1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sỹ tâm lý học : Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở

173 6,2K 44

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở
Tác giả Phạm Thanh Bình
Người hướng dẫn GS. TS. Nguyễn Quang Uẩn, PGS. TS. Trần Thị Lệ Thu
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án tâm lý học Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở Đợn vị : Đại học sư phạm Hà Nội

Trang 1

PHẠM THANH BÌNH

NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG

CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC CHUYÊN NGÀNH

MÃ SỐ: 62.31.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 GS TS NGUYỄN QUANG UẨN

2 PGS TS TRẦN THỊ LỆ THU

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

dữ liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được công bốtrong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án

Phạm Thanh Bình

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ và thuật ngữ viết tắt

Danh mục các bảng số liệu

Danh mục các biểu đồ

Danh mục các sơ đồ, hình

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

8 Đóng góp mới của luận án 7

9 Cấu trúc của luận án 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 8

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

1.1.1 Các nghiên cứu về nhu cầu tham vấn tâm lý học đường ở nước ngoài .8

1.1.2 Các nghiên cứu về NCTV học đường ở Việt Nam 11

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản 16

1.2.1 Nhu cầu 16

1.2.2 Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường 22

1.2.3 Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh THCS 44

1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham vấn học đường của học sinh THCS 55

Trang 4

Tiểu kết chương 1 63

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 64

2.1 Tổ chức nghiên cứu 64

2.1.1 Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận 64

2.1.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực tiễn 64

2.2 Phương pháp nghiên cứu 70

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu lí luận, văn bản 70

2.2.2 Phương pháp chuyên gia 71

2.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 72

2.2.4 Phương pháp giải các bài tập tình huống 74

2.2.5 Phương pháp phỏng vấn sâu 74

2.2.6 Phương pháp quan sát 75

2.2.7 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động 76

2.2.8 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử 76

2.2.9 Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study) 77

2.2.10 Phương pháp thực nghiệm 77

2.2.11 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học 81

2.3 Tiêu chí đánh giá và thang đánh giá 82

2.3.1 Tiêu chí đánh giá 82

2.3.2 Thang đánh giá 84

Tiểu kết chương 2 87

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH THCS 88

3.1 Thực trạng nhu cầu tham vấn học đường của HS THCS 88

3.1.1 Thực trạng khó khăn tâm lý và cách giải quyết khó khăn tâm lý của HS THCS 88

3.1.2 Thực trạng nhu cầu tham vấn học đường của HS THCS trước những KKTL trong học tập và giao tiếp 95

3.1.3 Thực trạng nhu cầu của HS THCS về các hình thức TVHĐ 118

Trang 5

3.1.4 Sự cần thiết tổ chức tham vấn học đường cho HS THCS 119

3.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham vấn học đường của HS THCS 120

3.2 Các lý do dẫn đến HS THCS có hoặc chưa có NCTVHĐ 123

3.2.1 Lý do HS THCS có nhu cầu tham vấn học đường 123

3.2.2 Lý do HS THCS chưa có nhu cầu tham vấn học đường 129

3.3 Đánh giá chung về thực trạng NCTVHĐ của HS THCS 132

3.3.1 Đánh giá chung về thực trạng NCTV trong học tập và giao tiếp của HS THCS 132

3.3.2 Nguyên nhân của thực trạng 132

3.3.3 Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm thỏa mãn NCTVHĐ của HS THCS 132

3.4 Kết quả thực nghiệm 133

3.4.1 Hiểu biết về TVHĐ của HS THCS trước và sau thực nghiệm 134

3.4.2 Những thay đổi về KKTL và NCTVHĐ trước và sau thực nghiệm 136

3.5 Phân tích các trường hợp đại diện 141

Tiểu kết chương 3 147

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 1PL

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1 Kết quả kiểm định độ tin cậy Alpha của từng phép đo và toàn bộ

thang đo 67

Bảng 2.2 Mẫu khách thể nghiên cứu 73

Bảng 2.3 Thang đánh giá mức độ 85

Bảng 2.4 Thang đánh giá mức độ KKTL và biểu hiện, mức độ NCTVHĐ 85

Bảng 2.5 Thang đánh giá biểu hiện NCTVHĐ 85

Bảng 2.6 Thang đánh giá điểm giải bài tập tình huống 86

Bảng 3.1 Lĩnh vực KKTL chủ yếu của HS THCS 89

Bảng 3.2 Tần suất và hiệu quả sử dụng các cách giải quyết KKTL của HS THCS .93

Bảng 3.3 NCTVHĐ của HS THCS ở lĩnh vực học tập 96

Bảng 3.4 NCTVHĐ của học sinh THCS trong giao tiếp với thầy cô giáo 100

Bảng 3.5 KKTL và NCTVHĐ trong giao tiếp với thầy cô giáo 105

Bảng 3.6 NCTVHĐ của học sinh THCS trong giao tiếp với bạn bè 107

Bảng 3.7 NCTV của HS THCS trong giao tiếp với cộng đồng 112

Bảng 3.8 NCTV của HS THCS trong giao tiếp với các thành viên trong gia đình .114

Bảng 3.9 NCTVHĐ trong giao tiếp với các thành viên trong gia đình 117

Bảng 3.10 Những yếu tố ảnh hưởng đến NCTVHĐ của HS THCS 121

Bảng 3.11 Lý do HS THCS có NCTVHĐ 123

Bảng 3.12 Lý do HS THCS chưa có NCTVHĐ 129

Bảng 3.14 Đánh giá chung mức độ hiểu biết của HS THCS về TVHĐ trước và sau thực nghiệm 135

Bảng 3.15 Sự thay đổi KKTL và NCTVHĐ trước và sau thực nghiệm 137

Bảng 3.16 Sự thay đổi KKTL và NCTVHĐ trước và sau thực nghiệm 139

Bảng 3.17 Sự thay đổi KKTL và NCTVHĐ trước và sau thực nghiệm 140

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 KKTL và NCTVHĐ của HS THCS ở lĩnh vực học tập 99

Biểu đồ 3.2 NCTVHĐ trong giao tiếp với thầy cô giáo 102

Biểu đồ 3.3 NCTVHĐ trong giao tiếp với bạn bè 111

Biểu đồ 3.4 KKTL và NCT HĐ trong giao tiếp với các thành viên trong gia đình .115

Biểu đồ 3.5 NCTV của HS THCS về lĩnh vực giao tiếp 118

Biểu đồ 3.6 Sự cần thiết tổ chức TVHĐ cho HS THCS hiện nay 120

Biểu đồ 3.7 Lý do HS THCS có NCTVHĐ 125

Biểu đồ 3.8 Lý do HS THCS có NCTVHĐ 127

Biểu đồ 3.9 Lý do HS THCS chưa có NCTVHĐ 130

Biểu đồ 3.10 Lý do HS THCS chưa có NCTVHĐ 131

Biểu đồ 3.11 Hiểu biết về TVHĐ của HS THCS trước và sau thực nghiệm .135

Biểu đồ 3.12 Hiểu biết của HS THCS về TVHĐ trước và sau thực nghiệm .136

Biểu đồ 3.13 Sự thay đổi NCTVHĐ trước và sau thực nghiệm 137

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH

Sơ đồ

Sơ đồ 1.1 Mô hình hướng đến sự hoà nhập và thích nghi học đường của Québec

35

Sơ đồ 1.2 Mô hình tập trung vào sự cân bằng cá nhân-xã hội ở Đức 36

Sơ đồ 1.3 Mô hình tham vấn học đường của Trung Quốc 37

Hình

Hình 1.1 Mô hình dịch vụ tâm lý học đường tích hợp và toàn diện 39Hình 1.2 Mô hình phân phối dịch vụ 3 tầng 39

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Xã hội loài người đang ngày càng phát triển cùng với sự phát triển rấtmạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật cũng như trên nhiều lĩnh vực khác Đời sống tâm lýcủa con người cũng ngày càng đa dạng và phong phú để thích ứng với những điềukiện môi trường luôn luôn biến đổi sôi động Những thay đổi trong cuộc sống có thểlàm cho cuộc sống trở nên đậm đà, mới mẻ hơn Tuy nhiên, nếu sự thay đổi ấy quámạnh mẽ và liên tục thì sẽ có tác động không tốt đến sức khỏe của con người Nhữngphiền toái trong cuộc sống, những áp lực tác động từ nhiều phía đến con người,những rắc rối xảy ra trong các mối quan hệ, những lựa chọn quyết định trước nhiềuquyết định cho một vấn đề, những thảm họa, những thông tin nóng bỏng trong cuộcsống (khủng bố, buôn lậu, bùng nổ dân số ) một mặt giúp con người trưởng thànhhơn, tăng thêm vốn kinh nghiệm trong cuộc sống của họ, mặt khác nó có thể lànguyên nhân rất cơ bản gây nên trạng thái căng thẳng tâm lý cho con người, tạo ranhững khó khăn tâm lý mà con người phải đối mặt Trước những khó khăn tâm lý đó,con người luôn luôn bộc lộ nhu cầu được chia sẻ, trao đổi với những người khác - hay

là nhu cầu được tham vấn tâm lý (TVTL) TVTL học đường (HĐ) là một hoạt độngtrợ giúp về tâm lý, thể chất, giáo dục và các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội chohọc sinh (HS), giáo viên (GV), cha mẹ học sinh (CMHS) và các tổ chức trong nhàtrường Trước những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đã tạo ra sức ép lớn đối vớiviệc giáo dục trẻ em Trong khi đó, nội dung dạy học và giáo dục của nhà trường hiệnnay còn nhiều hạn chế cũng tạo nên những sức ép to lớn đối với HS

Lứa tuổi HS trung học cơ sở (THCS) là giai đoạn quá độ, giai đoạn chuyểntiếp từ trẻ em sang người lớn với rất nhiều những chuyển biến tâm lý đa dạng và phứctạp Sự xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành do kết quả biến đổi mạnh mẽcủa ý thức và tự ý thức, của nội dung và hình thức hoạt động học tập, của mối quan

hệ ứng xử với người lớn, với bạn bè, của tính tích cực xã hội ở các em [19] Điều nàylàm cho các em luôn tò mò, thích khám phá thế giới, tích cực, độc lập trong học tập

và các hoạt động xã hội Tuy nhiên, do sự hiểu biết còn nhiều hạn chế nên các em gặp

Trang 11

không ít khó khăn trong học tập, tu dưỡng, cũng như quan hệ ứng xử với thầy côgiáo, với người lớn và bạn bè để đáp ứng được kỳ vọng, yêu cầu của gia đình, nhàtrường và xã hội Điều đó dẫn đến tâm lý bi quan đối với bản thân và với người khác.Hầu hết những HS này đều cần có sự giúp đỡ của người lớn để có thể ứng phó được

với “khủng hoảng” tâm lý trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách Điều

này có nghĩa là HS ngày nay đang có nhu cầu được TVTL [24]

Hoạt động TVTL ở Việt Nam hiện nay phát triển tương đối mạnh mẽ vớinhiều loại hình TV đa dạng và phong phú nhằm trợ giúp cho thân chủ (TC) nâng caokhả năng tự giải quyết những khó khăn tâm lý (KKTL) gặp phải trong cuộc sống[24] Tuy nhiên, hoạt động TV chuyên biệt cho HS THCS để đáp ứng nhu cầu thamvấn học đường (NCTVHĐ) ở các em trong lĩnh vực học tập và quan hệ giao tiếp, ứngxử vẫn còn là một lĩnh vực tương đối mới mẻ, cần được nghiên cứu và ứng dụng

