1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích việc điều hành công cụ lãi suất của ngân hàng nhà nước từ đầu năm 2012 đến nay

17 804 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 306,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích việc điều hànhcông cụ lãi suất của ngân hàng nhà nước từ đầu năm 2012 đến nayBộ giáo dục và đào tạoTrường đại học ngoại thươngTên tiểu luận: Phân tích việc điều hành công cụ lãi suất của ngân hàng nhà nước từ đầu năm 2012 đến nayGiáo viên hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền.Hoàng Minh Thái MSV: 1001030319Lại Hương Trang MSV: 1001030362Nguyễn Thị Thu Thảo MSV: 1001030334Lê Thị Thu Thảo MSV: 1001030333Nguyễn Thị Minh Thúy MSV: 1001030348Lời mở đầu 3Nội dung 4I. Cơ sở lý thuyết về lãi suất: 41. Khái niệm 42. Phân loại 42.1 Các loại lãi suất do ngân hàng Nhà nước ban hành 42.2 Các loại lãi suất do hệ thống Ngân hàng Thương mại công bố 6II. Quá trình điều hành công cụ lãi suất của ngân hàng nhà nước từ đầu năm 2012 đến nay 7III. Biến động các loại lãi suất huy động, cho vay và liên ngân hàng của hệ thống ngân hàng thương mại. 93.1 Lãi suất huy động 93.2 Lãi suất cho vay 113.3 Lãi suất liên ngân hàng. 11IV. Đánh giá tác động tới nền kinh tế từ việc điều hành công cụ lãi suất từ đầu năm 2012 đến nay 124.1 Tích cực 124.1 Tiêu cực 134.3 Nguyên nhân 14V. Đề xuất giải pháp về chính sách tiền tệ trong thời gian tới 14Kết luận 16Danh mục tài liệu tham khảo 17Lãi suất luôn được coi là một biến số nhạy cảm đối với đời sống kinh tế. Nó tác động trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể kinh tế, ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của các nhà kinh doanh tài chính, quyết định hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Đã có rất nhiều các đề tài nghiên cứu về lãi suất, cũng như các bài báo và tạp chí phân tích về vấn đề này. Lãi suất thực sự là một vấn đề nóng bỏng thu hút được sự quan tâm của nhiều tầng lớp xã hội.Bàn về vấn đề lãi suất, chúng ta không thể phủ nhận lãi suất là một công cụ sắc bén của chính sách tiền tệ trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Đặc biệt tầm quan trọng của nó lại càng được nhắc đền nhiều hơn trong năm 2012 khi ngân hàng nhà nước liên tục đưa ra các chính sách lãi suất đồng thời điều chỉnh các loại lãi suất điều hành. Nhưng việc điều hành công cụ lãi suất này liệu đã hiệu quả và kịp thời hay chưa? Nhận thức được tầm quan trong của lãi suất và tình thời sự của vấn đề này ở Việt Nam trong giai đoạn này, nhóm chúng tôi làm bài tiểu luận nghiên cứu về đề tài: “Phân tích việc điều hành công cụ lãi suất của ngân hàng nhà nước từ đầu năm 2012 đến nay.I. Cơ sở lý thuyết về lãi suất:Theo định nghĩa của PGS.TS Nguyễn Văn Tiến trong cuốn “giáo trình Tài chính – Tiền tệ Ngân hàng” – chương 2, ta có: “Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một thời gian nhất định (ngày, tuần, tháng hoặc Có nhiều căn cứ để phân loại lãi suất, như: căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng, căn cứ vào giá trị của tiền lãi, căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất, căn cứ vào loại tiền cho vay, căn cứ vào nguồn tín dụng trong nước hay quốc tế,… Nhưng ở đây, tôi xin phép được dựa vào tiêu chí nguồn phát hành lãi suất để chia ra làm 2 loại như sau: Lãi suất do Ngân hàng Nhà nước ban hành và Lãi suất do hệ thống Ngân hàng Thương mại công bố.2.1 Các loại lãi suất do ngân hàng Nhà nước ban hành Cũng theo định nghĩa của PGS. TS Nguyễn Văn Tiến trong cuốn “giáo trình Tài chính – Tiền tệ Ngân hàng”, lãi suất cơ bản là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình. Hiện nay, lãi suất cơ bản mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố trên website: sbv.gov.vn tính đến ngày 12 tháng 12 năm 2012 là 9%. Đây là mức lãi suất được áp dụng khi Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng trung gian vay dưới hình thức chiết khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng này.Lãi suất này nhằm kiểm soát và điều tiết sự biến động của lãi suất trên thị trường. Đối với Ngân hàng thương mại, lãi suất tái chiết khấu chính là lãi suất gốc để từ đó ấn định được lãi suất chiết khấu và các loại lãi suất cho vay khác. Nó cũng được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay khi Ngân hàng Trung Ương cấp tiền vay cho ngân hàng. Đây là loại lãi suất áp dụng đối với các giấy tờ có độ rủi ro thấp như trái phiếu chính phủ, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn. Theo khoản 1 điều 11 Luật Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010: “tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng”. Như vậy, lãi suất tái cấp vốn là lãi suất được sử dụng trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước tái cấp vốn cho các ngân hàng khác.

