1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025

198 885 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Tác giả Phạm Quốc Ka
Người hướng dẫn TS Tưởng Thị Hội, GS.TS Đặng Kim Chi
Trường học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ thuật môi trường
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 5,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Hà Nội - Năm 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu được công bố trong luận án là trung thực và chưa được công bố bởi bất

kỳ công trình và tác giả nào

Tác giả

Phạm Quốc Ka

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin dành những lời cảm ơn đầu tiên và sâu sắc nhất tới GS-TS Đặng Kim Chi, TS Tưởng Thị Hội - những người Thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp

đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể hoàn thành luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo, các cán bộ giảng dạy và nghiên cứu của Viện Khoa học và công nghệ Môi trường, Viện Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã luôn động viên, nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận án

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các Giáo sư, các nhà khoa học đã đọc và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho việc hoàn thiện bản luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND thành phố Hải Phòng, Sở tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo những điều kiện thuận lợi và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin dành tình cảm đặc biệt cho những người thân trong gia đình

và bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi, giúp tôi thêm nghị lực để hoàn thành bản luận án này!

Hà Nội, tháng 3 năm 2014

Tác giả

Phạm Quốc Ka

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN II LỜI CẢM ƠN III DANH MỤC HÌNH VẼ VII DANH MỤC BẢNG BIỂU VIII

MỞ ĐẦU 10

1 Lý do chọn đề tài……… 10

2 Mục tiêu của đề tài……… 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……….2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài … ………2

5 Những đóng góp mới của luận án ……… 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Những vấn đề chung về quản lý chất thải rắn……… 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Một số công nghệ xử lý CTR .5

1.1.2.1 Phương pháp ủ sinh học làm phân compost 6

1.1.2.2 Phương pháp thiêu đốt 6

1.1.2.3 Phương pháp chôn lấp 8

1.1.2.4 Xử lý chất thải bằng công nghệ ép kiện 8

1.1.2.5 Xử lý chất thải bằng công nghệ Hydromex 9

1.1.2.6 Xử lý chất thải bằng nhiệt phân và khí hóa 9

1.1.2.7 Phương pháp nghiền nát phế thải và xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao 11 1.2 Tình hình quy hoạch quản lý chất thải rắn ở các nước trên thế giới………… 12

1.2.1 Tình hình quy hoạch, quản lý CTR của một số nước đang phát triển 12

1.2.1.1 Thái Lan 12

1.2.1.2 Malaixia 12

1.2.1.3 Trung Quốc .13

1.2.2 Tình hình quy hoạch quản lý CTR ở nền kinh tế phát triển 15

1.2.2.1 Singapore .15

1.2.2.2 Hồng Kông 15

1.2.2.3 Nhật Bản .17

1.2.2.4 Hoa Kỳ .17

1.2.2.5 Thụy Điển .18

1.2.3 Nhận xét chung 18

1.3 Hiện trạng tình hình nghiên cứu quản lý chất thải rắn ở Việt Nam……….19

1.3.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn .19

1.3.1.1 Chất thải sinh hoạt 20

1.3.1.2 Chất thải công nghiệp .21

1.3.1.3 Chất thải nguy hại 21

Trang 5

1.3.2 Khái quát công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 22

1.3.3 Tình hình áp dụng công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt 25

1.3.4 Đánh giá chung về thực trạng công tác quy hoạch QLCTR: 27

1.3.5 Những việc cần giải quyết trong công tác QLCTR 28

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ QUY HOẠCH QUẢN LÝ CTR Ở QUY MÔ CẤP HUYỆN 29

2.1 Cơ sở lý luận về quản lý chất thải rắn……….29

2.1.1 Các cách tiếp cận trong quản lý chất thải rắn 29

2.1.2 Mục tiêu của quản lý chất thải rắn 30

2.1.3 Kết hợp các giải pháp chiến lược về quản lý chất thải rắn 31

2.1.3.1 Giảm phát thải 31

2.1.3.2 Tái sử dụng, tái chế 32

2.1.3.3 Chế biến chất thải: 33

2.1.3.4 Thải bỏ chất thải 34

2.1.4 Kết hợp các khía cạnh liên quan 34

2.1.5 Kết hợp các bên liên quan 34

2.1.6 Thứ tự ưu tiên trong quản lý tổng hợp chất thải rắn 34

2.2 Một số quy định pháp luật về quản lý chất thải rắn……… 35

2.2.1 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn 35

2.2.2 Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 36

2.2.3 Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -2020 .37

2.2.4 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD hướng dẫn lựa chọn địa điểm bãi chôn lấp chất thải rắn của Việt Nam .37

2.2.5 Thông tư số 13/2007/TT-BXD của Bộ Xây dựng 38

2.2.6 Tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam 39

2.2.6.1 Quy chuẩn Xây dựng về Quy hoạch xây dựng QCXDVN 01:2008/BXD 39

2.2.6.2 TCXDVN 320:2004: Bãi chôn lấp chất thải nguy hại - Tiêu chuẩn thiết kế 39 2.2.7 Các văn bản pháp lý liên quan khác 40

2.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn nông nghiệp và nông thôn ở các huyện nông thôn Việt Nam … ……… 41

2.3.1 Chất thải rắn sinh hoạt: 42

2.3.2 Chất thải rắn nông nghiệp 43

2.4 Hiện trạng quản lý chất thải rắn công nghiệp 49

2.4.1 Đặc điểm và thành phần chất thải công nghiệp 49

2.4.2 Tình hình phát sinh chất thải rắn công nghiệp 50

2.4.3 Xử lý và tái chế chất thải công nghiệp 52

2.5 Phương pháp nghiên cứu……….52

Trang 6

2.4.1 Phương pháp phân tích hệ thống 52

2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa và phỏng vấn 52

2.4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp có kế thừa 53

2.4.4 Phương pháp đánh giá môi trường 53

2.4.5 Phương pháp dự báo theo mô hình I-O (input - output environment) 53

2.4.6 Phương pháp lập bản đồ 54

2.4.7 Phương pháp chuyên gia 54

2.4.8 Phương pháp thực chứng ứng dụng 54

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUY HOẠCH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN QUY MÔ CẤP HUYỆN 55

3.1 Quan điểm và mục tiêu quy hoạch quản lý chất thải rắn……… 55

3.1.1 Quan điểm 55

3.1.2 Mục tiêu 55

3.2 Các nguyên tắc đối với quy hoạch quản lý chất thải rắn ……….55

3.2.1 Các nguyên tắc cơ bản đối với quy hoạch quản lý CTR 55

3.2.2 Các khía cạnh chiến lược của việc quy hoạch quản lý chất thải rắn 56

3.2.2.1 Các khía cạnh thuộc chính trị 56

3.2.2.2 Các khía cạnh tổ chức 57

3.2.2.3 Các khía cạnh xã hội 57

3.2.2.4 Các khía cạnh về tài chính 57

3.2.2.5 Các khía cạnh về kinh tế 57

3.2.2.6 Các khía cạnh kỹ thuật 58

3.2.3 Các khía cạnh quy hoạch và quản lý chất thải rắn 58

3.2.3.1 Các quy hoạch dài hạn 58

3.2.3.2 Các quy hoạch ngắn hạn 59

3.3 Đề xuất quy trình và nội dung cơ bản của quy hoạch quản lý CTR cấp huyện 59

3.3.1 Quy trình quy hoạch quản lý chất thải rắn cấp huyện 59

3.3.2 Nội dung các bước quy hoạch 60

3.3.2.1 Tổ chức công tác lập kế hoạch 60

3.3.2.2 Khảo sát, phân tích hiện trạng, dự báo chất thải rắn phát sinh 60

3.3.2.3 Thiết lập khung quy hoạch 62

3.3.2.4 Xác định và lựa chọn địa điểm quy hoạch khu xử lý CTR 62

3.3.2.5 Xây dựng các giải pháp quy hoạch thu gom, vận chuyển, trung chuyển CTR.62 3.3.2.6 Xác định và đánh giá các phương án công nghệ xử lý CTR 63

3.3.2.7 Xây dựng nguồn lực và lộ trình thực hiện 63

3.4 Giải pháp quản lý và kỹ thuật trong xử lý chất thải rắn cấp huyện……….63

3.4.1 Lựa chọn địa điểm khu xử lý CTR 63

3.4.1.1 Các yêu cầu trong lựa chọn địa điểm khu xử lý CTR 63

Trang 7

3.4.1.2 Các phương pháp lựa chọn địa điểm khu xử lý CTR 65

3.4.1.3 Các tiêu chí lựa chọn địa điểm khu xử lý CTR 65

3.4.1.4 Đề xuất các tiêu chí phục vụ quy hoạch vị trí các khu xử lý chất thải rắn phù hợp với điều kiện môi trường tự nhiên và KT-XH cấp huyện 66

3.4.1.5 Tổng hợp các tiêu chí lựa chọn vị trí các khu xử lý CTR ở quy mô cấp huyện74 3.4.1.6 Phương pháp đánh giá sự phù hợp của địa điểm khu xử lý CTR 76

3.4.2 Xây dựng các giải pháp quy hoạch thu gom, vận chuyển, trung chuyển CTR….77 3.4.2.1 Giải pháp thu gom CTR 78

3.4.2.2 Các tiêu chí về quy hoạch tuyến thu gom 78

3.4.2.3 Quy hoạch các trạm trung chuyển .80

3.4.3 Phân tích, lựa chọn các phương án công nghệ xử lý CTR ……… 81

3.4.3.1 Các công nghệ xử lý CTR phù hợp với quy mô cấp huyện 81

3.4.3.2 Quan điểm lựa chọn giải pháp công nghệ xử lý CTR cho cấp huyện 82

3.4.3.3 Các tiêu chuẩn để lựa chọn các phương án 83

3.3.3.4 Các tiêu chí lựa chọn 84

3.4.4 Xây dựng cơ chế chính sách, nguồn lực và lộ trình thực hiện ……… 85

3.4.4.1 Xây dựng cơ chế chính sách 85

3.4.4.2 Xây dựng nguồn lực 86

3.4.4.3 Lộ trình thực hiện 86

3.4.5 Các vấn đề cần lưu ý trong đánh giá tác động môi trường về lựa chọn vị trí các điểm xử lý CTR ……… 86

CHƯƠNG 4 XÂY DỰNG QUY HOẠCH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN HUYỆN THUỶ NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 89

4.1 Giới thiệu về huyện Thuỷ Nguyên - thành phố Hải Phòng………89

4.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Thuỷ Nguyên .89

4.1.1.1 Vị trí địa lý 89

4.1.1.2 Điều kiện khí tượng, thủy văn 90

4.1.1.3 Tài nguyên đất 90

4.1.1.4 Tài nguyên nước 91

4.1.1.5 Tài nguyên khoáng sản .91

4.1.1.6 Tài nguyên rừng .92

4.1.1.7 Tài nguyên đa dạng sinh học .92

4.1.2 Hiện trạng môi trường và kinh tế - xã hội huyện Thuỷ Nguyên 93

4.1.2.1 Hiện trạng môi trường 93

4.1.2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội 94

4.1.3 Các định hướng phát triển huyện Thuỷ Nguyên giai đoạn 2010 - 2025 .97

4.1.3.1 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Thuỷ Nguyên 97

4.1.3.2 Quy hoạch sử dụng đất huyện Thuỷ Nguyên .100

4.2 Hiện trạng quản lý CTR huyện Thuỷ Nguyên……….….101

Trang 8

4.2.1 Chất thải rắn sinh hoạt 101

4.2.1.1 Nguồn phát sinh 101

4.2.1.2 Khối lượng, thành phần 101

4.2.1.3 Tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý 103

4.2.2 Chất thải rắn nông nghiệp 104

4.2.2.1 Nguồn phát sinh 104

4.2.2.2 Khối lượng, thành phần 104

4.2.2.3 Tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý 105

4.2.3 Chất thải rắn công nghiệp 106

4.2.3.1 Nguồn phát sinh 106

4.2.3.2 Khối lượng, thành phần 106

4.2.3.3 Tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý 106

4.2.4 Chất thải rắn làng nghề 107

4.2.4.1 Nguồn phát sinh 107

4.2.4.2 Khối lượng, thành phần 107

4.2.4.3 Tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý 107

4.2.5 Chất thải rắn y tế 107

4.2.5.1 Nguồn phát sinh 107

4.2.5.2 Khối lượng, thành phần CTR y tế phát sinh 108

4.2.5.3 Tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý 108

4.2.6 Hiện trạng ga rác và khu xử lý rác thải trên địa bàn huyện 108

4.2.7 Hiện trạng công nghệ xử lý chất thải rắn .110

4.3 Dự báo lượng CTR phatsinh đến năm 2025 huyện Thuỷ Nguyên ……….110

4.3.1 Dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt .110

4.3.2 Dự báo khối lượng chất thải rắn thương mại - du lịch 111

4.3.3 Dự báo khối lượng chất thải rắn nông nghiệp 111

4.3.4 Dự báo khối lượng chất thải rắn công nghiệp 111

4.3.5 Dự báo khả năng chất thải rắn chuyển đến từ nội thành .112

4.4 Đề xuất quy hoạch quản lý chất thải rắn huyện Thuỷ Nguyên……… 113

4.4.1 Các căn cứ lập quy hoạch 113

4.4.1.1 Căn cứ pháp lý 113

4.4.1.2 Các nguồn tài liệu, số liệu 114

4.4.2 Mục tiêu 114

4.4.2.1 Mục tiêu tổng quát 114

4.4.2.2 Mục tiêu cụ thể 114

4.4.4 Phạm vi và đối tượng quy hoạch 115

4.4.5 Lựa chọn địa điểm xây dựng khu xử lý tổng hợp CTR huyện Thuỷ Nguyên 115

Trang 9

4.4.6 Quy hoạch mạng lưới ga thu và trạm trung chuyển 116

4.4.6.1 Sự cần thiết phải có ga thu và trạm trung chuyển 116

4.4.6.2 Yêu cầu đối với các ga thu và trạm trung chuyển 116

4.4.6.3 Quy hoạch vị trí ga thu, trạm trung chuyển CTR 118

4.4.6.4 Đề xuất tuyến vận chuyển 118

4.4.6.5 Phương tiện chuyên dụng 118

4.4.7 Quy trình thu gom, vận chuyển CTR 119

4.4.7.1 CTR sinh hoạt 119

4.4.7.2 CTR nông nghiệp 119

4.4.7.3 CTR công nghiệp 119

4.4.7.4 Chất thải rắn làng nghề 120

4.4.7.5 CTR y tế 120

4.4.8 Lựa chọn phương án xử lý chất thải rắn 120

4.4.8.1 Đánh giá khả năng phân loại rác tại nguồn 120

4.4.8.2 Khả năng tái chế, tái sử dụng 121

4.4.8.3 Lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp 122

4.4.8.4 Phương án phục hồi, tái sử dụng diện tích khu chôn lấp chất thải rắn sau khi chấm dứt hoạt động 129

4.4.9 Nguồn lực và lộ trình thực hiện 129

4.4.8.1 Lập kế hoạch tài chính và các nguồn vốn huy động 129

4.4.9.2 Huy động nguồn vốn 130

4.4.9.3 Huy động nguồn nhân lực 130

4.4.9.4 Xây dựng thể chế 131

4.4.9.5 Lộ trình thực hiện 133

4.4.9.6 Khái toán kinh phí 133

KẾT LUẬN 134

KIẾN NGHỊ 135

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 136

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137 CÁC PHỤ LỤC.

