LỜI CAM ĐOAN LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Những thông tin, dữ liệu, số liệu đưa ra trong luận văn được trích[.]
CƠ SỞ LÝ LU Ậ N VÀ TH Ự C TI Ễ N V Ề QU Ả N LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH TH Ủ Y L Ợ I
T ổ ng quan chung
1 Khái niệm về quản lý
Quản lý là sự tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, trong đó chủ thể quản lý là những tổ chức và cá nhân, những nhà quản lý cấp trên còn đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý là những tổ chức, cá nhân , nhà quản lý cấp dưới, cũng như các tập thể, cá nhân người lao động Sự tác động trong mối quan hệ quản lý mang tính hai chiều và được thực hiện thông qua các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, lập kế hoạch, kiểm tra, điều chỉnh Thông thường quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động, bất kỳ một hoạt động nào mà do một tổ chức thực hiện đều cần có sự quản lý dù ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân thực hiện những chức năng chung
2 Khái niệm về quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi là một quá trình vận hành, sử dụng và quản lý các công trình thuỷ lợi nhằm đảm bảo cung cấp và tiêu thoát nước đúng kế hoạch tưới tiêu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho khu vực tưới tiêu, đồng thời theo dõi, kiểm tra, điều chỉnh để đảm bảo công trình thuỷ lợi an toàn, phát huy hiệu quả trong suốt thời gian sử dụng
3 Khái niệm về hệ thống công trình thuỷ lợi
Hệ thống công trình thuỷ lợi (dù lớn hay nhỏ) phục vụ tưới tiêu, cấp nước cho sản xuất, dân sinh thường bao gồm các hạng mục như: Công trình đầu mối; Mạng lưới kênh mương; Các công trình trên kênh a Công trình đầu mối bao gồm:
- Hồ chứa nước: Giữ nước mưa và dòng chảy của sông suối trong mùa mưa để sử dụng trong mùa khô Hồ chứa nước thường bao gồm các hạng mục: Đập ngăn nước, đập tràn xả nước thừa, cống lấy nước vào kênh dẫn
- Đập dâng: Ngăn nước của sông, suối để tạo mực nước cần thiết chảy trong kênh mương đến các khu cần tưới Đập dâng cùng với cống lấy nước đầu kênh tạo thành cụm đầu mối công trình đập dâng nước
- Cửa lấy nước không đập: Là hình thức lấy nước trực tiếp từ khe suối vào kênh dẫn đến các khu tưới mà không cần có đập dâng
- Trạm bơm: Trạm bơm nước từ nguồn nước vào kênh hoặc đường ống dẫn phục vụ sản xuất, dân sinh, (bao gồm bơm điện, bơm dầu, bơm thuỷ luân ) b Mạng lưới kênh mương bao gồm: kênh đất, kênh lát mái, kênh xây gạch, đá, kênh bê tông, kênh bằng đường ống các loại… (có độ dốc đảm bảo dẫn nước tự chảy thông suốt từ đầu mối đến mặt ruộng hoặc nơi cần cấp nước, tiêu nước) Kênh mương tưới là kênh mương làm nhiệm vụ dẫn nước tưới từ đầu mối đến mặt ruộng hoặc nơi cần cấp nước Mạng lưới kênh mương được chia thành các cấp kênh: kênh chính (kênh cấp I) dẫn nước từ đầu mối cấp vào các kênh nhánh (cấp II); Kênh nhánh cấp II cấp nước vào kênh nhánh cấp III; kênh nhánh cấp III cấp nước vào kênh nội đồng Kênh mương tiêu là kênh mương làm nhiệm vụ tiêu thoát nước chống sói lở, ngập úng c Các công trình trên kênh bao gồm: Cống lấy nước đầu kênh; Bể lắng cát kết hợp tràn xả nước thừa khi có lũ; Tràn qua kênh, kết hợp tràn nước thừa trong kênh; Ống dẫn xi phông; Cầu máng; Công trình chia nước; Cống tiểu câu
1.1.2 Vai trò, nhi ệ m v ụ c ủ a h ệ th ố ng công trình th ủ y l ợ i
1 Vai trò của hệ thống công trình thủy lợi
Hệ thống công trình thủy lợi đã góp phần quan trọng trong việc phục vụ sản xuất và dân sinh, bảo đảm an ninh lương thực, góp phần bảo vệ môi trường và phòng, chống giảm nhẹ thiên tai
2 Nhiệm vụ của hệ thống công trình thủy lợi
Nhiệm vụ cơ bản của hệ thống công thủy lợi là phục vụ nước tưới cho đất trồng lúa, rau màu các loại và cây công nghiệp ngắn ngày Công trình thuỷ lợi có nhiệm vụ chống hạn hán vào mùa khô hạn vì hệ thống công trình thuỷ lợi có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu nước, khô hạn kéo dài;
Hệ thống công trình thủy lợi còn có nhiệm vụ cấp nước cho diện tích nuôi trồng thuỷ sản;
Hệ thống công trình thủy lợi còn có nhiệm vụ tiêu thoát nước cho đất nông nghiệp và tiêu thoát nước cho khu dân cư ở thành thị và nông thôn, đặc biệt là chống ngập úng vào mùa mưa;
Hệ thống công trình thủy lợi còn góp phần ngăn mặn đất nông nghiệp nhất là khi triều cường lên xuống thất thường như hiện nay, cải tạo chua phèn, làm tăng diện tích canh tác;
Hệ thống thuỷ lợi có nhiệm vụ duy trì cấp nước sinh hoạt cho dân sinh và sản xuất công nghiệp với khối lượng và chất lượng cần thiết;
Hệ thống công trình thuỷ lợi còn có thể đảm bảo việc giao thông thuỷ; Dẫn và xử lý nước thải để bảo vệ nguồn nước tránh bị ô nhiễm;
Hệ thống công trình thuỷ lợi còn có nhiệm vụ phòng chống lũ lụt, bảo vệ bờ biển, tránh những thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước và của nhân dân;
Hệ thống công trình thủy lợi còn tạo điều kiện phát triển đa dạng hóa cây trồng, chuyển dịch cơ cấu, nâng hiệu suất sử dụng đất, phân bố lại nguồn nước tự nhiên, cải tạo đất, cải tạo môi trường theo chiều hướng có lợi cho sản xuất và sinh hoạt Bên cạnh đó, chăn nuôi cũng phát triển đa dạng, phong phú theo hướng hiệu quả kinh tế cao
Ngoài ra các hệ thống công trình thủy lợi còn góp phần điều hòa dòng chảy cho các dòng sông, ổn định dòng chảy mùa kiệt, bảo vệ môi trường nước, phát triển dịch vụ, du lịch
1.1.3 N ộ i dung c ủ a công tác qu ả n lý khai thác công trình th ủ y l ợ i
Nội dung cơ bản của công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi bao gồm:
- Quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình tưới tiêu nước, cấp nước theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo an toàn công trình (gọi tắt là Quản lý công trình);
- Thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích tưới tiêu, cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác trên cơ sở hợp đồng đặt hàng với cơ quan có thẩm quyền hoặc kế hoạch được giao (gọi tắt là Quản lý nước);
Các mô hình t ổ ch ức quản lý khai thác các hệ th ố ng công trình th ủ y l ợ i
Các mô hình tổ chức quản lý khai thác các hệ thống công trình thủy lợi ở nước ta bao gồm hai loại hình chính là: Tổ chức của nhà nước (Doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi, Trung tâm, Ban quản lý thủy nông) và các Tổ chức thủy nông cơ sở hay còn gọi là các tổ chức dùng nước (Hợp tác xã quản lý công trình thủy lợi, Tổ chức hợp tác sử dụng nước, Tổ thuỷ lợi, Đội thủy nông, Ban thuỷ lợi xã, Ban quản lý thuỷ nông xã, cá nhân quản lý công trình thủy lợi) Các tổ chức của nhà nước (chủ yếu là loại hình công ty khai thác công trình thủy lợi) quản lý, khai thác các công trình đầu mối, kênh chính của hệ thống thủy lợi có quy mô vừa và lớn, vận hành phức tạp Các công trình còn lại do các tổ chức thủy nông cơ sở quản lý bao gồm các hệ thống công trình có quy mô nhỏ hoặc hệ thống thủy lợi nội đồng thuộc các hệ thống lớn do các công ty khai thác công trình thủy lợi quản lý
1.2.1 Doanh nghi ệp nhà nướ c
1 Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước: Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập khi thấy cần thiết Việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo những ngành, lĩnh vực then chốt, xương sống của nền kinh tế dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm dó và chủtrương của Đảng và ngành nghềlĩnh vực đó
2 Doanh nghiệp Nhà nước khai thác công trình thủy lợi
Doanh nghiệp Nhà nước khai thác công trình thủy lợi ở nước ta trước đây là các Công ty Khai thác công trình thủy lợi, trực thuộc các tỉnh, thành phố hoặc trực thuộc trung ương và là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích; Nay hầu hết các Công ty khai thác công trình thủy lợi chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên khai thác thủy lợi và Công ty cổ phần có một phần vốn thuộc sở hữu nhà nước; Các công ty này hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp Về mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của các công ty này thì các công trình đầu mối, kênh trục chính quy mô lớn, liên huyện trở lên, do các doanh nghiệp nhà nước (chủ yếu là các Công ty TNHHMTV 100% vốn nhà nước) đảm nhận, được quy định tại Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg ngày 04/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về ban 5 hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước
Theo số liệu từ Tổng Cục thuỷ lợi tổng hợp báo cáo từ các địa phương trên toàn quốc, tính đến năm 2013 cả nước ta có 133 tổ chức nhà nước tham gia quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi; Các Doanh nghiệp nhà nước quản lý, khai thác thuỷ lợi phục vụ gần 70% diện tích tưới và hầu hết diện tích tiêu khu vực nông nghiệp
Có 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn được giao quản lý, khai thác 3 hệ thống thủy lợi liên tỉnh là Bắc Nam Hà, Bắc Hưng Hải, Dầu Tiếng - Phước Hòa Các doanh nghiệp còn lại trực thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi trong phạm vi tỉnh hoặc liên tỉnh theo sự phân cấp của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Loại hình tổ chức Doanh nghiệp nhà nước này có quy mô vừa và lớn, tương đối đa dạng bao gồm: có 92 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chiếm 69,1%; có
4 đơn vị là Công ty cổ phần chiếm 3,01%; Các doanh nghiệp này hiện nay hầu hết đã được chuyển đổi từ loại hình Công ty khai thác công trình thuỷ lợi (Công ty nhà nước trước đây) sang Công ty TNHH MTV khai thác công trình thuỷ lợi 100% vốn thuộc sở hữu nhà nước và mô hình Công ty cổ phần có phần vốn thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp Các tổ chức khác của Nhà nước gồm 37 đơn vị chiếm 28% (trong đó có 7 Trung tâm quản lý, khai thác thuỷ lợi của cấp tỉnh và cấp huyện; có 8 Ban quản lý khai thác thuỷ lợi của cấp tỉnh và cấp huyện; có 17 Trạm quản lý khai thác thuỷ lợi cấp huyện và có 5 Chi cục của các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang, Hậu Giang và Cà Mau tham gia trực tiếp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi)
Sự phân bố các loại hình doanh nghiệp giữa các vùng miền là không đồng nhất Số lượng doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi giữa các vùng miền không đồng đều, phụ thuộc vào số lượng hệ thống công trình của từng nơi
Doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi được thành lập để quản lý công trình đầu mối và hệ thống kênh chính, kênh cấp hai các hệ thống quy mô vừa và lớn, vận hành phức tạp Tổng hợp từ báo cáo của các địa phương trên toàn quốc, hiện có khoảng 80% doanh nghiệp có công trình quy mô từ liên huyện trở lên còn lại 20% doanh nghiệp có quy mô liên xã Các doanh nghiệp nhà nước khai thác công trình thuỷ lợi thực hiện việc cung cấp dịch vụ tưới, tiêu cho người dân thông qua hợp đồng với các Tổ chức Hợp tác dùng nước việc sản xuất và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích “Quản lý, khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi có quy mô lớn, bao gồm CTTL liên tỉnh, liên huyện; công trình thuỷ nông kè đá lấn biển” thực hiện theo phương thức đặt hàng hoặc giao kế hoạch Việc sản xuất và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích “Quản lý, khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi có quy mô vừa và nhỏ”, thực hiện theo phương thức đấu thầu hoặc đặt hàng Hoạt động tài chính thu chi của các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi tuân thủ theo quy định về quy chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp 100% vốn thuộc sở hữu Nhà nước, quy định tại Thông tư số 11/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính
1.2.2 Doanh nghi ệp tư nhân
