Rủi ro tín dụng và một số biện pháp quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Mục lục MỞ ĐẦU 2 I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3 1. Khái niệm tín dụng, rủi ro tín dụng và các nguyên nhân gây ra. 3. Nguyên nhân rủi ro tín dụng. II.THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT RỦI RO TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI . 3 III. VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ CÁCH XỬ LÝ. 10 1. Nội dung vụ việc. 10 2. Hậu quả. 10 3. Hướng giải quyết. 11 4. Đề xuất phương hướng giải quyết và hạn chế rủi ro tín dụng đối với ngân hàng GPBank. 12 IV. PHƯƠNG HƯỚNG KHẮC PHỤC VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 12 KẾT LUẬN 15 MỞ ĐẦU Trong quá trình phát triển của một đất nước, các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các ngân hàng, đóng một vai trò rất quan trọng. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhanh và bền vững nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động ổn định và có hiệu quả, không thể có tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của Ngân hàng yếu kém và lạc hậu. Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng và hoạt động có hiệu quả trong Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại, cụ thể là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát Hoạt động của Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành phần kinh tế. Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế... đều có thể biến một khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi. Đó là chưa kể đến những kẽ hở do hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh gây nên những phiền toái cho khách hàng và Ngân hàng trong quá trình hoạt động cũng như tạo điều kiện cho những ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ Ngân hàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của nhà nước . Đây là mối đe doạ mà bất cứ Ngân hàng nào cũng phải đương đầu. Ngân hàng hiện nay, dù danh nghĩa là hoạt động đa năng, nhưng thu nhập từ hoạt động tín dụng hiện vẫn chiếm trên dưới 90% tổng thu nhập của từng NHTM Việt Nam. Rủi ro tín dụng của các Ngân hàng chủ yếu là do thất bại của khách hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết với Ngân hàng. Nhận thức được ý nghĩa của vấn đề quản trị rủi ro trong ngân hàng, nhóm chúng em xin trình bày những hiểu biết của mình về hoạt động quản trị rủi ro hiện nay và đề xuất một số biện pháp phòng ngừa rủi to tín dụng qua đề tài: ''Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam". I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng, rủi ro tín dụng và các nguyên nhân gây ra. Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng, và các tổ chức kinh tế, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả. Việc hoàn trả được nợ gốc trong tín dụng có nghĩa là việc thực hiện được giá trị hàng hóa trên thị trường, còn việc hoàn trả được lãi trong vay tín dụng là việc thực hiện được giá trị thặng dư trên thị trường. Rủi ro tín dụng (credit risk), theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng. Từ đó, có nhiều tiêu chí phản ảnh rủi ro tín dụng - Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ. - Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu. - Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất. - Nợ đáng nghi ngờ (nợ có vấn đề) - có khả năng chuyển thành nợ xấu cao. - Nợ không có tài sản đảm bảo. Nhiều ngân hàng phân loại nợ theo khách hàng để phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng. Nợ của khách hàng nhóm A (loại 1) được coi có rủi ro thấp nhất còn nợ khách hàng nhóm D, E (loại 4-5) được coi là có khả năng mất vốn cao nhất. Để cách phân loại này phản ảnh chính xác rủi ro tín dụng phải có tiêu chuẩn để xếp hạng tín nhiệm đúng. 2. Phân loại rủi ro tín dụng Theo đối tượng sử dụng
Trang 1Mục lục
MỞ ĐẦU 2
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1 Khái niệm tín dụng, rủi ro tín dụng và các nguyên nhân gây ra 3
2 Phân loại rủi ro tín dụng 3
3 Nguyên nhân rủi ro tín dụng 5
4 Quản trị rủi ro tín dụng 7
II.THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT RỦI RO TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9
III VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ CÁCH XỬ LÝ. 10
1 Nội dung vụ việc 10
2 Hậu quả 11
3 Hướng giải quyết 11
4 Đề xuất phương hướng giải quyết và hạn chế rủi ro tín dụng đối với ngân hàng GPBank 12
IV PHƯƠNG HƯỚNG KHẮC PHỤC VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 13
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của một đất nước, các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các ngân hàng, đóng một vai trò rất quan trọng Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhanh và bền vững nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động ổn định và có hiệu quả, không thể có tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của Ngân hàng yếu kém và lạc hậu Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ
Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại, cụ thể là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát triển ổn định và ngược lại
Hoạt động của Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực Tuy nhiên, trong nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành phần kinh tế Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế đều có thể biến một khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi Đó là chưa kể đến những kẽ hở do
hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh gây nên những phiền toái cho khách hàng và Ngân hàng trong quá trình hoạt động cũng như tạo điều kiện cho những ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ Ngân hàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của nhà nước Đây là mối đe doạ mà bất cứ Ngân hàng nào cũng phải đương đầu
Ngân hàng hiện nay, dù danh nghĩa là hoạt động đa năng, nhưng thu nhập từ hoạt động tín dụng hiện vẫn chiếm trên dưới 90% tổng thu nhập của từng NHTM Việt Nam Rủi ro tín dụng của các Ngân hàng chủ yếu là do thất bại của khách hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết với Ngân hàng
Nhận thức được ý nghĩa của vấn đề quản trị rủi ro trong ngân hàng, nhóm chúng
em xin trình bày những hiểu biết của mình về hoạt động quản trị rủi ro hiện nay và đề
xuất một số biện pháp phòng ngừa rủi to tín dụng qua đề tài: ''Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam".
