i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu của Chi cục Hải quan Cốc Nam” là do bản thân tác giả tự nghiên cứu, tự đúc kết từ quá trình học tập[.]
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THU THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU CỦA CỤC HẢI QUAN
Những vấn đề cơ bản về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thuế xuất khẩu (TXK) là loại thuế đánh vào hàng hoá có nguồn gốc trong nước được xuất khẩu qua biên giới quốc gia
Nhằm bình ổn giá một số mặt hàng trong nước, hoặc có thể nhằm bảo vệ nguồn cung trong nước của một số mặt hàng, hoặc có thể nhằm hạn chế xuất khẩu để giảm xung đột thương mại với nước khác, hoặc có thể nhằm nâng giá mặt hàng nào đó trên thị trường quốc tế (đối với nước chiếm tỷ trọng chi phối trong sản xuất mặt hàng đó) việc hạn chế xuất khẩu có thể được Nhà nước cân nhắc Trong các biện pháp hạn chế xuất khẩu, thuế xuất khẩu là biện pháp tương đối dễ áp dụng Ngoài ra, Nhà nước cũng có thể sử dụng thuế xuất khẩu như một biện pháp để phân phối lại thu nhập, tăng thu ngân sách
Thuế Nhập khẩu (TNK) là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài nhập khẩu vào quốc gia hay vùng lãnh thổ đó
Thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu động viên từ người tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu nhằm góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo hộ sản xuất trong nước Thuế nhập khẩu với mục tiêu kinh tế là bảo hộ sản xuất trong nước và tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc thu vào hàng hoá được phép nhập khẩu từ nước ngoài hoặc từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước; là thuế đánh vào hàng hóa khi nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới quốc gia; hàng hoá đưa từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước Thuế nhập khẩu là thuế gián thu - một trong những yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá
Thuế nhập khẩu do các tổ chức, cá nhân có hàng hoá nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp theo quy định của pháp luật với mức độ và thời hạn cụ thể Sử dụng tốt chính sách thuế nhập khẩu là phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của thuế, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thuế nhập khẩu còn là công cụ thể hiện chính sách kinh tế đối ngoại của quốc gia với các quốc gia khác trong thương mại quốc tế
Việc sử dụng có hiệu quả thuế nhập khẩu chính là phát huy đầy đủ các chức năng cơ bản của nó trong lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực thì thuế nhập khẩu càng thể hiện vai trò và tác dụng không chỉ là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, mà còn là công cụ thể hiện chính sách đối ngoại giữa các quốc gia với nhau
Như vậy: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động xuất khẩu (XK), nhập khẩu (NK) hàng hoá mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của Pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế độc lập trong hệ thống thuế Việt Nam và các nước trên thế giới
Do yêu cầu bảo hộ nền sản xuất trong nước nhưng không thể áp dụng các biện pháp hành chính (hàng rào phi thuế quan) thì thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ hữu hiệu nhất thực hiện được yêu cầu này
Hiện nay, do yêu cầu của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế, nhà nước còn ban hành thêm thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá Thực chất đây là hai loại thuế bổ sung cho thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong những trường hợp có căn cứ cho rằng hàng hoá đó có trợ cấp của nhà nước hoặc có hành vi bán phá giá nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh
1.1.2 Đặc điểm của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thứ nhất, thuế mang tính quyền lực Nhà nước Nhà nước là người duy nhất có quyền đặt ra thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và bảo hộ nền sản xuất trong nước, đồng thời để tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