1 Khái niệm doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Cá nhân chủ sở hữu đó chỉ được làm chủ sở hữu một doanh nghiệp tư nhân; không được đồng thời làm chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân khác hoặc chủ sở hữu hộ kinh doanh và thành viên hợp danh của công ty hợp danh; cá nhân chủ sở hữu tự quyết định cơ cấu tổ chức và đích thân trực tiếp quản lý, thực hiện các hoạt động kinh doanh và là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
2 Doanh nghiệp tư nhân khai thác công trình thủy lợi
Các công trình thuỷ lợi nhỏ, hệ thống kênh mương mặt ruộng, có thể giao cho Doanh nghiệp tư nhân trực tiếp quản lý khai thác công trình thủy lợi Theo phương thức hoạt động của các doanh nghiệp quản lý khai thác CTTL được quy định tại Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 về sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích, có thể áp dụng hình thức đấu thầu, đặt hàng hoặc giao kế hoạch trong quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi Tuy nhiên, hình thức Doanh nghiệp tư nhân trực tiếp quản lý khai thác CTTL chưa được áp dụng nhiều
Theo báo cáo tổng hợp của Viện khoa học thuỷ lợi Miền Nam (2013) Ở đồng bằng sông Cửu long là một trong những vùng tiên phong trong việc huy động Doanh nghiệp tư nhân đầu tư cung cấp dịch vụ công và trực tiếp quản lý khai thác công trình thủy lợi Điển hình cho hình thức này là mô hình ở tỉnh An Giang Ở đó, một bộ phận người dân lập ra, đóng góp cổ phần để mua máy móc, thiết bị, vật tư và cung cấp dịch vụ tưới tiêu cho nông dân theo hợp đồng kinh tế được thỏa thuận và ký kết trước mỗi vụ tưới Bên cạnh đó, UBND tỉnh An Giang cũng ban hành những chính sách ưu đãi rất cụ thể nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế trong xã hội đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh như Quyết định số 17/2008/QĐ-UBND ngày 21/5/2008 và sau đó được thay thế bằng Quyết định số 12/2009/QĐ-UBND của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư xây dựng hệ thống trạm bơm điện trên địa bàn tỉnh An Giang với những ưu đãi cụ thể như hỗ trợ lãi suất (50% lãi suất tín dụng đầu tư của nhà nước), xác lập quyền khai thác (từ 7-12 năm), hỗ trợ về thuế, tiền thuê đất, v.v đã mở ra cơ hội, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, nhờ vậy hiện nay có những tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đã mạnh dạn đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng các trạm bơm có quy mô phục vụ lên tới khoảng 1.800 ha
B ả ng 1.1 Các lo ạ i hình doanh nghi ệ p qu ả n lý
Miền núi phía Bắc 22 5 27 Đồng bằng sông Hồng 36 0 36
Duyên hải Nam Trung Bộ 8 0 8
Tây Nguyên 3 3 6 Đông Nam Bộ 8 3 11 Đồng bằng s Cửu Long 5 8 13
(Nguồn: Số liệu tổng hợp theo Báo cáo của Tổng cục thủy lợi, năm 2013)
1.2.3 T ổ ch ứ c th ủy nông cơ sở Đến đầu những năm 1990, chương trình quản lý tưới có sự tham gia của người dân (PIM) ở nhiều nước đã chứng minh rằng người dùng nước đóng vai trò quan trọng để vận hành và quản lý hệ thống thuỷ lợi hiệu quả Mô hình quản lý tưới có sự tham gia của người dùng nước là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công trong công tác quản lý công trình thủy lợi Tuy nhiên, sự tham gia của người dùng nước cần được thể hiện thông qua các tổ chức phù hợp Ở nước ta hiện nay, đối với các công trình thuỷ lợi nhỏ, hệ thống kênh mương mặt ruộng, hầu hết được giao cho các tổ chức quản lý thủy nông ở địa phương quản lý, khai thác Các tổ chức quản lý thủy nông ở địa phương đã tạo nên một hệ thống tổ chức quản lý tưới theo hướng có sự tham gia của người dùng nước rất đa dạng Đó là tổ chức thủy nông cơ sở hay còn gọi là các tổ chức dùng nước, bao gồm (Hợp tác xã nông nghiệp quản lý công trình thủy lợi, Tổ chức hợp tác sử dụng nước, Tổ thuỷ lợi, Tổ đường nước, Đội thủy nông, Ban thuỷ lợi xã, Ban quản lý thuỷ nông, cá nhân quản lý công trình thủy lợi… được cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc đồng ý cho thành lập, hoặc có giấy phép đăng ký kinh doanh, hoặc được đại hội xã viên thông qua quy chế, điều lệ hoạt động) Cơ quan thành lập, hoặc đồng ý cho thành lập là Uỷ ban nhân dân cấp huyện Uỷ ban nhân dân cấp huyện có thể ủy quyền cho UBND cấp xã nơi đơn vị đóng trụ sở chính quyết định thành lập hoặc đồng ý thành lập
Về hoạt động của Tổ chức thuỷ nông cơ sở, được hướng dẫn theo quy định của Luật Hợp tác xã (nếu các tổ chức này là các Hợp tác xã) hoặc quy định tại Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ về hoạt động của tổ hợp tác Liên quan đến hoạt động quản lý khai thác công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành các văn bản, như: Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT ngày 12/10/2009 hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi; Thông tư số 56/2010/TT-BNNPTNT ngày 1/10/2010 quy định một số nội dung trong hoạt động của các tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi; Thông tư số 40/2011/TT-BNNPTNT ngày 27/5/2011 quy định năng lực tổ chức, cá nhân tham gia quản lý khai thác công trình thủy lợi; Quyết định số 2891/QĐ-BNN-TL ngày 12/10/2009 hướng dẫn xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật trong công tác quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