Trang 3I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI
RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm tín dụng, rủi ro tín dụng và các nguyên nhân gây ra.
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân
hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng, và các tổ
chức kinh tế, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả Việc hoàn trả được nợ gốc trong tín dụng
có nghĩa là việc thực hiện được giá trị hàng hóa trên thị trường, còn việc hoàn trả được lãi trong vay tín dụng là việc thực hiện được giá trị thặng dư trên thị trường
Rủi ro tín dụng (credit risk), theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng
nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng Từ đó, có nhiều tiêu chí phản ảnh rủi ro tín dụng của NHTM như:
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
- Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu
- Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất
- Nợ đáng nghi ngờ (nợ có vấn đề) - có khả năng chuyển thành nợ xấu cao
- Nợ không có tài sản đảm bảo
Nhiều ngân hàng phân loại nợ theo khách hàng để phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng Nợ của khách hàng nhóm A (loại 1) được coi có rủi ro thấp nhất còn nợ khách hàng nhóm D, E (loại 4-5) được coi là có khả năng mất vốn cao nhất Để cách phân loại này phản ảnh chính xác rủi ro tín dụng phải có tiêu chuẩn để xếp hạng tín nhiệm đúng
2 Phân loại rủi ro tín dụng
Theo đối tượng sử dụng
Trang 4 Rủi ro khách hàng cá thể
Rủi ro công ty/ tổ chức kinh tế
Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý
Theo phạm vi
Rủi ro đơn lẻ/giao dịch (được hiểu là rủi ro gắn với một giao dịch cụ thể nào
đó, như đối với một khoản vay của khách hàng Loại rủi ro này gắn liền và xuất phát chủ yếu do đặc điểm cá biệt của một khoản vay/khách hàng)
Rủi ro hệ thống (rủi ro gắn liền với một nhóm khách hàng, chẳng hạn đối với một ngành, thậm chí cả một nền kinh tế Loại rủi ro này mang tính chất
vĩ mô và liên quan đến việc quản lý danh mục tín dụng)
Theo giai đoạn phát sinh rủi ro
Rủi ro trong thẩm định, tức là đánh giá sai khách hàng
Rủi ro khi cho vay, chẳng hạn như giải ngân sai mục đích làm cho khoản vay không phát huy hiệu quả
Rủi ro trong khi quản lý, xử lý thu nợ
Theo sản phẩm
Rủi ro các sản phẩm nội bảng (cho vay, thấu chi)
Rủi ro các sản phẩm ngoại bảng (chiết khấu, thư tín dụng, bảo lãnh)
Theo tính chất của rủi ro
Rủi ro khách quan xảy ra do thiên tai, địch họa, người vay trốn chạy, mất tích
Rủi ro chủ quan xảy ra do người vay hoặc người cho vay vô tình hoặc cố ý làm cho thất thoát vốn vay
Theo thời hạn khoản vay
Rủi ro theo các khoản vay ngắn hạn
Rủi ro theo các khoản vay trung dài dạn
Trang 53 Nguyên nhân rủi ro tín dụng.
Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và người
đi vay Nhưng người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trường kinh doanh,
và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan Rủi ro xuất phát từ người vay
và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan
3.1 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh doanh
Sự thay đổi của môi trường tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây tổn thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh
Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới
Sự tấn công của hàng nhập lậu làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng chưa thực sự lành mạnh, việc chạy theo quy
mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện trong cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay
Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương
Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước
Hệ thống thông tin hỗ trợ tín dụng còn bất cập
Thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng, nguyên vật liệu đầu vào tăng ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng, khó khăn tài chính dẫn đến không có khả năng trả nợ
3.2 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan từ người vay.