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Sơ đồ tổng quát một hệ thống quản lý chất thải rắn 5

Hình 1.2 Sơ đồ quy trình xử lý chất thải rắn 5

Hình 1.3 Quy trình công nghệ ủ sinh học quy mô công nghiệp xử lý CTR 6

Hình 1.4 Hệ thống thiêu đốt chất thải 7

Hình 1.5 Công nghệ xử lý chất thải bằng phương pháp ép kiện 8

Hình 1.6 Xử lý chất thải theo công nghệ Hydromex 9

Hình 1.7 Chiến lược quản lý chất thải rắn của Trung Quốc 14

Hình 1.8 Hệ thống quản lý chất thải rắn tại Việt Nam 24

Hình 2.1 Mô hình quản lý tổng hợp chất thải 29

Hình 2.2 Quy trình công nghệ chế biến phân bón từ rác thải 32

Hình 2.3 Quy trình công nghệ chế biến phân bón từ rác thải 33

Hình 2.4 Thang bậc quản lý chất thải 35

Hình 2.5 Các nguồn phát sinh chất thải rắn nông nghiệp 43

Hình 2.6 Tỷ lệ xử lý chất thải vật nuôi ở Việt Nam năm 2006 46

Hình 2.7 Các nguồn phát sinh chất thải rắn làng nghề 47

Hình 3.1 Quy trình các bước lập quy hoạch quản lý CTR 60

Hình 4.1 Bản đồ hành chính huyện Thuỷ Nguyên 89

Hình 4.2 Sơ đồ một số mô hình ga chứa rác 117

Hình 4.3 Sơ đồ hệ thống xử lý nước rỉ rác chôn lấp mới 127

Hình 4.4 Mặt cắt dọc rãnh chôn 129

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Lượng chất thải rắn phát sinh ở Việt Nam 19

Bảng 1.2 Chỉ số phát thải CTRSH bình quân đầu người các đô thị năm 2009 20

Bảng 2.1 Khoảng cách từ bãi chôn lấp đến các điểm dân cư, khu đô thị 38

Bảng 2.2 Khoảng cách thích hợp khi lựa chọn bãi chôn lấp CTNH 40

Bảng 2.3 Tổng hợp lượng chất thải rắn nông nghiệp phát sinh năm 2008, 2010 44

Bảng 2.4 Khối lượng chất thải rắn chăn nuôi ở Việt Nam 46

Bảng 2.5 Nhu cầu nhiên liệu và tải lượng xỉ của một số làng nghề chế biến 47

Bảng 2.6 Tỷ lệ phát thải CTR tại KCN khu vực phía Nam năm 2009 51

Bảng 2.7 Lượng CTRNH một số ngành CN điển hình tại các KCN phía Nam 51

Bảng 3.1 Bộ tiêu chí đánh giá khả năng lựa chọn địa điểm khu xử lý CTR 74

Bảng 3.2 Qui định về trạm trung chuyển chất thải rắn 81

Bảng 3.3 So sánh các công nghệ xử lý rác thải 84

Bảng 3.4 Các tác động tiêu cực đến môi trường của quy hoạch quản lý chất thải rắn và biện pháp giảm thiểu 87

Bảng 4 1 Tình hình phát sinh và thu gom CTRSH huyện Thuỷ Nguyên năm 2013 102

Bảng 4.2 Thành phần rác thải sinh hoạt huyện Thủy Nguyên, 103

Bảng 4.3 Lượng CTR phát sinh từ sản xuất nông nghiệp huyện Thủy Nguyên 105

Bảng 4.4 Lượng rác thải bệnh viện phát sinh trên địa bàn huyện 108

Bảng 4.5 Ví trí các ga rác; khu xử lý rác thải của các xã, thị trấn: 109

Bảng 4.6 Dự báo lượng phát sinh CTR nông nghiệp huyện Thủy Nguyên 111

Bảng 4.7 Dự báo lượng phát sinh CTR công nghiệp huyện Thủy Nguyên theo các mốc quy hoạch 112

Bảng 4.8 Dự báo lượng phát sinh CTR công nghiệp huyện Thủy Nguyên theo các giai đoạn quy hoạch 112

Bảng 4.9 Mục tiêu quy hoạch cụ thể 115

Bảng 4.10 Bảng đánh giá khả năng phân loại rác tại nguồn 120

Bảng 4.11 Tổng hợp chức năng các lớp hố chôn lấp 125

Trang 12

BVMT: Bảo vệ môi trường

CTNH: Chất thải nguy hại

CTR: Chất thải rắn

CTRCN: Chất thải rắn công nghiệp

CTRNN: Chất thải rắn nông nghiệp

CTRSH: Chất thải rắn sinh hoạt

ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng

GDP: Tổng thu nhập quốc dân

KT-XH: Kinh tế xã hội

KTTĐ: Kinh tế trọng điểm

MCA Phân tích đa tiêu chí (Multi-Criteria Analysis)

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

UBND: Ủy ban nhân dân

WB: Ngân hàng thế giới

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc Các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở các đô thị; các KCN ngày càng được mở rộng và phát triển đã thúc đẩy quá trình tăng trưởng về các mặt KT-XH, góp phần đảm bảo an sinh xã hội,

đời sống người dân ngày một nâng cao Tăng trưởng KT-XH một mặt góp phần tích cực

cho sự phát triển của đất nước, mặt khác đã làm phát sinh lượng CTR ngày càng lớn (CTR sinh hoạt, CTR công nghiệp, CTR y tế ) Theo nghiên cứu của Dương Xuân Diệp [32], mỗi năm, ở nước ta thải ra khoảng 28 triệu tấn CTR thông thường, trong đó CTRCN là 6,88 triệu tấn, CTRSH ≈ 19 triệu tấn, CTR y tế ≈ 2,12 triệu tấn Khối lượng CTR ngày càng gia tăng theo tốc độ gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội Dự kiến, đến năm

2015, tổng lượng CTR phát sinh lên đến 44 triệu tấn [113] Trừ các đô thị lớn, CTR chưa được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường Việc thải bỏ một cách bừa bãi

và quản lý không hiệu quả CTR đã và đang gây ra ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ người dân, nhiều ngành kinh tế và gây ra các vấn đề xã hội

Hàng năm, trên địa bàn nông thôn đã phát sinh hàng ngàn tấn CTR từ sinh hoạt, sản xuất (nông nghiệp, công nghiệp, làng nghề), y tế, dịch vụ… nhưng chưa được quản

lý chặt chẽ; việc thu gom và xử lý CTR chưa đáp ứng được yêu cầu Rất nhiều nơi, CTR thải trực tiếp xuống ao hồ, sông ngòi và các khu đất trống hoặc xử lý đơn giản không bảo đảm điều kiện vệ sinh, làm cho chất lượng môi trường ngày càng giảm, nguồn nước mặt ngày càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến đời sống, sức khoẻ của người dân Công tác QLCTR còn nhiều yếu kém: việc lựa chọn các bãi chôn lấp, khu trung chuyển, thu gom chưa đủ căn cứ khoa học và thực tiễn, công nghệ xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ thuật… nên chưa thu hút sự ủng hộ của người dân địa phương Để hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm chi phí thải bỏ, cần phải quản lý một cách chặt chẽ, hợp lý các CTR từ nguồn phát sinh đến nơi thải bỏ cuối cùng

Triển khai thực hiện Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Thủ tướng chính phủ về QLCTR, giải quyết các vấn đề bức xúc do CTR gây ra, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 ban hành Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR Theo đó, đến năm 2025, 100% các đô thị có công trình tái chế chất thải rắn thực hiện phân loại tại hộ gia đình; 100% tổng lượng CTRSH

đô thị, 100% tổng lượng CTRCN không nguy hại và nguy hại, 90% tổng lượng CTR

xây dựng đô thị và 90% lượng CTR phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn và 100% tại các làng nghề được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường Thủ tướng cũng yêu cầu các cơ quan chức năng, địa phương nhanh chóng xây dựng quy hoạch QLCTR của địa phương mình, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn về chất thải rắn

và khuyến khích 100% xã hội hóa công tác quản lý, xử lý CTR bằng nhiều hình thức

Cho đến nay, nhiều tỉnh thành trong cả nước đã ban hành quyết định phê duyệt quy hoạch QLCTR, định hướng cho công tác QLCTR, bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững Ở cấp huyện, quy hoạch quản lý CTR không chỉ nhằm định hướng

Trang 14

giải quyết các vấn đề cấp bách về môi trường nông thôn, hạn chế phát sinh chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn ngăn ngừa các tác động tiêu cực đến kinh tế -

xã hội góp phần phát triển bền vững các vùng nông thôn Tuy nhiên, ở quy mô cấp huyện, việc quy hoạch QLCTR đang còn bỏ ngỏ, chưa được đi sâu nghiên cứu và triển khai thực hiện Vì vậy, việc xây dựng các luận cứ khoa học phục vụ quy hoạch QLCTR cấp huyện là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với công tác QLCTR, góp phần tháo gỡ những khó khăn bất cập và bị động trong việc thực thi Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp CTR

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, đề tài nghiên cứu của luận án

được chọn là:“Nghiên cứu xây dựng quy hoạch quản lý chất thải rắn ở quy mô cấp

huyện, áp dụng cho huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng đến năm 2025”

2 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học, đề xuất giải pháp quy hoạch quản lý CTR cho lãnh thổ cấp huyện ở nông thôn Việt Nam theo hướng quản lý tổng hợp CTR, phát triển bền vững

- Áp dụng đề xuất quy hoạch quản lý CTR cho huyện Thủy Nguyên - tp Hải Phòng sát với điều kiện thực tiễn của Huyện, có tính khả thi, góp phần thực thi Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp CTR theo Quyết định 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn Huyện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các thành phần của hệ thống quản lý chất thải rắn và các huyện nông thôn Việt Nam, cụ thể là huyện Thuỷ Nguyên - thành phố Hải Phòng

- Phạm vi nghiên cứu: Các loại CTR phát sinh trên địa bàn huyện nông thôn Việt Nam: CTR sinh hoạt, CTR nông nghiệp, CTR làng nghề, CTR công nghiệp và CTR y tế; có xem xét đến tính liên vùng trong QLCTR

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Cung cấp cơ sở lý luận, phương pháp khoa học, hệ thống các tiêu chí quy hoạch QLCTR ở quy mô cấp huyện nông thôn Việt Nam; thiết lập các tiêu chí cho từng bước lựa chọn các giải pháp quy hoạch phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương

- Ý nghĩa thực tiễn: Áp dụng các giải pháp quản lý tổng hợp bao gồm các công

cụ quản lý, các giải pháp kỹ thuật then chốt để xây dựng hệ thống các tiêu chí quy hoạch QLCTR quy mô cấp huyện; xây dựng quy hoạch QLCTR phù hợp với điều kiện

cụ thể của huyện Thuỷ Nguyên - thành phố Hải Phòng Từ đó, có thể áp dụng mô hình

đề xuất vào quy hoạch quản lý chất thải rắn cho các huyện nông thôn khác ở Việt Nam

5 Những đóng góp mới của luận án

1 Hoàn thiện cơ sở khoa học quy hoạch quản lý CTR ở quy mô cấp huyện trong

điều kiện thực tiễn ở Việt Nam

+ Làm rõ hơn các căn cứ pháp lý cho việc lập quy hoạch quản lý CTR;

+ Xây dựng các luận cứ phục vụ quy hoạch quản lý CTR quy mô cấp huyện có tính ứng dụng cao

Trang 15

+ Đề xuất quy trình và nội dung cơ bản của quy hoạch QLCTR cấp huyện

2 Đã đề xuất giải pháp quy hoạch quản lý CTR cho nhóm lãnh thổ cấp huyện ở nông thôn Việt Nam

3 Áp dụng mô hình giải pháp quy hoạch quản lý CTR cho huyện Thuỷ Nguyên - thành phố Hải Phòng dựa trên các cơ sở áp dụng kết quả nghiên cứu của Luận án

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Quản lý chất thải rắn (QLCTR) là sự kết hợp kiểm soát nguồn thải, phát sinh,

giảm thiểu, thu gom, lưu giữ, phân loại, trung chuyển, vận chuyển, xử lý, tái chế, tiêu huỷ và thải bỏ CTR theo phương thức tốt nhất nhằm đảm bảo không ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, thỏa mãn các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn cảnh quan đô thị và hạn chế tất cả các vấn đề môi trường liên quan [3] Phương pháp QLCTR phải tuân theo các nguyên tắc hợp lý, giải quyết tốt nhất các vấn đề kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, thẩm mỹ, phản ứng cộng đồng và các vấn đề liên quan

QLCTR bao gồm tất cả các vấn đề về hành chính, tài chính, pháp luật, kinh tế - xã hội (KT-XH), y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, quy hoạch xây dựng và khoa học kỹ thuật (KHKT), công nghệ để giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến CTR Hoạt động QLCTR gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở QLCTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng và tái chế,

xử lý CTR nhằm ngăn ngừa giảm thiểu những tác động có hại với môi trường và sức khoẻ con người

Mục đích của QLCTR là bảo vệ sức khoẻ của cộng đồng, bảo vệ môi trường, sử dụng tối đa vật liệu, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng; tái chế và sử dụng tối đa chất thải hữu cơ, giảm thiểu CTR

