TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG ----------- TIỂU LUẬN: TIỀN TỆ NGÂN HÀNG Đề tài: “Lãi suất và ảnh hưởng của chính sách hạ lãi suất đến các doanh nghiệp Việt Nam năm 2012” Giáo viên hướng dẫn: TS.Nguyễn Thị Hiền Nhóm thực hiện: Nhóm 1 Hà Nội, tháng 12 năm 2012 Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1 Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1 LỜI NÓI ĐẦU Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi vô cùng chặt chẽ trong nền kinh tế. Mỗi mức lãi suất được công bố sẽ ảnh hưởng đến những quyết định của cá nhân cũng như doanh nghiệp; quyết định đầu tư hay tiết kiệm. Mỗi quyết định đó đều có những tác động nhất định tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã khá linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi suất nhằm tác động tích cực đến nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi. Trong năm 2012 vừa qua, lãi suất đã liên tục được Ngân hàng nhà nước điều chỉnh giảm. Vấn đề được quan tâm nhất trong thời gian này không chỉ là ảnh hưởng của nó tới cá nhân mà còn tới các tổ chức nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Hiện nay, tác động và ảnh hưởng của lãi suất đến sự phát triển kinh tế ngày càng trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh đất nước đang tham gia ngày càng sâu rộng vào liên kết khu vực và hội nhập quốc tế. Với đề tài “Lãi suất và ảnh hưởng của chính sách hạ lãi suất đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp năm 2012” nhóm chúng em mong muốn có thể nghiên cứu sâu hơn về lãi suất và chiều hướng diễn biến Nội dung đề tài gồm ba phần: Chương I: Các thông tư, nghị định quy định về việc hạ lãi suất từ đầu năm 2012 đến nay. Chương II: Ảnh hưởng của hạ lãi suất tới tình hình sản xuất, kinh doanh. 1) Thông tin về tình hình tiếp cận vốn của các doanh nghiệp năm 2012 2) Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp năm 2012 3) Ảnh hưởng cụ thể của việc hạ lãi suất đối với một số doanh nghiệp cụ thể Chương III: Nguyên nhân việc hạ lãi suất huy động không có nhiều ý nghĩa với các Do còn nhiều hạn chế về hiểu biết cũng như kinh nghiệm thực tiễn, đề tài của chúng em không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót. Chúng em kính mong cô giúp đỡ, góp ý để đề tài của chúng em được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn cô! Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1 I. Các thông tư, nghị định quy định về việc hạ lãi suất từ đầu năm 2012 đến nay. 1) Quyết định giảm lãi suất I (13/3/2012) Từ ngày 13/3, lãi suất điều hành và lãi suất tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chính thức giảm 1%. Theo đó, lãi suất tối đa áp dụng với tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng trở lên từ 14%/năm giảm xuống 13%/năm. Lãi suất áp dụng với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 6%/năm xuống còn 5%/năm. Với quỹ tín dụng ngân dân, cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi kỳ hạn 1 tháng trở lên giảm từ 14,5%/năm xuống 13,5%/năm. Cùng với đó, NHNN cũng có quyết định giảm lãi suất tái cấp vốn từ 15%/năm xuống 14%/năm. Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 16%/năm xuống 15%. Lãi suất tái chiết khấu từ 13%/năm xuống 12%/năm. Trước khi NHNN có quyết định giảm trần lãi suất huy động, nhiều ngân hàng đã công bố biểu lãi suất huy động mới. Trong thời gian qua, lãi suất liên ngân hàng cũng có dấu hiệu giảm, lãi suất qua đêm cho vay liên ngân hàng chỉ ở mức thấp... chứng tỏ thanh khoản của các ngân hàng được cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã chậm lại từ tháng 8/2011 và tiếp tục duy trì xu hướng này trong những tháng đầu năm 2012. Đây là tín hiệu cho thấy việc hạ lãi suất lúc này là không sớm và hoàn toàn hợp lý. 2) Quyết định giảm lãi suất II (10/4/2012) Chiều ngày 10/4/2012, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 08/2012/TT-NHNN (Thông tư 08) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28/9/2011 quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân Cụ thể, NHNN quy định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 4%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 12%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1 đối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 12,5%/năm. Cùng với quyết định trên, Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành của NHNN. Thống đốc NHNN quy định các mức lãi suất của NHNN như sau: Lãi suất tái cấp vốn là 13%/năm; Lãi suất tái chiết khấu là 11%/năm; Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 14%/năm. Việc hạ lãi suất đã được dự báo trước và chính Ngân hàng Nhà nước sau khi hạ lãi suất vầ 13% cũng cho biết mỗi quý sẽ hạ lãi suất 1%. Tuy nhiên, động thái hạ lãi suất này được xem là diễn ra nhanh hơn dự kiến. 3) Quyết định giảm lãi suất III (28/5/2012) Theo Quyết định số 1081/QĐ-NHNN ngày 25/5/2012 về việc điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành của NHNN, giảm lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm xuống 12%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 14%/năm xuống 13%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 11%/năm xuống 10%/năm. Theo thông tư số 17/2012/TT-NHNN, lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 4%/năm xuống còn 3%/năm, đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên giảm từ 12%/năm xuống còn 11%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên giảm từ 12,5%/năm xuống còn 11,5%/năm. Theo mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND sau khi điều chỉnh giảm như nêu trên và Thông tư số 14/2012/TT-NHNN ngày 4/5/2012 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế, thì lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các nhu cầu vốn phục vụ nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa được điều chỉnh giảm với mức tương ứng là 1%/năm (giảm từ 15%/năm xuống còn 14%/năm).