Sử dụng vốn sai mục đích so với phương án kinh doanh khi giải ngân
Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng quản lý
Khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng dưới một danh nghĩa hay nhiều thực thể khác nhau nên thiếu sự phân tích trên tổng thể, khó theo dõi được dòng
Trang 6tiền dẫn đến việc sử dụng vốn vay chồng chéo và mất khả năng thanh toán dây chuyền
Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch, che dấu các khoản lỗ
Chưa thực sự thay đổi quan điểm, còn xem vốn ngân hàng là vốn nhà nước, nếu doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả thì ngân hàng chịu, ngân hàng thua lỗ thì nhà nước chịu
Khách hàng kinh doanh thua lỗ, hàng hóa sản xuất ra không bán được, không trả được nợ vay ngân hàng
Rủi ro tín dụng do khách hàng cố ý lừa đảo
3.3 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan từ ngân hàng cho vay.
Rủi ro do thiếu thông tin khi thẩm định và khi ra quyết định cho vay nên dẫn đến những quyết định cho vay sai lầm
Rủi ro do thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay, hệ thống cảnh báo sớm về các khoản vay có vấn đề không hiệu quả nên không thể can thiệp kịp thời
Rủi ro do áp lực phải hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch hàng năm được giao, chưa thật
sự quan tâm đến chất lượng tín dụng
Rủi ro do hệ thống kiểm soát trong khi cho vay không chặt chẽ và kém hiệu quả
Rủi ro do lỏng lẻo trong công tác kiểm soát nội bộ của ngân hàng
Rủi ro do ý muốn chủ quan của người xét duyệt hoặc cấp có thẩm quyền
Rủi ro do bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Rủi ro do việc chuyển dịch cơ cấu khách hàng theo ngành nghề, lĩnh vực còn chậm
4 Quản trị rủi ro tín dụng
Là cách để các ngân hàng phải thành công trong những khoản cho vay phải được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn (cả gốc và lãi), nghĩa là phải giảm thiểu được rủi ro tín dụng và đem lại lợi nhuận cao Để kinh doanh an toàn và có lãi, ngân hàng phải vượt qua được vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, là nguyên nhân chủ yếu khiến cho khoản tín dụng không thu hồi được Nỗ lực giải quyết các vấn đề này giúp giải thích hàng loạt các nguyên lý quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng, như: sàng lọc và giám sát, thiết lập mối
Trang 7quan hệ khách hàng lâu dài và tin tưởng, hạn mức tín dụng, thế chấp đảm bảo tiền vay và hạn chế tín dụng
4.1 Sàng lọc và giám sát:
4.1.1 Sàng lọc:
Lựa chọn đối nghịch trên thị trường tín dụng đòi hỏi người cho vay sàng lọc để loại
bỏ những người vay xấu ra khỏi những người vay tốt Để thực hiện quá trình sàng lọc hiệu quả, người vay phải thu thập thông tin tin cậy từ những khách hàng tiềm năng Sàng lọc cùng với thu thập thông tin hiệu quả là một trong những nguyên lý quan trọng trong quản lý rủi ro tín dụng
4.1.2 Tập trung hóa trong cho vay
Ngân hàng thu thập thông tin từ các doanh nghiệp trên cùng địa bàn để xác định hệ
số tín nhiệm là dễ dàng và ít tốn kém hơn so với làm như vậy đối với doanh nghiệp ở xa Tương tự, việc tập trung hóa trong cho vay các công ty cùng một lĩnh vực đó, trên cơ sở
đó, sẽ nhận biết tốt hơn công ty nào có khả năng hoàn trả được nợ vay tốt hơn
4.1.3 Giám sát và hối thúc thực hiện hợp đồng
Bằng cách giám sát các hoạt động của người vay để biết được xem người vay có tuân thủ nghiêm chỉnh các điều khoản quy định trong hợp đồng, nếu người vay cố tình hay vô ý không tuân thủ chặt chẽ các điều khoản, thì ngân hàng sẽ hối thúc và yêu cầu người vay phải thực hiện đúng những điều khoản đã ký kết
4.2 Mối quan hệ lâu dài với khách hàng