Thu gom CTR là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời CTR

tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý

Lưu giữ CTR: là việc lưu giữ CTR trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi

được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý

Vận chuyển CTR là quá trình chuyên chở CTR từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ,

trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng

Xử lý CTR là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại

bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong CTR, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong CTR

Chôn lấp CTR hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu

chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh

Khu liên hợp xử lý CTR là tổ hợp của một hoặc nhiều hạng mục công trình xử lý,

tái chế, tái sử dụng CTR và bãi chôn lấp CTR

Quy hoạch QLCTR là quy hoạch chuyên ngành xây dựng, bao gồm các hoạt động

điều tra, khảo sát, dự báo chi tiết nguồn và tổng lượng phát thải các loại CTR thông

thường và nguy hại; xác định vị trí, quy mô các trạm trung chuyển, phạm vi thu gom, vận chuyển; xác định vị trí, quy mô cơ sở xử lý CTR trên cơ sở đề xuất công nghệ xử

lý thích hợp, xây dựng kế hoạch và nguồn lực nhằm thu gom và xử lý triệt để CTR Quy hoạch QLCTR bao gồm quy hoạch vùng liên tỉnh, vùng tỉnh… được lập cho giai

đoạn 10 năm, 20 năm hoặc dài hơn tuỳ theo giai đoạn lập quy hoạch xây dựng [27]

Trang 17

Các bộ phận cấu thành một hệ thống QLCTR và mối quan hệ giữa chúng được

mô tả như sau (hình 1.1):

Hình 1.1 Sơ đồ tổng quát một hệ thống quản lý chất thải rắn

Các yêu cầu cơ bản của hệ thống QLCTR bao gồm:

- Thu gom, vận chuyển hết CTR

- Hiệu quản kinh tế (thu gom, xử lý tốt nhất với chi phí thấp nhất)

- Áp dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến

- Bảo đảm tốt nhất sức khỏe cộng đồng

- Bảo đảm mỹ quan

1.1.2 Một số công nghệ xử lý CTR

Quy trình xử lý CTR được mô tả như sau (hình 1.2)

Hình 1.2 Sơ đồ quy trình xử lý chất thải rắn

Trang 18

1.1.2.1 Phương pháp ủ sinh học làm phân compost

Phương pháp này thích hợp với loại CTR hữu cơ trong chất thải sinh hoạt chứa nhiều cácbonhyđrat như đường, xenllulo, lignin, mỡ, protein, những chất này có thể phân huỷ đồng thời hoặc từng bước Quá trinh phân huỷ các chất hữu cơ dạng này thường xảy ra với sự có mặt của ôxy không khí (phân huỷ hiếu khí) hay không có không khí (phân huỷ yếm khí, lên men) Hai quá trình này xảy ra đồng thời ở một khu vực chứa chất thải và tuỳ theo mức độ thông khí mà dạng này hay dạng kia chiếm ưu thế Phương pháp ủ sinh học làm phân compost được thể hiện ở hình 1.3

Hình 1.3 Quy trình công nghệ ủ sinh học quy mô công nghiệp xử lý CTR [40]

Nhược điểm của công nghệ này là chi phí đầu tư xây dựng lắp đặt, duy trì hoạt

động cao; sản phẩm phân bón có chất lượng thấp; vận hành phức tạp; đòi hỏi hầm ủ có

thể tích lớn, nên không phù hợp với điều kiện rác thải của Việt Nam do CTR không

được phân loại từ đầu nguồn

1.1.2.2 Phương pháp thiêu đốt

Xử lý chất thải bằng phương pháp thiêu đốt (hình 1.4) có thể làm giảm tới mức tối thiểu chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, tuy nhiên đây là phương pháp xử lý tốn

Trang 19

kém nhất So với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh, chi phí để đốt 1 tấn rác cao hơn khoảng 10 lần

Công nghệ đốt rác thường được sử dụng ở các nước phát triển vì phải có nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho việc thu đốt rác thải sinh hoạt như là một dịch vụ phúc lợi xã hội của toàn dân Điều cần lưu ý là trong CTRSH bao gồm nhiều chất thải khác nhau, khi đốt sẽ tạo ra khói độc, đặc biệt là đioxin; nếu không có biện pháp xử lý loại khí này sẽ gây nguy hiểm tới sức khoẻ

Hình 1.4 Hệ thống thiêu đốt chất thải [41]

Trang 20

Năng lượng phát sinh từ việc đốt CTR có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc có thể tận dụng để phát điện Mỗi lò đốt phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải tốn kém để khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt gây ra

Hiện nay, tại các nước châu Âu có xu hướng giảm đốt rác thải vì hàng loạt các vấn đề kinh tế cũng như môi trường cần phải giải quyết Việc thu đốt rác thải thường chỉ áp dụng cho việc xử lý rác thải độc hại như rác thải bệnh viện hoặc rác thải công nghiệp vì các phương pháp xử lý khác không thể xử lý triệt để được các CTRNH

1.1.2.3 Phương pháp chôn lấp

Phương pháp này chi phí thấp và được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách sử dụng xe chuyên dùng chở rác tới các bãi đã xây dựng trước Sau khi rác được đổ xuống, dùng xe ủi san bằng, đầm nén trên

bề mặt và đổ lên một lớp đất Hàng ngày phun thuốc diệt muỗi và rắc vôi bột… Theo thời gian, sự phân hủy vi sinh vật làm cho rác trở lên tơi xốp và thể tích của các bãi rác giảm xuống Việc đổ rác tiếp tục cho đến khi bãi đầy thì chuyển sang bãi mới Hiện nay, việc chôn lấp CTRSH và rác thải hữu cơ vẫn được sử dụng ở các nước đang phát triển, nhưng phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường Việc chôn lấp chất thải có xu hướng giảm dần, tiến tới chấm dứt ở các nước đang phát triển Các bãi chôn lấp rác thải phải được đặt cách xa khu dân cư, không gần nguồn nước mặt và nước ngầm Đáy của bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được phủ một lớp chống thấm bằng màng địa chất Ở các bãi chôn lấp rác cần thiết phải thiết kế khu thu gom và xử lý nước rác trước khi thải ra môi trường Việc thu khí gas để biến đổi thành năng lượng là một trong những khả năng thu hồi một phần kinh phí đầu tư cho bãi rác

Phương pháp này có các ưu điểm như: công nghệ đơn giản; chi phí thấp, song nó cũng có một số nhược điểm như: chiếm diện tích đất tương đối lớn; không được sự

đồng tình của dân cư xung quanh; việc tìm kiếm xây dựng bãi chôn lấp mới là khó

khăn và có nguy cơ dẫn đến ô nhiễm môi trường nước, không khí, gây cháy nổ

1.1.2.4 Xử lý chất thải bằng công nghệ ép kiện

Rác thu gom tập trung về nhà máy chế biến được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải Các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: Kim loại, nilon, giấy, thủy tinh, nhựa… được thu hồi để tái chế Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyển qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích giảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành các kiện có tỷ số nén cao (hình 1.5) Các khối rác ép này được sử dụng vào việc san lấp, làm bờ chắn các vùng đất trũng

Hình 1.5 Công nghệ xử lý chất thải bằng phương pháp ép kiện

Trang 21

1.1.2.5 Xử lý chất thải bằng công nghệ Hydromex

Công nghệ Hydromex (hình 1.6) nhằm xử lý rác đô thị thành các sản phẩm phục

vụ xây dựng, làm vật liệu, năng lượng và các sản phẩm nông nghiệp hữu ích

Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác, sau đó polyme hóa và sử

dụng áp lực lớn để ép nén, định hình các sản phẩm Rác thải được thu gom chuyển về nhà máy, không cần phân loại được đưa vào máy cắt, nghiền nhỏ, sau đó đi qua băng tải chuyển đến các thiết bị trộn

Hình 1.6 Xử lý chất thải theo công nghệ Hydromex

1.1.2.6 Xử lý chất thải bằng nhiệt phân và khí hóa

Nhiệt phân và khí hoá là công nghệ phổ biến được để sản xuất than củi và than cốc từ gỗ và than đá Gần đây phương pháp này được sử dụng để xử lý CTR điện tử Một số nước ở châu Âu và Nhật Bản đang sử dụng phương pháp này để xử lý CTR mang lại hiệu quả đáng kể

Có một số khác biệt giữa phương pháp thiêu đốt truyền thống và các công nghệ này Cả hai phương pháp nhiệt phân và khí hoá đều biến chất thải thành những loại nhiên liệu giàu năng lượng bằng việc đốt chất thải ở trạng thái được kiểm soát

Ngược lại, phương pháp thiêu đốt biến chất thải đầu vào thành năng lượng và tro Quy trình xử lý nhiệt đã hạn chế sự biến đổi, để quá trình đốt cháy không xảy ra trực tiếp Thay vào đó, chất thải được chuyển thành những chất trung gian có giá trị, có thể xử lý thành các vật liệu tái chế hoặc thu hồi năng lượng Công nghệ này có thể sử dụng để xử lý các CTRNN, CTR lâm nghiệp, CTRSH và chất thải thương mại

Đôi khi các hệ thống nhiệt phân và khí hoá không tương thích với việc xử lý

CTR điện tử chưa được phân loại Với xu thế gia tăng lượng chất thải hiện nay, buộc phải có các biện pháp tiền xử lý (thu gom có phân loại ) và các quy trình xử lý này

đang trở nên thích hợp hơn

Trang 22

Phương pháp nhiệt phân là quá trình làm suy giảm nhiệt của các vật liệu cácbon

ở nhiệt độ từ 400 - 800oC hoặc trong điều kiện hoàn toàn thiếu hoặc rất hạn chế ô xy

Quá trình này làm bay hơi và phân huỷ các vật liệu hữu cơ rắn bằng nhiệt, không bằng đốt trực tiếp Khi chất thải bị nhiệt phân (ngược với quá trình đốt trong lò thiêu

đốt), khí, chất lỏng, và than ở dạng rắn được sinh ra

So sánh với quá trình đốt cháy và khí hoá, lợi thế chủ yếu của phương pháp nhiệt phân là nhiên liệu ở dạng lỏng vận chuyển dễ dàng hơn các nhiên liệu ở thể rắn, hoặc thể khí Vì vậy nhà máy xử lý nhiệt phân không nên đặt gần địa điểm sử dụng cuối cùng

mà đặt ở gần nguồn cung cấp nhiên liệu để giảm bớt chi phí vận chuyển nhiên liệu

Chi phí vận chuyển cao là một trong những yếu tố hạn chế việc xây dựng các nhà máy điện sinh khối quy mô lớn có hiệu suất cao hơn và phát thải thấp hơn so với những nhà máy nhỏ

Phương pháp khí hoá: Trong quá trình khí hóa, hầu hết cácbon trong chất thải

được biến đổi thành những sản phẩm dạng khí và các chất thải trơ Chỉ một phần phân

tử hữu cơ bị phá vỡ, sinh ra một loại khí giàu năng lượng được gọi là khí tổng hợp Quá

trình biến đổi than thành gas là một ví dụ của phương pháp khí hoá

Quá trình này sẽ giảm đi trong nhiệt phân và đốt cháy vì nó liên quan tới quá trình ôxy hoá từng phần Ôxy được bổ sung nhưng chưa đủ lượng để diễn ra quá trình

đốt cháy hoàn toàn Nhiệt độ vận hành thường cao hơn 750 oC

Xử lý các sản phẩm dư thừa và các chất thải

Các CTR thải ra từ những quá trình xử lý này gồm các kim loại và cácbon Lượng cácbon sinh ra từ quá trình nhiệt phân nhiều hơn đáng kể so với quá trình khí hoá Các hạt cỡ lớn thải ra nằm ở phần tro dưới đáy, các hạt nhẹ hơn được tách và lọc Những kim loại không ổn định như chì, thiếc, catmi và thuỷ ngân tụ lại khi khí được làm mát

Quá trình khí hoá và nhiệt phân sinh ra các chất thải tương tự như quá trình thiêu

đốt Các chất thải khí gồm khí chứa axít, điôxin, furan, ôxít nitơ, điôxít sunphua, các

hạt, kim loại nặng và hyđrô sunphua

Những chất còn lại ở thể rắn gồm tro khoáng trơ, các hợp chất vô cơ và cácbon dư; những chất này có thể tạo thành 8 - 15% lượng chất thải ban đầu

Các nhà máy sử dụng công nghệ xử lý nhiệt phân và khí hóa tiên tiến cần những thiết bị vốn lớn và có tuổi thọ thiết kế từ 15-20 năm Thành phần chất thải sinh ra trong quá trình vận hành có thể thay đổi, vì vậy các thiết bị phải được thiết kế linh hoạt để xử

lý được đa dạng vật liệu và có thể thay đổi được khối lượng xử lý

Thu hồi năng lượng trong công nghệ nhiệt phân và khí hóa

Lợi ích của quá trình nhiệt phân và khí hoá là khí tổng hợp được tạo ra có thể sử dụng theo một số cách:

- Khí tổng hợp có thể được đốt ở trong nồi hơi để tạo ra hơi nước, đi qua tuabin

để phát ra điện và cũng cung cấp nhiệt cục bộ Việc sử dụng nhiệt cũng như phát ra điện sẽ nâng cao hiệu suất năng lượng của hệ thống;

- Khí tổng hợp có thể được dùng làm nhiên liệu động cơ chạy bằng khí hoặc tuabin khí - làm tăng hiệu suất phát điện, đặc biệt trong các hệ thống kết hợp điện và nhiệt (CHP);

Trang 23

- Khí tổng hợp cũng có thể được sử dụng làm nguyên liệu hoá học nếu nhà máy

xử lý được đặt gần nơi sử dụng cuối cùng

Nguồn năng lượng được thu hồi là yếu tố quan trọng về kinh tế Quy trình xử lý này đơn giản và thu hồi được nhiều năng lượng

Các chất có khả năng tái chế từ chất thải hoặc các kim loại được tách ra từ giai

đoạn cuối của quá trình xử lý nhiệt phân và khí hóa thường có chất lượng thấp hơn các

chất có khả năng tái chế được tách ra từ hệ thống thu gom chất thải sinh hoạt khác, giá trị của chúng cũng thấp hơn