Trang 1KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
-TIỂU LUẬN: TIỀN TỆ NGÂN HÀNG
Đề tài: “Lãi suất và ảnh hưởng của chính sách hạ lãi suất
đến các doanh nghiệp Việt Nam năm 2012”
Giáo viên hướng dẫn: TS.Nguyễn Thị Hiền Nhóm thực hiện: Nhóm 1
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi vô cùng chặt chẽ trong nền kinh
tế Mỗi mức lãi suất được công bố sẽ ảnh hưởng đến những quyết định của cá nhân cũngnhư doanh nghiệp; quyết định đầu tư hay tiết kiệm Mỗi quyết định đó đều có những tácđộng nhất định tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhànước đã khá linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi suất nhằm tác động tích cực đến nềnkinh tế trong quá trình chuyển đổi
Trong năm 2012 vừa qua, lãi suất đã liên tục được Ngân hàng nhà nước điều chỉnh giảm Vấn đề được quan tâm nhất trong thời gian này không chỉ là ảnh hưởng của nó tới
cá nhân mà còn tới các tổ chức nói chung và doanh nghiệp nói riêng
Hiện nay, tác động và ảnh hưởng của lãi suất đến sự phát triển kinh tế ngày càng trởnên quan trọng hơn trong bối cảnh đất nước đang tham gia ngày càng sâu rộng vào liên
kết khu vực và hội nhập quốc tế Với đề tài “Lãi suất và ảnh hưởng của chính sách hạ
lãi suất đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp năm 2012” nhóm
chúng em mong muốn có thể nghiên cứu sâu hơn về lãi suất và chiều hướng diễn biếncủa nó
Nội dung đề tài gồm ba phần:
Chương I: Các thông tư, nghị định quy định về việc hạ lãi suất từ đầu năm 2012 đến nay Chương II: Ảnh hưởng của hạ lãi suất tới tình hình sản xuất, kinh doanh.