Theo số liệu báo cáo của Tổng cục thủy lợi (2013), cả nước có 16.238 Tổ chức dùng nước bao gồm 3 loại hình chủ yếu là: Hợp tác xã quản lý công trình thủy lợi; Tổ chức hợp tác gồm Hội sử dụng nước, Tổ hợp tác, Tổ, Đội thủy nông; và Ban quản lý thủy nông Trong đó, Hợp tác xã và Tổ chức hợp tác là hai loại hình chính chiếm tới 90% tổng số Tổ chức dùng nước Loại hình Hợp tác xã (HTX) có 6.270 đơn vị chiếm 39% tổng số tổ chức dùng nước, trong đó, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là loại hình phổ biến chiếm 95% số hợp tác xã, Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông chỉ chiếm khoảng 5% Loại hình Hợp tác xã làm dịch vụ thủy lợi phân bố hầu hết ở 7 vùng miền trong cả nước, chủ yếu tập trung (82%) ở vùng Đồng bằng sông Hồng (47%), Bắc Trung bộ (22%) và Miền núi phía Bắc (12%) Đối với Tổ chức hợp tác, hiện có 8.341 đơn vị, chiếm 51% Loại hình này xuất hiện phổ biến ở các tỉnh thuộc vùng Miền núi phía Bắc (40%) và Đồng bằng sông Cửu Long (39%) Ban quản lý thủy nông có 1.627 đơn vị, chiếm 10% tổng số Tổ chức dùng nước Loại hình này tập trung phần lớn ở vùng Miền núi phía Bắc (54%) và Bắc Trung Bộ (17%) Một số đặc điểm về thực trạng tổ chức và hoạt động của các loại hình tổ chức dùng nước được phân tích như dưới đây:
- Loại hình Hợp tác xã quản lý công trình thủy lợi: Các HTX quản lý công trình thủy lợi hoạt động theo luật Hợp tác xã nên có con dấu, tài khoản, giấy phép đăng ký kinh doanh, có điều lệ và quy chế hoạt động, có trụ sở làm việc Hoạt động của HTX làm dịch vụ thủy lợi bao gồm hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp, phổ biến là 5 đến 10 dịch vụ, trong đó dịch vụ thủy lợi là chủ yếu Phần lớn các HTX dịch vụ nông nghiệp đang hoạt động bình thường đảm bảo tưới tiêu sản xuất nông nghiệp Nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí đã tạo điều kiện cho các hoạt động thủy lợi nói chung cũng như việc quản lý khai thác công trình cho các HTX quản lý công trình thủy lợi nhỏ độc lập ngày một thuận lợi, công tác tưới, tiêu ngày càng chủ động, phục vụ tốt hơn yêu cầu sản xuất
Nh ữ ng nhân t ố ảnh hưởng đến công tác quản lý khai thác công trình
1 Yếu tố về con người quản lý, tổ chức quản lý và sử dụng: Là sự kết hợp giữa quản lý của chính quyền địa phương với cộng đồng người hưởng lợi từ công trình thuỷ lợi tức là sự đồng nhất giữa người quản lý và người sử dụng công trình; Trình độ chuyên môn kỹ thuật và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi; Trình độ, nhận thức của người nông dân cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi và hiệu quả của công trình
2 Yếu tố về môi trường xã hội: Bao gồm các đặc điểm và các yếu tố xã hội liên quan đến người sử dụng như tính cộng đồng, trình độ kỹ thuật, tập quán canh tác của nông dân Đặc biệt những người dễ bị tổn thương có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản lý và sử dụng công trình thủy lợi
3 Yếu tố kỹ thuật: Bao gồm công nghệ được áp dụng vào công trình thủy lợi, các loại hình công trình thuỷ lợi như: Tưới tiêu tự chảy hay Tưới tiêu bằng bơm nước, tưới ngầm, tưới ẩm, tưới phun hay tưới tràn
Bất cứ loại công trình xây dựng nào do con người tạo nên cũng không thể tồn tại mãi mãi mà bị hư hỏng xuống cấp theo thời gian Điều kiện tự nhiên như địa hình, địa chất, khí tượng thủy văn có ảnh hưởng sâu rộng đến quy mô, hình thức kết cấu, điều kiện làm việc lâu dài của công trình thủy lợi Điều kiện tự nhiên ở mỗi nơi, mỗi vùng, miền khác nhau cho nên mỗi công trình thủy lợi nào cũng có những đặc điểm riêng Thực tế xây dựng công trình thủy lợi nếu tài liệu thủy văn đánh giá không đầy đủ, không chính xác thì công trình thủy lợi được xây dựng nhưng khả năng tháo lũ không đủ, gây nguy hiểm cho công trình khi gặp lũ lớn
Môi trường pháp lý là những cơ sở pháp lý mà các tổ chức, cá nhân phải căn cứ vào đó để thực hiện công việc quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, đảm bảo cho hoạt động của tổ chức, cá nhân phù hợp với những qui định của pháp luật Môi trường pháp lý là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng tới công tác thủy lợi Các văn bản pháp luật liên quan liên quan trực tiếp đến công tác thuỷ lợi như Luật Đê điều số 79/2006/QH11 được Quốc hội Khóa XI thông qua ngày 29/11/2006 ; Luật Tài nguyên nước năm 1998 quy định các hoạt động quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra và Luật Tài nguyên nước sửa đổi năm 2012; Luật phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13 quy định về hoạt động phòng chống thiên tai, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động phòng chống thiên tai, quản lý nhà nước và nguồn lực bảo đảm việc thực hiện phòng chống thiên tai; Tuy nhiên văn bản Luật là văn bản pháp luật quan trọng nhất về thủy lợi thì chưa được ban hành Văn bản pháp lý hiện nay để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi là Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi, được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX thông qua ngày 31/8/1994 Qua quá trình thực hiện, từ thực tiễn của nhiệm vụ khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, Pháp lệnh đã được bổ sung, điều chỉnh và được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X đã thông qua tại văn bản số 32/2001/PL-UBTVQH10 ngày 4/4/2001
Các văn bản dưới luật được ban hành nhìn chung bảo đảm tính khả thi và đáp ứng kịp thời yêu cầu thuỷ lợi phục vụ sản xuất và dân sinh Tuy nhiên, nhiều địa phương ban hành các văn bản chi tiết để thực thi các nội dung về quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi còn chậm Một số nội dung của Pháp lệnh có nội dung phức tạp cũng được ban hành, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, tuy nhiên kết quả còn hạn chế, như việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi Đối với công tác quy hoạch, kế hoạch, đầu tư xây dựng thuỷ lợi, hiện nay đang được các địa phương vận dụng vào thực hiện theo các quy định của Luật Xây dựng, không có Luật nào điều chỉnh về công tác quy hoạch, kế hoạch và đầu tư xây dựng thuỷ lợi với đặc thù riêng của công tác thuỷ lợi
3 Tác động trực tiếp của nước đến công trình thủy lợi
- Tác động cơ học của nước tới công trình thủy lợi là áp lực nước ở dạng tĩnh hoặc động Trong đó, áp lực thủy tĩnh thường là lớn nhất và thường đóng vai trò quyết định đến điều kiện làm việc và ổn định của công trình