1.2 Số liệu thống kê được đưa ra tại hội thảo quốc tế “Can thiệp và phòng

ngừa các vấn đề sức khỏe tinh thần ở trẻ em” diễn ra tại Hà Nội năm 2007 cho thấy: tỉ

lệ trẻ em ở lứa tuổi học đường (HĐ) có dấu hiệu rối nhiễu tâm lý là hơn 20% Điều tracủa Viện nghiên cứu và phát triển Việt Nam cho thấy: Tỉ lệ HS đi học muộn: tiểu học20%; trung học cơ sở (THCS) 21%; trung học phổ thông (THPT) 58% Tỉ lệ quay cóplần lượt là: 8%-55%-60% Nói dối cha mẹ-20%-50%-64% Tỉ lệ không chấp hành Luậtgiao thông: 4%-35%-70% Bên cạnh đó, theo thống kê của Viện Kiểm sát nhân dân tốicao: tỉ lệ người phạm tội ở lứa tuổi HS ngày một tăng năm 1986 có 3607 người; năm

1996 có 11726 người Tệ nạn xã hội trong giới HĐ theo chiều mũi tên đi lên; năm

2004 có 600 HS, sinh viên nghiện ma túy; năm 2007 tăng gấp đôi (1234 người) [43],[56], [59] Hiện tượng bạo lực HĐ ngày một gia tăng Đầu năm học 2009-2010, BộGiáo dục & Đào tạo đưa ra con số thống kê của cả nước có đến gần 1600 vụ HS đánhnhau ở trong và ngoài trường học làm chết 7 HS, nhiều em phải mang thương tật suốtđời Các nhà trường đã xử lý kỷ luật khiển trách 881 HS, cảnh cáo 1558 HS, buộc thôihọc có thời hạn (3 ngày, 1 tuần, 1 năm học) 735 HS Tính theo tỷ lệ, cứ 5260 HS thìxảy ra một vụ đánh nhau; 9 trường thì có 1 vụ HS đánh nhau Theo số liệu khảo sát củanhóm phóng viên báo Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh về tình hình bạo lực HĐ (sốbáo ra ngày 8/4/ 2010) cho thấy: Hơn 64% HS đã nhìn thấy hoặc đã từng biết những vụđánh nhau; 57% GV trả lời rằng bạo lực HĐ đang gia tăng, xu hướng HS giải quyết

Trang 12

mọi chuyện bằng bạo lực [96] Hơn thế nữa, học sinh trên địa bàn các thành phố lớnphải hứng chịu nguy cơ rất cao từ môi trường sống ô nhiễm, nhiều cạm bẫy và tệ nạn xãhội; thêm vào đó là sự nới lỏng, xích mích và những sai lầm trong giáo dục của giađình, sự phức tạp trong các mối quan hệ nếu không được điều chỉnh, giải tỏa kịp thời

sẽ có nguy cơ dẫn đến những hậu quả khó lường Điều đó có nghĩa là HS ngày nayđang gặp rất nhiều KKTL ở các vấn đề khác nhau cần được TVTL

Xuất phát từ lý luận và thực tế trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài

“Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh Trung học cơ sở”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhu cầu tham vấn tâm lý (NCTVTL) HĐcủa HS THCS từ đó tổ chức hoạt động TVTLHĐ tạo điều kiện thỏa mãn nhu cầunày cho các em

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện và mức độ NCTVTL HĐ của HS THCS

3.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là HS THCS Khách thể khảo sát đánh giá thực trạngNCTVTLHĐ của HS là GV, nhà tham vấn (NTV) học đường và CMHS

4 Giả thuyết khoa học

NCTVTLHĐ của HS THCS có nhiều biểu hiện với các mức độ khác nhau.Việc nảy sinh và thỏa mãn nhu cầu này chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan vàkhách quan Nếu tổ chức được hoạt động TVTLHĐ, trong đó có hoạt độngTVTLHĐ thông qua hoạt động CLB TVTLHĐ, sẽ làm tăng cường và thỏa mãnđược nhu cầu này của các em

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu lý luận

Xây dựng cơ sở lý luận tâm lý học về NCTVTL HĐ của HS THCS trong đó

có các vấn đề: Nhu cầu; TV; TVTL; biểu hiện và mức độ NCTVTL HĐ của HSTHCS; các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này của các em

Trang 13

5.2 Nghiên cứu thực trạng

Đánh giá thực trạng biểu hiện, mức độ và những yếu tố ảnh hưởng đếnNCTVTL HĐ của HS THCS ở hai lĩnh vực cơ bản: Học tập và giao tiếp Lý giảinguyên nhân của thực trạng từ đó tổ chức hoạt động TVHĐ tạo điều kiện thỏa mãnnhu cầu này của các em

5.3 Nghiên cứu thực nghiệm

Tổ chức hoạt động TVTL HĐ cho HS THCS để tạo điều kiện thoả mãn NCTVTL

HĐ của các em

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Về đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung làm rõ những biểu hiện và mức độ NCTVTL HĐ ở hai lĩnhvực: học tập và giao tiếp (giao tiếp với bạn bè; với thầy cô giáo; với cộng đồng và vớicác thành viên trong gia đình) Những yếu tố ảnh hưởng đến NCTVTL HĐ của HSTHCS Tổ chức thực nghiệm nhằm tạo điều kiện thỏa mãn nhu cầu này của các em

6.2 Về địa bàn nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu ở 04 trường THCS trên địa bàn Hà Nội: TrườngTHCS Phương Mai – Quận Đống Đa; Trường THCS Tây Sơn – Quận Hai Bà Trưng;Trường Nguyễn Bỉnh Khiêm và Trường Nguyễn Tất Thành – Quận Cầu Giấy

6.3 Về khách thể nghiên cứu

Tổng số khách thể nghiên cứu là 965 HS THCS (485 nam và 480 nữ) từ lớp

6 đến lớp 9 Khách thể khảo sát đánh giá NCTVTL HĐ ở HS là 40 GV; 40 CMHS

và 12 NTVHĐ

Khách thể được chia làm 3 loại:

6.3.1 Khách thể khảo sát thử cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho việc xây

dựng giả thuyết khoa học và kiểm nghiệm độ tin cậy của bảng hỏi bao gồm: 100

HS, 10 GV, 10 CMHS và 3 NTVHĐ Tất cả các khách thể khảo sát thử được lựachọn ngẫu nhiên từ khách thể khảo sát thực trạng NCTVHĐ

6.3.2 Khách thể nghiên cứu thực trạng NCTVHĐ: 965 HS từ khối 6 đến khối 9

tại Hà Nội Khách thể đánh giá nhu cầu này của HS: 40 GV; 40 CMHS và 12 NTVHĐ

Trang 14

6.3.3 Khách thể thực nghiệm: 32 HS được chọn từ mẫu khách thể nghiên cứu

thực trạng NCTVHĐ, sau đó chia thành 2 CLB TVTL HĐ để thực hiện chương trìnhthực nghiệm của luận án; 02 NTVHĐ; 02 GV chủ nhiệm lớp; 02 CMHS

6.2.4 Khách thể nghiên cứu trường hợp điển hình về NCTVHĐ: 02 HS được

nghiên cứu thực trạng và tiếp tục được nghiên cứu trong thực nghiệm

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Nguyên tắc phương pháp luận

Nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận tâm lý học như sau:

7.1.1 Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng

Nguyên tắc này trong nghiên cứu NCTVHĐ của HS THCS là: NCTVHĐ của

HS THCS được hình thành, bộc lộ và phát triển trong hoạt động và bằng hoạt động.Thế giới khách quan hình thành nên NCTVHĐ của HS THCS thông qua lăng kínhchủ quan của HS Việc hình thành và phát triển NCTVHĐ của HS THCS phụ thuộcrất lớn vào tính tích cực hoạt động của HS trong môi trường học tập, giao tiếp vớithầy cô giáo, bạn bè và những người xung quanh

Thực hiện tốt nguyên tắc này, yêu cầu khi nghiên cứu về NCTVHĐ của HSTHCS phải tìm hiểu nguồn gốc, nguyên nhân của nhu cầu này trong hoạt động họctập và giao tiếp

7.1.2 Nguyên tắc hoạt động

Nguyên tắc này khẳng định khi con người tham gia vào hoạt động từ đó nhucầu được hình thành, biểu hiện, phát triển và tìm kiếm các phương thức để thỏamãn NCTVHĐ của HS THCS được hình thành và thể hiện thông qua hoạt động vàgiao tiếp của HS THCS Cụ thể là NCTVHĐ của HS THCS được hình thành thôngqua hoạt động học tập và giao tiếp của HS với thầy cô giáo, bạn bè, cha mẹ vànhững người trong cộng đồng

7.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan

NCTVHĐ của HS THCS được hình thành một cách khách quan từ việc các

em xuất hiện KKTL và có nhu cầu tìm kiếm sự trợ giúp từ NTVHĐ cho việc giảiquyết các KKTL ấy Nguyên tắc này yêu cầu khi nghiên cứu về NCTVHĐ của HS

Trang 15

THCS phải đảm bảo tính trung thực, khách quan khi nghiên cứu về biểu hiện và cácmức độ của nhu cầu này.

Để đảm bảo nguyên tắc khách quan trong việc triển khai nghiên cứu, yêu cầu:

 Xây dựng, lựa chọn các phương pháp nghiên cứu sao cho phù hợp với đốitượng nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

 Nghiên cứu NCTVHĐ của HS THCS phải đặt trong mọi tình huống, mọihoàn cảnh cả điển hình và không điển hình

 Khi tiến hành nghiên cứu về NCTVHĐ của HS THCS phải loại bỏ nhữngyếu tố ngoại lai hoặc những yếu tố có tính suy luận chủ quan

7.1.4 Nguyên tắc phát triển

Bản chất của sự hình thành và phát triển tâm lý là quá trình liên tục tạo ra nhữngcấu tạo tâm lý mới Vì vậy khi nghiên cứu về NCTVHĐ của HS THCS phải nghiêncứu trong sự vận động, biến đổi, tương tác qua lại giữa nhu cầu này với các hiện tượngtâm lý khác

Thực hiện tốt nguyên tắc này trong nghiên cứu, yêu cầu:

 Khi nghiên cứu, đánh giá về NCTVHĐ của HS THCS phải đặt ở giai đoạnphát triển lứa tuổi thiếu niên và đặt trong một không gian cụ thể

 Thấy được sự vận động, phát triển, biến đổi của NCTVHĐ của HS THCS cả

ở thời gian hiện tại, quá khứ và dự báo tương lai phát triển

7.2 Các phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận, văn bản

7.2.2 Phương pháp chuyên gia

7.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

7.2.4 Phương pháp giải các bài tập tình huống

7.2.5 Phương pháp phỏng vấn sâu

7.2.6 Phương pháp quan sát

7.2.7 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

7.2.8 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử

7.2.9 Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study)

Trang 16

7.2.10 Phương pháp thực nghiệm

7.2.11 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học

8 Đóng góp mới của luận án

Những kết luận của luận án sẽ góp phần tạo cơ sở khoa học cho việc xâydựng các chương trình TVHĐ trong nhà trường THCS và góp phần đề xuất nhânrộng mô hình các phòng tâm lý học đường trong các nhà trường THCS Kết quảluận án là tài liệu tham khảo cần thiết cho các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, thựchành TVHĐ HS THCS Từ những kết quả bước đầu của thực nghiệm thông quahình thức CLB TVHĐ như một hình thức hoạt động TVHĐ có thể suy nghĩ đếnviệc tiếp tục xây dựng phòng tâm lý HĐ trong nhà trường THCS và tiến tới xâydựng phòng tâm lý HĐ trong cộng đồng dân cư

9 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo vàcác phụ lục, luận án bao gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận tâm lý học về NCTV học đường của học sinh THCS Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu.

Chương 3 Kết quả nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm.