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học ngoại thương

công cụ lãi suất của ngân hàng nhà nước

từ đầu năm 2012 đến nay

Giáo viên hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền.

Danh sách nhóm:

Hoàng Minh Thái MSV: 1001030319

Lại Hương Trang MSV: 1001030362 Nguyễn Thị Thu Thảo MSV: 1001030334

Lê Thị Thu Thảo MSV: 1001030333 Nguyễn Thị Minh Thúy MSV: 1001030348

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

Lời mở đầu

Lãi suất luôn được coi là một biến số nhạy cảm đối với đời sống kinh tế Nó tác động trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể kinh tế, ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của các nhà kinh doanh tài chính, quyết định hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Đã có rất nhiều các đề tài nghiên cứu về lãi suất, cũng như các bài báo và tạp chí phân tích

về vấn đề này Lãi suất thực sự là một vấn đề nóng bỏng thu hút được sự quan tâm của nhiều tầng lớp xã hội.

Bàn về vấn đề lãi suất, chúng ta không thể phủ nhận lãi suất là một công cụ sắc bén của chính sách tiền tệ trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô Đặc biệt tầm quan trọng của nó lại càng được nhắc đền nhiều hơn trong năm 2012 khi ngân hàng nhà nước liên tục đưa ra các chính sách lãi suất đồng thời điều chỉnh các loại lãi suất điều hành Nhưng việc điều hành công cụ lãi suất này liệu đã hiệu quả và kịp thời hay chưa? Nhận thức được tầm quan trong của lãi suất và tình thời sự của vấn đề này ở Việt Nam trong giai đoạn này, nhóm chúng tôi làm bài tiểu luận nghiên cứu về đề tài: “Phân tích việc điều hành công cụ lãi suất của ngân hàng nhà nước từ đầu năm 2012 đến nay.

Trang 4

Nội dung

I. Cơ sở lý thuyết về lãi suất:

1 Khái niệm

Theo định nghĩa của PGS.TS Nguyễn Văn Tiến trong cuốn “giáo trình Tài

chính – Tiền tệ Ngân hàng” – chương 2, ta có: “Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một thời gian nhất định (ngày, tuần, tháng hoặc năm)”

2 Phân loại

Có nhiều căn cứ để phân loại lãi suất, như: căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng, căn cứ vào giá trị của tiền lãi, căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất, căn cứ vào loại tiền cho vay, căn cứ vào nguồn tín dụng trong nước hay quốc tế,… Nhưng

ở đây, tôi xin phép được dựa vào tiêu chí nguồn phát hành lãi suất để chia ra làm 2

loại như sau: Lãi suất do Ngân hàng Nhà nước ban hành và Lãi suất do hệ thống Ngân hàng Thương mại công bố.

2.1 Các loại lãi suất do ngân hàng Nhà nước ban hành

Lãi suất cơ bản:

Cũng theo định nghĩa của PGS TS Nguyễn Văn Tiến trong cuốn “giáo trình

Tài chính – Tiền tệ Ngân hàng”, lãi suất cơ bản là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình Hiện nay, lãi suất

cơ bản mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố trên website: sbv.gov.vn tính đến ngày 12 tháng 12 năm 2012 là 9%

Lãi suất tái chiết khấu:

Đây là mức lãi suất được áp dụng khi Ngân hàng Trung ương cho các ngân

hàng trung gian vay dưới hình thức chiết khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng này.