Thứ hai, mang tính pháp lý cao Thuế là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo
Thứ ba, thuế chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội Điều này được thể hiện ở chỗ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vào ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ
Ngoài những đặc điểm chung, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có đặc điểm riêng là:
- Đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam Chỉ có những hàng hoá được vận chuyển một cách hợp pháp qua biên giới Việt Nam mới là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Những trường hợp cần lưu ý:
+ Hàng hoá đó có thể là hợp pháp ở nước ngoài nhưng không hợp pháp ở Việt Nam: thì không là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
+ Hàng hoá hợp pháp nhưng giao dịch không hợp pháp: thì không là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
+ Giao dịch hợp pháp nhưng hàng hoá không hợp pháp: thì không là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
- Hàng hoá chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải là hàng hóa được mang qua biên giới:
+ Hàng hoá là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải có một hành vi thực tế làm dịch chuyển hàng hoá đó qua biên giới Việt Nam thông qua mua bán, trao dổi, tặng cho… Khái niệm đường biên giới trong thuế xuất khẩu, nhập khẩu không đồng nhất với khái niệm đường biên giới quốc gia trong công pháp quốc tế Nó không đơn thuần như chúng ta thường nói trong đời sống hằng ngày: biên giới giữa Việt Nam và
Lào, Campuchia, Trung Quốc Biên giới trong pháp luật thuế là biên giới về mặt kinh tế Bất cứ ở đâu, khi nào có sự phân định giữa nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế nước ngoài thì đó là biên giới được hiểu theo pháp luật thuế
+ Hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá qua biên giới phải là hành vi trực tiếp tác động làm hàng hoá đó dịch chuyển qua biên giới Việt Nam Hành vi đó do đối tượng nộp thuế trực tiếp tác động và có nghĩa vụ nộp thuế hoặc ủy quyền cho chủ thể khác có nghĩa vụ nộp thay
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu, tiền thuế phải nộp cấu thành trong giá cả hàng hoá
- Đối tượng nộp thuế (ĐTNT) là các tổ chức, cá nhân trực tiếp có hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá qua biên giới
1.1.3 Các loại hình thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm về thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Mục tiêu chung của việc thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, và đảm bảo thực thi chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phục vụ yêu cầu quản lý của Nhà nước Trong đó, đối tượng của hoạt động thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là đối tượng nộp thuế và chủ thể quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là cơ quan hải quan, công chức hải quan và cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan
Cơ quan hải quan giữ vai trò quan trọng trong công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Cơ quan hải quan là chủ thể thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, trực tiếp liên quan đến cộng đồng Doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại quốc tế Để cho toàn bộ hệ thống thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vận hành đồng bộ, hiệu quả thì cơ quan hải quan phải làm tốt vai trò và trách nhiệm của mình, vì chính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng trực tiếp, mạnh mẽ trong điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu
Qua đó có thể khải niệm về thu thuế xuất khẩu và thu thuế nhập khẩu như sau: Là hoạt động mà cơ quan hải quan yêu cầu người khai hải quan cung cấp đầy đủ, kịp thời hồ sơ, tài liệu, chứng từ, sổ sách kế toán để kiểm tra việc kê khai, tính, nộp thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật để đảm bảo việc thu đủ thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu
1.2.2 Vai trò của công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.2.2.1 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một bộ phận nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước (NSNN) Trong đó, thuế XK, thuế NK là một bộ phận quan trọng của NSNN ở nhiều nước đang phát triển Tuy nhiên trong xu hướng quốc tế hoá kinh tế hiện nay, Việt nam ngày càng mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, hội nhập với thế giới ngày càng sâu rộng Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu phát triển càng mạnh thì số thuế thu được càng nhiều Trên thực tế, thời gian qua nguồn thu từ thuế hàng hoá xuất nhập khẩu (XNK) thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng thu NSNN mà chủ yếu là nguồn thu từ thuế NK Trong tiến trình hội nhập kinh tế thể hiện bằng việc thực hiện các cam kết quốc tế, vai trò này sẽ có xu hướng giảm xuống nhưng vẫn đóng vai trò rất lớn như một tất yếu khách quan
1.2.2.2 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một công cụ kiểm soát và điều tiết kinh tế vĩ mô hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá diễn ra ở hầu khắp các nước,dýới nhiều hình thức đa dạng về chủng loại hàng hoá, có hàng hoá phục vụ an ninh quốc phòng, có hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, có loại hàng hoá xâm hại đến chủ quyền an ninh quốc gia, đời sống nhân dân nhý ma tuý, vũ khí, văn hoá phẩm đồi truỵ … Thông qua việc kiểm tra hàng hóa và thu thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu các cõ quan chức năng nắm được thực trạng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu: loại hàng gì? số lượng bao nhiêu? xuất khẩu đi nước nào?, qua đó Nhà nước kiểm soát được toàn bộ các loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu để có những điều chỉnh chính sách đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp thực tiễn Để điều tiết hoạt động XK, NK hàng hoá ngoài các biện pháp phi thuế quan nhý hạn ngạch, giấy phép, cấp phép tự động,… thì biện pháp sử dụng công cụ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được các nước áp dụng một cách phổ biến Thông qua công cụ thuế
XK, thuế NK, Nhà nước khuyến khích hay hạn chế hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đối với từng loại hàng hoá chẳng hạn: để khuyến khích xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh,
Nhà nước quy định thuế suất thuế xuất khẩu cao đối với nguyên liệu thô, sản phẩm chưa qua chế biến nhằm hạn chế xuất khẩu những nguyên liệu và sản phẩm này Đối với nguyên liệu nhập khẩu cần cho sản xuất nội địa mà trong nước chưa sản xuất được hoặc đã sản xuất được nhưng chưa đủ đáp ứng được nhu cầu thì Nhà nước quy định mức thuế nhập khẩu thấp thậm chí bằng 0% để khuyến khích nhập khẩu cho phát triển sản xuất trong nước Đối với những sản phẩm mà đã được sản xuất trong nước và đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng nội địa hoặc những sản phẩm tiêu dùng cao cấp (ô tô, điều hoà…), thuế suất thuế NK thường được quy định ở mức thuế cao để hạn chế nhập khẩu và hạn chế tiêu dùng Nhý vậy, thông qua công cụ thuế XK, thuế NK, Nhà nước thực hiện điều tiết đối với hoạt động XK, NK hàng hoá
Thuế XK, thuế NK là công cụ góp phần quản lý điều tiết vĩ mô hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vừa kích thích định hướng hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, vừa hướng dẫn tiêu dùng Thông qua chính sách thuế suất thích hợp đối với từng loại hàng hoá XK,
NK, Nhà nước có thể thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với đường lối phát triển từng giai đoạn nhất định
1.2.2.3 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu góp phần bảo hộ và phát triển sản xuất trong nước