Mối quan hệ lâu dài với khách hàng làm giảm được chi phí thu thập thông tin và làm dễ dàng hơn trong việc sàng lọc khách hàng Chi phí để giám sát những khách hàng
đã có quan hệ tín dụng sẽ ít hơn so với khách hàng lần đầu đến quan hệ Ngoài ra mối quan hệ lâu dài cho phép ngân hàng hạn chế được ngay cả những rủi ro đạo đức có thể bất ngờ xảy ra ngoài dự tính
4.3 Hạn mức tín dụng
Là cam kết của ngân hàng: Trong một khoảng thời gian nhất định sẽ cấp tín dụng cho doanh nghiệp tối đa bằng hạn mức đã duyệt theo mức lãi suất gắn với mức lãi suất thị trường tại thời điểm cho vay Hạn mức tín dụng là một phương pháp hữu hiệu nhằm giảm chi phí ngân hàng trong việc sàng lọc va thu thập thông tin
Trang 84.4 Thế chấp tài sản và tài khoản thanh khoản
Thế chấp tài sản là đem tài sản gán cho người cho vay để thu nợ trong trường hợp khoản vay không được hoàn trả; do đó, nó làm giảm hậu quả việc lựa chọn đối nghịch bởi
vì tổn thất của người cho vay được giảm thiểu cho dù người vay không trả nợ
Một hình thức thường gặp của yêu cầu thế chấp đó là, khi cho vay thương mại, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải mở tài khoản thanh toán tại mình; thông qua tài khoản thanh toán, ngân hàng có thể giám sát được hoạt động thu chi của khách hàng, thu thập những thông tin cần thiết về tình hình tài chính của người vay Hoạt động tài khoản thanh toán giúp cho ngân hàng dễ dàng hơn trong việc giám sát người vay và là công cụ quan trọng tiếp theo trong quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng
4.5 Hạn chế tín dụng
Là việc từ chối cấp tín dụng ngay cả khi người vay sẵn sàng trả mức lãi suất theo yêu cầu hoặc thậm chí cao hơn Hạn chế tín dụng gồm 2 hình thức:
Thứ nhất, ngân hàng từ chối cấp bất kỳ một khoản tín dụng nào, cho dù khách hàng sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất cao hơn
Thứ hai, ngân hàng chấp nhận cho vay nhưng hạn chế số lượng được vay so với yêu cầu của khách hàng
Với hình thức hạn chế thứ nhất, thu mức lãi suất cao, nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận sự lựa chọn đối nghịch lớn, làm tăng khả năng ngân hàng cấp tín dụng cho những dự
án mạo hiểm rủi ro cao Do đó, ngân hàng sẽ không cấp bất kỳ một khoản tín dụng nào với mức lãi suất cao hơn bình thường; thay vào đó, ngân hàng sẽ từ chối cấp tín dụng
Ngân hàng hạn chế số lượng cho vay là nhằm cảnh giác với rủi ro đạo đức.Bởi vì nếu khoản vay càng lớn thì càng kích thích rủi ro đạo đức phát sinh
II.THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT RỦI RO TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
“Ngân hàng còn lúng túng khi xử lý rủi ro”
"Có thể nói giống như xây một ngôi nhà, người ta tính toán sao cho không xảy ra lún sụt, nứt tường, thấm dột Còn những tai họa bất ngờ như động đất, bão lũ thì chịu”, tổng giám đốc một ngân hàng thương mại cổ phần đã ví von như vậy khi bàn về rủi ro đối với ngân hàng.”
Trang 9Rõ ràng tất cả các ngân hàng đều có bộ phận chuyên trách về vấn đề quản trị rủi ro, nhưng lâu nay, các loại rủi ro được dự báo và xử lý trên những định lượng phân tích được Còn về thị trường, như tin đồn thất thiệt chẳng hạn, thì thật khó đánh giá Nhiều quan chức ngân hàng cũng cùng ý kiến rằng, việc quản trị rủi ro hiện chủ yếu là quản trị an toàn vốn, trong đó tập trung nhiều vào quản trị rủi ro tín dụng
Theo ông Vũ Ngọc Kình, Phó giám đốc chi nhánh 50 Bến Chương Dương, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thông thường mỗi bộ phận nghiệp vụ trong một ngân hàng, như tín dụng, ngân quỹ, thanh toán quốc tế sẽ đảm đương luôn việc phân tích những rủi ro trong lĩnh vực theo dõi của mình và báo cáo lên trên Chứ trên thực
tế, ông Kình cho biết, chưa có một bộ phận chuyên biệt gọi là quản trị rủi ro trong ngân hàng mình