Lãi suất này nhằm kiểm soát và điều tiết sự biến động của lãi suất trên thị trường Đối với Ngân hàng thương mại, lãi suất tái chiết khấu chính là lãi suất gốc

Trang 5

để từ đó ấn định được lãi suất chiết khấu và các loại lãi suất cho vay khác Nó cũng được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay khi Ngân hàng Trung Ương cấp tiền vay cho ngân hàng

Đây là loại lãi suất áp dụng đối với các giấy tờ có độ rủi ro thấp như trái phiếu chính phủ, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn

Lãi suất tái cấp vốn:

Theo khoản 1 điều 11 Luật Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010: “tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng” Như vậy, lãi suất tái

cấp vốn là lãi suất được sử dụng trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước tái cấp vốn cho các ngân hàng khác

Một Ngân hàng Trung Ương có thể tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế quốc dân: làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng lãi suất tái cấp vốn để tránh cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng “quá nóng”, đồng thời để kiểm soát lạm phát Nếu lãi suất tái cấp vốn ở mức cao, chi phí cho các khoản vay tăng và trở nên kém hấp dẫn với các cá nhân và doanh nghiệp đang có nhu cầu đi vay Điều này làm tỷ lệ đầu tư bị giảm sút, và ngược lại, giảm lãi suất tái cấp vốn sẽ giúp thúc đẩy nền kinh tế có biến chuyển theo chiều hướng tích cực hơn

Lãi suất trên thị trường mở (OMO):

Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng Trung Ương mua vào hoặc bán ra những giấy tờ có giá của Chính phủ trên thị trường Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, Ngân hàng Trung Ương tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường Như vậy, lãi suất trên thị trường mở là

lãi suất Ngân hàng Nhà nước đưa ra khi thực hiện việc mua bán các giấy tờ có giá trên

Lãi suất trần:

Để hạn chế lạm phát xảy ra trong nền kinh tế, đồng thời để đảm bảo hoạt động của các Ngân hàng Thương mại không bị lỗ, Ngân hàng Nhà nước đưa ra

Trang 6

một biên độ (một khoảng) dao động lãi suất mà các Ngân hàng Thương mại được

phép áp dụng trong hoạt động kinh doanh Mức lãi suất cao nhất mà một tổ chức tài chính được áp dụng để thu hút tiền gửi vào tổ chức của mình được gọi là mức lãi suất trần huy động; hay mức lãi suất cao nhất mà tổ chức áp dụng với các khoản vay nợ của người đi vay được gọi là mức lãi suất trần cho vay.

Lãi suất sàn:

Cũng tương tự như định nghĩa lãi suất trần, lãi suất sàn là mức lãi suất thấp nhất mà một tổ chức tài chính áp dụng đối với các khoản vay nợ của người đi vay

2.2 Các loại lãi suất do hệ thống Ngân hàng Thương mại công bố

Lãi suất chiết khấu:

Lãi suất chiết khấu của Ngân hàng Thương mại là lãi suất được áp dụng khi Ngân hàng Thương mại cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng

Lãi suất liên ngân hàng.

Lãi suất liên ngân hàng hay còn được gọi là lãi suất qua đêm Đây là loại lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng Lãi suất này được hình thành qua quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường

liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất cho các ngân hàng trung gian vay của Ngân hàng Trung Ương

Ta có thể hiểu một cách kĩ càng hơn, đó là, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, cuối ngày, các Ngân hàng Thương mại phải gửi báo cáo về số dự trữ bắt buộc theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước Nếu ngân hàng không đáp ứng đủ

số vốn dự trữ bắt buộc sẽ bị xử phạt nghiêm trọng Vì vậy, một số ngân hàng nhỏ, ngân hàng bị thiếu hụt đã vay những ngân hàng còn dư tiền sau khi đã đảm bảo đủ

số dự trữ của ngân hàng mình Do khoản vay này là vay ngắn hạn (trong vòng vài ngày) nên lãi suất liên ngân hàng sẽ rất cao Tuy nhiên, lãi suất trên thị trường liên

Trang 7

ngân hàng này có tăng hay giảm cũng không gây ảnh hưởng gì nhiều đến lãi suất cho vay bình thường

Lãi suất huy động:

Lãi suất huy động là tỷ lệ phần trăm lãi suất trên số tiền khách hàng gửi vào ngân hàng hay các tổ chức tín dụng Tỷ lệ phần trăm này thường được áp

dụng cho một năm, còn nếu muốn tính theo tháng có thể lấy số phần trăm đó chia cho 12 tháng

Lãi suất cho vay:

Lãi suất cho vay là loại lãi suất được áp dụng cho các cá nhân tổ chức vay vốn tại các ngân hàng, tính theo từng tháng, từng quý hay từng năm…Đây

cũng được coi như chi phí mà khách hàng phải trả khi sử dụng vốn không phải vốn tự có của mình

II Quá trình điều hành công cụ lãi suất của ngân hàng nhà nước từ đầu năm 2012 đến nay

Từ đầu năm 2012, kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp Hầu hết các nước có tăng trưởng kinh tế thấp Lạm phát toàn cầu có xu hướng tăng chậm lại ở các nước phát triển và đang phát triển Kinh tế trong nước có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với rủi ro tăng trưởng kinh tế chậm lại, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, hàng tồn kho ở mức cao, nợ xấu tăng cao

Bám sát các diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, trong 6 tháng đầu

năm 2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chủ động điều

hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu kiểm soát

lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho hoạt động

sản xuất kinh doanh, từng bước cơ cấu lại và đảm bảo an toàn hệ thống

các tổ chức tín dụng (TCTD) Trong đó chính sách lãi suất như sau:

Điều hành chính sách lãi suất theo hướng giảm dần phù hợp với diễn

biến kinh tế vĩ mô, điều kiện thị trường tiền tệ để giảm mặt bằng lãi

suất cho vay, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế

Cụ thể,

Ngày 13/3, Ngân hàng nhà nước tiến hành:

- Giảm lãi suất tái cấp vốn từ 15%/năm xuống 14%/năm

- Giảm lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên

ngân hàng từ 16%/năm xuống 15%/năm

- Giảm lãi suất tái chiết khấu từ 13%/năm xuống 12%/năm

Trang 8

- Giảm lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng từ 6%/năm xuống 5%/năm

- Giảm lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ

1 tháng trở lên từ 14%/năm xuống 13%/năm (riêng với qũy tín dụng nhân dân cơ sở, lãi suất tối đa đối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng trở lên giảm từ 14,5%/năm xuống 13,5%/năm

Ngày 11/4, Các lãi suất chủ chốt được điều chỉnh giảm 1%/năm so với trước đó

Cụ thể, lãi suất tái cấp vốn là 13%/năm; lãi suất tái chiều khấu là 11%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng nhà nước đối với các ngân hàng là 14%/năm

Ngân hàng nhà nước quy định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 4%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi

có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 12%/năm; riêng quý tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 12,5%/năm Ngày 4/5, Ngân hàng Nhà nước bất ngờ công bố áp trần lãi suất cho vay đối với 4 lĩnh vực ưu tiên chỉ còn 15% một năm

Ngày 28/5, Lãi suất tái cấp vốn được giảm từ 13%/năm xuống còn 12%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 14%/năm xuống còn 13%/năm; lãi suất tái chiều khấu được giảm từ 11%/năm xuống 10%/năm Bên cạnh đó, lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND đối với tiền gửi không kỳ hạn và

có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 4%/năm xuống còn 3%/năm; đối với kỳ hạn từ 1 tháng trở lên giảm từ 12%/năm xuống còn 11%/năm (riêng quỹ tín dụng nhân dân

cơ sở từ 12,5%/năm xuống 11,5%/năm)

Ngày 11/6, Ngân hàng nhà nước tiến hành điều chỉnh 1% các loại lãi suất điều hành: Lãi suất tái cấp vốn giảm từ 12% xuống 11%/năm, lãi suất tái chiết khấu giảm từ 10%/năm xuống mức 9%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiết hụt trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng giảm từ 13%/năm xuống mức 12%/năm

Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 2%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng là 9%/năm Bỏ trần lãi suất huy động áp dụng đối với kỳ hạn trên 12 tháng NHNN cũng áp mức trần cho vay 13%/năm đối với 4 lĩnh vực ưu tiên là: nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày 29/6, Ngân hàng nhà nước tuyên bố đồng loạt giảm các lãi suất chủ chốt Trong đó, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 11% xuống còn 10%/năm; tái chiếu khấu từ 9% về 8% và cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng 12% xuống 11%

Từ đầu tháng 7 đến nay, chính sách lãi suất của ngân hàng nhà nước không có biến động nào đáng kể

Trang 9

III Biến động các loại lãi suất huy động, cho vay và liên ngân hàng của

hệ thống ngân hàng thương mại.