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU NHU CẦU THAM VẤN

TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu về nhu cầu tham vấn tâm lý học đường ở nước ngoài

NCTV là một lĩnh vực nghiên cứu được bắt đầu chú trọng từ những năm 80 củathế kỷ trước khi vấn nạn rối nhiễu tâm lý trở nên nghiêm trọng trong xã hội côngnghiệp hiện đại Đặc biệt, NCTVHĐ của HS, sinh viên được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm khảo sát bởi đó là một trong những cơ sở quan trọng cho việc thành lập vànội dung hoạt động của các phòng TLHĐ trong trường học ở các nước trên thế giới Từ

đó cho đến nay, có khá nhiều cách tiếp cận về lĩnh vực này, tuy nhiên, có thể khái quátmột số xu hướng nghiên cứu chính sau:

1.1.1.1 Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu đánh giá sát thực trạng NCTV của HS, sinh viên ở các bậc học và trẻ khuyết tật

Đây là xu hướng nghiên cứu khá phổ biến trên thế giới Các nội dung nghiêncứu thường tập trung làm rõ nhu cầu nhận hỗ trợ từ các trung tâm TV, các vấn đề cần

TV, tần suất đến phòng TLHĐ, nguyên nhân cản trở đến các dịch vụ TV, mối quan hệgiữa stress và NCTV… Các nghiên cứu theo khuynh hướng này cho thấy những vấn đề

mà HS, sinh viên cần TV thường là các mối quan hệ xã hội, sự phát triển nghề nghiệp,giá trị sống, kĩ năng học tập, việc rèn luyện và phát triển bản thân (Egbochuku, 2008;Nyutu & Gysbers, 2007; Morgan, Stiffan, Shaw & Wilson, 2007) [80] Các kết quảnghiên cứu khẳng định rằng, tần suất đến phòng TLHĐ của HS, sinh viên là khá hạnchế vì họ bị cản trở bởi nhiều nguyên nhân, như: lo ngại về tính bảo mật của thông tin

cá nhân; sự phức tạp của một số quy trình TV; không tự tin vào bản thân và không tintưởng vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ của của đội ngũ TV (Morgan, Stiffan, Shaw

& Wilson, 2007) Kết quả của các nghiên cứu đồng thời cho thấy HS, sinh viên với nhucầu khác nhau sử dụng các dịch vụ TV khác nhau Có thể nói, xu hướng khảo sát thựctrạng NCTVHĐ cũng là một xu hướng nổi bật ở các nước Châu Á hiện nay, nơi mà

Trang 18

TVTL HĐ, TV giáo dục vẫn là một lĩnh vực còn khá mới mẻ Vì thế, những nghiêncứu về thực trạng NCTV của HS, sinh viên một cách bài bản và khoa học là hết sứccần thiết nhằm cung cấp các dữ liệu và dữ kiện cụ thể về các nhu cầu cũng như cácdịch vụ TV hiện có và chỉ ra những thay đổi cần thiết cần phải đạt được để cải thiệndịch vụ TV dựa trên NCTV của các TC (Gỹneri, Aydın & Skovholt, 2007)[92].

Đối với các nước Âu Mỹ, xu hướng khảo sát thực trạng NCTVHĐ của HS chỉphát triển và được chú trọng vào những năm 80 và 90 của thế kỷ trước Hiện nay, việcđiều tra về NCTV ở HS, sinh viên nói chung là điều tất yếu mà các trung tâm TV trongcác trường học từ bậc tiểu học đến bậc ĐH ở các nước Âu Mỹ phải chú trọng thựchiện hàng năm, hàng quý Việc khảo sát NCTV hầu hết được tiến hành và xử lý mộtcách chuyên nghiệp và khoa học qua các hệ thống trực tuyến trên các website Ngoài

ra, có thể nhận thấy hiện nay việc nghiên cứu thực trạng NCTV ở các nước Âu Mỹ hầunhư chỉ hướng đến các đối tượng đặc biệt như trẻ khuyết tật, HS, sinh viên có năngkhiếu đặc biệt (Peterson, 2006) [93], những HS nổi bật nhưng lại bị khuyết tật học tập(academically talented students with learning disability) (Reis & Colbert, 2004) [88]

1.1.1.2 Xu hướng nghiên cứu thứ hai: Phát triển các thang đo về NCTV

Theo Nyutu (2001), ban đầu, những nghiên cứu về NCTV theo xu hướng điềutra (survey research) được thực hiện dựa trên một số công cụ và phương pháp đơn giảnnhư phỏng vấn theo nhóm, phỏng vấn trọng tâm (focus group) và bảng hỏi…hoặc chỉsử dụng các công cụ đánh giá về nhu cầu (Students Needs Assessment Survey) ở HS,sinh viên Về sau, nhằm đánh giá chính xác, khách quan và khoa học về thực trạngNCTV ở HS, sinh viên nói trên, việc xây dựng và phát triển các thang đo về NCTV cóđầy đủ tính hiệu lực và độ tin cậy được chú trọng [80]

Ở Châu Phi, thang đo “The Students Counseling Needs Scale” (Thang đo

nhu cầu TV cho HS) của Nyutu (2007) được sử dụng khá phổ biến Thang đo nàycũng được chính Nyutu & Gysbers (2010) sử dụng trong một nghiên cứu gần đây

“Nhu cầu tham vấn của HS THPT Kenya” [80] Nghiên cứu được thực hiện trên

867 HS THPT ở Kenya Nghiên cứu một lần nữa khẳng định tầm quan trọng củaviệc sử dụng công cụ đánh giá để xác định NCTV tại Kenya thay cho các công cụ

Trang 19

đánh giá nhu cầu chung ở HS, sinh viên Xu hướng này vẫn đang rất được khuyếnkhích tại các nước Châu Á và Châu Phi.

Riêng ở các nước Châu Âu và Châu Mỹ, các nghiên cứu về phát triển thang đo

và công cụ đánh giá NCTV cũng ít được chú trọng Chỉ cần vào Google và gõ

“Counselling needs assessment survey”, chúng ta sẽ nhận 8.640.000 kết quả về các

bảng hỏi có bản quyền, đầy đủ độ tin cậy và tính hiệu lực để khảo sát NCTV của HS,sinh viên tại rất nhiều trường ĐH thuộc Châu Âu và Châu Mỹ Các công cụ này hỗtrợ rất lớn cho các NTV xây dựng mô hình TV đáp ứng đúng nhu cầu của các TC như

McGannon, Carey & Dimmitt (2007) có nhận định: “Tham vấn học đường có tiềm

lực to lớn trong việc giúp HS, sinh viên đạt các tiêu chuẩn cao hơn trong các lĩnh vực học đường và cuộc sống; điều này phần lớn phụ thuộc vào các công cụ đo lường NCTV và các phương pháp cải thiện hành vi của HS, sinh viên” [67].

1.1.1.3 Xu hướng nghiên cứu thứ ba: Nghiên cứu xây dựng các mô hình tham vấn, thay đổi nội dung, chương trình hoạt động TVHĐ

Hiện nay, đây là một xu hướng nghiên cứu mang tính thực tiễn và có ý nghĩa xãhội rất lớn Nhiều mô hình TV đã và đang được phát triển và được vào áp dụng, manglại hiệu quả cao tại một số trường ĐH và THPT Như ở Hoa Kỳ có mô hình TV HSdựa trên kinh nghiệm; mô hình TV của Trường Illinois (2007), mô hình TV củaTrường ĐH tổng hợp Winsconsin (2008) và đặc biệt là mô hình TV chuyển đổi của cáctác giả Eschenauer và Chen-Hayes (2005) dành cho các trường học ở đô thị Bên cạnh

đó, còn có các mô hình TLHĐ như mô hình phân phối dịch vụ tâm lý học trường học 3tầng (năm 2008), mô hình dịch vụ TVHĐ tích hợp và toàn diện (năm 2010) Ở Pháp đãhình thành một mạng lưới hỗ trợ đặc biệt (RASED) Đây là mô hình trợ giúp đặc biệtbao gồm những hoạt động cùng nhau phòng ngừa và khắc phục khi GV không có biệnpháp thay thế nào Mạng lưới RASED có hai nhiệm vụ chính là phòng ngừa và chỉnhtrị/hỗ trợ Ở Singapore có mô hình Dịch vụ chăm sóc HS (Student Care Service –SCS) Ở Trung Quốc có mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các nhà trường cho

HS các cấp [49]… Các nghiên cứu đã cho thấy được nội dung, đặc điểm, biểu hiện,mức độ của nhu cầu được TVHĐ cho HS khi HS có khó khăn tâm lý (KKTL) Các

Trang 20

nghiên cứu này nói chung đều có thể được ứng dụng hiệu quả trong việc xây dựng cácchương trình, kế hoạch chẩn đoán, phòng ngừa và can thiệp sớm trong HĐ.

Như vậy, ở nước ngoài cùng với bề dày phát triển của hoạt động TV nói chung,TVHĐ nói riêng, các nghiên cứu theo ba khuynh hướng trên đã góp phần giúp cácNTVHĐ có cơ sở để tìm các biện pháp để đề xuất và thử nghiệm các biện pháp nhằmđáp ứng NCTVHĐ cho HS, sinh viên Ban đầu là những nghiên cứu nhằm khảo sátthực trạng nhu cầu được TVHĐ với những biểu hiện về nhu cầu này và các phươngthức thỏa mãn tiếp đến những nghiên cứu theo xu hướng thiết kế các thang đo nhằmxác định về nhu cầu này ở HS với các mức độ khác nhau Xu hướng nghiên cứuNCTVHĐ bằng việc thiết kế thang đo nhằm khảo sát thực trạng biểu hiện, mức độ vàcác nhân tố ảnh hưởng đến việc thỏa mãn nhu cầu này ở HS là cơ sở ứng dụng cho việcxây dựng các mô hình TVHĐ hợp lý và hiệu quả Ưu điểm của xu hướng này là xuấtphát từ những KKTL của HS, nghiên cứu mối quan hệ giữa KKTL và NCTV để xácđịnh mức độ nhu cầu và khả năng đáp ứng NCTV Xu hướng nghiên cứu này đang phùhợp với tình hình hoạt động TVHĐ ở Việt Nam khi cần có các cơ sở khoa học quantrọng chứng minh tính hiệu quả của mô hình các phòng TLHĐ từ đó khẳng định vai trò

của hoạt động TVHĐ nói chung và vai trò của NTVHĐ nói riêng Chúng tôi nhất trí

nghiên cứu NCTV học đường theo hướng tiếp cận này.

1.1.2 Các nghiên cứu về NCTV học đường ở Việt Nam

Nghiên cứu về NCTV đã thu hút được khá nhiều tác giả trong nước quan tâm

ở các khía cạnh khác nhau Các tác giả đã đi sâu tìm hiểu những KKTL của HS, cáccách ứng phó với những KKTL, đánh giá hoạt động TV và vai trò của NTV tronggiai đoạn hiện nay làm cơ sở cho việc xây dựng các phòng TLHĐ và đánh giá hiệuquả của hoạt động TV Các công trình nghiên cứu về NCTV ở Việt Nam chủ yếuđược tiến hành theo hai xu hướng sau:

1.2.1.1 Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu đánh giá thực trạng NCTV

của HS, sinh viên

Tiêu biểu trong xu hướng nghiên cứu này là nghiên cứu của tập thể cán bộKhoa Tâm lý - Giáo dục, Trường ĐHSP Hà Nội (2005) cũng chỉ ra rằng NCTV của

Trang 21

HS hiện nay là rất lớn nhưng lực lượng TV chủ yếu là GV [24] Nghiên cứu này đãđặt ra vấn đề trong nhà trường cần có các NTV để trợ giúp HS giải quyết các KKTLvới các lĩnh vực khác nhau Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề xuất cần thành lập cácphòng TV tâm lý và nhân rộng mô hình này ra các trường phổ thông khác Tuynhiên, nghiên cứu chưa tìm hiểu sâu về đối tượng HS THCS với các hoạt động đặcthù để từ đó thấy được sự khác biệt và đặc thù của hoạt động TVHĐ ở nhà trườngTHCS so với các loại hình trường khác.