Tuy nhiên, theo ông Đinh Văn Khải, trưởng phòng chiến lược kinh doanh ngân hàng Eximbank, để chuyên nghiệp hóa vai trò quản trị rủi ro thì cần thiết phải tiến đến hình thành hai ban như mô hình ngân hàng hiện đại Trong đó, một ban quản lý rủi ro trực thuộc hội đồng quản trị, ban kia chuyên quản lý tài sản nợ và tài sản có Không chỉ quản trị các loại rủi ro mang tính kỹ thuật mà các ban này còn đo lường các rủi ro về thị trường, hoạt động, kịp thời tiên lượng được những tình huống khủng hoảng như biến động của nền kinh tế, hoặc thậm chí như một tin đồn thất thiệt gây hoang mang trong dân cư, để có thể có những đối phó thích hợp và nhanh chóng
Cũng theo ông Khải, việc quản trị rủi ro lâu nay chưa chú ý đến việc đối phó với các loại rủi ro này và việc phản ứng chậm trước một rủi ro về tin đồn như vừa qua là có thể hiểu được
Một vấn đề khác đang được các chuyên gia bàn đến đó là lòng tin của người dân về
hệ thống ngân hàng chưa đủ nhiều và do đó dễ hoang mang khi có những tình huống xấu Một vị tổng giám đốc một ngân hàng phân tích, điều này có phần do các đơn vị vẫn chưa biết cách làm cho hoạt động của mình bớt xa lạ hơn với người dân Chính vì vậy, theo ông, đa số người dân vẫn còn hiểu biết ít về các hoạt động của ngân hàng "Và, khi đã không hiểu nhau thì làm sao có lòng tin đối với nhau", ông nói
Ông Vũ Quốc Đại, giám đốc bộ phận quan hệ khách hàng ngân hàng Đông Á, cũng nhìn lại rằng vấn đề thông tin của ngân hàng đối với khách hàng chưa đủ mạnh Để rút ngắn khoảng cách, ông Đại dự định chú trọng công tác dịch vụ khách hàng Ông Đinh Văn Khải ở Eximbank có sáng kiến, ngoài cách thông tin như trước đây thì ngân hàng còn
Trang 10nên thường xuyên gửi thư ngỏ đến khách hàng, báo cáo về tình hình kinh doanh của mình
có kiểm toán, tận dụng nhiều kênh truyền thông để đưa thông tin về sản phẩm, dịch vụ của mình đến với khách hàng
III VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ CÁCH XỬ LÝ.
1 Nội dung vụ việc.
Ngày 5/12/2007, Tập đoàn Bảo Sơn ký hợp đồng hợp tác đầu tư với Cty CP TM Tổng hợp quốc tế D&T (Hà Nội) Theo đó, Tập đoàn Bảo Sơn được thụ hưởng lợi thế đất, quyền sử dụng đất, san lấp mặt bằng và giá trị đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại dự án “Khu du lịch sinh thái An Khánh”, phía D&T bỏ vốn xây dựng 47 biệt thự trên tổng số 357 căn biệt thự
Bằng hợp đồng hợp tác nói trên, Cty D&T đã ký hợp đồng tín dụng với NH TMCP Dầu khí toàn cầu (GP Bank) để vay vốn thực hiện dự án Tài sản đảm bảo cho hợp đồng vay vốn nói trên được chốt lại là 47 lô đất với tổng diện tích 6.142 m2 đất và được định giá hơn 97 tỷ đồng Sau khi ký hợp đồng vay vốn với GP Bank, ba bên bao gồm Tập đoàn Bảo Sơn, Cty D&T và GP Bank cũng đã ký cam kết ba bên nhất trí về việc thế chấp tài sản, vay vốn và quy định trách nhiệm của từng bên
Tuy nhiên, tháng 6/2008, do Cty D&T không có khả năng thanh toán số vốn vay hơn 66 tỷ đồng, đến tháng 12/2008 GP Bank đã ra thông báo chuyển quyền thụ hưởng 47
lô đất trên Tức là GP Bank chính thức thay D&T thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp pháp đối với 47 biệt thự là tài sản đảm bảo trên
Hợp đồng cũng quy định, Cty D&T chịu trách nhiệm đầu tư xây dựng, hoàn tất các căn hộ và được phép chuyển nhượng công trình Tuy nhiên ngay khi bút chưa ráo mực, nhà chưa xây thì Cty D&T đã bán phăng 47 biệt thự, vi phạm ngay chính hợp đồng vừa
ký với Tập đoàn Bảo Sơn và vi phạm nghĩa vụ thế chấp với GP Bank
Tới lúc này, mới xuất hiện các hộ dân đã bỏ tiền tỷ ra mua 47 căn biệt thự từ D&T
Và những người này đang đứng trước nguy cơ mất trắng Người mua nhà không biết thông tin những căn hộ này bị thế chấp
2 Hậu quả.