Việc khử các kim loại trong công đoạn cuối của hệ thống làm tăng sản lượng tái chế Các chất dư thừa còn lại ở đáy trong quá trình nhiệt phân luôn chứa một lượng cacbon đáng kể Phần dư thừa này phải được chôn lấp hoặc xử lý bằng cách khí hoá hoặc thiêu đốt để giảm lượng cacbon Việc xử lý bổ sung cho phép tái chế các sản phẩm còn lại ở dưới đáy thành một khối kết hợp

Một số ưu điểm chính của công nghệ xử lý nhiệt phân và khí hóa

- Giảm khối lượng chất thải;

- Làm cho chất thải an toàn và biến thành chất trơ;

- Thu được giá trị của chất thải, thường là tạo ra điện năng;

- Đi theo hướng phát triển bền vững, tiến tới việc tái sử dụng và tái chế;

- Chất thải biến thành năng lượng sẽ hỗ trợ cho quá trình tái chế các vật liệu;

- Là một biện pháp xử lý thích hợp đối với lượng chất thải đang gia tăng;

- Làm thay đổi thành phần chất thải rắn ở các bãi chôn lấp;

- Giải quyết tình trạng thiếu nơi chôn lấp chất thải;

- Thích ứng với những công cụ kinh tế và tài chính (ví dụ như thuế chôn lấp và các khoản trợ cấp cho nguồn năng lượng thay thế)

1.1.2.7 Phương pháp nghiền nát phế thải và xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao

Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều thiết lập hệ thống xử

lý loại phế thải y tế Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao; tùy theo loại phế thải mà nhiệt

độ đốt được duy trì từ 1000ºC đến trên 4000ºC Tuy nhiên phương pháp này hiện vẫn

còn đang tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vào không khí Một phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được các quốc gia lưu tâm

đến vì phương pháp đốt đã gây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc hại phát sinh thải vào

không khí: Đó là phương pháp nghiền nát phế thải và xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao

để tránh việc phóng thích khí thải

Theo phương pháp này, rác thải y tế nguy hại được chuyển qua một máy nghiền nát Rác thải đã được nghiền xong sẽ được chuyển qua một phòng hơi có nhiệt độ 138ºC và áp suất 3,8 bar Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất trên là điều kiện tối ưu cho hơi nước bão hòa Chất thải được xử lý trong khoảng 40 - 60 phút Sau cùng chất thải rắn đã được xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạt được tiêu chuẩn tiệt trùng Phương pháp này còn có ưu điểm là làm giảm được khối lượng phế thải vì được nghiền nát, chi phí ít tốn kém hơn lò đốt, cũng như không tạo ra khí thải vào không khí

Trang 24

1.2 TÌNH HÌNH QUY HOẠCH, QUẢN LÝ CTR Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Cách QLCTR có phần khác nhau tại những quốc gia phát triển và đang phát triển, tại khu vực đô thị và nông thôn, và tùy vào loại hình sản xuất dân dụng hay công nghiệp

1.2.1 Tình hình quy hoạch, quản lý CTR của một số nước đang phát triển

Các nước phát triển đã có những mô hình phân loại, thu gom và quản lý rác thải rất hiệu quả Cụ thể như sau:

1.2.1.1 Thái Lan

Hàng năm tại Thái Lan có hơn 15 triệu tấn chất thải phát sinh Dự báo con số này

có thể sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tới Nếu không có biện pháp cấp bách, tỷ lệ tái chế vẫn còn thấp như hiện nay thì có lẽ đến cuối thập kỷ này, số lượng CTR đô thị

sẽ tăng 25%, còn CTNH của ngành công nghiệp sẽ tăng 35% [105] WB đã khuyến nghị Thái Lan cần phải đẩy mạnh chương trình tái chế và cần khuyến khích người dân phân loại và tái sử dụng những vật dụng trong gia đình mình Đồng thời cần ưu tiên phát triển những ngành tư nhân và những chương trình tái chế chất thải công nghiệp

Ở Thái Lan, việc phân loại rác được thực hiện ngay từ nguồn Người ta chia ra 3

loại rác và bỏ vào 3 thùng riêng: các chất có thể tái chế, thực phẩm và CTNH Các loại rác này được thu gom và chở bằng các xe ép rác có màu sơn khác nhau

Các loại CTR có thể tái sinh sau khi được phân loại sơ bộ ở nguồn phát sinh được chuyển đến nhà máy phân loại rác để tách ra các loại vật liệu khác nhau sử dụng trong tái chế Chất thải thực phẩm được chuyển đến nhà máy chế biến phân vi sinh Những chất còn lại sau khi tái sinh hay chế biến phân vi sinh được xử lý bằng chôn lấp CTNH

được xử lý bằng phương pháp thiêu đốt

Việc thu gom rác ở Thái Lan được tổ chức rất chặt chẽ Ngoài những phương tiện

cơ giới lớn như xe ép rác được sử dụng trên các đường phố chính, các loại xe thô sơ cũng được dùng để vận chuyển rác đến các điểm tập kết Rác trên sông, rạch được vớt bằng các thuyền nhỏ của cơ quan quản lý môi trường Các địa điểm xử lý rác của Thái Lan đều cách xa trung tâm thành phố ít nhất 30 km Bằng những nỗ lực của mình, Thái Lan đã xây dựng được một cơ sở có thể xử lý khối lượng lớn chất thải đồng thời thành công trong việc kiểm soát nạn vứt rác bừa bãi tại Băng Cốc

Mặc dù công tác xử lý CTR được đánh giá là có hiệu quả và an toàn, song Thái Lan vẫn còn rất nhiều vấn đề về chất thải cần phải giải quyết Theo Ngân hàng thế giới (WB), Thái Lan cần phải triển khai một chương trình nhằm cải thiện việc xử lý chất thải tại các bệnh viện cũng như các trung tâm lớn của thành phố Được biết, hiện tại ở Thái Lan hàng năm có tới khoảng 10.000 tấn chất thải y tế có khả năng lây nhiễm được thải ra, trong đó chỉ khoảng 50% được xử lý cẩn thận trước khi đem chôn [105] Tỷ lệ tái sản xuất và sử dụng lại các loại chất thải tại Thái Lan hiện giờ đang có chiều hướng giảm (chỉ khoảng 11% số rác thải có khả năng tái sử dụng được tái sản xuất)

1.2.1.2 Malaixia

Theo Bộ Tài nguyên môi trường Malaixia, tổng lượng CTR phát sinh năm 2011 của nước này vào khoảng 3,28 triệu tấn Khoảng 76% CTR đô thị phát sinh ở nước này

đã được thu gom, song chỉ có 1,2% được tái chế, số còn lại được chuyển đến 144 bãi

chôn lấp Dù gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các địa điểm làm bãi chôn lấp chất thải, song phương pháp này vẫn là phương pháp xử lý có chi phí thấp hơn cả, chỉ 9,2 USD/tấn, trong khi đó thiêu đốt và ủ phân là 131,6USD/tấn và 56,8 USD/tấn [79]

Trang 25

Mức độ phát sinh CTR tính bình quân đầu người vào khoảng 0,85 - 1,5 kg/người/ngày, và có sự khác nhau giữa các địa phương Các địa phương nằm trong khu vực miền Đông là Sabath và Sarawak có mức phát sinh chất thải bình quân đầu người là 0,7 và 0,97 kg/người/ngày, còn ở các bang miền Đông Kelantan, Terengganu

và Pahang là 0,71 Các bang miền Nam Johor và Melaka là 1,12 kg/người/ngày Ở các bang miền trung Selangor và Negeri Sembilan, lượng chất thải phát sinh là 1,07kg/người/ngày, trong khi đó ở thủ đô Kuala Lumpur là 2 kg/người/ngày Tốc độ đô thị hoá cao có xu hướng tạo ra nhiều CTR đô thị hơn, có thể dẫn tới những thay đổi trong tiêu thụ và thu nhập

Đặc điểm và thành phần CTR ở Malaixia thay đổi theo mức độ ảnh hưởng và tốc

độ đô thị hoá của khu vực Gần 38% tổng số CTR thu gom mỗi ngày được tái chế

Thành phần chất thải thường là 14% giấy, 16% chất dẻo, 3% kim loại và 5% thuỷ tinh, chỉ có gần 47% chứa nguyên liệu dễ bị phân huỷ có thể dùng để ủ phân

CTR thu gom được tại các bãi chôn lấp của Malaixia gồm nhiều loại khác nhau, hầu như không thể tách được các nguyên liệu tái chế Dữ liệu thu được cho thấy, nhiều khả năng tái chế và ủ phân có thể được kết hợp vào các chương trình QLCTR Vì vậy, nhờ áp dụng hệ thống QLCTR tổng hợp, việc QLCTR có hiệu quả và năng suất cao có thể làm tăng tuổi thọ bãi chôn lấp và thu hồi nguyên liệu đạt kết quả trong các quy trình thu hồi Bằng biện pháp quản lý này có thể xử lý tới 87% tổng số CTR đô thị phát sinh (khoảng 14.800 tấn/ngày) Ở Malaixia, thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất trong hầu hết các bãi chôn lấp là chất thải hữu cơ với tỷ lệ trung bình là 46,7%, thấp hơn là chất dẻo 14% và giấy 15%

Thành phần và lượng phát sinh CTR dường như phụ thuộc vào mức thu nhập của người dân Người dân có thu nhập cao thường tạo ra nhiều CTR hơn so với các nhóm người có thu nhập thấp và trung bình Ở nhóm người có thu nhập cao, tỷ lệ phát sinh CTR trung bình là 1,7 kg/người Ở nhóm người có thu nhập trung bình là 01kg/người/ngày Ở nhóm người có thu nhập thấp là 0,8kg/người/ngày Tỷ lệ chất thải từ thực phẩm dao động

từ 34% đối với nhóm có thu nhập trung bình lên tới 44% của nhóm thu nhập cao Chất thải từ thực phẩm là một trong những thành phần chính góp phần làm cho dòng thải hữu cơ chiếm tỷ lệ cao ở Malaixia Cùng với chất thải thực phẩm, các nhóm này còn tạo ra khối lượng lớn chất thải từ giấy và chất thải nhựa

Đối với CTRSH hữu cơ và CTRNN được xử lý thành phân hữu cơ tại chỗ để bón

cho đất, làm sạch đồng ruộng hạn chế ô nhiễm môi trường

Kế hoạch tương lai của Malaixia là công nghệ tái chế Tái chế là chiến lược quan

trọng để duy trì không gian của các bãi chôn lấp và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên Ngày nay, nhờ sự hợp tác giữa các chính phủ, Công ty trách nhiệm hữu hạn Alam Flora (công ty QLCTR của tư nhân); các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và công chúng,

tỷ lệ tái chế đã đạt được từ 3-5% Bên cạnh việc ủ phân hay thu hồi, phương pháp khác

sẽ là xử lý nhiệt để thu hồi năng lượng thông qua sản xuất nhiên liệu từ chất thải (RDF) Quy trình này sử dụng một phần CTR dễ cháy làm các viên nhỏ đốt cháy tự do, như vậy có thể làm giảm khoảng 30% khối lượng CTR đô thị

1.2.1.3 Trung Quốc

Không một quốc gia nào có tốc độ gia tăng nhanh chóng khối lượng CTR như ở Trung Quốc và đây là vấn đề mà hiện nay Trung Quốc đang phải đối mặt Năm 2004

Trang 26

Trung Quốc vượt qua Mỹ và được coi như là máy phát thải lớn nhất thế giới và dự báo vào năm 2030, lượng CTR phát sinh hàng năm của Trung Quốc sẽ tăng thêm 150% so với thời điểm 2004: từ khoảng 190 triệu tấn trong năm 2004 đến hơn 480 triệu tấn năm

2030 [88] Sự gia tăng dòng chất thải này có tác động đáng kể đối với xã hội, môi trường và phát triển kinh tế

CTR đô thị của Trung Quốc chứa một lượng lớn tro thải (gần 25 triệu tấn năm, chiếm 13%), chất thải hữu cơ chiếm 40 -65% Chất thải là giấy, nhựa và giấy phủ nhựa tăng nhanh Việc phân loại và tái chế CTR ở Trung Quốc được tiến hành bằng lao động thủ công Có khoảng 1,3 triệu người làm nghề thu gom chất thải, bao gồm những người quét dọn đường phố do chính quyền địa phương trả lương Khoảng 2,5 triệu người sống bằng nghề bới rác, phần lớn là những người nghèo Ở Trung Quốc chưa có hệ thống chính thống để phân loại và tách chất thải

Ủ phân compost là một phương pháp khả thi ở Trung Quốc vì trên 50% lượng chất

thải có chứa các chất hữu cơ có thể phân huỷ sinh học Tuy nhiên, những nỗ lực sản xuất phân compost bị hạn chế bởi việc tách thuỷ tinh, nhựa và các hoá chất khác không phù hợp trong nguyên liệu làm compost

Bãi rác được xem như là một trong những phương pháp xử lý phổ biến nhất của chính phủ trong những năm qua, tuy nhiên vấn đề quan trọng là thiếu việc nghiên cứu, quản lý và hoạt động tổng thể, các công nghệ xử lý và yêu cầu về đầm nén rác, hệ thống thu gom và thoát nước rỉ rác, kiểm soát khí gas rất hạn chế Vì vậy, Trung Quốc

đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề nghiêm trọng trong quá trình chôn lấp chất thải:

độ dốc của bãi rác hầu như là chưa phù hợp hay một số lớp lót tổng hợp không đảm

bảo làm cho nước từ bên ngoài thấm vào bãi rác làm gia tăng lượng nước rác Việc thu thập, lấy mẫu nước rác chưa được thường xuyên cũng như chưa tổ chức tốt công tác xử

lý nước rác Điều này đã tác động và gây ô nhiễm nước ngầm và hủy hoại môi trường

đất xung quanh, vì vậy,việc xem xét và quản lý cẩn thận các bãi rác là vô cùng cần thiết đối với Trung Quốc

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã

có những cải thiện đáng kể trong lĩnh vực

QLCTR, khắc phục một cách nhanh chóng

những khó khăn tại một số bãi chôn lấp rác

Hầu hết các thành phố lớn đều chuyển sang

chôn lấp hợp vệ sinh và sử dụng nhiều hơn các

công nghệ thiêu đốt Chính phủ Trung Quốc đã

cố gắng để đối phó với thách thức này, bằng

cách nâng cấp các "hệ thống phân cấp quản lý

chất thải" thúc đẩy giảm chất thải, tái sử dụng

và tái chế trước khi phương pháp xử lý chất

thải khác được áp dụng Tích hợp Quản lý chất

thải bền vững (ISWM) là khái niệm được xem

như là nguyên tắc quản lý CTR đô thị ở Trung

Quốc dựa trên hệ thống phân cấp quản lý chất

thải

Hình 1.7 Chiến lược quản lý chất thải rắn của Trung Quốc [88]