- Tác động lý, hóa học của nước thể hiện ở nhiều dạng khác nhau như dòng nước có thể bào mòn công trình, đặc biệt khi dòng nước có lưu tốc lớn và nhiều bùn cát Ở nơi có lưu tốc lớn và do kết cấu công trình thủy lợi có thể sinh ra lưu vực chân không, gây hiện tượng xâm thực bề mặt công trình Các bộ phận làm bằng kim loại có thể bị rỉ, phần bê tông có thể bị nước thấm xâm thực Dưới tác động của dòng nước làm cho nền công trình có thể bị sói mòn cơ học, hóa học lôi cuốn đất làm rỗng nền, hoặc hòa tan các chất trong nền có thạch cao, muối và các chất hòa tan khác
- Tác động sinh học của nước: Các sinh vật sống có thể bám vào các công trình thủy lợi làm mục nát gỗ, bê tông, đá, mối làm rỗng thân đê, thân đập, làm sập nền công trình
T ổ ng quan v ề qu ả n lý khai thác các công trình th ủ y l ợ i ở Vi ệ t Nam
Trong phát triển nông nghiệp, thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu, nhờ có công trình thủy lợi, đã tạo điều kiện đưa khoa học kỹ thuật vào thực tế, nhất là giống, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ
Theo thống kê năm 2012, ở nước ta đã xây dựng được hàng ngàn hệ thống công trình thủy lợi, gồm: 6.648 hồ chứa các loại, khoảng 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới tiêu lớn, 234.000 km kênh mương, 25.960 km đê các loại Trong đó, có 904 hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu từ 200 ha trở lên Nhiều hệ thống công trình thủy lợi lớn đã được đầu tư xây dựng để phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Tổ chức Nông – Lương thế giới (FAO) đã nghiên cứu về mô hình quản lý thủy lợi ở nhiều nước Các nghiên cứu, tổng kết của các tổ chức và FAO đều rút ra ba mô hình phổ biến là: Mô hình nhân dân quản lý hệ thống thủy lợi; Mô hình Nhà nước quản lý toàn bộ hệ thống thủy lợi; Mô hình Nhà nước và nhân dân cùng quản lý hệ thống thủy lợi Đặc trưng của các mô hình này như sau:
- Mô hình nhân dân quản lý hệ thống thủy lợi: Đây là hình thức quản lý mà người dân (hay người dùng nước) tự đảm nhận Người dùng nước tự lập ra hội dùng nước (HDN) để quản lý hệ thống thủy lợi Người dùng nước là tổ chức tập thể của những người hưởng lợi Hội dùng nước thực hiện quản lý vận hành toàn bộ hệ thống thủy lợi theo tập quán từ lâu đời Các quốc gia áp dụng mô hình quản lý như thế này gồm có Mỹ, Tây Ban Nha, Indonexia, Apganistan, Chi lê…
Chính quyền Nhà nước không can thiệp vào công việc nội bộ của HDN, Nhà nước chỉ khuyến khích và tạo mọi điều kiện về pháp lý và điều kiện thuận lợi cho HDN hoạt động đạt kết quả Tất cả các chi phí cho vận hành hệ thống thủy lợi là do hội nghị HDN bàn bạc công khai quyết định theo tình hình thực tế Các hội viên và người hưởng lợi đều phải đóng góp để bảo đảm các chi phí này
Hội người dùng nước có điều lệ, trong đó quy định về cơ cấu tổ chức Cơ cấu của hội gồm có ban quản trị, có tổ hoặc ban hòa giải, có các phòng ban giúp việc hội, có các tổ đội vận hành, tu sửa công trình, dẫn nước vào nơi tiêu thụ Tất cả các nhân viên này đều do hội nghị hội viên của hội bàn bạc và bầu ra
- Mô hình Nhà nước quản lý toàn bộ hệ thống thủy lợi: Loại hình tổ chức này là tổ chức doanh nghiệp Nhà nước quản lý toàn bộ hệ thống thủy lợi Tổ chức này được thực hiện nhiều ở Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Bolivia, Austraylia, Kenia, Việt Nam, Trung Quốc, Liên xô cũ và các quốc gia Đông Âu
Nguồn thu của doanh nghiệp Nhà nước bao gồm phần đóng góp của nông dân và các khoản trợ cấp của Nhà nước Số tiền này ít khi được sử dụng đúng mục đích Nhà nước cũng không thể kiểm soát được việc sử dụng tài chính và các hiện tượng quan liêu đối với ban quản lý và doanh nghiệp loại này
Nhiệm vụ của doanh nghiệp Nhà nước do cơ quan Trung ương, Bộ Nông nghiệp, Bộ Thủy lợi hay Ban giao thông công chính phê duyệt
- Mô hình Nhà nước và nhân dân cùng quản lý hệ thống thủy lợi: Hình thức quản lý này được phân chia như sau: Nhà nước quản lý công trình đầu mối và trục kênh chính lớn, HDN của nông dân quản lý phần kênh nhánh còn lại Hình thức quản lý này tương đối phổ biên ở các quốc gia Viễn Đông và Châu Á
Nhưng trong thực tế, nhiều năm nay nguồn vốn đầu tư của trung ương và địa phương cho thủy lợi miền núi đều ở mức rất thấp Nhiều công trình làm mới, do đầu tư dàn trải, nhỏ giọt, kéo dài thời gian xây dựng, vừa giảm hiệu quả vốn đầu tư, vừa lãng phí và gây rất nhiều khó khăn cho chủ đầu tư cũng như các đơn vị thi công
Vấn đề này cần được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương và Nhà nước quan tâm, cân đối đầu tư cho hợp lý giữa xây dựng mới và nâng cấp các công trình thủy lợi hiện có Khoản kinh phí này cần được huy động từ nhiều nguồn Tùy theo quy mô và yêu cầu kỹ thuật của từng công trình mà phân bổ cơ cấu đầu tư của trung ương, tỉnh, huyện và dân đóng góp cho phù hợp việc nâng cấp đồng bộ Bên cạnh đó, cần xây dựng chính sách và cơ chế thu thủy lợi phí phù hợp thực tế để có nguồn kinh phí duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên cho công trình phục vụ được ổn định, lâu dài Mặt khác, cần đổi mới và kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở các địa phương, cơ sở, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, nhân viên quản lý, vận hành công trình Ðể làm tốt vấn đề này, mỗi phòng nông nghiệp huyện đều phải có ít nhất một cán bộ kỹ thuật thủy lợi (nhiều huyện hiện nay không có cán bộ kỹ thuật thủy lợi để hướng dẫn quy trình vận hành và xử lý khi công trình gặp sự cố) Ðầu tư kinh phí nâng cấp công trình, đổi mới và kiện toàn bộ máy quản lý, khai thác công trình thủy lợi từ tỉnh xuống đến huyện, xã và xây dựng cơ chế chính sách thủy lợi phí là ba biện pháp cần thực hiện đồng bộ là yêu cầu đặt ra với công tác thủy lợi ở các tỉnh miền núi thời kỳ CNH, HÐH đất nước trong những năm tới.