Nghiên cứu về NCTV của HS THCS và THPT trên địa bàn thành phố Hà Nộicủa tác giả Nguyễn Thị Mùi và cộng sự (2006) [34] Từ nghiên cứu này, nhóm tác giả

đã đề xuất mô hình phòng TV tâm lý trong các nhà trường để đáp ứng nhu cầu TVngày càng cao của HS Nghiên cứu về KKTL và NCTV của HS THPT ở Hà Nội, Nam

Định và Vĩnh Phúc của tác giả Dương Diệu Hoa và cộng sự (2007) [18] “Khó khăn

tâm lý và nhu cầu tham vấn của HS THPT” Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những

KKTL thường gặp ở HS phổ thông, cách giải quyết những KKTL đó, mức độ tiếp cậncủa HS ngày nay với các dịch vụ TV, các khía cạnh trong NCTV ở HS, hình thức tổchức TV, nhu cầu về việc mở phòng TV ở trường phổ thông từ đó đề xuất các biệnpháp nâng cao hiệu quả TV ở trường phổ thông Nghiên cứu này đã mở ra hướngnghiên cứu về NCTV xuất phát từ KKTL Tuy nhiên nghiên cứu này mới dừng lại ở

HS THPT một số trường trên địa bàn thành phố Hà Nội, chưa đề cập đến nội dungKKTL và NCTV ở HS THCS Nghiên cứu tại Trường ĐH Lao động - xã hội về thựctrạng nhu cầu và dịch vụ TV và nêu lên sự thiếu hụt cũng như khó tiếp cận của dịch vụnày trong khi nhu cầu về dịch vụ này ngày càng cao của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga(2006) [35] Nghiên cứu này đã mở ra hướng phát triển dịch vụ TV không chỉ ở cáctrường phổ thông mà còn ở các nhà trường ĐH, cao đẳng với đối tượng là sinh viên.Nhưng nghiên cứu này cũng chưa đề cập đến KKTL và NCTV ở từng lĩnh vực hoạtđộng của sinh viên, đặc biệt là hoạt động học tập và giao tiếp

Bên cạnh những điều tra, đã có một số cuốn giáo trình tác giả Trần Thị MinhĐức, Bùi Thị Xuân Mai, Nguyễn Thơ Sinh Các bài báo và nghiên cứu về kĩ năng TVtâm lý trong đó có đề cập đến TV, NCTV của các tác giả Bùi Thị Xuân Mai

Trang 22

[30;31;32], Trần Thị Minh Đức [9;14], luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Anh Phước

“Kĩ năng tham vấn của cán bộ tham vấn học đường” [40]; bài viết của tác giả Trần

Quốc Thành “Nhu cầu tham vấn trong xã hội hiện nay” [44]; tác giả Vũ Kim Thanh

“Tư vấn tâm lý – một nhu cầu xã hội cần được đáp ứng” [45]… đề cập đến các vấn đề

về thuật ngữ, vai trò của NTV, các hoạt động TV ở các nhà trường khác nhau, mốiquan hệ của TV với các ngành nghề khác, mô hình TV; bài báo của hai tác giả Đinh

Thị Hồng Vân và Trần Thị Tú Anh “Thành lập văn phòng tham vấn tâm lý trong các

trường học ở tỉnh Thừa Thiên Huế - Nhu cầu cấp thiết hiện nay” [1] đã đề cập đến lý

do cần thiết thành lập văn phòng tham vấn tâm lý trong các trường học ở tỉnh ThừaThiên Huế đó là xuất phát từ vai trò của TVHĐ, thực trạng sức khỏe tâm thần vàNCTV của HS, sinh viên; báo các khoa học của nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bé và

Phạm Thị Quyên “Các yếu tố ảnh hướng đến NCTV hướng nghiệp của học sinh THPT

thành phố Huế” [1] cũng đã đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng đến NCTV hướng nghiệp

của HS THPT ở thành phố Huế, trong đó yếu tố “tính cách cá nhân” có ảnh hưởngnhiều nhất đến nhu cầu này Bên cạnh đó còn một số nghiên cứu về NCTV trong cácloại hình trường được viết dưới dạng các báo cáo trong các hội thảo về TVHĐ như tácgiả Trần Thị Thìn với bài báo viết về hoạt động TVHĐ ở Nghệ An; tác giả Nguyễn ChíTăng với bài báo viết về NCTV của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Bà Rịa –Vũng Tàu; tác giả Trần Thị Kim Huệ với vấn đề ứng phó với stress và NCTV ở QuảngNgãi [1] Trong đó, các tác giả đã phản ánh thực trạng của TV ở Việt Nam và khẳng

định hoạt động TVHĐ tại Việt Nam hiện nay vẫn còn đang “mới lạ và thầm lặng ở

các cấp cơ sở” [9; tr.96] Mặc dù NCTV có cao nhưng khả năng đáp ứng của TVHĐ

còn chưa tương xứng và chưa thực sự mang tính chuyên nghiệp

1.2.1.2 Xu hướng thứ hai: Nghiên cứu đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp nhằm

đáp ứng NCTV cho HS, sinh viên

Các tác giả Nguyễn Thị Mùi (2009) [59], Phạm Mạnh Hà, Trần Anh Châu(2009) [59] đã nghiên cứu thử nghiệm nhằm đáp ứng NCTV cho HS, sinh viên, môhình của Trung tâm hỗ trợ tư vấn tâm lý (CACP) thuộc trường ĐH Khoa học Xã hội vàNhân văn Hà Nội về xây dựng mô hình TVHĐ trong các trường THPT; nghiên cứu

Trang 23

thực trạng NCTV tại Thành phố Hồ Chí Minh do nhóm nghiên cứu với các tác giảTrần Thị Giồng và Đỗ Văn Bình thực hiện năm 2003 [Dẫn theo 40] đã đi đến nhậnđịnh: NCTV là nhu cầu có thực ở Việt Nam nói chung và trong HĐ nói riêng Để nângcao hiệu quả cho công tác TV, nhóm nghiên cứu đã kiến nghị cần phải có kế hoạch đầu

tư vào việc đào tạo các chuyên viên TV dài hạn ở nước ngoài, khuyến khích các trường

ĐH mở mã ngành TVTL Bên cạnh đó, cần phải xây dựng quy chế kiểm tra, giám sát,

hỗ trợ từ phía các cơ quan chuyên môn Tác giả Trần Thị Lệ Thu trong nghiên cứu

(2010) [47] “Xây dựng và phát triển tâm lý học đường tại trường ĐHSP Hà Nội và

một số đề xuất về đào tạo cán bộ tâm lý học đường tại Việt Nam”, đã đề cập đến thực

trạng hoạt động TV và thực trạng nhu cầu hỗ trợ tâm lý, thực trạng NCTV hiện nay tạiTrường ĐHSP Hà Nội và các cơ sở giáo dục ở Hà Nội; những biện pháp trợ giúp sinhviên vượt qua những KKTL, những chiến lược cho việc phát triển ngành tâm lý họcđường tại Việt Nam cũng như những biện pháp TVTL cho sinh viên khi gặp KKTL

Đặc biệt, hội thảo “Nhu cầu, định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam”

(2011) [1] đã đánh giá thực trạng NCTV của HS, sinh viên tại Việt Nam, trao đổi kinhnghiệm, đề xuất mô hình TVHĐ cũng như kiến nghị về sự cần thiết về việc mở phòngTLHĐ đáp ứng NCTV của HS trong nhà trường phổ thông hiện nay với rất nhiều cáctác giả, những nhà nghiên cứu đã công bố các kết quả nghiên cứu của mình ở các tỉnhthành khác nhau như tác giả Nguyễn Thị Hà Lan đã đề cập đến tính cấp thiết của việcthành lập các trung tâm hỗ trợ tâm lý học đường tại các trường đại học ở Việt Nam đểđáp ứng NCTV của các em; tác giả Trần Thị Xuyến với việc đưa ra mô hình tư vấntâm lý học đường – một mô hình cần thiết cho lứa tuổi thiếu niên; tác giả Nguyễn ThịHằng Phương đã đề cập trong báo cáo của mình về nguyên nhân dẫn đến rối nhiễu tâm

lý và nhu cầu được hỗ trợ tâm lý của HS THPT ở trường chuyên Quảng Bình; tác giảTrương Thị Hoa với bài đề cập đến tính hiệu quả của mô hình sinh viên tham gia hoạtđộng tư vấn, tham vấn hướng nghiệp cho HS THPT của dự án PHE [1]…

Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu, tuy không đi sâu vào tìm hiểu vấn

đề TV nhưng đã chỉ ra được thực trạng khó khăn và rối nhiễu tâm lý của lứa tuổi HSphổ thông, từ đó có những kiến nghị cần thiết phải có các trung tâm TV trong nhà

Trang 24

trường Chẳng hạn, trong đề tài “Cách thức ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn

cảnh khó khăn” của tác giả Phan Mai Hương và cộng sự (2007) [56] đã khẳng định

được sự cần thiết phải có hoạt động TV trong trường học giúp trẻ có khả năng lựachọn cách ứng xử tích cực, thích hợp với hoàn cảnh và tạo nhân tố cho sự phát triển

nhân cách Tác giả Bùi Thị Thu Huyền (2007) [22] trong bài báo “Tham vấn – trị

liệu tâm lý đối với học sinh có biểu hiện rối nhiễu hành vi” đã nhấn mạnh đến tầm

quan trọng không thể thiếu của NTV trong môi trường HĐ Gần đây, hoạt động TV ởtrường học đã được chú ý và thúc đẩy mạnh mẽ Kết quả TV tại một số trường phổthông ở Hà Nội (như trường THPT Nguyễn Tất Thành, trường THPT Trần HưngĐạo) cho thấy bên cạnh những chủ đề về tình bạn, tình yêu thì vấn đề học tập, hướngnghiệp và quan hệ giữa cha mẹ và con cái liên quan đến áp lực học tập luôn là nhữngnội dung khiến các em băn khoăn nhiều nhất – 57,5% [9; tr 97] Điều này đã chothấy: NCTVHĐ của HS ngày nay là tương đối cao và cần được đáp ứng

Khái quát các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về NCTV, có thể rút ra nhận xét khái quát như sau:

(1) Hoạt động TV theo hướng chuyên nghiệp trên thế giới đã có một chiềudài lịch sử, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Nhữngnghiên cứu về TV đặc biệt là NCTVHĐ đã góp phần cho sự phát triển của hoạtđộng này ngày một chuyên nghiệp

(2) Tại Việt Nam, TV cũng đã xuất hiện khá sớm, đang dần dần trở nên phổbiến và mang tính chuyên nghiệp Trong quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, NCTVngày một gia tăng và kéo theo sự phát triển mang tính chuyên sâu của lĩnh vực này.Tuy nhiên, hoạt động này còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng Để đáp ứngnhu cầu của xã hội, trong thời gian vừa qua, một số cá nhân, cơ quan, tổ chức đã nỗ lựctriển khai các nghiên cứu và chỉ ra nhu cầu cũng như một số bất cập của hoạt động TV

(3) Đã có nhiều nghiên cứu về NCTV ở trong và ngoài nước với các nộidung, đối tượng khác nhau phù hợp với đời sống tinh thần của con người Tuynhiên, những nghiên cứu sâu về NCTV đặc biệt là về NCTVHĐ nhằm góp phầnđưa ra cơ sở khoa học cho việc xây dựng và tổ chức các hoạt động TVHĐ còn chưa

Trang 25

nhiều Đặc biệt hơn nữa, những nghiên cứu về NCTVHĐ với TC là HS THCS vàvới sự đánh giá nhu cầu này đứng từ phía GV, CMHS, lực lượng khác trong nhàtrường và NTVHĐ còn khá hiếm tại Việt Nam.