Thuế XK là loại thế đánh vào những mặt hàng mà Nhà nước muốn hạn chế xuất khẩu Thuế XK được sử dụng để bình ổn giá một số mặt hàng trong nước, hoặc có thể nhằm bảo vệ nguồn cung trong nước của một số mặt hàng, hoặc có thể nhằm hạn chế xuất khẩu để giảm xung đột thương mại với nước khác, hoặc có thể nhằm nâng giá mặt hàng nào đó trên thị trường quốc tế (đối với nước chiếm tỷ trọng chi phối trong sản xuất mặt hàng đó) việc hạn chế xuất khẩu có thể được Nhà nước cân nhắc Trong các biện pháp hạn chế xuất khẩu, thuế XK là biện pháp tương đối dễ áp dụng Thuế XK được sử dụng để giảm xuất khẩu do nhà nước không khuyến khích xuất khẩu các mặt hàng sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm đang bị cạn kiệt hay các mặt hàng mà tính chất quan trọng của nó đối với sự an ninh lương thực hay an ninh quốc gia được đặt lên trên hết
Chẳng hạn, ở Việt Nam, Chính phủ đánh thuế đối với quặng xuất khẩu nhằm đảm bảo vệ tài nguyên trong nước; thuế đánh vào một số nguyên liệu thô của Việt Nam nhằm đảm bảo nguồn cung nguyên liệu cho sản xuất nội địa
Ngoài ra, Nhà nước cũng có thể sử dụng thuế XK như một biện pháp để phân phối lại thu nhập, tăng thu ngân sách
Thuế NK tác động trực tiếp vào giá cả hàng hoá nhập khẩu trên thị trường nội địa Vì vậy, thuế nhập khẩu là một trong những công cụ của Nhà nước để bảo hộ sản xuất trong nước Đối với những hàng hoá nhập khẩu là những sản phẩm mà trong nước đã sản xuất được hoặc những mặt hàng cần bảo hộ, Nhà nước đánh thuế nhập khẩu cao sẽ hạn chế tiêu dùng hàng nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng sản phẩm trong nước Nhờ đó, hàng sản xuất trong nước sẽ có điều kiện cạnh tranh so với hàng nhập khẩu nhờ giá bán sản phẩm thấp hõn Mặt khác, khi đánh thuế nhập khẩu hàng hóa thấp, tức là Nhà nước không hạn chế nhập khẩu mặt hàng nhập khẩu đó sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, kiện toàn tổ chức, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập Đối với hàng hoá là đầu vào của các ngành sản xuất trong nước, hàng là máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất trong nước, việc đánh thuế nhập khẩu thấp sẽ góp phần giảm giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế NK được thực hiện thì vai trò bảo hộ của thuế NK phần nào bị hạn chế Bên cạnh đó, việc quá nhấn mạnh đến vai trò bảo hộ của thuế nhập khẩu sẽ làm cho nền sản xuất trong nước trở nên trì trệ kém phát triển do sự ỷ lại của các doanh nghiệp (DN) trong nước vào sự bảo hộ của Nhà nước Vì vậy, để phát huy tốt vai trò bảo hộ của thuế nhập khẩu, Chính phủ thường buộc phải có sự lựa chọn những ngành nghề phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, đồng thời buộc các ngành được bảo hộ phải có chiến lýợc đầu tý đổi mới công nghệ, cải tiến phýõng thức quản lý để nâng cao chất lýợng sản phẩm, hạ giá thành, chủ động trong cạnh tranh với hàng nhập khẩu khi hết thời hạn bảo hộ
Nhý vậy, thông qua công cụ thuế XK, thuế NK Nhà nước thể hiện quan điểm bảo hộ sản xuất trong nước, định hýớng tiêu dùng và thu hút đầu tý
1.2.3 Nội dung của công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.2.3.1 Xây dựng kế hoạch thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Xây dựng kế hoạch thu thuế XK, thuế NK của Cục Hải quan tỉnh là việc xác định những công việc những hoạt động cụ thể dự định sẽ được thực hiện trong khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm) nhằm thực hiện những mục tiêu cụ thể đã định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Mục đích xây dựng kế hoạch thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là bảo đảm công tác thu thuế XK, thuế NK của cơ quan quản lý được chủ động và bảo đảm sự phối hợp có hiệu quả của các cơ quan chức năng nhằm huy động kịp thời số thuế phát sinh, số thuế nợ đọng vào Ngân sách nhà nước
Xây dựng kế hoạch thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm việc xác định các mục tiêu, chỉ tiêu, công việc phải làm, nguồn lực thực hiện nhằm đảm bảo thu ngân sách thực hiện đúng và đầy đủ các quy định pháp luật về thuế, đảm bảo khách quan bình đẳng Trên cơ sở phân tích, đánh giá diễn biến xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng chịu thuế, tác động về giá, tỷ giá, đến thu ngân sách; mức độ thuận lợi hóa thương mại, thuận lợi hóa đầu tư và hài hòa hóa tiêu chuẩn khi thực hiện xâm nhập, mở rộng thị trường xuất khẩu; đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu
1.2.3.2 Xác định đối tượng kê khai nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
* Xác định đối tượng chịu thuế
Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 (Điều 1) quy định về đối tượng chịu thuế gồm [1]:
Kinh nghiệm về công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của một số Cục Hải
1.3.1 Kinh nghiệm công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai
Thời gian qua, Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai đã triển khai thí điểm và mở rộng thủ tục hải quan điện tử nhằm tạo điều kiện thông quan hàng hóa nhanh chóng Bên cạnh đó, Chi cục thường xuyên vận động các doanh nghiệp trên toàn quốc tham gia xuất nhập khẩu tại Cửa khẩu Lào Cai, đồng thời công khai các thủ tục hành chính, tạo điều kiện, cơ chế thông thoáng cho doanh nghiệp khi tới làm thủ tục
Vì vậy, lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu tại Chi cục tăng lên hàng năm, song song đó lưu lượng hàng thông qua Cửa khẩu cũng tăng lên đáng kể mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước cũng như góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của địa phương Cùng với đó, Chi cục còn quan tâm triển khai áp dụng nhiều biện pháp có hiệu quả, đúng quy định như thông báo cho các doanh nghiệp đến thời hạn phải nộp thuế; phối hợp với các ngành chức năng đôn đốc, thu hồi nợ đọng Ngay từ đầu năm, Chi cục đã triển khai kế hoạch nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ đọng thuế, công tác chống gian lận thương mại qua giá Trên cơ sở áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro về kiểm tra trị giá tính thuế, Chi cục đã thực hiện kiểm tra, ấn định giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu đúng quy trình, quy định, không bỏ sót các mặt hàng thuộc diện quản lý rủi ro về giá
Từ ngày 24/8 đến hết tháng 9/2018, Chi cục đã làm thủ tục thông quan cho 2.130 tờ khai (Trong đó nhập khẩu là 1.172 tờ khai; xuất khẩu là 958 tờ khai); lũy kế từ ngày 01/01/2017 là 13.729 tờ khai Tổng số Doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK trong tháng 9 là 172 doanh nghiệp; Lũy kế từ 01/01/2017 là: 348 doanh nghiệp
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu qua địa bàn, Chi Cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai đã quán triệt cho cán bộ công chức về mục tiêu, yêu cầu và kế hoạch triển khai các chương trình hiện đại hóa hải quan Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát hải quan; giải quyết kịp thời những vướng mắc về thủ tục hải quan theo thẩm quyền
Cụ thể, tại đơn vị này đã triển khai thực hiện có hiệu quả thủ tục hải quan điện tử và cơ chế một cửa hải quan VNACCS/VCIS, góp phần đẩy nhanh cải cách thủ tục hành chính về hải quan, đảm bảo đúng chính sách pháp luật, tạo thông thoáng và điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Đẩy nhanh các biện pháp thu nộp ngân sách, tăng các biện pháp chống thất thu thuế
Cụ thể, kim ngạch xuất nhập khẩu là 90,161,606 USD giảm 1.4% so với cùng kỳ tháng trước (Lũy kế từ 01/01/2017 đến tháng 02/2018 là 588,352,117 USD) Trong đó, Kim ngạch xuất khẩu: 54,743,669 USD với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là quặng sắt, giầy dép, nông sản, bánh kẹo, sữa tăng 74% so với cùng kỳ tháng trước; (Lũy kế 01/01/2017 là: 260,249,397 USD).Kim ngạch nhập khẩu là 35,417,937 USD với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: Nông sản (rau, quả, củ), phân bón, hóa chất giảm 39% so với cùng kỳ tháng trước; (Lũy kế hàng nhập khẩu từ 01/01/2017 là: 328,102,720 USD)
Kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn là 120,513,535 USD tăng 11% so với cùng kỳ tháng trước (Lũy kế từ 01/01/2017: 948,813,139 USD) Trong đó, tổng trị giá hàng hóa xuất khẩu là 71,186,353 USD với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: Quặng sắt, giầy dép, nông sản, bánh kẹo, thủy hải sản giảm 2% so với cùng kỳ tháng trước (Lũy kế 01/01/2017 là: 533,767,521 USD)