Kinh nghi ệm quản lý khai thác các công trình thủ y l ợ i ở m ộ t s ố đị a phương
Từ những năm đầu thập niên 90 của Thế kỷ trước, nhiều nước trên Thế giới đã bắt đầu chuyển giao cho nông dân quản lý hệ thống tưới tiêu Tại hội thảo về chuyển giao quản lý thủy lợi tại Châu Á do tổ chức Nông lương thế giới (FAO) và Viện Quản lý nước Quốc tế (IWMI) tổ chức tại Thái Lan năm 1995, các đại biểu đã thảo luận và tổng kết 4 lý do dẫn đến việc nhiều nước thực hiện chính sách chuyển giao quản lý thủy lợi trong những năm qua, đó là: 1)Kinh phí của Nhà nước cấp không đủ đáp ứng các nhu cầu của công tác quản lý, vận hành, duy tu bảo dướng và sửa chữa các hệ thống thủy lợi 2)Việc thu thủy lợi phí của các doanh nghiệp nhà nước rất khó khăn 3)Các hệ thống tưới do các doanh nghiệp nhà nước quản lý có hiệu quả thấp 4) Trình độ của người nông dân ngày càng được nâng lên và nếu được tổ chức lại thì họ sẽ có khả năng tiếp thu việc quản lý công trình
Vậy cần phải chuyển giao quản lý thuỷ lợi từ hệ thống do Cơ quan Nhà nước quản lý sang cho Tổ chức dùng nước quản lý Hiện nay chuyển giao quản lý thủy lợi đang diễn ra ở nhiều nước trên Thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển tại Châu Á và Châu Phi nhằm nâng cao hiệu quả và tăng tính bền vững của các hệ thống thủy lợi Ở một số quốc gia, các doanh nghiệp Nhà nước quản lý công trình thủy lợi tồn tại lâu dài Nhưng có một số quốc gia, các doanh nghiệp Nhà nước chỉ quản lý vận hành công trình một số năm đầu, khi công trình mới hoàn thành Sau đó hệ thống thủy lợi được chuyển giao cho Tổ chức dùng nước của nông dân quản lý
Từ năm 1987 Chính phủ đã công bố một danh sách theo đó công trình có diện tích từ 500 ha trở xuống lần lượt được chuyển giao cho các hộ dùng nước Các bước trình tự chuyển giao đã được thảo luận và làm thử trên một số công trình Một khung chung cho việc chuyển giao đã được Bộ các công trình công cộng hướng dẫn Có thể tóm tắt các bước này như sau:
- Kiểm kê đánh giá cơ sở vật chất của các công trình sẽ bàn giao
- Đào tạo cán bộ làm công tác chuyển giao
- Hướng dẫn nông dân cùng tham gia vào quy hoạch thiết kế, cùng đóng góp vào để khôi phục công trình, trong đó nông dân đóng góp vật liệu địa phương và công lao động
- Thành lập hội những người dùng nước
- Chuyển giao công trình cho hội những người dùng nước
- Chính phủ hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ sau khi chuyển giao như đào tạo, huấn luyện, cho vay vốn,…
Giữa những năm 70 và đầu năm 80 của thế kỷ trước Trung Quốc có 2 cuộc khủng hoảng về thủy lợi đó là: Sự xuống cấp các hệ thống và thiếu nguồn nước Bộ thủy lợi Trung Quốc đã đề xướng chương trình đánh giá về sự xuống cấp của các hệ thống thủy lợi và tìm ra nguyên nhân của tình trạng này vào năm 1990 Từ đánh giá đó, Trung Quốc đã đề ra các biện pháp sau: Năm 1990 ra Luật nước, đưa ra phạm vi những vùng được quản lý và bảo vệ cho các công trình thủy lợi: Cách mạng về thủy lợi phí (1980) (năm 1994 có điều chỉnh sâu sắc hơn – thiết lập hệ thống quản lý); định giá cho quản lý vận hành hệ thống; thiết lập các phương pháp tính toán trong quản lý; điều hành quản lý và điều khiển cấp Quốc gia; chuyển giao quản lý thủy lợi cho nông dân; đào tạo cán bộ quản lý cho nông dân…
Philippine có khoảng 1,53 triệu ha được tưới (tổng số 3,13 triệu ha đất canh tác), trong đó: Các hệ thống thủy lợi của Nhà nước tưới cho 647.000 ha, của các xã 734.000 ha và của tư nhân đảm nhiệm là 152.000 ha
Năm 1980 Philippine đã nhận thấy hiệu quả tưới của các công trình rất thấp và thủy lợi phí cũng được thu rất thấp Do vậy từ năm 1980 cơ quan quản lý thủy lợi Quốc tế (NIA) đã tập trung mọi cố gắng vào tổ chức người nông dân tham gia quản lý vận hành các hệ thống thủy lợi của Nhà nước (NIS) Trong hơn mười năm qua nó là điểm đổi mới trong các hệ thống thủy lợi Quốc gia
Năm 1993 cơ quan quản lý thủy lợi Quốc gia của Philippine đã tiến hành đánh giá hiệu quả của việc chuyển giao quản lý thủy lợi Kết quả đánh giá cho thấy tại những công trình được chuyển giao, tỷ lệ thu thủy lợi phí đạt cao hơn, năng suất cây trồng tăng và chi phí cho quản lý giảm
1 Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là tỉnh miền núi nên địa hình phức tạp, diện tích đất nông nghiệp phân bố dàn trải, phân tán trên một phạm vi rộng, ít có các khu vực sản xuất tập trung lớn, đất trồng lúa là 26.577 ha, trồng màu 19.266 ha, nuôi trồng thuỷ sản 1.849 ha Vì vậy Tuyên Quang có rất nhiều công trình thủy lợi và hầu hết là công trình nhỏ UBND tỉnh Tuyên Quang đã thành lập Ban Quản lý khai thác công trình thủy lợi Tuyên Quang Ban quản lý khai thác CTTL Tuyên Quang là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Chi cục Thuỷ Lợi - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện chức năng quản lý khai thác CTTL trên phạm vi toàn tỉnh Cùng với việc kiện toàn, các Ban quản lý được phân cấp trong công tác quản lý các công trình theo đúng năng lực, quy mô Hiện nay, toàn tỉnh Tuyên Quang có 01 Ban quản lý công trình thủy lợi cấp tỉnh và 147 ban quản lý thủy lợi cơ sở Có chủ quản lý nên các công trình được quan tâm duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên Với gần 2.800 công trình thủy lợi toàn tỉnh, chủ yếu là công trình nhỏ, nhiều công trình tạm, phân tán, diện tích tưới manh mún thì việc phân cấp quản lý đã phát huy được vai trò, trách nhiệm của các ban quản lý; từng bước khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, đặc biệt là công tác quản lý sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí
Tính đến năm 2015, toàn tỉnh Tuyên Quang có 2.723 công trình thủy lợi có diện tích tưới từ 1 ha trở lên, bao gồm: 506 hồ chứa nước, 851 đập dâng xây kiên cố, 213 đập dâng rọ thép, 78 trạm bơm các loại, 1.075 công trình có đầu mối là phai tạm; hệ thống kênh mương tự chảy có tổng chiều dài 3.449 km trong đó có 1.921 km kênh xây và 1528 km kênh đất đảm bảo tưới chắc cho trên 17.200 ha lúa đông xuân, 20.403 ha lúa mùa, 2.938 ha rau màu và cấp nước cho 218,9 ha nuôi trồng thủy sản Theo thống kê hàng năm, đã có hàng chục tỷ đồng tiền cấp bù thủy lợi phí từ nguồn ngân sách của nhà nước được rót về các địa phương Riêng trong năm
2015, ban quản lý công trình thủy lợi tỉnh tiếp nhận trên 39 tỷ đồng kinh phí cấp bù thủy lợi phí, trong đó đợt 1 là trên 22 tỷ đồng và đợt 2 là 17 tỷ đồng Từ khi có nguồn kinh phí hỗ trợ thủy lợi phí, việc phân bổ, phân cấp, giao trách nhiệm quản lý, khai thác các công trình thủy lợi đã được bảo đảm, điều này đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, góp phần đưa diện tích cấp nước của các CTTL tăng lên rõ rệt Thống kê năm 2015, các công trình thủy lợi đã đảm bảo tưới chắc cho trên 17.000 ha lúa đông xuân và trên 19.000 ha lúa vụ mùa, tỷ lệ diện tích được tưới hiện nay đã đạt 82,64%, tăng 2,8% so với năm 2011; hàng năm vào mùa khô hạn đã hạn chế đáng kể diện tích không có nước tưới Song song với việc cung cấp nguồn nước tưới trong sản xuất nông nghiệp, các công trình thủy lợi cũng đã đáp ứng cơ bản chức năng phòng chống lụt bão, hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra đối với cộng đồng dân cư Công tác Quản lý khai thác CTTL hiện có đã được UBND tỉnh xác định là nhiệm vụ hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp, giữ vững ổn định chính trị xã hội, đặc biệt là thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo Với phương châm phân cấp mạnh, phân cấp triệt để nhằm huy động sự tham gia của người hưởng lợi và đổi mới cơ chế quản lý với quan điểm trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho tổ chức thủy nông cơ sở, thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch …đã nhận được sự đồng tình ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Người hưởng lợi được trực tiếp tham gia trong tất cả các khâu từ xây dựng đến quản lý, khai thác, bảo vệ công trình đã giảm đáng kể vốn đầu tư của nhà nước Công trình được củng cố nâng cấp ngày càng tốt hơn, nguồn nước tưới luôn đảm bảo, diện tích tưới ngày tăng lên tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng giống mới, thâm canh tăng vụ, góp phần tăng năng suất, sản lượng cây trồng và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và thủy lợi phí thu được ngay càng nhiều hơn Tỉnh Tuyên Quang được đánh giá là một điển hình, tiến tiến về quản lý khai thác CTTL, thời gian qua đã có nhiều cơ quan tổ chức trong và ngoài nước về nghiên cứu, học tập kinh nghiệm
2 Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở tỉnh Thái Nguyên
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT, hiện nay toàn tỉnh Thái Nguyên có trên 1.214 công trình thủy lợi lớn, nhỏ Trong đó có 413 hồ chứa nước, 409 đập dâng kiên cố, 109 công trình phai đập, 283 công trình trạm bơm tưới Hệ thống công trình đảm bảo tưới được 94.116 ha trên tổng số 121.710 ha gieo trồng (đạt 77%) Trong đó: Diện tích tưới cho lúa: 66.037 ha và tổng số diện tích tưới cho cây trồng khác: 28.079 ha
Phân cấp quản lý khai thác: Từ năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã phân cấp, giao cho Công ty TNHH Một thành viên khai thác thủy lợi Thái Nguyên quản lý 74 công trình thủy lợi (bao gồm 36 hồ chứa, 33 đập dâng, 4 trạm bơm tưới và 01 trạm bơm tiêu) Còn lại 1.140 danh mục công trình thuỷ lợi được giao cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã quản lý Hiện tại Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Thái Nguyên với số lượng 1.959 người (trong đó trình độ trên đại học 3 người, đại học 117 người, cao đẳng 7 người, trung cấp 89 người, sơ cấp 73 người còn lại là công nhân hợp đồng chưa qua đào tạo) Số công trình thuỷ lợi được giao cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã quản lý và hệ thống kênh mương nội đồng được 296 tổ quản lý thủy nông cơ sở trực tiếp quản lý vận hành khai thác
Tổng kinh phí thực hiện hỗ trợ thủy lợi phí giai đoạn 2011 – 2014 là trên 270 tỷ đồng Chính sách thủy lợi phí đã được tỉnh Thái Nguyên triển khai kịp thời, đúng đối tượng tạo điều kiện cho các địa phương tập trung hơn cho công tác đầu tư, quản lý, khai thác các hệ thống công trình thuỷ lợi, từ đầu mối đến kênh mương hiện có, đổi mới nâng cao năng lực quản lý điều hành nhằm phát huy tối đa hiệu quả của các công trình sau đầu tư; Tình trạng nợ đọng thuỷ lợi phí cũng hoàn toàn chấm dứt
Thực hiện tốt công tác quản lý khai thác CTTL đã góp phần quan trọng đưa diện tích lúa và hoa mầu được đảm bảo tưới từ công trình thủy lợi không ngừng tăng, từ 83.000 ha (năm 2010) lên 94.100 ha (năm 2014).