(4) NCTVHĐ có nhiều nội dung xuất phát từ những KKTL đối với HS như vấn

đề giới tính, sức khỏe sinh sản, môi trường, ma túy HĐ, bắt nạt, bạo lực HĐ … Trong

đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu NCTVHĐ của HS xuất phát từ KKTL ở haihoạt động phổ biến là hoạt động học tập và giao tiếp, ứng xử để từ đó đề xuất và tổchức hoạt động TVHĐ nhằm đáp ứng kịp thời và hợp lý nhu cầu này ở các em

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản

1.2.1 Nhu cầu

1.2.1.1 Khái niệm nhu cầu

Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý, chi phối mạnh mẽ đến đờisống tâm lý con người nói chung và đến hành vi nói riêng Nhu cầu được nhiềungành khoa học nghiên cứu trên các khía cạnh tiếp cận khác nhau Khi bàn về nhucầu trong tâm lý học có nhiều quan niệm khác nhau:

S Freud (1856 – 1939) cũng đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý

thuyết bản năng của con người” Ông khẳng định, phân tâm học coi trọng nhu cầu tự

do cá nhân như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục Việc thoả mãn nhucầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tự nhiên, và như thế, tự do cá nhân thực sự đượctôn trọng, kìm hãm nhu cầu này sẽ dẫn đến hành vi mất định hướng của con người

[95] Erich Fromm, nhà phân tâm học mới, quan niệm rằng: “Nhu cầu tạo ra cái tự

nhiên của con người” [Dẫn theo 2, tr.70] Dựa theo quan điểm của trường phái phân

tâm học trong TVHĐ cho thấy việc xuất hiện NCTVHĐ là tất yếu khi HS tham gia vàocác hoạt động khác nhau ở nhà trường NTVHĐ cần xác định rõ mức độ của nhu cầunày để tổ chức các hoạt động TV tâm lý phù hợp giúp các em thỏa mãn nhu cầu và giảiquyết được KKTL mà mình gặp phải

Abraham Maslow (1908-1970) trong lý thuyết thang bậc nhu cầu, ông sắp

xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự TB, trong đó, các nhu cầu

ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được

Trang 26

thỏa mãn trước Hệ thống TB nhu cầu của A.Maslow thường được thể hiện dướidạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới [95] Họcthuyết này giúp NTV xác định được TB nhu cầu hiện tại của TC, từ đó xây dựngchiến lược giúp đỡ TC Trong TVHĐ đối với TC là HS cần xác định được TB trongNCTVHĐ của các em từ đó tổ chức các hoạt động TVHĐ hợp lý giúp các em thỏamãn nhu cầu này một cách phù hợp.

X.L Rubinstein khẳng định rằng con người có nhu cầu sinh vật, nhưng bảnchất của con người là sản phẩm của xã hội vì thế phải xem xét đồng thời các vấn đề

cơ bản của con người với nhân cách Nói đến nhu cầu của con người nói đến việc đòihỏi một cái gì đó hay một điều gì đó nằm ngoài con người trong quá trình hoạt động

để thoả mãn nhu cầu Khả năng đáp ứng những đòi hỏi ấy một mặt phụ thuộc vào thếgiới đối tượng, trong những điều kiện cụ thể, mặt khác nó phụ thuộc vào sự nỗ lực,năng lực của chính chủ thể Do đó, do đó, khi nói đến nhu cầu sẽ xuất hiện hai hệthống là: thế giới đối tượng và trạng thái tâm lý của chủ thể Tức là phải có mối quan

hệ thống nhất giữa hai yếu tố khách quan (của đối tượng) và yếu tố chủ quan (của chủthể) trong hoạt động thoả mãn nhu cầu Nhu cầu mang tính tích cực, thúc đẩy conngười hoạt động tìm kiếm cách thức, phương tiện đối tượng thoả mãn nó [Dẫn theo

17, tr.251] Với NCTVHĐ của HS muốn được thỏa mãn cần tổ chức các hoạt độngTVHĐ cho HS tham gia từ đó HS có thể tìm kiếm được giải pháp giải quyết với vấn

đề của mình đang phải đối mặt

P.X Ximonov thì cho rằng: trong trường hợp nhu cầu cấp bách xuất hiện màthiếu hụt thông tin về khả năng thoả mãn, sẽ nảy sinh những rung cảm âm tính, tăngnăng lượng nhu cầu Tuy nhiên, kết quả hành vi lại không thuận lợi Kết quả dươngtính sẽ làm giảm tổng thể các hành động thoả mãn nhu cầu Theo ông, đặc điểm nhucầu phụ thuộc vào việc được trang bị thông tin, công cụ và cách thức nhằm thoảmãn nhu cầu Vì vậy, để xuất hiện NCTVHĐ của HS cần cung cấp thông tin chocác em về hoạt động TVHĐ trong nhà trường từ đó các em sẽ lựa chọn TVHĐ đểgiải quyết những KKTL gặp phải

A.N Leonchiev cho rằng: cũng như những đặc điểm tâm lý khác của con

Trang 27

người, nhu cầu cũng có nguồn gốc trong hoạt động thực tiễn Theo ông, nhu cầuthực sự bao giờ cũng có tính đối tượng: nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái

gì đó Trong mối quan hệ giữa đối tượng thoả mãn nhu cầu và nhu cầu, ông chorằng: đối tượng tồn tại một khách quan và không xuất hiện khi chủ thể mới chỉ cócảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi Chỉ khi chủ thể thực sự hoạt động thì đối tượng thoảmãn nhu cầu mới xuất hiện và lộ diện ra Nhờ có sự lộ diện ấy mà nhu cầu mới cótính đối tượng của nó [25, tr.228] Như vậy, dựa vào quan điểm của A.N.Leonchiev,muốn xuất hiện nhu cầu TVHĐ ở HS cần tổ chức các hoạt động TVHĐ đa dạng từ

đó HS mới tìm được đối tượng thỏa mãn nhu cầu này của mình

B.Ph Lomov khi nghiên cứu về nhân cách, ông cũng đề cập khá nhiều đến

nhu cầu Ông cho rằng nhu cầu như là một thuộc tính của nhân cách “Nhu cầu cá

nhân là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy

ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình.

Dĩ nhiên, nhu cầu là trạng thái của cá nhân, nhưng là nhu cầu về một cái gì đó nằm ngoài cá nhân” [27, tr 479].

P.A Rudich quan niệm “Nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động người

ta thấy một sự cần thiết nhất định nào đó về một điều gì đó” [41].

Theo từ điển của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (2001), “Nhu cầu là điều cần

thiết để đảm bảo tồn tại và phát triển” [58, tr 266] Nhu cầu được thỏa mãn thì dễ

chịu, không được thỏa mãn thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức

Theo từ điển tâm lý học của tác giả Vũ Dũng, “Nhu cầu là trạng thái của cá

nhân xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình, là nguồn gốc tích cực của cá nhân” [7, tr 190].

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhu cầu, chúng tôi thống nhất sử dụng

khái niệm do tác giả Nguyễn Quang Uẩn nêu ra trong giáo trình Tâm lý học đại

cương làm công cụ cho luận án này: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người

thấy cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển” [54].

Sự thỏa mãn nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân và

Trang 28

tập thể Nhu cầu quyết định xu hướng lựa chọn suy nghĩ, tình cảm và ý chí của conngười Nếu không có nhu cầu hay nhu cầu không được đáp ứng thì nó ảnh hưởng đếnhoạt động xã hội của con người nói chung và đến sự phát triển con người nói riêng.

1.2.1.2 Đặc điểm nhu cầu

- Nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng: Đối tượng của nhu cầu là tất cả

những yếu tố vật chất và tinh thần trong thế giới hiện thực có thể thỏa mãn đượcyêu cầu để tồn tại và phát triển Khi nào nhu cầu gặp đối tượng có khả năng đáp ứngđược sự thỏa mãn thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạtđộng nhằm hướng đến đối tượng Đối tượng của nhu cầu càng được xác định cụ thể,

rõ ràng thì ý nghĩa của nó đối với đời sống cá nhân và xã hội càng được nhận thứcsâu sắc và nhanh chóng được nảy sinh, củng cố và phát triển

- Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn quy định: Mỗi cá nhân đều được đặt trong một điều kiện sống nhất định, rộng hơn là

điều kiện kinh tế - xã hội lịch sử cụ thể Điều kiện sinh hoạt vật chất là cơ sở tạonên mặt nội dung của nhu cầu Vì thế, xem xét mặt nội dung của nhu cầu có thể cho

ta thấy được những điều kiện sống bên ngoài của cá nhân đó

- Nhu cầu của con người có tính chu kì: Khi một nhu cầu được thỏa mãn thì

đồng nghĩa với sự triệt tiêu của nhu cầu đó, nó sẽ xuất hiện trở lại khi nào nhữngđiều kiện gây nên những nhu cầu ấy diễn ra Mặt khác, tính chu kì còn thể hiện ởchỗ khi một nhu cầu này được thỏa mãn thì sẽ xuất hiện nhu cầu khác cao hơn Nhờvậy, con người tích cực hoạt động để thỏa mãn liên tiếp các nhu cầu, nhân cách củacon người ngày càng hoàn thiện

- Nhu cầu của con người khác xa về chất so với nhu cầu của con vật Nhu cầu của con người mang bản chất xã hội: Ở con người cũng tồn tại những nhu cầu

mang tính bản năng, nhưng đã được xã hội hóa, được chế ước bởi xã hội Một trongnhững sự khác biệt về chất giữa nhu cầu của con vật và nhu cầu của con người là sựkhác biệt về điều kiện và phương thức thỏa mãn Ở con người, những yếu tố này ngàycàng được nâng lên trình độ cao hơn, tốt hơn, văn minh hơn nhờ vào khả năng lao động

Trang 29

sáng tạo Còn ở con vật, điều kiện và phương thức thỏa mãn về bản chất vẫn là thuầntúy bản năng, nếu có sự thay đổi nhất định nào đó cũng do con người sáng tạo ra [54].

1.2.1.3 Phân loại nhu cầu

Có nhiều tác giả khác nhau đưa ra các cách phân loại nhu cầu khác nhau [36]:

- Erich Fromm, nhà phân tâm học mới, đưa ra những nhu cầu:

+ Nhu cầu quan hệ người – người

+ Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người.

+ Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo

+ Nhu cầu về sự bền vững và hài hoà

+ Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu

- A.H Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc: nhu cầu

cơ bản (basic needs); nhu cầu về an toàn (safety needs); nhu cầu về xã hội (socialneeds); nhu cầu về được quý trọng (esteem needs); nhu cầu được thể hiện mình(self-actualizing needs) Sau đó, vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp này đãđược các nhà tâm lí học thuộc trường phái tâm lí học nhân văn hiệu chỉnh thành 7bậc và cuối cùng là 8 bậc [36]:

1 Nhu cầu cơ bản (basic needs) 5 Nhu cầu được thể hiện mình

4 Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs) 8 Sự siêu nghiệm (transcendence)

- Tác giả Steven Reiss trong cuốn sách “The Normal Personality- A new way

of thinking about people” (Nhân cách bình thường – Một cách nghĩ khác về con người) đã chia thành 16 loại nhu cầu [95]:

1 Nhu cầu chấp nhận: muốn tránh không bị

phê bình và chối bỏ

9 Nhu cầu vận động cơ thể

2 Nhu cầu tò mò: khát khao về mặt nhận

thức 10 Nhu cầu quyền lực, khát khaoảnh hưởng đến mọi người

3 Nhu cầu ăn uống: khát khao với thức ăn 11 Nhu cầu tình dục

4 Nhu cầu gia đình: nuôi dạy con cái 12 Nhu cầu tiết kiệm, tích lũy

Trang 30

5 Nhu cầu tự trọng: hành xử theo đạo đức 13 Nhu cầu kết nối xã hội, bạn bè

6 Nhu cầu công bằng: khát khao về sự công

bằng xã hội 14 Nhu cầu địa vị xã hội, khátkhao danh tiếng

7 Nhu cầu độc lập 15 Nhu cầu bình an nội tâm

Như vậy, chưa có cách phân chia nào chỉ rõ vị trí của NCTVHĐ, tuy nhiênchúng tôi quan niệm: NCTVHĐ có thể được phân loại là một loại nhu cầu tinh thầncủa con người Đây là một loại nhu cầu đặc biệt

1.2.1.4 Các mức độ của nhu cầu

Nhu cầu có thể tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau X.L Rubinstêin cho rằng,trên con đường chiếm lĩnh đối tượng luôn luôn có sự tham gia của ý thức ở nhữngmức độ khác nhau Chính ý thức đó giúp cho nhu cầu ở con người khác hẳn với nhucầu ở con vật Do vậy việc xem xét các mức độ khác nhau của nhu cầu sẽ thấy rõnhu cầu với tư cách là hoạt động tâm lý thì còn mức độ ý thức của nhu cầu sẽ xácđịnh những dạng cụ thể của nhu cầu [Dẫn theo 17]