Tổng trị giá hàng hóa nhập khẩu là 49,327,182 USD với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: Nông sản (rau, quả, củ), phân bón, hóa chất, tôm , đông lạnh giảm 24% so với cùng kỳ tháng trước (Lũy kế hàng nhập khẩu từ 01/01/2017 là: 415,045,618 USD)
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình buôn lậu và gian lận thương mại, đơn vị đã xây dựng và triển khai thực hiện hiệu quả kế hoạch đấu tranh chống buôn lậu Đồng thời triển khai các biện pháp nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống buôn lậu, tăng cường lực lượng tuần tra, kiểm soát công khai tại khu vực cửa khẩu
Cùng với đó, Chi cục còn phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng trên địa bàn trong tấn công trấn áp tội phạm, thường xuyên trao đổi thông tin với các đơn vị hải quan trên địa bàn để giám sát chặt chẽ hàng hoá xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm
2018, Chi Cục phát hiện, bắt giữ, xử lý và xử phạt 36 vụ, trong đó chủ trì bắt giữ và xử lý (Trị giá tang vật: 59.015.200 đồng; Tiền xử phạt VPHC nộp NSNN: 337.165.858 đồng); Số vụ phối hợp bắt giữ và xử lý 11 vụ (Công an: 01 vụ; Đội KSHQ: 02 vụ; Trạm Biên phòng cửa khẩu: 08 vụ)
6 tháng cuối năm 2018, Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai xác định tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm đơn giản hoá quy trình, hồ sơ và thủ tục xuất nhập khẩu, giảm thời gian thông quan hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cho DN Đặc biệt, tăng cường đối thoại với các DN về những khó khăn, vướng mắc trong thủ tục hải quan để tham mưu, đề xuất phương án xử lý kịp thời và nâng cao mức độ hài lòng của
Kết thúc năm 2018, Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai thu ngân sách đạt 1.686 tỷ đồng, đạt gần 137% so với chỉ tiêu của Tổng cục Hải quan giao, đạt hơn 129,7% chỉ tiêu của HĐND tỉnh giao Đây là đơn vị đóng góp đến 2/3 số thu ngân sách cho Cục Hải quan tỉnh Lào Cai
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nông sản (rau, quả, củ), phân bón, hóa chất, điện năng, máy móc thiết bị, các sản phẩm từ nhựa, cao su ; các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thanh long, vải thiều, hạt tiêu, giầy dép, nông sản, bánh kẹo, sữa Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2018, Chi cục Hải quan Cửa khẩu Lào Cai đã triển khai nhiều giải pháp để hỗ trợ, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất, nhập khẩu đồng thời thu hút doanh nghiệp để tạo nguồn thu Một số giải pháp khác như: Kiểm tra chống thất thu ngân sách, ngăn chặn các trường hợp gian lận, trốn thuế, đảm bảo thu đúng,thu đủ; tránh tình trạng giảm, hoàn thuế, không thu thuế sai quy định cũng đã tác dộng lớn đến kết quả chung của đơn vị
Ngay từ đầu năm 2019, Chi cục Hải quan Cửa khẩu Lào Cai đã tập trung khai thác tốt các nguồn thu nộp ngân sách nhà nước theo chỉ tiêu được giao; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, quản lý chặt chẽ hàng hóa xuất, nhập khẩu và phương tiện xuất, nhập cảnh; đẩy mạnh hoạt động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại [7]
1.3.2 Kinh nghiệm công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Các công trình nghiên cứu có liên quan
Đề tài hoàn thiện công tác thu thuế nói chung và hoàn thiện công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng đã được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu của các Học viện, Trường Đại học chuyên ngành kinh tế, trong các chuyên đề nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu, cơ quan chức năng của Nhà nước (đặc biệt là Bộ Tài chính và ngành Hải quan) Trong đó có một số công trình đáng chú ý sau:
- Tổng cục Hải quan, Hồ sơ xử lý nợ đọng thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Tổng cục Hải quan, Phân tích nguồn thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Bộ Tài chính, Hệ thống các văn bản pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
Gangadhar Prasad Shukla, Chương trình nghiên cứu phân tích chính sách và khung pháp lý cho hoạt động quản lý thuế thuộc chương trình hiện đại hoá và cải cách ngành thuế Việt Nam
Học viện Tài chính, Giáo trình thuế