1) Thông tin về tình hình tiếp cận vốn của các doanh nghiệp năm 2012
2) Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp năm 2012
3) Ảnh hưởng cụ thể của việc hạ lãi suất đối với một số doanh nghiệp cụ thể
Chương III: Nguyên nhân việc hạ lãi suất huy động không có nhiều ý nghĩa với các
doanh nghiệp
Do còn nhiều hạn chế về hiểu biết cũng như kinh nghiệm thực tiễn, đề tài của chúng
em không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót Chúng em kính mong cô giúp đỡ, góp ý để đề tài của chúng em được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 3I Các thông tư, nghị định quy định về việc hạ lãi suất từ đầu năm 2012 đến nay
1) Quyết định giảm lãi suất I (13/3/2012)
Từ ngày 13/3, lãi suất điều hành và lãi suất tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, chinhánh ngân hàng nước ngoài chính thức giảm 1% Theo đó, lãi suất tối đa áp dụng vớitiền gửi có kỳ hạn 1 tháng trở lên từ 14%/năm giảm xuống 13%/năm Lãi suất áp dụngvới tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 6%/năm xuống còn 5%/năm.Với quỹ tín dụng ngân dân, cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi kỳ hạn
1 tháng trở lên giảm từ 14,5%/năm xuống 13,5%/năm Cùng với đó, NHNN cũng cóquyết định giảm lãi suất tái cấp vốn từ 15%/năm xuống 14%/năm Lãi suất cho vay quađêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 16%/năm xuống 15% Lãi suất tái chiếtkhấu từ 13%/năm xuống 12%/năm
Trước khi NHNN có quyết định giảm trần lãi suất huy động, nhiều ngân hàng đãcông bố biểu lãi suất huy động mới Trong thời gian qua, lãi suất liên ngân hàng cũng códấu hiệu giảm, lãi suất qua đêm cho vay liên ngân hàng chỉ ở mức thấp chứng tỏ thanhkhoản của các ngân hàng được cải thiện rõ rệt
Bên cạnh đó, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã chậm lại từ tháng 8/2011 vàtiếp tục duy trì xu hướng này trong những tháng đầu năm 2012 Đây là tín hiệu cho thấyviệc hạ lãi suất lúc này là không sớm và hoàn toàn hợp lý
2) Quyết định giảm lãi suất II (10/4/2012)
Chiều ngày 10/4/2012, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã banhành Thông tư số 08/2012/TT-NHNN (Thông tư 08) sửa đổi, bổ sung một số điều củaThông tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28/9/2011 quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửibằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngânhàng nước ngoài
Cụ thể, NHNN quy định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có
kỳ hạn dưới 1 tháng là 4%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1tháng trở lên là 12%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đađối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 12,5%/năm
Trang 4Cùng với quyết định trên, Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh giảm các mức lãisuất điều hành của NHNN Thống đốc NHNN quy định các mức lãi suất của NHNN nhưsau: Lãi suất tái cấp vốn là 13%/năm; Lãi suất tái chiết khấu là 11%/năm; Lãi suất chovay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốntrong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 14%/năm.
Việc hạ lãi suất đã được dự báo trước và chính Ngân hàng Nhà nước sau khi hạ lãi suất
vầ 13% cũng cho biết mỗi quý sẽ hạ lãi suất 1% Tuy nhiên, động thái hạ lãi suất này được xem là diễn ra nhanh hơn dự kiến
3) Quyết định giảm lãi suất III (28/5/2012)
Theo Quyết định số 1081/QĐ-NHNN ngày 25/5/2012 về việc điều chỉnh giảm cácmức lãi suất điều hành của NHNN, giảm lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm xuống
12%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 14%/năm xuống 13%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 11%/năm xuống 10%/năm
Theo thông tư số 17/2012/TT-NHNN, lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 4%/năm xuống còn 3%/năm, đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên giảm từ 12%/năm xuống còn 11%/năm; riêngQuỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên giảm từ 12,5%/năm xuống còn 11,5%/năm
Theo mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND sau khi điều chỉnh giảm như nêu trên
và Thông tư số 14/2012/TT-NHNN ngày 4/5/2012 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối
đa bằng VND của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế, thì lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các nhu cầu vốn phục vụ nông nghiệp, nông thôn, xuấtkhẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa được điều chỉnh giảm với mức tương ứng là 1%/năm (giảm từ 15%/năm xuống còn 14%/năm)
4) Quyết định giảm lãi suất IV (11/6/2012)
Trang 5Ngày 08/6/2012, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hànhQuyết định số 1196/QĐ-NHNN về mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụtvốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng Cụ thể, Thống đốc NHNNquy định các mức lãi suất của NHNN như sau: Lãi suất tái cấp vốn là 11%/năm; Lãi suất tái chiết khấu là 9%/năm; Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 12%/năm.
Bên cạnh đó, NHNN đã ban hành Thông tư số 20/2012/TT-NHNN, theo đó, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND tối đa là 13%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
ấn định lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND tối đa là 14%/năm NHNN cũng quy định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là
2%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng là9%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi
kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng là 9,5%/năm Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên do TCTD ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường
5) Quyết định giảm lãi suất V (1/7/2012)
Chiều ngày 29/6, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Quyết định số 1289/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng.Theo đó, các lãi suất điều hành trên đồng loạt giảm thêm 1% kể từ lần điều chỉnh 11/6 Sau lần điều chỉnh này, lãi suất tái cấpvốn giữ ở mức 10%/năm; lãi suất tái chiết khấu là 8%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán
bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 11%/năm
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2012 và thay thế Quyết định số1196/QĐ-NHNN ngày 08/6/2012 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất
Trang 6cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốntrong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng.