- Giai đoạn đầu tiên, mức độ thấp nhất của nhu cầu là ý hướng Mặc dù trong

giai đoạn này, nhu cầu được phản ánh trong ý thức còn mù mờ, chưa rõ ràng.Nhưng chính những tính chất của ý hướng cũng chứng minh được những phẩm chấtđặc biệt của nó khác hẳn với nhu cầu ở động vật Bởi vì, ý hướng của con người,không thể tách rời thế giới trọn vẹn của nhân cách Ý hướng không tách rời cuộcsống của con người với tư cách là một thực thể xã hội Ý hướng được xem là bướcđầu tiên xuất hiện nhu cầu khi mà nhu cầu chưa ý thức được đối tượng được thoảmãn Có nghĩa là, trong mức độ này của nhu cầu, chủ thể chưa ý thức về đối tượngthoả mãn nhu cầu (cũng như chưa phản ánh được phương thức, phương tiện thoảmãn nhu cầu đó) Khi đối tượng thoả mãn nhu cầu được chủ thể ý thức thì bản thânnhu cầu đó chuyển sang một giai đoạn mới, mức độ mới, đó là ý muốn

- Ý muốn là giai đoạn thứ hai của nhu cầu khi mà chủ thể đó nhận ra được đối

tượng cũng như mục đích của hoạt động thoả mãn nhu cầu Tuy nhiên, ở mức độ nàychủ thể vẫn chưa tìm ra được phương pháp, phương tiện thoả mãn nhu cầu Lúc này, ýmuốn có liên quan đến hoạt động rộng lớn (tính ước mơ, tính cảm xúc ) Một khi xuấthiện ý muốn như thế sẽ xuất hiện khuynh hướng mới cho phép chủ thể đi tìm con

Trang 31

đường và phương tiện để thực hiện ý muốn này Như vậy, khi mà chủ thể đã xác địnhđược đối tượng, tìm thấy được ý nghĩa của những hoạt động của mình sẽ tạo nên tínhtích cực bên trong của chủ thể, thúc đẩy quá trình tìm kiếm phương thức để thoả mãnnhu cầu của mình Cho đến khi các con đường và phương tiện đó được tìm thấy thì ýmuốn biểu hiện dưới dạng một khuynh hướng đó được nhận rõ hoàn toàn Theo mức

độ nhận thức ấy, ý muốn sẽ chuyển sang một giai đoạn mới là ý định

- Ý định là giai đoạn cao của ý thức trong nhu cầu của con người, nghĩa là

bản thân chủ thể đó nhận thức rõ cả về mục đích và phương tiện thực hiện mục đíchcủa hành động Chủ thể có khả năng nhận thức rõ sự sẵn sàng hành động theo mộtphương hướng xác định, đồng thời chủ thể cũng có khả năng nhận thức về nhữngkết quả (và hậu quả do những hành động của mình mang lại) ý định tự thân nókhông chỉ là mục đích mà còn là hành động, hành động dẫn tới mục đích

Trong luận án này, chúng tôi nhất trí với cách phân chia nhu cầu thành ba mức độ: Ý hướng, ý muốn và ý định để phân chia thành 3 mức độ tương ứng của NCTVHĐ của HS THCS.

1.2.2 Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường

1.2.2.1 Tham vấn

a Khái niệm tham vấn

Trong Từ điển tiếng Anh, thuật ngữ “Counselling” được định nghĩa là

“Professional advice and help given to people with a problem” Như vậy,

“Counselling” được hiểu là “Lời khuyên và sự trợ giúp chuyên môn cho những người có khó khăn” Thuật ngữ này khi dịch sang tiếng Việt thường được các tác

giả Việt Nam chuyển tương đương là “Tham vấn” với nghĩa là trợ giúp chuyên

môn tâm lý cho những người có khó khăn tâm lý

Trong đề tài này, chúng tôi coi thuật ngữ “Tham vấn” đồng nghĩa với thuật ngữ “Tham vấn tâm lý” với cùng một nội hàm khái niệm.

Tổ chức TV thế giới định nghĩa khái niệm này như sau: Tham vấn là một

quá trình trợ giúp dựa trên các kỹ năng, trong đó, một người dành thời gian, sự quan tâm và sử dụng thời gian một cách có mục đích để giúp đỡ TC khai thác tình

Trang 32

huống, xác định và triển các giải pháp khả thi trong một thời gian cho phép [55].

Hiệp hội các nhà TV Mỹ (ACA, 1997) cho rằng: Tham vấn là sự áp dụng

các nguyên tắc tâm lý, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông qua các chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, cảm xúc, hành vi, tập trung vào sự lành mạnh, phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn đề bệnh lý [Dẫn theo 9].

Hiệp hội các NTVHĐ Mỹ (ASCA, 2001) định nghĩa: Tham vấn như là một

mối quan hệ tin cậy, trong đó NTV hướng dẫn từng cá nhân học sinh và những nhóm nhỏ để giúp đỡ họ giải quyết hoặc là đối mặt một cách có xây dựng với những vấn đề của họ và những quan tâm về sự phát triển tâm thần (Dẫn theo Debra

C Cobia & Donna A Henderson, 2003) [Dẫn theo 9]

Theo P.K Odhner hiểu Tham vấn là quá trình giúp con người có mục đích

rõ ràng và mang tính chuyên nghiệp, đòi hỏi NTV cần phải dành một thời gian nhất định và sử dụng các kỹ năng một cách thuần thục để giúp đỡ đối tượng (còn gọi là thân chủ) tìm hiểu, xác định vấn đề và triển khai những giải pháp trong điều kiện cho phép Ông cho rằng, đây là một khoa học thực hành nhằm giúp đỡ con

người vượt qua những khó khăn của họ, giúp họ có được khả năng hoạt động độclập trong xã hội bằng chính kỹ năng sống và năng lực của mình [Dẫn theo 40]

J.Mielke (1999) định nghĩa Tham vấn là một quá trình, một mối quan hệ

nhằm giúp đỡ TC cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác nhận thức và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của TC [55] Rõ ràng, để thực hiện

hoạt động TV đòi hỏi người làm TV phải xác định được nhu cầu của TC từ đó mới

có thể trợ giúp tốt nhất cho việc giải quyết vấn đề của họ

Hoạt động TV không chỉ dừng lại ở việc giúp đối tượng có lối thoát mà cònhướng tới mục tiêu nâng cao khả năng tự nhận thức và tự giải quyết vấn đề Carl

Rogers (1952) mô tả Tham vấn như là quá trình NTV hay trị liệu sử dụng mối

quan hệ tích cực để tạo nên môi trường an toàn giúp đối tượng chia sẻ, chấp nhận

và hướng tới thay đổi [5].

Về phía các tác giả Việt Nam, định nghĩa tham vấn cũng được xem xét,

Trang 33

phân tích từ nhiều khía cạnh khác nhau:

Trong từ điển tâm lý học, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho rằng “Tham vấn là

quá trình các chuyên gia tâm lý chẩn đoán, tìm hiểu căn nguyên và thiết lập cách

xử lý đối với trẻ em có vấn đề về tâm lý” [58] Ở đây, khái niệm TV được nhìn nhận

thiên về góc độ y học và giới hạn chủ yếu chỉ cho những trẻ em có vấn đề về tâm lý

Trong quan niệm của mình về TV, tác giả Trần Thị Minh Đức định nghĩa Tham

vấn là sự tương tác giữa NTV - người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo được của nghề tham vấn - với TC (còn được gọi là khách hàng) - người đang

có vấn đề khó khăn về tâm lý cần được giúp đỡ Thông qua sự trao đổi, chia sẻ tâm tình (dựa trên những nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp), TC hiểu

và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình [9] Điều này cho thấy, trong quá trình trợ giúp để hướng đến sự thay đổi từ

phía TC, nhà TV phải xem xét cẩn thận nhu cầu muốn thay đổi của TC

Tác giả Trần Quốc Thành xem Tham vấn như là quá trình chuyên gia tham

vấn đặt mình vào vị trí của người đương sự, hiểu vấn đề của đương sự và cùng đương sự chia sẻ, định hướng cho đương sự cách giải quyết vấn đề của họ chứ không phải thay họ giải quyết vấn đề [44].

Tác giả Trần Thị Giồng định nghĩa Tham vấn là sự tương tác giữa NTV và

TC, trong quá trình này NTV sử dụng các kỹ năng chuyên môn giúp TC khơi dậy tiềm năng để họ có thể tự giải quyết được vấn đề đang gặp phải [15].

Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai, TV được đánh giá như là một công cụ đắc lựctrong trợ giúp cá nhân hoặc gia đình trong giải quyết những vấn đề về tâm lý - xã hội

nảy sinh Từ đó, tác giả định nghĩa khái niệm này như sau: "Tham vấn là một hoạt

động mà nhà chuyên môn, bằng kiến thức, hiểu biết và kỹ năng nghề nghiệp của mình, thấu hiểu những cảm xúc, suy nghĩ, hành vi của đối tượng (cá nhân, gia đình hay nhóm), giúp họ khai thác nguồn lực, tiềm năng cho quá trình giải quyết" [30].

Tác giả Bùi Ngọc Oánh cho rằng “Tham vấn là một trong những khái niệm

mới của tâm lý học hiện đại, là một quá trình trong đó NTV giúp đỡ cho TC (đối tượng) tham dự vào việc giải quyết các vấn đề của bản thân Tham vấn là một hoạt

Trang 34

động giúp cho khách hàng tự tìm hiểu để tìm ra những giải pháp, cách thức giải quyết các vấn đề của mình, từ đó giúp cho nhân cách của họ phát triển theo chiều hướng tốt đẹp hơn Trong quá trình tham vấn có hoạt động tương tác giữa NTV với

TC Nói cách khác, đối tượng được tham vấn tham gia một cách chủ động vào việc giải quyết các vấn đề của mình trong sự gợi mở, trao đổi của NTV” [23, tr 352].

Ngoài ra còn rất nhiều các tác giả khác nhau đưa ra khái niệm về TV Tổnghợp và phân tích quan niệm của các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu về TVtrong và ngoài nước về đặc điểm, bản chất của hoạt động TV, chúng tôi xin đề xuấtkhái niệm TV như sau:

Tham vấn là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó NTV sử dụng kiến thức,

kỹ năng nhằm trợ giúp thân chủ nhận thức được bản thân, vấn đề và nguồn lực của mình để giải quyết vấn đề của mình theo hướng tích cực.

Trong khái niệm này, TV có những đặc điểm cụ thể sau:

(1) TV là một quá trình trợ giúp tâm lý đi từ xây dựng mối quan hệ, khai thác, tìmhiểu, xác định vấn đề tới việc giải quyết vấn đề thuộc về lĩnh vực tâm lý

(2) Mục tiêu của TV là trợ giúp TC hiểu được cảm xúc, suy nghĩ của chính họ,hoàn cảnh và vấn đề tâm lý của họ, khám phá và sử dụng những tiềm năng nguồn lựccủa họ để tự họ có thể giải quyết vấn đề ấy một cách tốt nhất Như vậy, TV trợ giúp

TC nâng cao được khả năng ứng phó của mình với các vấn đề của cuộc sống

(3) Cách thức TV: Hoạt động TV được diễn ra trên cơ sở mối quan hệ tươngtác tích cực giữa người làm TV và TC và được thực hiện chủ yếu trong tương táctrực tiếp Trong quá trình tương tác trực tiếp này NTV sử dụng các kỹ năng TV củamình để trợ giúp TC tự khám phá, khai thác được tiềm năng, thế mạnh của bản thân

từ đó tự bản thân giải quyết vấn đề của mình

(4) NTV có thể là người làm chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp song họ đềucần có kiến thức về tâm lý, TV, phẩm chất cần thiết, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp TV để

thực hiện hoạt động TV một cách tốt nhất Dùng thuật ngữ “Nhà tham vấn” để mô tả

công việc chung của người làm công tác TV cả chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp

(5) Người được TV có thể là cá nhân (trẻ em, thanh thiếu niên hoặc người

Trang 35

trưởng thành), nhóm hoặc gia đình có những khó khăn về mặt tâm lý và có nhu cầucần được TV, gọi chung là thân chủ (TC).