Trang 27

1.2.2 Tình hình quy hoạch quản lý CTR ở nền kinh tế phát triển

1.2.2.1 Singapore [102]

Singapore là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới Để có

được kết quả như vậy, Singapore đầu tư đáng kể cho công tác thu gom, vận chuyển và

xử lý CTR, đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Chính phủ Singapore đã thiết lập một hệ thống QLCTR tích hợp trong ba thập kỷ qua, kết hợp tái chế, thu gom và xử lý Cơ quan Môi trường quốc gia Singapore (NEA) đã xây dựng một loạt các chiến lược và chương trình để đạt được mục tiêu kiềm chế tăng trưởng chất thải và hỗ trợ quản lý chất thải bền vững

Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được đưa về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy thiêu hủy Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và xử lý CTRSH từ các khu dân cư và các công ty: hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom CTRCN và thương mại Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở KH-CN&MT Ngoài ra, các hộ dân và các công ty của Singapore được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải của mình

đến các điểm tập kết Chẳng hạn, nếu thu gom rác thải trực tiếp tại nhà, người dân phải

trả phí 17 đôla Singapore/tháng, còn nếu thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đôla Singapore/tháng

Singapo không có nhiều diện tích đất để chôn lấp CTR như những quốc gia khác nên đã kết hợp xử lý rác bằng phương pháp đốt và chôn lấp Các công đoạn trong hệ thống QLCTR của Singapore hoạt động hết sức nhịp nhàng và ăn khớp với nhau từ khâu thu gom, phân loại, vận chuyển đến tận khâu xử lý bằng đốt hay chôn lấp Xử lý khí thải từ các lò đốt rác được thực hiện theo qui trình nghiêm ngặt để tránh sự chuyển dịch ô nhiễm từ dạng rắn sang dạng khí Xây dựng bãi chôn lấp rác trên biển sẽ tiết kiệm được đất đai trong đất liền và mở rộng thêm đất khi đóng bãi Tuy nhiên việc xây dựng những bãi chôn lấp rác như vậy đòi hỏi sự đầu tư ban đầu rất lớn Mặt khác, việc vận hành bãi rác phải tuân theo những qui trình nghiêm ngặt để đảm bảo sự an toàn của công trình và bảo vệ môi trường (BVMT)

1.2.2.2 Hồng Kông [69]

Hồng Kông là thành phố đông đúc và náo nhiệt với số dân khoảng 6,9 triệu người, là một trong những khu vực có mật độ dân cư lớn nhất thế giới, mỗi ngày thải ra khoảng 7.700 tấn chất thải

Cơ quan bảo vệ môi trường Hồng Kông (EPD) đã phân các chất thải thành nhiều loại khác nhau, mỗi loại chất thải đòi hỏi phải có phương pháp xử lý riêng

Chôn lấp là giải pháp chủ yếu để xử lý CTR Thách thức đối với Hồng Kông các loại chất thải đang gia tăng đáng kể, do đó khó khăn trong việc tìm kiếm các bãi đổ chất thải thay thế bãi chôn lấp đã quá tải.Với sự gia tăng về dân số và kinh tế phát triển, năm 1990, lượng chất thải sinh hoạt tính theo đầu người tăng từ 0,95 lên 1,11 kg/người/ngày trong năm 2002, đến năm 2012 tăng lên 1,3kg/người/ngày Khối lượng CTR được xử lý tại các bãi chôn lấp là 13,5T/ngày vào năm 2011 và 13,85T/ngày năm

2012 [69] Với tình trạng này, Hồng Kông sẽ phải đối mặt với việc tìm kiếm bãi chôn lấp mới sớm hơn dự tính

Ở Hồng Kông, EPD quản lý các phương tiện thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu

Trang 28

hủy các loại chất thải Mô hình QLCTR này dựa trên điều kiện môi trường đô thị đặc trưng với khoảng không gian chật hẹp và mật độ dân số cao EPD giám sát việc xây dựng Trung tâm xử lý chất thải hoá học, 3 bãi chôn lấp chiến lược và mạng lưới các trạm trung chuyển chất thải

Các bãi chôn lấp cũ, không hợp lý về mặt môi trường dần được loại bỏ, cải tạo thành những nơi an toàn, mở rộng làm khu vui chơi, giải trí như sân vận động và sân gôn Các trạm trung chuyển chất thải là những điểm tập trung thu gom để vận chuyển chất thải đến các bãi chôn lấp Chất thải từ những xe thu gom nhỏ được nén chặt và chuyển sang các công-ten-nơ, sau đó đưa ra bãi chôn lấp ở địa phương bằng các loại xe tải hoặc đưa ra biển bằng các xuồng lớn

Hiện nay, ở Hồng Kông có 8 trạm trung chuyển chất thải Trạm trung chuyển đầu tiên của Hồng Kông, nằm ở thị trấn Kennedy gọi là Trạm trung chuyển phía Tây đảo Trạm này được xây dựng ở sườn núi, hàng năm trạm xử lý khoảng 7 triệu tấn chất thải

đô thị, trung bình là 130 xe tải trong một ngày

Mỗi xe vận chuyển chất thải đến đều được xác định trọng lượng, sau đó được đưa vào các bãi rộng chứa rác ở một trong 12 vịnh và đưa vào máy ép Tại đó, vật liệu rắn

được nén và đẩy vào trong container cao 7m, sau đó được đóng kín Mỗi container có

thể chứa 15 tấn chất thải đã được nén chặt hoặc đưa vào 5 đến 6 xe tải trung bình Chất thải dạng lỏng được xử lý sinh học nhờ quá trình sục khí được lặp đi lặp lại

và được tái sử dụng Xe vận chuyển chất thải lỏng phải đưa đi rửa nhiều lần trước khi cân lại và rời khỏi trạm trung chuyển Thậm chí nước rửa cũng được thu gom, xử lý và tái sử dụng Sau đó các công-ten-nơ chứa đầy chất thải chuyển đến bãi chôn lấp ở khu vực mới phía Tây bằng đường biển

Tất cả các công nghệ xử lý được đặt trong hang đá gồm: Thiết bị xử lý nước thải, các hệ thống thông gió được trang bị thiết bị hút mùi, hàng rào chống ồn, máy quét

đường và máy hút bụi công-ten-nơ Các trạm xử lý được tạo cảnh quan hài hòa với môi

trường xung quanh; không có tiếng ồn, mùi, bụi và nóng bức Trạm trung chuyển có thể xử lý một nửa lượng chất thải hàng ngày ở Hồng Kông

Trạm trung chuyển chất thải ở phía Đông đảo được đặt tại Sun Yip, thuộc Chai Wan Tất cả các quá trình xử lý của trạm giống như trạm ở phía Tây, những trạm nằm trong khu vực các toà, giữa các cao ốc văn phòng được rào chắn xung quanh

Nước thải và chất thải từ 8 trạm trung chuyển chất thải đều được kiểm soát Tất cả các dòng thải đáp ứng tiêu chuẩn thải theo Biên bản kỹ thuật dự thảo về quy định kiểm soát ô nhiễm nước Lượng chất thải được xác định và các mẫu được gửi đi phân tích ở phòng thí nghiệm

Việc sử dụng các trạm trung chuyển thay cho việc vận chuyển trực tiếp chất thải

đến bãi chôn lấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu gom, xử lý chất thải Đó là:

- Rút ngắn thời gian, khoảng cách cho những người thu gom chất thải, khi các trạm trung chuyển được đặt tại các khu vực đô thị;

- Tạo cho cơ sở thu gom chất tư nhân có nhiều lựa chọn trong việc loại bỏ chất thải;

- Môi trường ở các trạm trung chuyển sạch, có lợi cho những người thu gom chất thải, giảm chi phí bảo dưỡng các loại phương tiện;

- Giảm khoảng cách kéo xe đẩy, do đó giảm phát thải các chất gây ô nhiễm trong không khí và ít gây tiếng ồn cho môi trường

Trang 29

1.2.2.3 Nhật Bản [95]

Theo ước tính năm 2012 lượng chất thải rắn phát sinh tại Nhật Bản khoảng 65 triệu tấn, trong đó 37,8 triệu tấn (84%) được xử lý bằng công nghệ thiêu đốt, phần còn lại được tái chế Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: chất thải thực phẩm, rác vô cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại Chất thải thực phẩm được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại CTR còn lại: giấy, vải, thủy tinh, kim loại, đều

được đưa đến cơ sở tái chế hàng hóa Tại đây, CTR được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải

chúng một cách triệt để Sau quá trình xử lý đó, các chất thải chỉ còn như một hạt cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm Các cất trơ không còn mùi sẽ được đem nén thành các viên gạch xốp lát vỉa hè, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa

Tại Nhật Bản, chất thải rắn nông nghiệp như chất thải chăn nuôi (phân gia súc, gia cầm), chất thải từ các phế phụ phẩm nông nghiệp đều được tận dụng để tạo ra năng lượng sinh học Tại Nhật đã hình thành các thị trấn sinh khối (Biomass Town) với nguồn sinh khối chủ yếu là phân gia súc từ hoạt động chăn nuôi hoặc chất thải thực phẩm được chuyển hóa thành năng lượng sinh học hoặc phân compost Tính đến nay, tại Nhật Bản đã có 286 thị trấn sinh khối trải dài khắp đất nước Một số thị trấn sinh khối điển hình phải kể đến đó là thị trấn Konuhe, quận Konuhe, tỉnh Iwate Tổng diện tích của thị trấn này là 130 km2 với 7.111 người (tháng 4/2006) Đây là khu vực chăn nuôi nổi tiếng với 499 con bò sữa, 550 con bò thịt, 22.746 con heo và 3.912.441 con

gà 98,2% sinh khối phân gia súc gia cầm ở đây được xử lý làm phân compost (dạng dung dịch và phân khối), sử dụng khí sinh học…

Là một trong các quốc gia có trình độ phát triển đứng vào hàng đầu của thế giới

và vấn đề xử lý các chất thải công nghiệp cũng là một trong các công tác được Nhà nước quan tâm hàng đầu Nhật cũng là một trong các quốc gia đi tiên phong trong việc

áp dụng các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực xử lý chất thải công nghiệp Song song việc này Nhật cũng đã phát triển những công nghệ tái chế và tái sử dụng chất thải

Đối với rác thải y tế, tại các bệnh viện ở Nhật bản đều có các loại lò đốt ở nhiệt độ

cao tùy theo loại phế thải từ 1000ºC đến trên 4000ºC Tuy nhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn đang tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vào không khí Các phế thải y tế trong khi đốt, thải hồi vào không khí có nhiều hạt bụi li ti

và các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình thiêu đốt như axit clohydric, dioxin/furan, và một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì, asen hoặc cadimi

1.2.2.4 Hoa Kỳ [110]

Theo số liệu thống kê năm 2011, tổng lượng chất thải rắn được thu gom tại Hoa

Kỳ khoảng 250,4 triệu tấn Trong đó 87 triệu tấn (34,7%) được tái chế, tái sử dụng Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2kg rác/ngày [110] Hầu như thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dễ lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồn gốc vô cơ Trong CRTSH, thành phần chất thải thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7% Như vậy CTRSH ở Mỹ có thể

Trang 30

phân loại và xử lý chiếm tỉ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thủy tinh, gốm, sứ chiếm khoảng 20%)

Riêng tại California, nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế Côgn tác thu gom được thực hiện 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng Nếu có những phát sinh khác nhau như: Khối lượng rác tăng hay các xe chở rác phải phục vụ tận sâu trong các tòa nhà lớn, giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92 USD/tháng Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh Tất cả CTR được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn Để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyên chở rác

1.2.2.5 Thụy Điển [86]

Quản lý chất thải rắn tại Thụy Điển xem xét các nguyên tắc giảm thiểu chất thải như là một ưu tiên hàng đầu Theo số liệu báo cáo của Hiệp hội quản lý chất thải Thuỵ

Điển, trong năm 2004 tổng khối lượng CTRSH lên tới 4,17 triệu tấn, tương tự như năm

2003 Đến năm 2008 đạt đỉnh điểm vào khoảng 4,73 triệu tấn và giảm xuống còn 4,36 triệu tấn năm 2010 Khối lượng này gồm CTRSH và chất thải khác như chất thải đựng trong các thùng và túi, chất thải cồng kềnh, kể cả chất thải từ vườn, CTNH và chất thải

từ các cửa hàng, công ty, các ngành công nghiệp và các nhà hàng Ngoài ra, một phần CTRSH thuộc trách nhiệm quản lý của các nhà sản xuất, không thuộc trách nhiệm của

cơ quan quản lý chất thải đô thị

Các phương pháp được ưu tiên để xử lý rác thải tại Thụy Điển là thiêu đốt và tái chế, hiện nay lượng rác được xử lý theo 2 phương pháp này gần như bằng nhau Trong những năm 2006 và 2007 lượng chất thải rắn được tái chế lớn hơn lượng thiêu đốt do

sự thay đổi của chính sách thuế nhằm tăng lượng chất thải rắn được xử lý bằng phương pháp tái chế Tuy nhiên ngay sau đó chính sách của chính phủ Thủy Điển lại có sự thay

đổi dẫn đến lượng CTR được xử lý bằng phương pháp đốt cao hơn Trong năm 2010,

CTR được tái chế đã đạt đến mức 49,2% Tuy nhiên , mức độ tái chế có chỉ tăng khoảng 1 % trong giai đoạn từ năm 2006-2010 Các chính sách của Thụy Điển đang nỗ lực để đạt được mục tiêu tái chế 50% vào năm 2020

Thụy Điển đã giảm được đáng kể lượng chất thải rắn phải xử lý bằng phương pháp chôn lấp, đến năm 2010 tổng lượng CTR xử lý bằng phương pháp chôn lấp chỉ còn khoảng 42.000 tấn (1%) so với năm 2001 là 880.000 tấn (22%) [86]

Cho đến nay, 110 thành phố tự trị cho phép công dân của họ phân loại chất thải thực phẩm để xử lý tập trung Trong đó, 20-30% lượng chất thải trong thùng và túi