Như vậy, đây là lần thứ 5 kể từ đầu năm nay, NHNN điều chỉnh giảm các mức lãi suất chủ chốt Trong lần điều chỉnh gần đây nhất, ngày 11/6, NHNN cũng đã giảm 1% các lãi suất điều hành
NHNN cho biết: Việc lãi suất điều hành tiếp tục giảm trong thời gian gần đây là dựa trên
xu hướng giảm của lạm phát và điều kiện cung - cầu vốn trên thị trường
II. Ảnh hưởng của hạ lãi suất tới tình hình sản xuất, kinh doanh.
Trang 71) Thông tin về tình hình tiếp cận vốn của các doanh nghiệp năm 2012
Việc hạ lãi suất cho vay của các ngân hàng trong thời điểm này được xem làđộng thái tích cực để giúp đỡ doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn Tuy nhiên,theo ý kiến của nhiều doanh nghiệp trên địa bàn, lãi suất vẫn còn ở mức cao Trước tácđộng của tình hình kinh tế khó khăn thì doanh nghiệp có được vay vốn cũng khó lòng màtrả được nợ ngân hàng Do đó, từ đầu năm tới nay, các doanh nghiệp lớn phải đứng ra đểvay vốn giúp cho các doanh nghiệp khác Nguyên nhân là bản thân các doanh nghiệp nàykhông đủ điều kiện vay vốn ngân hàng do tài sản thế chấp không đảm bảo Dự án có khảthi đến mấy mà tài sản thế chấp không đảm bảo thì ngân hàng rất khó chấp nhận Đấymới chỉ được vay ở mức lãi suất niêm yết thông thường chứ lãi suất ưu đãi thì có lẽkhông tiếp cận nổi Doanh nghiệp nhỏ và vừa quá khó để vay vốn
Thêm một cái khó của doanh nghiệp trong hành trình gian nan tìm nguồn vốn vay từngân hàng, đó là thời điểm này ngân hàng vẫn chú trọng phần lớn đến nguồn vốn cho vayngắn hạn Các ưu đãi hỗ trợ doanh nghiệp cũng chủ yếu tập trung ở hạn mức ngắn Trongkhi cái doanh nghiệp cần là nguồn vốn trung và dài hạn Điều này ở một khía cạnh nào đócho thấy nhu cầu của doanh nghiệp và khả năng ứng vốn của ngân hàng vẫn chưa thực
sự gặp nhau Bởi vậy, nghịch lý “vốn có, khó vay” cũng là điều dễ hiểu Tổng hợp báocáo của Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ về thực hiện nghị quyết 11 cũng cho thấy, rất
ít doanh nghiệp có thể vay vốn từ ngân hàng Như, tại Quảng Bình, chỉ có khoảng 30%các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay được vốn từ ngân hàng thương mại Lãi suất thỏa thuậnlên đến 20% là phổ biến Lãi suất vay dài hạn lên đến 25%.Theo số liệu thống kê củaNgân hàng Nhà nước Chi nhánh Quảng Ninh, đến hết tháng 4, dư nợ cho vay ngắn hạncủa các ngân hàng trên địa bàn tỉnh đạt 23.100 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 44,4%; dư nợ chovay trung và dài hạn đạt 28.900 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 55,6%
Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 97% tổng số doanh nghiệp, trong đó chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp có khả năng tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng Hai lý do chính là: Về phía doanh nghiệp: khả năng tài chính kém, kinh doanh vượt nhiều lần năng lực tài chính của chính mình; một số doanh nghiệp có số nợ gần bằng tổng giá trị tài sản; có doanh
Trang 8nghiệp lớn hơn cả trăm lần vốn chủ sở hữu Về phía ngân hàng: một số tổ chức tín dụng cho rằng mức độ tin cậy của doanh nghiệp là hấp nên hạn chế bằng việc vay vốn cần tài sản thế chấp và các điều kiện khác nhau
2) Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp năm 2012
Các chỉ số của các thành phần kinh tế quý I – 2012
Tổng sản phẩm trong nước quý I/2012
Theo giá thực tế Theo giá so sánh năm 1994Tổng số
(tỷ đồng)
Cơ cấu(%)
Tổng số(tỷ đồng)
Tháng 4 năm
2012 so vớitháng 4 năm
4 tháng năm
2012 so vớicùng kỳ năm
Trang 92012 2011 2011
TOÀN NGÀNH CÔNG NGHIỆP 101,5 107,5 104,3
Công nghiệp khai thác mỏ 97,7 101,7 102,6Công nghiệp chế biến 103,7 109,3 103,8Sản xuất phân phối, điện, ga, nước 97,6 114,3 114,0
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Tháng 4 năm2012
4 tháng đầunăm 2012
4 tháng đầunăm 2012
Trang 10Theo số liệu được công bố của tổng cục thống kê về tình hình kinh tế xã hội quý Inăm 2012, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I năm 2012 theo giá so sánh 1994 ướctính tăng 4,00% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷsản tăng 2,84%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng2,94%, đóng góp 1,27 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,31%, đóng góp 2,40 điểmphần trăm.