T ổ ng quan nh ữ ng công trình nghiên c ứ u có liên qu an đến đề tài
Có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cho các tổ chức thuỷ nông cơ sở trên địa bàn tỉnh Lào Cai”, gồm các nghiên cứu sau:
- Bài báo “Giải pháp nâng cao năng lực quản lý khai thác CTTL cho các tổ chức quản lý thuỷ nông cơ sở, năm 2008 của TS Đoàn Thế Lợi thuộc Viện Kinh tế và Quản lý thủy lợi đã nêu lên được hiệu quả hoạt động của các hệ thống công trình thủy lợi chưa tương xứng với tiềm năng và năng lực thiết kế mà nguyên nhân chính được cho là cơ chế chính sách quản lý còn nhiều bất cập
- Đề tài nghiên cứu cấp bộ: Mô hình quản lý tưới hiệu quả cho vùng đồng bằng sông cửu long” năm 2010 của Đặng Minh Tuyến Trung tâm tư vấn PIM – Viện KHTLVN đã nêu được các vấn đề bất cập trong mô hình quản lý tưới hiệu quả của đồng bằng sông cửu long (ĐBSCL) Thực tiễn cho thấy, để lựa chọn, phát triển được các mô hình quản lý tưới hiệu quả, cần có chính sách đồng bộ phù hợp với từng địa phương, sự vào cuộc của chính quyền và người dân với vai trò người dân là trung tâm Những kết quả bước đầu về thành lập các tổ chức dùng nước, chương trình phát triển bơm điện và mô hình xã hội hóa, hợp tác công tư ởđồng bằng sông cửu long là hướng đi đúng cần được tổng kết, ban hành thành chính sách để phổ biến trên diện rộng Một số giải pháp về cơ chế chính sách và mô hìnhquản lý thủy nông cơ sở được đề xuất trong bài viết này là cơ sở bước đầu để các cơ quan quản lý nhà nước, địa phương vùng đồng bằng sông cửu long tham khảo, xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển TCDN phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả công trình thủy lợi
- Bài báo: “Cơ hội, thách thức và các giải pháp nâng hiệu quả dịch vụ thuỷ nông trong giai đoạn mới” năm 2008 của TS Đinh Vũ Thanh, Vụ Khoa học công nghệ và PGS.TS Hà Lương Thuần, Viện Khoa học Thủy lợi Thực hiện miễn giảm thuỷ lợi phí cho nông dân theo chủ trương của Nhà nước nhằm nâng cao mức sống của nông dân, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường, có những tác động tích cực trong đời sống xã hội Trong bối cảnh đó, việc quản lý thuỷ nông cũng cần có những thay đổi về nhiều mặt, cả về cơ chế chính sách, tổ chức quản lý, hạ tầng cơ sở, cũng như về quản lý tài chính Bài viết này giới thiệu cơ hội và thách thức đối với quản lý thuỷ nông và một số kết quả nghiên cứu cơ sở và đề xuất giải pháp cũng như những về đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ thuỷ nông trong giai đoạn hiện nay
Trong quá trình phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung, công tác thuỷ lợi luôn có vị trí quan trọng và nhận được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước cùng với sự đóng góp công sức của nhân dân Nhờ có CTTL đã tạo điều kiện đưa khoa học kỹ thuật vào thực tế, nhất là giống, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ Trước đây, nhiều khu vực ở miền núi, Trung bộ, Tây nguyên, Đông Nam bộ hầu hết dựa vào nước "trời", đến nay phần lớn diện tích gieo trồng lúa, và một phần diện tích của cây trồng cạn đã được tưới nước từ CTTL Công tác thuỷ lợi đã góp phần ổn định sản xuất, giữ vững và nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực, xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực, trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới
Từ những vai trò, yêu cầu cấp thiết đối với công tác thuỷ lợi, đòi hỏi phải có những phương thức quản lý khai thác phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của công trình thuỷ lợi Ở nước ta đã hình thành rất nhiều mô hình quản lý khai thác CTTL, tuy nhiên không phải mô hình nào cũng mang lại hiệu quả như mong muốn, bên cạnh những mô hình phát huy hiệu quả vẫn còn những mô hình hoạt động kém, chưa đáp ứng được nhu cầu, hiệu quả tưới thấp Từ thực tế và từ nhiều nghiên cứu đã nhận thấy rằng: Duy trì quản lý tập trung các hệ thống thủy lợi là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiệu quả tưới thấp Do vậy, hệ thống quản lý tưới cần được cải cách để nâng cao hiệu quả tưới, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp Công tác quản lý khai thác và bảo vệ các CTTL được xem là giải pháp tối ưu về kinh tế, kỹ thuật và là yếu tố quyết định đến hiệu quả, sự bền vững của các công trình
Tổng quan về công tác quản lý công trình thuỷ lợi, Các mô hình tổ chức quản lý khai thác các hệ thống CTTL, những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi và những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài được trình bày trong chương 1 nhằm giới thiệu một cái nhìn tổng thể và là cơ sở để đánh giá thực trạng công tác quản lý khai thác các CTTL trên địa bàn tỉnh Lào Cai sẽ được trình bày trong chương 2.