đựng từ các hộ gia đình được phân loại Khoảng 43% chất thải của các hộ gia đình gồm

cả chất thải thực phẩm và 7% chất thải vườn Hệ thống thu gom phổ biến nhất cho những ngôi nhà riêng là 2 thùng rác khác nhau, một chiếc dùng để đựng chất thải sinh học và một chiếc dùng để đựng các loại chất thải khác Hệ thống thu gom phổ biến tiếp theo là phân loại bằng trực quan, các túi nilông có màu sắc khác nhau được đặt trong thùng rác tương tự, thường đặt trong 3 thùng khác nhau

1.2.3 Nhận xét chung

Tại các nước đang phát triển, công tác quản lý CTR gặp một số trở ngại sau:

Trang 31

- Do điều kiện giới hạn về tài chính hầu hết các bãi rác cũ được xác định vị trí chủ yếu dựa vào yếu tố kinh tế, các yếu tố môi trường không được quan tâm đầy đủ hoặc bị bỏ qua

- Thiếu sự quy hoạch sử dụng đất lâu dài và vì thế rất khó quy hoạch địa điểm khu xử lý CTR mới để đáp ứng nhu cầu về xử lý chất thải ngày càng tăng nhanh

- Thiếu chiến lược trong quy hoạch xây dựng các khu xử lý chất thải do đó thường bị động khi bãi rác đầy hoặc phải đóng cửa do vấn đề môi trường và áp lực của người dân địa phương

- Cách thức định địa điểm mang tính áp đặt và tình trạng vận hành gây ô nhiễm môi trường ở các bãi rác hiện hữu mang lại những phản ứng “sợ và tẩy chay bãi rác” từ cộng đồng dân cư, dẫn đến hậu quả là càng ngày càng khó tìm kiếm các bãi chôn chất thải mới

Hiện tại, nhiều dự án về tăng cường quản lý CTR được thực hiện tại các nước

đang phát triển nhờ sự tài trợ của các tổ chức quốc tế (WB, ADB, WHO và một số

nước phát triển) Tuy được hỗ trợ cả về tài chính và kỹ thuật nhưng khâu chọn địa điểm vẫn gặp những cản trở lớn, đặc biệt là khó có sự đồng tình từ cộng đồng dân cư và chính quyền địa phương

1.3 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CTR VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ CTR Ở VIỆT NAM

1.3.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn

Hiện nay, số liệu về phát sinh CTR mới chủ yếu được thống kê tại khu vực đô thị và các KCN; ở khu vực nông thôn, hầu như số liệu về CTR chưa được thống kê một cách đầy đủ (chẳng hạn như lượng rơm, rạ thải bỏ từ sản xuất nông nghiệp) Trên phạm

vi toàn quốc, từ năm 2003 đến năm 2008, lượng CTR phát sinh trung bình tăng từ 150 - 200%, CTR sinh hoạt đô thị tăng trên 200%, CTR công nghiệp tăng 181% (bảng 1.1),

và còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới

Bảng 1.1 Lượng chất thải rắn phát sinh ở Việt Nam [20]

Theo thống kê các năm gần đây, khoảng 42 - 46% lượng CTR phát sinh là từ các

đô thị, khoảng 17% CTR là từ các hoạt động sản xuất công nghiệp; số còn lại là CTR

của nông thôn, làng nghề và CTR y tế chỉ chiếm phần nhỏ Dự báo cho đến năm 2015,

tỷ trọng này cho CTR đô thị và CTR công nghiệp sẽ còn tiếp tục tăng lên tương ứng với các con số 50,8 và 22,1 % [19,20]

CTR đô thị, CTR công nghiệp và CTR y tế phát sinh phần lớn ở vùng Đông Nam Bộ và vùng ĐBSH, nơi tập trung các đô thị, các KCN và các cơ sở khám chữa

Trang 32

bệnh lớn của tuyến Trung ương Phát sinh CTR nông thôn chủ yếu là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải Trung Bộ và đồng bằng sông Hồng Còn đối với CTR làng nghề thì nguồn phát sinh chủ yếu là ở vùng đồng bằng sông Hồng, nơi tập trung phần lớn các làng nghề của toàn quốc

Theo dự báo của Bộ Xây dựng và Bộ TN&MT, đến năm 2015, khối lượng CTR phát sinh ước đạt khoảng 44 triệu tấn/năm, năm 2020 là 68 triệu tấn/năm và năm 2025

sẽ là 91 triệu tấn/năm

1.3.1.1 Chất thải sinh hoạt

Theo Trung tâm Nghiên cứu và Quy hoạch Môi trường Đô thị & Nông thôn -

Bộ Xây dựng, tổng khối lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc năm

2008 khoảng 35.100 tấn/ngày; CTR sinh hoạt ở khu vực nông thôn khoảng 24.900 tấn/ngày Tại hầu hết các đô thị, khối lượng CTR sinh hoạt chiếm 60 - 70% tổng lượng CTR đô thị, một số đô thị tỷ lệ này lên đến 90% Tổng hợp các kết qủa nghiên cứu cho thấy tốc độ phát sinh CTR sinh hoạt đô thị có xu hướng tăng đều ở mức từ 10 - 16%/năm Theo JICA (2010), tổng lượng chất thải phát sinh tại Việt Nam năm 2010 là trên 31,5 triệu tấn, trong đó chất thải công nghiệp là 5,5 triệu tấn

Bảng 1.2 Chỉ số phát thải CTRSH bình quân đầu người các đô thị năm 2009 [19,20]

Cấp đô

thị Đô thị

CTRSH bình quân đầu người

(kg/người/ngày)

Cấp đô

CTRSH bình quân đầu người

thành phố

Thái Nguyên >0,5 Từ Sơn (Bắc Ninh) >0,7

Đô thị

loại 2:

thành

phố

Điện Biên Phủ 0,8 Đồng Xoài (B.Phước) 0,91

Bắc Ninh >0,7

Đô thị loại 4:

thị xã

Ngã Bảy (Hậu Giang) >,62

Trang 33

Với dân số 60,703 triệu người sống ở khu vực nông thôn (năm 2010), lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn khoảng 0,3 kg/người/ngày, ta

có thể ước tính lượng rác thải sinh hoạt phát sinh khoảng 18,21 tấn/ngày, tương đương với 6,6 triệu tấn/năm Vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long

có lượng CTR sinh hoạt nông thôn phát sinh lớn nhất, do đó có mức độ hoạt động sản xuất nông nghiệp cao

Ước tính mỗi người dân đô thị ở Việt Nam trung bình phát thải khoảng trên 2/3

kg chất thải mỗi ngày, gấp đôi lượng thải bình quân đầu người ở vùng nông thôn Chất thải phát sinh từ các hộ gia đình và các khu kinh doanh ở vùng nông thôn và đô thị có thành phần khác nhau Chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, các khu chợ và khu kinh doanh ở nông thôn chứa một tỷ lệ lớn các chất hữu cơ dễ phân huỷ (chiếm 60-75%) Ở các vùng đô thị, chất thải có thành phần các chất hữu cơ dễ phân huỷ thấp hơn Sự thay

đổi về mô hình tiêu thụ và sản phẩm là nguyên nhân dẫn đến làm tăng tỷ lệ phát sinh

chất thải nguy hại và chất thải không phân huỷ được như nhựa, kim loại và thuỷ tinh

Ở các vùng nông thôn, tỷ lệ thu gom rất thấp Do xa xôi và các dịch vụ thu gom

không đến được các vùng nông thôn nên chỉ có khoảng 20% nhóm các hộ gia đình có mức thu nhập cao nhất ở các vùng nông thôn được thu gom rác Nhiều sáng kiến mới

đang được thực hiện nhằm khắc phục tình trạng thiếu các dịch vụ thu gom CTRSH

1.3.1.2 Chất thải công nghiệp [20 ]

Ước tính, lượng phát sinh chất thải công nghiệp chiếm khoảng 20-25% tổng

lượng chất thải sinh hoạt, tuỳ theo quy mô và cơ cấu công nghiệp của từng tỉnh/thành phố Chất thải công nghiệp tập trung nhiều ở khu vực phía Nam

Tính trên phạm vi toàn quốc, năm 2008, khối lượng CTR công nghiệp cả nước vào khoảng 13.100 tấn/ngày CTR công nghiệp tập trung chủ yếu ở 2 vùng KTTĐ Bắc

Bộ và phía Nam Các ngành công nghiệp nhẹ, hóa chất, luyện kim là các ngành phát sinh nhiều chất thải nguy hại nhất Cả nước có khoảng 1.450 làng nghề phân bố trên các vùng nông thôn thuộc 56 tỉnh của Việt Nam Thống kê năm 2008 của Cục Hạ tầng

kỹ thuật cho thấy, tổng lượng CTR nguy hại phát sinh từ các làng nghề trong toàn quốc khoảng 2.800 tấn/ngày Các làng nghề tại miền Bắc phát sinh CTR nguy hại nhiều nhất

- khoảng 2.200 tấn/năm [17] Tại 3 tỉnh là Hà Tây, Bắc Ninh và Hà Nội chiếm khoảng 68% tổng lượng chất thải phát sinh từ các vùng miền Bắc Các làng nghề tái chế kim loại, đúc đồng, tạo ra nhiều chất thải nguy hại nhất Các làng nghề là một yếu tố đặc trưng của Việt Nam, tập trung ở vùng nông thôn với nguồn thu nhập chủ yếu từ các hoạt động nghề, đặc biệt là các nghề thủ công như sản xuất đồ gốm, dệt may, tái chế chất thải, chế biến thực phẩm và hàng thủ công mỹ nghệ

Thành phần CTRCN bao gồm: rác thải hữu cơ (30-40%), tro xỉ (10-15%), kim loại (5-10%), bao bì (2-4%) và các thành phần vô cơ khác như: thủy tinh, cao su, giẻ lau (20-30%) Ngoài ra, thành phần nguy hại như: dầu thải, sơn keo, dung môi… cũng thường chiếm không quá 20%, tùy thuộc loại hình sản xuất công nghiệp Đáng chú ý là lượng chất thải này hiện không được thu gom, xử lý triệt để mà bị chất đống hoặc thải vào các kênh rạch, sông, hồ, gây ô nhiễm trầm trọng nguồn nước, đất và không khí

1.3.1.3 Chất thải nguy hại [46]

Theo một điều tra khảo sát của JICA (2010), tổng lượng CTNH phát sinh tại Việt Nam năm 2010 là 0,86 triệu tấn, trong đó ngành công nghiệp nhẹ là nguồn phát

Trang 34

sinh chất thải công nghiệp nguy hại lớn nhất (chiếm 47%), tiếp theo là ngành công nghiệp hoá chất (24%) và ngành công nghiệp luyện kim (20%) Mỗi tỉnh/thành đều phát sinh một lượng lớn chất thải y tế nguy hại Khoảng 20% tổng lượng chất thải y tế

là chất thải nguy hại Đến nay, hệ thống các bệnh viện trong cả nước đã được đầu tư xây dựng rất tốt với số lượng giường bệnh của mỗi tỉnh ít nhất đạt được mức 500 giường, trong đó thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội chiếm 23% tổng công suất bệnh viện của cả nước Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hoá và Hà Nội phát sinh khoảng 6.000 tấn chất thải y tế nguy hại mỗi năm Các tỉnh/thành phố khác có khối lượng phát sinh chất thải y tế nguy hại ít hơn, cỡ khoảng từ 0,2 đến 1,5 tấn mỗi ngày [46]

Các hoạt động nông nghiệp mỗi năm phát sinh một lượng khá lớn các chất tồn

dư thuốc bảo vệ thực vật độc hại và các loại bao bì, thùng chứa thuốc trừ sâu, vào khoảng 8.600 tấn, trong số đó có nhiều loại thuốc trừ sâu đã bị cấm sử dụng và được nhập lậu Lượng thuốc trừ sâu được sử dụng nhiều nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, có khoảng 37.000 tấn hóa chất dùng trong nông nghiệp bị tịch thu đang

được lưu giữ cần phải được xử lý kịp thời

Dự báo đến năm 2015 tổng lượng CTNH phát sinh ước tính khoảng 1,55 triệu tấn, tăng lên 2,8 triệu tấn vào năm 2020 và đạt đến 27,8 triệu tấn năm 2025 Với lượng phát sinh CTNH ngày càng gia tăng, nếu không có các biện pháp quản lý phù hợp sẽ dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bắt nguồn từ các hoạt động không kiểm soát như vận chuyển trái phép hoặc xử lý không an toàn về môi trường

1.3.2 Khái quát công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam

Trong những năm 70 - 80 của thế kỷ trước, công tác QLCTR được các nhà quản

lý tập trung chủ yếu vào công tác thu gom và xử lý các loại chất thải phát sinh từ hoạt

động sinh hoạt của con người (CTRSH) Chính vì vậy, mô hình thu gom, xử lý khi đó

cũng mới chỉ hình thành ở mức độ đơn giản Đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý CTR được giao cho Phòng Quản lý đô thị trực thuộc UBND tỉnh, thành phố với đơn vị chịu trách nhiệm vệ sinh đường phố là các công nhân quét dọn và thu gom rác thải từ các hoạt động sinh hoạt của người dân khu vực đô thị Chất thải sau

đó được tập kết và đổ thải tại nơi quy định

Trong giai đoạn tiếp theo, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các ngành kinh tế bắt đầu được Nhà nước ưu tiên phát triển Các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi và các ngành du lịch, dịch vụ theo đó cũng phát triển mạnh là nguyên nhân phát sinh lượng chất thải ngày càng lớn của các ngành nêu trên

Đi kèm với quá trình phát sinh về khối lượng là tính phức tạp, sự nguy hại về tính chất

Công tác quản lý CTR không còn đơn thuần là quản lý CTR sinh hoạt mà còn bao gồm vấn đề quản lý CTR công nghiệp, xây dựng, y tế, nông nghiệp Quá trình phát triển

đòi hỏi công tác quản lý CTR phát triển tương ứng về cơ chế, chính sách, pháp luật và

các nguồn lực

Nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tế đặt ra, công tác quản lý CTR được điều chỉnh bằng một hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật quy định khá chi tiết Song song với đó, hệ thống tổ chức quản lý CTR bắt đầu hình thành và phát triển