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2012 ước tính đạt 136,9 nghìn
tỷ đồng, bằng 18,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa 89,5 nghìn tỷ đồng, bằng 18,1%;thu từ dầu thô 19,5 nghìn tỷ đồng, bằng 22,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuấtnhập khẩu 27,1 nghìn tỷ đồng, bằng 17,6% Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanhnghiệp Nhà nước bằng 22% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài(không kể dầu thô) bằng 16,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nướcbằng 17,8%; thuế thu nhập cá nhân bằng 17,2%; thuế bảo vệ môi trường bằng 18,4%; thuphí, lệ phí bằng 12,7%
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2012 ước tính đạt 164,9 nghìn tỷđồng, bằng 18,3% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 31,4 nghìn tỷ đồng, bằng17,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 30,7 nghìn tỷ đồng, bằng 17,6%); chi phát triển
sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể 111,4nghìn tỷ đồng, bằng 18,5%; chi trả nợ và viện trợ 22,1 nghìn tỷ đồng, bằng 22,1%
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Theo nhận định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tình hình kinh tế Việt Nam quýI/2012: “Tình hình kinh tế 3 tháng đầu năm 2012 có những chuyển biến tích cực Cácngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đều có bước phát triển Thu ngân sách nhà nướcđạt kết quả tốt bảo đảm cân đối các nhu cầu chi một cách chủ động”
Tuy nhiên với tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, mặc dù theo chính sách củachính phủ, trong quý 1 lãi suất huy động của ngân hàng đã giảm xuống còn 12% nhưngcác doanh nghiệp vẫn “đồng loạt” xin giải thể
Trang 11Chỉ trong quý I, tại TP.HCM có tới 931 doanh nghiệp đã khóa mã số thuế để giảithể (theo tổng hợp của cơ quan thuế TP.HCM) Số doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giảithể tại Sở Kế hoạch và Đầu tư là 526 đơn vị, tăng 23,8% so với cùng kì năm ngoái Trongkhi đó số doanh nghiệp gửi thông báo ngừng hoạt động đến Cục thuế TP.HCM còn lớnhơn nhiều lần, lên đến 5.012 doanh nghiệp Cụ thể: 1.725 đơn vị chờ làm thủ tục giải thể,phá sản; 1.198 doanh nghiệp đã bỏ trốn, mất tích; 1.136 đơn vị tạm ngừng hoạt động cóthời hạn… Con số đăng ký tạm ngừng hoạt động với Sở kế hoạch và Đầu tư tăng gấp 4,6lần năm ngoái.
Báo cáo lên chính phủ vào ngày 25/3, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết số doanhnghiệp thành lập mới giảm 8% về lượng và 12% về vốn đăng ký so với cùng kỳ nămngoái Đã có trên 2,2 nghìn doanh nghiệp làm thủ tục giải thể và trên 9,7 nghìn doanhnghiệp đăng ký ngừng hoạt động có thời hạn hoặc dừng thực hiện nghĩa vụ thuế Sốdoanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể, tạm ngừng hoạt động tăng khoảng 6% so vớicùng kỳ năm trước Số doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể tăng 57%
(Theo thời báo kinh tế Việt Nam vneconomy)
3) Ảnh hưởng của chính sách lãi suất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số
doanh nghiệp cụ thể
Như đã phân tích ở phần trên, mặc dù đã có chính sách hạ lãi suất cho vay nhưng các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn Để làm rõhơn tác động của chính sách lãi suất này , nhóm nghiên cứu sẽ phân tích các chỉ tiêu tài chính(Chi phí lãi vay,Nợ phải trả,Hệ số nợ/tổng vốn ,Hệ số thanh toán nhanh( tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn) thông qua các báo cáo tài chính của nhóm các doanh nghiệp sau trong