Nguyễn Ngọc Túc, Tiếp tục cải cách, hiện đại hoá Hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Trần Thành Tô, Đổi mới quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của ngành Hải quan hiện nay
Dương Phú Đông, Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu ngành Hải quan
Phạm Tiến Thành, Hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước về hải quan đối với thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO – trường hợp Cục Hải quan
Nguyễn Công Trưởng, Vai trò của Hải quan Việt Nam trong quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới đường bộ (lấy ví dụ ở Hải quan Lạng Sơn)
Các công trình nghiên liên quan đến đề tài này dưới nhiều góc độ khác nhau, song chủ yếu chỉ tập trung vào việc đổi mới quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của ngành hải quan và Hải quan địa phương; Chống thất thu thuế, chống buôn lậu gian lận thương mại; Quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn v.v… Riêng đề tài nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hầu như rất ít, trong thực tế công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và chống thất thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Chi cục Hải quan Cốc Nam mới chỉ có một số kiến nghị của những người trực tiếp làm công tác thu thuế xuất nhập khẩu mà chưa có sự nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống Cho đến nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu đề tài về hoàn thiện công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Chi cục Hải quan Cốc Nam, Lạng Sơn Đặc biệt trong bối cảnh thủ tục hải quan cơ chế một cửa quốc gia (VNACCS/VCIS) đã được triển khai áp dụng tại 35/35 Cục Hải quan tỉnh, thành phố từ tháng 4 năm 2014, đòi hỏi quản lý phải được thực hiện theo phương thức tiên tiến, hiện đại; đồng thời mỗi địa phương đều có đặc thù, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, các mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu và các hình thức vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có khác nhau Điều này cho thấy, vấn đề nghiên cứu là cần, đòi hỏi phải có sự phân tích một cách cụ thể tình hình thực trạng công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong những năm qua của Chi cục Hải quan Cốc Nam, tỉnh Lạng Sơn để từ đó có những căn cứ đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu một cách đầy đủ hơn
Thuế là một hiện tượng xã hội, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và pháp luật Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước ban hành các loại thuế khác nhau buộc các tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu chi, phân phối lại một phần thu nhập và của cải của xã hội, kiểm soát quá trình phân phối và mức chi tiêu trong nền kinh tế, bảo hộ sản xuất trong nước, thay đổi tập quán tiêu dùng của xã hội Thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế Một phần thuế mà các tổ chức và cá nhân đóng góp cho Nhà nước được trả về với người dân một cách gián tiếp dưới các hình thức như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và quỹ tiêu dùng khác
Thuế có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau Trong đó, thuế XNK là một loại thuế gián thu do các tổ chức, cá nhân XNK hàng hoá được phép XNK nộp cho Nhà nước Thuế XNK là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách huy động nguồn lực tài chính cho NSNN và bảo hộ thương mại, gắn liền với hoạt động thu NSNN, cơ chế quản lý XNK và chính sách đối ngoại của một quốc gia Đặc điểm của thuế XNK là chỉ thu vào hàng hoá XNK, không thu vào hàng hoá sản xuất và được lưu thông trong nước; gắn chặt với hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ; chỉ do cơ quan hải quan quản lý thu, cơ quan thuế các cấp không thu Để đảm bảo cho các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý, thực hiện thuế XNK phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội, thực hiện các mục tiêu tạo nguồn thu NSNN, bảo hộ và khuyến khích đầu tư sản xuất trong nước phát triển, thực hiện hội nhập kinh tế Quốc tế.