Trang 35

với các nguyên tắc tương đối cụ thể; căn cứ theo chức năng quản lý và nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành liên quan có trách nhiệm quản lý CTR phát sinh của ngành

Cho đến nay, hoạt động quản lý CTR không chỉ tập trung vào công tác thu gom

và tập kết CTR sinh hoạt đô thị đến nơi đổ thải theo quy định Công tác quản lý CTR hiện nay đã mở rộng hơn, bao gồm từ hoạt động thu gom, vận chuyển, trung chuyển và

xử lý CTR hợp vệ sinh, đảm bảo các QCVN và TCVN đặt ra; không những đối với CTR sinh hoạt đô thị, nông thôn mà còn đối với CTR công nghiệp, CTR từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và CTR y tế

Mặc dù hiện nay, công tác quản lý CTR chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tế nhưng cùng với sự phát triển KT-XH, đi cùng với xu hướng phát triển và hội nhập, công tác quản lý CTR đã từng bước được thay đổi, tăng cường để phát huy hơn nữa vai trò và hiệu quả thực hiện

Hiện nay, việc xử lý CTR chủ yếu do các công ty môi trường đô thị của các tỉnh/thành phố (URENCO) thực hiện Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ CTRSH, bao gồm cả CTRSH gia đình, chất thải văn phòng, đồng thời cũng là cơ quan chịu trách nhiệm xử lý cả CTR công nghiệp và y tế trong hầu hết các trường hợp

Về mặt lý thuyết, mặc dù các cơ sở công nghiệp và y tế phải tự chịu trách nhiệm trong việc xử lý các chất thải do chính cơ sở đó thải ra, trong khi Chính phủ chỉ đóng vai trò

là người xây dựng, thực thi và cưỡng chế thi hành các quy định/văn bản quy phạm pháp luật liên quan, song trên thực tế Việt Nam chưa thực sự triển khai theo mô hình này Chính vì vậy, hoạt động của các công ty môi trường đô thị liên quan đến việc xử

lý CTRSH là chính do có quá ít thông tin về thực tiễn và kinh nghiệm xử lý các loại chất thải khác

Hệ thống QLCTR ở một số đô thị lớn ở Việt Nam được thể hiện trong hình 1.8, trong đó:

- Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) chịu trách nhiệm vạch chiến lược cải thiện môi trường chung cho cả nước, tư vấn cho Nhà nước để đưa ra các luật, chính sách quản lý môi trường quốc gia;

- Bộ Xây dựng hướng dẫn chiến lược quản lý và xây dựng đô thị, quản lý chất thải;

- Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chỉ đạo UBND các quận, huyện, sở TN&MT và sở Giao thông Công chính thực hiện nhiệm vụ BVMT đô thị, chấp hành nghiêm chỉnh chiến lược chung và luật pháp chung về BVMT của Nhà nước thông qua xây dựng các quy tắc, quy chế cụ thể;

- URENCO là đơn vị trực đảm nhận nhiệm vụ xử lý chất thải, BVMT tỉnh/thành phố theo chức trách được sở Giao thông Công chính giao nhiệm vụ

Với chủ trương xã hội hoá công tác BVMT, Chính phủ khuyến khích các công

ty tư nhân và các tổ chức hoạt động dựa vào cộng đồng cộng tác chặt chẽ với các cơ quan quản lý ở cấp địa phương trong công tác QLCTR Một số mô hình đã được thử nghiệm, mang lại kết quả khả quan, song các chính sách và cải cách các cơ chế quản lý cũng cần phải được củng cố Phần lớn chất thải công nghiệp và chất thải y tế nguy hại

được thu gom cùng với chất thải thông thường Có rất ít số liệu thực tiễn về công tác

thu gom và tiêu huỷ chất thải ở các cơ sở công nghiệp và y tế Phần lớn các cơ sở này

Trang 36

đều hợp đồng với công ty môi trường đô thị ở địa phương để tiến hành thu gom chất

thải của cơ sở mình Thậm chí, chất thải nguy hại đã được phân loại từ chất thải y tế tại bệnh viện hay cơ sở công nghiệp, sau đó lại đổ lẫn với các loại chất thải thông thường khác trước khi công ty môi trường đô thị đến thu gom Các cơ sở y tế có lò đốt chất thải

y tế tự xử lý chất thải y tế nguy hại của họ ngay tại cơ sở, chất thải qua xử lý và tro từ

lò đốt chất thải sau đó cũng được thu gom cùng với các loại chất thải thông thường khác

Hình 1.8 Hệ thống quản lý chất thải rắn tại Việt Nam

Cũng giống như nhiều nước khác trong khu vực Nam và Đông Nam Á, tiêu huỷ chất thải ở các bãi rác lộ thiên hoặc các bãi rác có kiểm soát là những hình thức xử lý chủ yếu ở Việt Nam trong những năm qua Theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2007, trong số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên cả nước có 49 bãi rác lộ thiên hoặc các khu chôn lấp vận hành không hợp vệ sinh có nguy cơ gây rủi ro cho môi trường và sức khoẻ người dân cao phải được tiến hành xử lý triệt để, tuy nhiên, cần tìm nguồn kinh phí cho các hoạt

động xử lý này Tuy đã có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng QLCTR sinh hoạt

nhưng các thông tin về việc xử lý CTRNH, đặc biệt là CTRNH từ công nghiệp còn có rất ít, do đó cần phải quản lý tốt hơn

Hiện nay, Chính phủ đang rất ưu tiên cho việc xây dựng các hệ thống xử lý và tiêu huỷ chất thải, bao gồm cả các bãi chôn lấp Tuy nhiên, do thiếu nguồn tài chính nên hầu hết các bãi chôn lấp hợp vệ sinh đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA Tự tiêu huỷ là hình thức khá phổ biến ở các vùng không có dịch vụ thu gom và tiêu huỷ chất thải Các hộ gia đình không được sử dụng các dịch vụ thu gom và tiêu huỷ chất

Trang 37

thải buộc phải áp dụng các biện pháp tiêu huỷ của riêng gia đình mình, thường là đem

đổ bỏ ở các sông, hồ gần nhà họ, hoặc là vứt bừa bãi ở một nơi nào đó gần nhà

Một số phương pháp tự tiêu huỷ khác là đốt hoặc chôn lấp Tất cả các phương pháp này đều có thể huỷ hoại môi trường một cách nghiêm trọng và có khả năng gây hại cho sức khoẻ con người Nhiều bãi rác và bãi chôn lấp đang là mối hiểm hoạ về mặt môi trường đối với người dân địa phương Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh và các bãi rác lộ thiên gây ra rất nhiều vấn đề môi trường đối với các cộng đồng dân cư xung quanh, bao gồm cả các vấn đề về ô nhiễm nước ngầm và nước mặt do nước rác không

được xử lý, các chất ô nhiễm không khí, ô nhiễm mùi, ruồi, muỗi, chuột bọ và ô nhiễm

bụi, tiếng ồn

Hầu như các phương pháp xử lý CTNH đang áp dụng còn chưa được an toàn Hoạt động giám sát và cưỡng chế việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường đối với các

cơ sở công nghiệp, các cơ sở vận chuyển và xử lý chất thải hiện tại còn yếu kém Chính

vì vậy mà có rất ít các cơ chế khuyến khích đối với các cơ sở công nghiệp trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hợp lý và vẫn có nhiều trở ngại lớn đối với việc vận hành một cách an toàn các cơ sở xử lý chất thải cả trong giai đoạn hiện tại và trong tương lai Cho dù đã có một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và quy chế chính thức

được áp dụng trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn, song việc thiếu các hướng dẫn, thiếu

tập huấn và nâng cao nhận thức cho các cơ sở sản xuất về chất thải rắn lại càng làm những trở ngại ngày càng tăng thêm Hiện nay, dù xử lý chất thải công nghiệp được quy định là thuộc về các cơ sở sản xuất công nghiệp và các ban quản lý khu công nghiệp, song việc xử lý các loại chất thải là hoá chất dùng trong nông nghiệp lại là trách nhiệm của các cơ quan môi trường của Chính phủ và do đó kinh phí dành cho hoạt động xử lý này cũng sẽ được đề nghị từ ngân sách Nhà nước

1.3.3 Tình hình áp dụng công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt

Lượng CTR thu gom tại các đô thị Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 70% yêu cầu thực tế và chủ yếu tập trung tại các khu vực nội thành Cho đến nay, công tác xử lý chất thải rắn đô thị ở Việt Nam chủ yếu vẫn là chôn lấp, với số lượng trung bình 1 bãi chôn lấp/ đô thị; riêng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi đô thị có từ 4-5 bãi chôn lấp

và khu xử lý Phần lớn các đô thị, khu đô thị đều chưa có bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh

và vận hành đúng quy trình: có tới 85% đô thị từ cấp thị xã trở lên sử dụng phương pháp chôn lấp chất thải không hợp vệ sinh, cụ thể là toàn quốc có có 98 bãi chôn lấp chất thải tập trung đang vận hành, nhưng mới có 16 bãi được coi là chôn lấp hợp vệ sinh Bên cạnh đó, các loại CTRNH không được phân loại riêng mà trộn chung với những CTRSH, nếu không được xử lý triệt để sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, dẫn đến suy thoái môi trường đất, nước, không khí

Hiện tại, công nghệ xử lý CTR ở các đô thị Việt Nam khá đa dạng, tùy theo đặc

điểm đô thị mà mỗi đô thị áp dụng những công nghệ xử lý riêng Công nghệ xử lý CTR

theo kiểu xử lý cuối đường ống, chôn lấp, chế biến rác thành phân vi sinh và sản phẩm nhựa được khá nhiều đô thị áp dụng Đó là Nhà máy xử lý rác Đông Vinh (tp Vinh - Nghệ An) sử dụng công nghệ Seraphin có công suất từ 80 - 150 tấn/ngày; Nhà máy xử

lý rác Thủy Phương (tp Huế - Thừa Thiên Huế) áp dụng công nghệ ASC, công suất 80

- 150 tấn/ngày, trong đó 85 - 90% rác thải được chế biến và tái chế, 10 - 15% rác thải chôn lấp, không phát sinh nước rỉ rác

Trang 38

Ngoài ra, một số đô thị còn áp dụng công nghệ lò đốt chất thải y tế, chất thải công nghiệp nguy hại Lò đốt CEETIA - CN 150 tại Bãi rác Nam Sơn (Hà Nội) công suất 150kg/h, có buồng đốt đa cấp, hạ nhiệt độ khói thải nhanh trước khi thải qua ống khói để tránh dioxin/furan tái sinh, xử lý khói đa cấp, vận hành tự động hoặc bán tự

động Một số đô thị có mức độ công nghiệp cao còn áp dụng công nghệ xử lý bụi trong

khí thải (lọc bụi) như công nghệ Xiclon, công nghệ lọc bụi tĩnh điện (ESP) (Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí) Công nghệ xử lý nước rác của các bãi chôn lấp rác, công nghệ xử

lý nước thải tập trung của các đô thị, khu công nghiệp và công nghệ xử lý khí thải SO2công nghiệp cũng được áp dụng

Nhìn chung, công nghệ xử lý CTR ở các đô thị Việt Nam thường là tự thiết kế

và chế tạo nhưng đã tập hợp tương đối đầy đủ các loại hình có tính phổ biến để xử lý CTR, nước thải và khí thải đô thị Trình độ công nghệ đã đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường Việt Nam Đặc biệt, giá giảm so với giá của công nghệ ngoại nhập Tuy nhiên, việc sản xuất thiết bị, công nghệ còn ở tình trạng cá thể, đơn chiếc, chưa có sản xuất chế tạo công nghệ môi trường hàng loạt hoặc sản xuất trên dây chuyền công nghiệp Thị trường công nghệ môi trường nội địa chưa được hình thành cho dù hiện tại đang có nhu cầu Vốn đầu tư cho môi trường ở nước ta còn rất hạn chế Khả năng cung thì có nhưng chưa có sản phẩm công nghiệp và thương hiệu để bán Chưa có đội ngũ các nhà

đầu tư chuyên nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh thiết bị công nghệ xử lý ô nhiễm môi

trường Đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ môi trường còn yếu và thiếu

Để đẩy mạnh công tác QLCTR tại các đô thị và khu công nghiệp, Thủ tướng

Chính phủ đã ban hành Chỉ thị về tăng cường QLCTR Theo đó, đến năm 2010 xử lý 100% CTR y tế nguy hại và trên 60% CTRNH công nghiệp bằng những công nghệ phù hợp; đồng thời xử lý triệt để các bãi rác gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Thủ tướng cũng yêu cầu các cơ quan chức năng, địa phương nhanh chóng hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn về chất thải rắn và khuyến khích 100% đô thị

xã hội hóa công tác quản lý, xử lý CTR bằng nhiều hình thức

Thành phố Hà Nội cũng đã ban hành Chương trình hành động về công tác BVMT Thủ đô thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chương trình xác định một số chỉ tiêu về môi trường đến năm 2010, trong đó có chỉ tiêu 100% rác thải sinh hoạt đô thị được thu gom, vận chuyển, xử lý hợp vệ sinh và 40% được tái chế Chương trình này nhằm ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường; giải quyết tích cực những vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt, suy thoái nguồn nước ngầm, rác thải sinh hoạt, rác thải nguy hại công nghiệp, ô nhiễm bụi

Thành phố Tuy Hòa (Phú Yên) cũng đã được Chính phủ Bỉ tài trợ cho Dự án cải thiện điều kiện vệ sinh và BVMT Dự án này có tổng kinh phí là 3,3 triệu Euro, được triển khai trong 3 năm (2006 - 2008), giúp thành phố Tuy Hòa xây dựng một khu xử lý CTR hợp vệ sinh nhằm cải thiện điều kiện môi trường, sức khỏe cho người dân trên địa bàn Dự án cũng góp phần nâng cao năng lực quản lý cho Công ty quản lý môi trường

đô thị Phú Yên trong việc thu gom và xử lý CTR; đồng thời nâng cao nhận thức của

cộng đồng, tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động cải thiện điều kiện vệ sinh và BVMT

Tỉnh Kiên Giang dự kiến xây dựng nhà máy phát điện từ rác thải trên đảo Phú Quốc Đây là đề xuất của Viện tái chế BVMT Cộng hòa Liên bang Đức và Đại học Cần

