có
hệ thống trang web khá hoàn thiện Bắc Giang đã rút ngắn được hai năm rưỡi
so với kế hoạch của Bộ Giáo dục Đào tạo Nếu so với các chỉ tiêu mà Nghịquyết của Trung ương đưa ra tại Đại hội Đảng IX thì gần như các lĩnh vực vềbưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin của Bắc Giang đều đạt
Còng theo Bộ trưởng Đỗ Trung Tá, nếu quyết tâm xây dựng mạng Internettận các trường tiểu học thì chúng ta có thể góp phần rút ngắn khoảng cách vớicác nước hàng chục năm Đặc biệt, chúng ta có thể giúp cho thế hệ trẻ và toàndân gắn bó với mạng Internet, tức là tiếp cận được kho tri thức khổng lồ củanhân loại và sử dụng nó một cách hiệu quả vào tất cả các lĩnh vực “Tôi hy
Trang 17vọng khi đưa Internet vào trường học thì các cháu học sinh cấp III sẽ hướngdẫn cho học sinh cấp II và cứ thế việc sử dụng tốt Internet sẽ lan tới cả giađình Như vậy, chúng ta sẽ hướng đến một xã hội học tập Lúc đó Internet sẽvào hợp tác xã, vào làng nghề cùng với hơn 7.000 điểm Bưu điện Văn hoá xã
trên cả nước” - Bé trưởng Đỗ Trung Tá nhấn mạnh
Chương ba tổng quan thực trạng vấn đề nghiên cứu
I Tổng quan tình hình lao động việc làm trong thanh niên hiện nay:
Theo Bé Lao động, Thương binh và Xã hội, năm vừa qua, cả nước đãtạo việc làm cho 1555 nghìn lao động, nâng tổng số lao động được tạo việclàm trong 4 năm (2001-2004) lên 5900 nghìn người, đạt 78.6% kế hoạch của
Hiện nay, thanh niên nước ta có trên 27533 nghìn người, trong đó hoạt
trong những năm gần đây được nâng lên rõ rệt Song chất lượng đào tạo vẫnchưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động: tri thức nặng về lý thuyết,kém về thực hành, tính chủ động, sáng tạo chưa cao Bên cạnh đó là một sốlượng lớn hiện chưa có việc làm Những con sè 70% thanh niên đô thị và 94%thanh niên nông thôn không có chuyên môn nghiệp vụ…đủ cho thấy mức độđáng báo động về công tác đào tạo nghề cho thanh niên
Theo kết quả tổng điều tra dân số và việc làm, số người đủ 15 tuổi trởlên hoạt động kinh tế thường xuyên có trình độ tốt nghiệp tiểu học tăng từ32.2% năm 2001 lên 35% năm 2003, số người đã tốt nghiệp THCS ổn địnhkhoảng 30-32% và số đã tốt nghiệp THPT tăng từ 17.3% năm 2001 lên 20%năm 2003 Năm 1999, sè thanh niên không có chuyên môn kỹ thuật, nghiệp
vụ chiếm 94.1% so với tổng số thanh niên, đến năm 2003, con số này giảmxuống còn 90% Đặc biệt, số thanh niên có trình độ CĐ, ĐH tăng 4 lần so vớinăm 1999
Trang 18Tỷ lệ lao động thanh niờn cú trỡnh độ chuyờn mụn, kỹ thuật, nghiệp vụtăng khỏ nhanh trong những năm qua nhưng đến năm 2003 mới đạt 10% làquỏ thấp trước yờu cầu CNH, HĐH đất nước và chủ động hội nhập kinh tếquốc tế.
(1) http://www.hanoimoi.com.vn, “Thiếu việc hay thiếu tay nghề” 22/03/2005, 08:01 AM
(2) Thụng tin kinh tế – xó hội, trang 19, số 10 thỏng 3/2005, T.H
Theo số liệu cơ cấu ngành nghề năm 2002-2003, tớnh riờng trong gần
605 nghỡn sinh viờn hệ chớnh quy tập trung, tỷ lệ sinh viờn học nụng nghiệpchỉ cú 5.77% Qua cỏc hội chợ việc làm được tổ chức gần đõy thỡ chỉ cú 20%
viên hệ chính quy tập trung, tỷ lệ sinh viên học nông nghiệp chỉ có 5.77%.Qua các hội chợ việc làm đợc tổ chức gần đây thì chỉ có 20% lao động
đáp ứng đợc nhu cầu tuyển kỹ s nông, lâm, ng nghiệp
Khối khoa học cơ bản, đặc biệt là khoa học tự nhiờn, số sinh viờn chỉchiếm khoảng 3.5-4% sinh viờn cỏc trường cụng lập Nhỡn chung, thanh niờncũn yếu về ngoại ngữ và ít được tiếp cận với cụng nghệ thụng tin Trong sốthanh niờn được đào tạo nghề nghiệp cũn nhiều hạn chế về chất lượng đàotạo, kỹ năng nghề nghiệp
Từ năm 2001 đến nay, mỗi năm cả nước tăng thờm khoảng 1.25-1.3triệu người cú việc làm, cải thiện đỏng kể tỡnh trạng việc làm của thanh niờn
Số thanh niờn (chiếm khoảng 25.5% tổng số lao động) làm việc trong khu vựckinh tế tập thể tăng Kinh tế tư nhõn, cỏ thể đó giải quyết chủ yếu số lao động
dư thừa, thất nghiệp và hiện thu hút 62% lực lượng lao động xó hội, trong số
đú, thanh niờn chiếm 64% Khu vực kinh tế cú vốn đầu tư nước ngoài giaiđoạn 1993-1998 đó giải quyết việc làm cho khoảng 300 nghỡn lao động kỹthuật, đến nay thu hút khoảng 1% lao động trẻ, cú vai trũ tớch cực trong việcđào tạo lực lượng cụng nhõn cú tay nghề, trỡnh độ cao