(6) TV là sự trợ giúp: TV tập trung vào “Trợ giúp” chứ không phải là “Giúp”.

Trợ giúp trong quá trình TV là giúp TC khơi dậy tiềm năng của mình để tự giúp chínhbản thân mình Trợ giúp là khơi dậy tiềm năng của TC để TC tự giải quyết vấn đề củamình Không ai hiểu TC bằng chính bản thân họ, tuy nhiên trong tình huống gặp khókhăn, tạm thời TC có thể chưa đủ minh mẫn hoặc tự tin để nhìn lại chính mình Nhiệm

vụ của NTV là phải làm một chỗ dựa tinh thần để TC có cơ hội và có đủ tự tin nhìn lại

mình một cách khách quan Vì vậy, công việc của NTV là “Trợ giúp” TC chứ không

phải suy nghĩ hay làm thay TC, đồng thời giúp TC nhìn thấy tiềm năng của chínhmình, đánh thức và sử dụng chúng để xử lý tình huống mà họ đang gặp phải

Tóm lại: TV là hoạt động trợ giúp con người nâng cao khả năng tự giải

quyết/ứng phó với những KKTL gặp phải trong cuộc sống Để giúp đỡ các cá nhân vàgia đình duy trì được sự thăng bằng tâm lý, tăng cường khả năng ứng phó với các vấn

đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày Nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nướcphát triển đã sử dụng dịch vụ TV như một công cụ đắc lực giúp cho cá nhân phát triển.Nếu như ngành y là công cụ để giúp con người trở nên khoẻ mạnh, ổn định về thể chấtthì các hoạt động trợ giúp, trong đó có TV đóng vai trò giúp cho cá nhân và gia đìnhđảm bảo tình trạng sức khoẻ tâm thần, nâng cao chất lượng cuộc sống

b Một số khái niệm có liên quan

Tư vấn, tư vấn tâm lý

“Tư vấn” - trong tiếng anh là “Consultation” - được xem như quá trình tham

khảo về lời khuyên hay sự trao đổi quan điểm về vấn đề nào đó để đi đến một quyếtđịnh Tư vấn trong từ điển tiếng Việt được định nghĩa như là sự phát biểu ý kiến vềnhững vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định Hoạt động này phầnnhiều diễn ra dưới dạng hỏi và đáp

Có sự khác biệt nhất định giữa tư vấn và TV Trong một chừng mực nào đó,thường thì tư vấn hướng tới giải quyết vấn đề còn TV không chỉ giúp cá nhân giảiquyết mà còn hướng tới nâng cao khả năng giải quyết vấn đề Như vậy, tác động

Trang 36

của TV mang tính lâu dài hơn Mối quan hệ trong tư vấn tâm lý thường giữa một

bên được xem là người “Uyên bác” với những thông tin chuyên môn, còn một bên

là người “Thiếu hiểu biết” cần có thông tin để giải quyết Trong khi đó ở TV, mối

quan hệ đòi hỏi sự bình đẳng làm nền tảng cho sự hợp tác giữa hai bên Sự thànhcông trong TV phụ thuộc nhiều vào kĩ năng tương tác của người TV để giúp đốitượng tự nhận thức và chủ động tìm kiếm giải pháp

Một thuật ngữ khác thường thấy trong nhiều tài liệu hiện nay là “Tư vấn tâm lý”.

Nếu như tư vấn tâm lý được thực hiện dưới dạng hỏi và đáp thì nó mang mầu sắc củahoạt động tư vấn đã được đề cập ở trên Tuy nhiên, cũng không ít tác giả sử dụng thuậtngữ này với nội hàm khái niệm TV với việc nhấn mạnh đến quá trình can thiệp của TV

Bên cạnh đó, một số tài liệu còn cung cấp quan điểm về vai trò hoán vị của tưvấn tâm lý và TV như quan điểm của các tác giả Duane Brown, Walter B.Pryzwansky, Ann C Shulte (1995): nhà TV trong vai trò người tư vấn (Kỹ năng tưvấn ở đây được hiểu theo nghĩa giám sát tham vấn) [37] Với quan điểm này, ở nhàtrường khi nhà TV làm việc với GV và CMHS về các vấn đề giáo dục HS hoặc cùngbàn thảo với GV và CMHS về chiến lược TV cho HS thì nhà TV đóng vai trò làngười tư vấn (Người giám sát hoạt động tham vấn của GV và CMHS) Điều đó cónghĩa là nhà TV đang thực hiện chức năng tư vấn với GV và CMHS Như vậy, sựkhác biệt không chỉ ở tên gọi mà còn là cả hình thức giúp đỡ của NTV (Giúp đỡ HS

thông qua tư vấn cho GV và CMHS) Một số tác giả còn dịch từ “Tham vấn” là “Tư

vấn tâm lý” để dễ được chấp nhận từ các nhà chuyên môn và xã hội khi NCTVTL

được nhìn nhận như một hiện tượng tâm lý xã hội và khoa học về trợ giúp tâm lý bắtđầu được mổ xẻ, nghiên cứu ở Việt Nam Chúng tôi cho rằng, khái niệm TV chỉ sựtrợ giúp mang tính can thiệp tâm lý Vì vậy, trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi

dùng từ “Tham vấn” theo nghĩa “Tham vấn tâm lý”.

T

rị liệu tâm lý

“Trị liệu” - tiếng Anh là “Therapy” - được lấy từ gốc Hy Lạp là “Therapia”

có nghĩa là chữa trị, làm lành Trị liệu tâm lý (psychotherapy) có nghĩa là sự xóa bỏrắc rối, những bệnh lý mang tính tâm lý TV và trị liệu tâm lý có mối quan hệ khá

Trang 37

mật thiết với nhau

Có quan niệm cho rằng trị liệu tâm lý như một quá trình can thiệp của nhàtâm lý học, nhà công tác xã hội hay NTV đối với tình trạng sức khỏe tâm thần củađối tượng (TC /người bệnh) bằng việc sử dụng các liệu pháp tâm lý như TV để điềutrị những rối nhiễu về cảm xúc hay tâm thần

Quan niệm khác lại xem trị liệu tâm lý như là tập hợp kĩ thuật chuyênmôn, đặc biệt là hình thức đối thoại và giao tiếp trực tiếp để cải thiện sức khỏetâm thần của khách hàng hay người bệnh hoặc cải thiện mối quan hệ của nhómngười (ví dụ như gia đình) Trong quá trình này nhà trị liệu và khách hàng (hayngười bệnh) thảo luận những vấn đề tiềm ẩn và tìm ra giải pháp tích cực Hìnhthức can thiệp này được sử dụng trong trợ giúp những khách hàng có vấn đề tâmthần Nó còn được sử dụng để giúp đỡ những người có khó khăn trong mối quan

hệ hàng ngày dưới hình thức TV Do vậy hai khái niệm TV và trị liệu tâm lýthường được sử dụng thay thế cho nhau

Trong bối cảnh nền văn hóa ở Việt Nam, khi nhiều người còn chưa sẵn sàngchia sẻ những vấn đề riêng tư thì việc sử dụng thuật ngữ trị liệu tâm lý dễ được hiểunhư sự chữa trị tâm lý như vậy có thể làm tăng thêm tâm lý e ngại và hạn chế việcsử dụng dịch vụ TV - một công cụ bảo vệ sức khỏe tâm thần, tăng cường khả năngthích nghi của cá nhân khá hữu hiệu Do vậy, chúng tôi cho rằng nên có sự tách biệttương đối khi sử dụng hai thuật ngữ trên

1.2.2.2 Tâm lý học đường

Tâm lý học đường hay còn có tên gọi khác là tâm lý học trường học (TLHTH) làmột lĩnh vực nghiên cứu được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới Ở Việt Nam,năm 2012, nhóm tác giả Trần Thị Lệ Thu, Lê văn Hảo, Lê Nguyên Phương, BrentDuncan, Đặng Hoàng Minh trên cơ sở tiếp thu quan điểm của các nhà tâm lý học trên thếgiới đã đề xuất khái niệm về tâm lý học đường [1;48]:

Tâm lý học đường (hay còn gọi là TLHTH) là một chuyên ngành tâm lý ứng dụng nhằm thực hiện công tác phát hiện sớm, phòng ngừa và can thiệp cho trẻ em- thanh thiếu niên trong các lĩnh vực nhận thức, học tập, hành vi, cảm xúc, xã hội ở môi trường học đường, gia đình và cộng đồng; đồng thời tham gia nghiên cứu, xây

Trang 38

dựng, phát triển và lượng giá các chương trình dịch vụ tham vấn tâm lý học đường.

Nội dung khái niệm:

(1) TLHĐ tập trung vào ứng dụng tâm lý học và giáo dục học nhằm giúp các emhọc sinh, sinh viên hay nói rộng hơn là trẻ em và thanh thiếu niên đang hưởng thụ giáodục có được điều kiện và cơ hội học tập cũng như phát triển bản thân tốt tới mức có thể

(2) TLHĐ thiên về TVTL, tập trung vào sự trợ giúp tâm lý, những rối loạn tâm

lý liên quan đến hành vi cá nhân, xã hội, kết quả học tập và hướng nghiệp của các em.TLHĐ có liên quan chặt chẽ và sử dụng nền tảng kiến thức khoa học từ nhiều lĩnh vực

TL khác nhau như Tâm lý học (TLH) giáo dục, TLH phát triển, TLH lâm sàng, TLHtrị liệu, TLH nhân cách, TLH trí tuệ, TLH xã hội, TLH văn hóa

(3) Phòng ngừa trong khái niệm này với ý nghĩa hướng vào mọi trẻ em và thanhthiếu niên trong môi trường giáo dục (các trường học, các cơ sở giáo dục tư nhân, các tổchức giáo dục khác trong xã hội v.v), phòng ngừa được thực hiện trên phạm vi toàntrường/cơ sở giáo dục và cho mọi đối tượng khách thể) Các chương trình phòng ngừadành cho cả những trẻ em- thanh thiếu niên hiện chưa gặp KKTL hoặc/và đang có nguy

cơ, hoặc/và được phát hiện có vấn đề (ở các giai đoạn và mức độ khác nhau ); chươngtrình này nhằm giúp các em có hiểu biết và kỹ năng phòng tránh hoặc hạn chế sự giatăng những khó khăn/rối nhiễu tâm lý có thể xảy ra hoặc đang xảy ra cùng với sự pháttriển tâm lý của bản thân và trước thực tế cuộc sống xã hội

(4) Trên cơ sở chẩn đoán, sàng lọc, phát hiện sớm các vấn đề tâm lý/KKTLcủa trẻ em và thanh thiếu niên trong môi trường giáo dục, các chương trình phòngngừa sẽ được xây dựng và thực hiện cùng với công tác can thiệp

(5) TLHĐ hướng vào công tác can thiệp (TV, tư vấn, trị liệu) trong các lĩnhvực cụ thể của trẻ em và thanh thiếu niên, đó là: nhận thức, học tập, hành vi, cảm xúc,

xã hội ở môi trường học đường, gia đình và cộng đồng- những môi trường thực hiệncông tác giáo dục cho trẻ em- thanh thiếu niên

(6) TLHĐ là một chuyên ngành ứng dụng do vậy, cùng với công tác pháthiện, phòng ngừa và can thiệp sẽ là những hoạt động cụ thể như nghiên cứu, xâydựng, phát triển và lượng giá chính những chương trình dịch vụ phát hiện, phòngngừa và can thiệp này

Trang 39

Tiếp cận quan điểm trên cùng với các quan điểm khác từ các chuyên gia trong

và ngoài nước, trong luận án này chúng tôi đưa ra khái niệm về TLHĐ như sau:

Tâm lý học đường (TLH học đường) là một chuyên ngành – nhánh của tâm lý học, nghiên cứu và ứng dụng các vấn đề nhận thức, học tập, cảm xúc, hành vi, xã hội mang tính học đường có liên quan đến HS trong môi trường học đường, gia đình, cộng đồng nhằm phát hiện sớm, can thiệp, phòng ngừa, khắc phục các vấn đề nảy sinh, xây dựng các chương trình dịch vụ trợ giúp HS,

GV, CMHS giải quyết những khó khăn trong cuộc sống.