Trang 39

Thơ Theo đó, điện năng sẽ được sản xuất từ rác và nước thải sinh hoạt thông qua nhà máy khí sinh học biogas và máy đốt sinh khối Công nghệ này đã được áp dụng thành công ở nhiều nước châu Âu, không chỉ tạo ra điện năng mà còn cho sản phẩm phân bón hữu cơ Việc xây dựng nhà máy phát điện từ rác thải rất có lợi cho kinh tế và giải quyết vấn đề môi trường vốn đang bức xúc trên đảo Phú Quốc

1.3.4 Đánh giá chung về thực trạng công tác quy hoạch QLCTR:

- Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và quy định trong lĩnh vực QLCTR và CTNH; thể chế, chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong QLCTR ở nước ta đã có những bước tiến vượt bậc, nhưng hệ thống chính sách về QLCTR chưa đầy đủ, đồng bộ hoặc còn chồng chéo, chưa có một quy định thống nhất toàn diện cho công tác quy hoạch quản lý CTR quốc gia, thiếu chính sách, thể chế đối với quy hoạch và đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý CTR các cấp từ trung ương đến địa phương;

- Trách nhiệm QLCTR chồng chéo giữa các Bộ ngành Xây dựng (quản lý CTR

đô thị), TN&MT (quản lý CTNH), Y tế (quản lý CTR y tế), Công thương (quản lý CTR

công nghiệp không nguy hại) dẫn đến những chồng chéo trong việc triển khai các chương trình quản lý CTR ở cấp trung ương đến cấp địa phương Ở các địa phương không thống nhất đầu mối quản lý CTR mà tùy theo quy định của từng địa phương làm cho công tác quản lý CTR ở cấp Trung ương cũng như tại nhiều địa phương phân tán

và đạt hiệu quả thấp Hiện tại, CTRSH nông thôn đặc biệt là chất thải ở các làng nghề, vẫn chưa xác định quyền quản lý giữa 3 Bộ: Xây dựng, NN&PTNT và TN&MT

- Tỷ lệ thu gom CTR còn thấp (đạt 60-80% ở đô thị và 30-40% ở khu vực nông thôn), không đồng đều giữa các vùng (tỷ lệ thu gom ở trung tâm đô thị đạt gần 100% nhưng khu vực ngoại thành chỉ đạt khoảng 50%); việc đầu tư xây dựng các trạm trung chuyển và trang thiết bị, công nghệ xử lý CTR chưa được quan tâm đầu tư, nhân lực tập trung cho công tác này còn thiếu và yếu

- Việc triển khai các chương trình/dự án 3R (Reduce, Re-use, Recycle) hay 3T (Tiết kiệm, tái sử dụng, tái chế) mới chỉ dừng ở những mô hình trình diễn, thí điểm tai

Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh và Tp Đà Năng, kết quả chưa hiệu quả do kế hoạch chưa hợp

lý, phân bổ thời gian và kinh phí không hiệu quả, nhiều hạng mục không phù hợp với

điều kiện thực tế cũng như nếp sống

- Công tác xã hội hóa, tư nhân hóa và huy động cộng đồng tham gia QLCTR còn yếu kém; chưa có thể chế, chính sách để tư nhân hoá và xã hội hóa công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý CTR Nhận thức và năng lực của cộng đồng chưa đảm bảo đề thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong công tác QLMT nói chung và quản lý CTR nói riêng, đặc biệt là ở các khu vực tập trung đông dân nghèo;

Tóm lại, công tác QLCTR đang đứng trước những thách thức lớn về việc tiêu huỷ lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để vượt qua nhiều hạn chế về tài chính, tổ chức, kỹ thuật đòi hỏi các địa phương, các đơn vị khoa học công nghệ về môi trường phải nghiên cứu và thực hành các luận cứ có tính khoa học và thực tiễn mới có thể xác lập được vị trí và công nghệ các khu xử lý chất thải rắn đảm bảo an toàn về môi trường và được sự chấp nhận của địa phương

Trang 40

1.3.5 Những việc cần giải quyết trong công tác QLCTR

- Để công tác quản lý CTR đạt được hiệu quả phải tiến hành động bộ nhiều giải pháp, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc thực hiện chương trình 3R hay 3T, xã hội hóa công tác quản lý CTR, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng các nhà máy xử lý chất thải rắn và đổi mới công nghệ xử lý Để làm tốt điều này, cần phải xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, nghiên cứu khoa học - công nghệ

và đặc biệt là tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn đầu tư cho các dự án xử lý CTR, nâng cao nhận thức cho toàn dân Về mặt pháp lý, cần nhanh chóng hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan, phân công đủ, đúng, rõ trách nhiệm cho các Bộ/ngành, tránh

sự chồng chéo, dẫn đến hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm khi sự việc phát sinh Song song với việc ban hành văn bản pháp luật thì khâu giám sát thực thi trách nhiệm và hình thức xử phạt cần phải được thực hiện nghiêm túc hơn

- Đẩy mạnh xã hội hóa và huy động cộng đồng tham gia việc thu gom, vận chuyển và xử lý CTR Có cơ chế khuyến khích đối với hoạt động giảm thiểu và tái chế chất thải, hỗ trợ cho khu vực tư nhân trong các dịch vụ quản lý chất thải bao gồm mở rộng các chương trình cho vay tín dụng nhỏ, phát triển thị trường cho các sản phẩm tái chế, phối hợp hoạt động giữa khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước, hỗ trợ hợp tác trong quản lý chất thải và tư vấn các hoạt động quản lý chất thải hợp lý

- Quy hoạch và lựa chọn các công nghệ xử lý CTR phù hợp, rà soát việc thực hiện nội dung quy hoạch xử lý CTR trong quy hoạch đô thị và các điểm dân cư nông thôn Xây dựng và thực hiện quy hoạch xây dựng khu xử lý CTR tới tận các làng xã nông thôn và có biện pháp huy động vốn nhằm giải quyết vấn đề này Áp dụng các công nghệ xử lý CTR tiên tiến, an toàn và phù hợp với điều kiện của từng địa phương, hạn chế chôn lấp

- Cần đẩy mạnh và đa dạng hóa nguồn đầu tư cho quản lý, xử lý CTR; tăng cường vận động tài trợ quốc tế; duy trì tính bền vững của các nguồn đầu tư để đảm bảo việc vận hành và quy trình các hệ thông thu gom và xử lý CTR được xây dựng Cần huy động các nguồn tài chính để hỗ trợ cho việc phát triển các công nghệ xử lý, tái chế CTR phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, khí hậu và tình trạng CTR của Việt Nam

- Nâng cao nhận thức cộng đồng khuyến khích hoạt động phân loại rác thải tại nguồn Ban hành và thực hiện các cơ chế hỗ trợ để người dân có cơ hội tham gia mô hình quản lý chất thải dựa vào cộng đồng: đảm nhận trách nhiệm phân loại, thu gom và

xử lý CTR Tổ chức thí điểm các chương trình, dự án phân loại CTR sinh hoạt tại nguồn trong cộng đồng dân cư, từ đó rút ra bài học để nhân rộng

Ngày đăng: 09/05/2014, 23:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam. Luật Bảo vệ môi trường 2005, NXB Chính trị Quốc gia 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ môi trường 2005
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia 2005
13. Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam. Quyết định số 271/2006/QĐ-TTg ngày 27/11/2006 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt “Điều chỉnh, bổ sung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 271/2006/QĐ-TTg
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2006
14. Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam. Quyết định số 1448/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1448/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2009
15. Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, (2010). Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020”; trong đó đề cập đến vấn đề “Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020”; "trong đó đề cập đến vấn đề “
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2010
16. Bộ Tài nguyên và Môi trường, (2004). Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
17. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo môi trường quốc gia 2008 - Làng nghề, Hà Nội 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia 2008 - Làng nghề
18. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo môi trường quốc gia 2009 - Môi trường khu công nghiệp), Hà Nội 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia 2009 - Môi trường khu công nghiệp)
19. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo môi trường quốc gia 2010 - Tổng quan Môi trường Việt Nam). Hà Nội 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia 2010 - Tổng quan Môi trường Việt Nam)
20. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo môi trường quốc gia 2011 - Chất thải rắn Hà Nội 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia 2011 - Chất thải rắn
28. Cục Thống kê TP Hải Phòng, (2010). Hải Phòng 55 năm xây dựng và phát triển, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Phòng 55 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Cục Thống kê TP Hải Phòng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2010
29. Cục Thống kê TP Hải Phòng, (2013). Niêm giám thống kê thành phố Hải Phòng các năm từ 2005 - 2012. Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Niêm giám thống kê thành phố Hải Phòng các năm từ 2005 - 2012
Tác giả: Cục Thống kê TP Hải Phòng
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2013
30. Chương trình hợp tác phát triển trong lĩnh vực Môi trường Việt Nam - Đan Mạch giai đoạn 2005 - 2010. Hợp phần “Phát triển bễn vững môi trường trong các khu đô thị nghèo”. Hướng dẫn kỹ thuật quy hoạch quản lý CTR đô thị; Hà Nội 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bễn vững môi trường trong các khu đô thị nghèo”. "Hướng dẫn kỹ thuật quy hoạch quản lý CTR đô thị
32. Dương Xuân Diệp, (2013). Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam: Thực trạng, bất cập chính sách và một số định hướng cho Luật bảo vệ môi trường sửa đổi. Viện Khoa học Quản lý Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam: Thực trạng, bất cập chính sách và một số định hướng cho Luật bảo vệ môi trường sửa đổi
Tác giả: Dương Xuân Diệp
Năm: 2013
33. Phạm Ngọc Đăng, Lê Trình, Nguyễn Quỳnh Hương, (2004). Đánh giá diễn biến và dự báo môi trường hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam, Đề xuất các giải pháp BVMT. NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá diễn biến và dự báo môi trường hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam, Đề xuất các giải pháp BVMT
Tác giả: Phạm Ngọc Đăng, Lê Trình, Nguyễn Quỳnh Hương
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2004
35. Hoàng Khánh Hoà, (2002). Nghiên cứu quy hoạch hệ thống xử lý CTR ở Lâm Đồng. UBND tỉnh Lâm Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quy hoạch hệ thống xử lý CTR ở Lâm Đồng
Tác giả: Hoàng Khánh Hoà
Năm: 2002
36. Nguyễn Đình Hương. Giáo trình Kinh tế chất thải. NXB Giáo dục 2006 37. Nguyễn Đức Khiển, Quản lý chất thải nguy hại. NXB Xây dựng 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Hương. Giáo trình Kinh tế chất thải. NXB Giáo dục 2006 "37. Nguyễn Đức Khiển, "Quản lý chất thải nguy hại
Nhà XB: NXB Giáo dục 2006 "37. Nguyễn Đức Khiển
38. Nguyễn Đức Khiển, Hồ Sĩ Nhiếp và cs. Công nghệ xử lý chế tái sử dụng chất thải rắn. NXB Xây dựng 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ xử lý chế tái sử dụng chất thải rắn
Nhà XB: NXB Xây dựng 2012
39. Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái, (2001). Quản lý chất thải rắn. Tập 1-Chất thải đô thị. NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải rắn. Tập 1-Chất thải đô thị
Tác giả: Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2001
40. Nguyễn Văn Phước. Giáo trình quản lý và xử lý chất thải rắn. NXB Xâydựng 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý và xử lý chất thải rắn
Nhà XB: NXB Xâydựng 2010
42. Trịnh Thị Thanh. Giáo trình công nghệ xử lý chất thải rắn nguy hại. NXB ĐH Quốc gia HN 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công nghệ xử lý chất thải rắn nguy hại
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia HN 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3. Quy trình công nghệ ủ sinh học quy mô công nghiệp xử lý CTR [40] - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Hình 1.3. Quy trình công nghệ ủ sinh học quy mô công nghiệp xử lý CTR [40] (Trang 18)
Hình 1.4. Hệ thống thiêu đốt chất thải [41] - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Hình 1.4. Hệ thống thiêu đốt chất thải [41] (Trang 19)
Hình 1.5. Công nghệ xử lý chất thải bằng phương pháp ép kiện - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Hình 1.5. Công nghệ xử lý chất thải bằng phương pháp ép kiện (Trang 20)
Hình 1.8. Hệ thống quản lý chất thải rắn tại Việt Nam - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Hình 1.8. Hệ thống quản lý chất thải rắn tại Việt Nam (Trang 36)
Hình 2.1. Mô hình quản lý tổng hợp chất thải   [42] - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Hình 2.1. Mô hình quản lý tổng hợp chất thải [42] (Trang 41)
Hình 2.2. Quy trình công nghệ chế biến phân bón từ rác thải [70] - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Hình 2.2. Quy trình công nghệ chế biến phân bón từ rác thải [70] (Trang 44)
Hình 2.3. Quy trình công nghệ chế biến phân bón từ rác thải - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Hình 2.3. Quy trình công nghệ chế biến phân bón từ rác thải (Trang 45)
Hình 3.1. Quy trình các bước lập quy hoạch quản lý CTR - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Hình 3.1. Quy trình các bước lập quy hoạch quản lý CTR (Trang 72)
Hình 4.1. Bản đồ hành chính huyện Thuỷ Nguyên - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Hình 4.1. Bản đồ hành chính huyện Thuỷ Nguyên (Trang 101)
Bảng 4.2. Thành phần  rác thải sinh hoạt huyện Thủy Nguyên - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Bảng 4.2. Thành phần rác thải sinh hoạt huyện Thủy Nguyên (Trang 115)
Hình 4.2. Sơ đồ một số mô hình ga chứa rác - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Hình 4.2. Sơ đồ một số mô hình ga chứa rác (Trang 129)
Hình 4.3. Sơ đồ hệ thống xử lý nước rỉ rác chôn lấp mới - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
Hình 4.3. Sơ đồ hệ thống xử lý nước rỉ rác chôn lấp mới (Trang 139)
Phụ lục 6. Sơ đồ địa hình huyện Thủy Nguyên - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
h ụ lục 6. Sơ đồ địa hình huyện Thủy Nguyên (Trang 164)
Phụ lục 10. Sơ đồ phân bố tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Thủy Nguyên - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
h ụ lục 10. Sơ đồ phân bố tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Thủy Nguyên (Trang 168)
Phụ lục 11. Sơ đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Thủy Nguyên - Nghiên cứu quy hoạch quản lý chất thải rắn quy mô cấp huyện áp dụng cho huyện Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng đến năm 2025
h ụ lục 11. Sơ đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Thủy Nguyên (Trang 169)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w