1.2.2.3 Tham vấn học đường

a Khái niệm tham vấn học đường

Trong luận án này chúng tôi thống nhất cách gọi thuật ngữ “Tham vấn học

đường” đồng nghĩa với thuật ngữ “Tham vấn tâm lý học đường”.

TVHĐ được xem xét như là một loại hình cung cấp dịch vụ TV mang tính

HĐ NTVHĐ chuyên nghiệp là một nhà SP được cấp bằng đào tạo về TVHĐ vớinhững kĩ năng chuyên biệt để hỗ trợ việc học, nhu cầu phát triển cá nhân, xã hội vànghề nghiệp của HS [9, tr 94]

Theo Bộ Lao động Hoa Kì, NTVHĐ giúp HS đánh giá khả năng, hứng thú,tài năng và đặc điểm nhân cách của mình để phát triển khả năng học tập thực sự vàmục tiêu nghề nghiệp là hỗ trợ cho HS Bên cạnh đó NTVHĐ còn làm việc vớinhững cá nhân và tổ chức khác để đẩy mạnh việc phát triển học tập, hướng nghiệp,các vấn đề cá nhân và xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên NTVHĐ sử dụng cácbuổi phỏng vấn, các buổi TV, các trắc nghiệm đánh giá hứng thú và năng khiếu vànhững cách thức khác để đánh giá và tư vấn cho HS Ngoài ra, các NTVHĐ còn tổchức các buổi trao đổi thông tin về nghề nghiệp và các chương trình giáo dục hướngnghiệp [Nguồn: http://www.bls.gov]

TVHĐ thường thiên về TV giáo dục, nó bị chi phối nhiều bởi những quy định,chuẩn mực trong trường học NTVHĐ đôi khi còn được xem là nhà cố vấn học tập –Academic Advising (Tức là nhà TV làm việc ở các nhà trường cao đẳng, ĐH với đốitượng là sinh viên được coi là những người trưởng thành Lúc này, sự trợ giúp của

Trang 40

NTV tập trung vào việc cố vấn hoặc tư vấn về học tập cho sinh viên) Nhiệm vụ củaNTVHĐ là can thiệp, TV cá nhân và nhóm nhỏ, hướng dẫn nhóm lớn, tư vấn CMHS,

GV, những người khác và làm công tác điều phối chương trình Ở Việt Nam, đôi khingười ta đồng nhất lĩnh vực TVHĐ là TV nghề hay TV hướng nghiệp [9, tr.95]

Hiệp hội các NTVHĐ Hoa Kỳ – ASCA, 1990 quan niệm: “Tham vấn học

đường là công việc giúp đỡ tất cả các HS trong học tập, trong quan hệ xã hội, trong công việc, trong việc nâng cao năng lực cá nhân và giúp họ trở thành người có trách nhiệm và hữu ích NTV học đường trợ giúp hình thành và tổ chức tất cả những chương trình này, cũng như cung cấp các hoạt động can thiệp tham vấn thích hợp” [Dẫn theo

3,101] Như vậy, trong hoạt động TVHĐ, NTV thực hiện công việc giúp đỡ cho tất cả

HS tham gia vào các hoạt động ở nhà trường, phát hiện và can thiệp các vấn đề ở các

em nhằm giúp tất cả HS phát triển tốt nhất trong điều kiện và hoàn cảnh của mình

Tác giả Trần Thị Minh Đức cho rằng: TVHĐ là tất cả các hoạt động canthiệp nhằm mục đích giúp cho HS được phát triển tốt nhất về mặt học tập, nghềnghiệp, cá nhân và xã hội, bao gồm cả các hoạt động tư vấn cho GV và CMHS [9].Khái niệm này đã đề ra nhiệm vụ của NTVHĐ là TV cho HS qua việc can thiệptrực tiếp và tư vấn cho GV và CMHS Khi cá nhân có vấn đề và có nhu cầu cầnđược giúp đỡ họ sẽ tìm đến các trung tâm tư vấn để được trợ giúp Tuy nhiênTVHĐ đôi khi lại không như vậy Nhìn chung HS tự đến phòng TLHĐ là rất ít.Phần nhiều HS đến phòng là do GV gửi xuống Điều này tạo ra tâm lý e ngại,gượng ép, thiếu sẵn sàng hợp tác của HS [9, tr.98]

Chúng tôi quan niệm rằng: hoạt động TVHĐ ở Việt Nam nên chú ý đến toàn

bộ HS toàn trường chứ không chỉ chú ý đến những HS có vấn đề Đối với những

HS đang gặp những KKTL, NTVHĐ cần chú trọng đến nhu cầu cần trợ giúp choviệc giải quyết những khó khăn đó để có những biện pháp hỗ trợ kịp thời và phùhợp Bên cạnh đó NTVHĐ còn cần chú ý cả đến hoạt động dự báo, phát hiện sớm

và tiến hành các chương trình phòng ngừa với những KKTL mà HS có thể gặp phảitrong tất cả các hoạt động khác nhau ở nhà trường TVHĐ là tất cả những hoạt độngliên quan đến công tác trợ giúp giữa NTVHĐ với HS, GV, CMHS và các lực lượngkhác trong nhà trường nhằm giúp cho HS có điều kiện, cơ hội phát triển tốt nhất; trợ

Ngày đăng: 09/05/2014, 17:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Ngọc Bích (1988), Tâm lý học nhân cách, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nhân cách
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1988
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Triển khai công tác tư vấn cho HS, sinh viên (Số tư liệu 9971\Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ Công tác Học sinh sinh viên) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai công tác tư vấn cho HS, sinh viên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2005
5. Carl Rogers (1994), Tiến tình thành nhân (bản dịch), NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tình thành nhân (bản dịch)
Tác giả: Carl Rogers
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
6. Covaliov A.G (1970), Tâm lý học cá nhân, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học cá nhân
Tác giả: Covaliov A.G
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1970
7. Vũ Dũng (2008), Từ điển tâm lý học học, NXB từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: NXB từ điển Bách Khoa
Năm: 2008
8. Nguyễn Bá Đạt, (2003), Về tư vấn tâm lý - hướng nghiệp ở trường Trung học phổ thông, Tạp chí Tâm lý học, (63), tr. 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tư vấn tâm lý - hướng nghiệp ở trường Trung họcphổ thông
Tác giả: Nguyễn Bá Đạt
Năm: 2003
9. Trần Thị Minh Đức (2012), Giáo trình tham vấn tâm lý, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2012
10. Trần Thị Minh Đức, Đỗ Hoàng (2006), Tham vấn học đường - Nhìn từ góc độ giới, Tạp chí tâm lý học, (11), tr 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham vấn học đường
Tác giả: Trần Thị Minh Đức, Đỗ Hoàng
Năm: 2006
11. Trần Thị Minh Đức (2002), Bàn về hiệu quả của tư vấn trên báo, Tạp chí Tâm lý học, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về hiệu quả của tư vấn trên báo
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Năm: 2002
12. Trần Thị Minh Đức (2000), Quan niệm về tư vấn tâm lý, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về tư vấn tâm lý
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Năm: 2000
13. Trần Thị Minh Đức (2002), Tư vấn và tham vấn – Thuật ngữ và cách tiếp cận, Tạp chí Tâm lý học, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn và tham vấn – Thuật ngữ và cách tiếp cận
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Năm: 2002
14. Trần Thị Minh Đức (2002), Một số vấn đề cơ bản của tâm lý học tư vấn, Đề tài nghiên cứu, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản của tâm lý học tư vấn
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Năm: 2002
15. Trần Thị Giồng (1996), Tầm quan trọng của tham vấn, Tài liệu tập huấn trẻ em làm trái pháp luật, Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển - Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm quan trọng của tham vấn
Tác giả: Trần Thị Giồng
Năm: 1996
16. Phạm Minh Hạc (tuyển chọn và tổng chủ biên) (1978), Tâm lý học Liên Xô, Tuyển tập những bài báo, NXB Tiến bộ, Matsxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Liên Xô
Tác giả: Phạm Minh Hạc (tuyển chọn và tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Tiến bộ
Năm: 1978
17. Phạm Minh Hạc (2002), Tuyển tập Tâm lý học, NXB Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo Dục Hà Nội
Năm: 2002
18. Dương Thị Diệu Hoa và cộng sự (2007), KKTL và nhu cầu tham vấn của HS trung học phổ thông, Tạp chí Tâm lý học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: KKTL và nhu cầu tham vấn của HStrung học phổ thông
Tác giả: Dương Thị Diệu Hoa và cộng sự
Năm: 2007
19. Lê Văn Hồng (1999), Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999
20. Ngô Công Hoàn (1997), Những trắc nghiệm tâm lý, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trắc nghiệm tâm lý
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1997
21. Trần Thị Hương (2006), Một số ý kiến về hoạt động tham vấn học đường , Đại học Mở Bán công TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về hoạt động tham vấn học đường
Tác giả: Trần Thị Hương
Năm: 2006
22. Bùi Thị Thu Huyền (2007), Tham vấn – trị liệu tâm lý đối với HS có biểu hiện rối nhiễu hành vi, Tạp chí Tâm lý học, số 12/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham vấn – trị liệu tâm lý đối với HS có biểu hiệnrối nhiễu hành vi
Tác giả: Bùi Thị Thu Huyền
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.13. Hiểu biết về TVHĐ của HS THCS trước và sau thực nghiệm.........136 - Luận án tiến sỹ tâm lý học : Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở
Bảng 3.13. Hiểu biết về TVHĐ của HS THCS trước và sau thực nghiệm.........136 (Trang 7)
Sơ đồ 1.1. Mô hình hướng đến sự hoà nhập và thích nghi học đường của Québec - Luận án tiến sỹ tâm lý học : Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở
Sơ đồ 1.1. Mô hình hướng đến sự hoà nhập và thích nghi học đường của Québec (Trang 42)
Sơ đồ 1.2. Mô hình tập trung vào sự cân bằng cá nhân-xã hội ở Đức - Luận án tiến sỹ tâm lý học : Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở
Sơ đồ 1.2. Mô hình tập trung vào sự cân bằng cá nhân-xã hội ở Đức (Trang 43)
Sơ đồ 1.3. Mô hình tham vấn học đường của Trung Quốc - Luận án tiến sỹ tâm lý học : Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở
Sơ đồ 1.3. Mô hình tham vấn học đường của Trung Quốc (Trang 44)
Bảng trên cho thấy, có sự khác biệt nhất định giữa yếu tố chủ quan và khách quan đến NCTVHĐ ở HS, trong đó yếu tố chủ quan ảnh hưởng nhiều hơn so với yếu tố khách quan ( X (chủ quan) = 2,56 >  X (khách quan) = 2,25 - Luận án tiến sỹ tâm lý học : Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở
Bảng tr ên cho thấy, có sự khác biệt nhất định giữa yếu tố chủ quan và khách quan đến NCTVHĐ ở HS, trong đó yếu tố chủ quan ảnh hưởng nhiều hơn so với yếu tố khách quan ( X (chủ quan) = 2,56 > X (khách quan) = 2,25 (Trang 130)
Bảng 3.12 cũng cho thấy lý do xếp TB thấp nhất  – lý do 15 với  X = 1,82. Điều này đã cho thấy TVHĐ không phải là một chủ đề xa lạ với các em - Luận án tiến sỹ tâm lý học : Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở
Bảng 3.12 cũng cho thấy lý do xếp TB thấp nhất – lý do 15 với X = 1,82. Điều này đã cho thấy TVHĐ không phải là một chủ đề xa lạ với các em (Trang 134)
3. Hình thức TVHĐ - Luận án tiến sỹ tâm lý học : Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở
3. Hình thức TVHĐ (Trang 144)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w