3.1 Lãi suất huy động

Trước thông tin Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm các mức lãi suất, một số ngân hàng đã chủ động triển khai điều chỉnh giảm lãi suất huy động và cho vay với nhiều gói tín dụng mới Nhiều ngân hàng ấn định lãi suất huy động đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến từ 8 -10%/năm; một số ngân hàng điều chỉnh giảm 0,5 - 3%/năm lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn

Ngày 7/6, một số ngân hàng như Vietcombank, ACB đã bất ngờ giảm mạnh lãi suất huy động VND ở hầu hết các kỳ hạn Đến ngày 8/6, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), Ngân hàng TMCP Hàng Hải (MaritimeBank) đã chính thức áp dụng lãi suất huy động ở mức 9%/năm

Cuối quý 3 cuộc đua lãi suất diễn ra với việc các ngân hàng lợi dụng việc ngân hàng nhà nước không đặt trần với lãi suất huy động kỳ hạn trên 1 năm Tuy nhiên sang tháng 11, cuộc đua đã dịu lại

Theo báo cáo về hoạt động ngân hàng tuần từ 3 – 7/12/2012 của NHNN, lãi suất huy động bằng VND tuần qua ổn định Hiện lãi suất tiền gửi phổ biến không kỳ hạn ở mức 1-2%/năm; kỳ hạn dưới 01 tháng 2%/năm; từ 01 tháng đến dưới 12 tháng 8,8-9%/năm, từ 12 tháng trở lên 10-12%/năm Lãi suất huy động USD phổ biến 2%/năm đối với tiền gửi của dân cư và 0,5%/năm đối với tiền gửi của tổ chức kinh tế

Tại ngân hàng Techcombank, bắt đầu từ 10/12, lãi suất kỳ hạn trên 12 tháng chỉ còn 11,5%/năm, trong khi tuần trước mức huy động là 12%/năm.Ngân hàng ACB, vốn huy động với lãi suất khá cao so với mặt bằng chung, giờ đây cũng chỉ huy động vốn kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng với lãi suất 11,5%/năm, riêng kỳ hạn 13 và

36 tháng ở mức 12%/năm Trước đó, các mức lãi suất trên 12 tháng của nhà băng này đều ở mức 12 – 13%/năm Tại Eximbank, lãi suất cao nhất áp dụng trước đây

là 12,8%/năm song hiện cũng chỉ còn 11,5%, áp dụng cho kỳ hạn 12 và 13 tháng Các kỳ hạn xa hơn mức lãi là 11%/năm Trong khi đó ở ngân hàng Vietcombank, lãi suất kỳ hạn 12 tháng khá thấp, chỉ 10%/năm, thấp hơn 0,5% so với mức lãi cũ Các kỳ hạn xa hơn cũng chỉ được trả lãi ở mức 10,5%/năm Ngân hàng Vietinbank cũng chỉ huy động cao nhất là 11%/năm cho kỳ hạn 12 và 13 tháng, kỳ hạn trên 13 tháng đến 2 năm mức lãi là 10%/năm, thậm chí kỳ hạn trên 36 tháng chỉ còn 9%/năm – ngang mức lãi suất kỳ hạn dưới 1 năm

Ở nhóm các ngân hàng nhỏ hơn, lãi suất huy động kỳ hạn dài cũng được điều chỉnh giảm hẳn so với trước về mức 10 – 12%/năm, chỉ còn một số ít các ngân hàng còn huy động 13%/năm, thay vì phổ biến là 11 – 13%/năm như trước đây

Trang 10

Việc điều chỉnh giảm lãi suất này phù hợp với xu hướng kỳ vọng lạm phát, thanh khoản của các TCTD dồi dào, thị trường tiền tệ diễn biến theo xu hướng tích cực

và ổn định Lạm phát kỳ vọng năm 2012 của Việt Nam là khoảng 7-8% Mức lãi suất huy động hiện nay cũng chênh lệch cao so với lãi suất tiền gửi huy động USD (khoảng 2%/năm) và mức tăng tỷ giá kỳ vọng (khoảng 2 - 3%/năm)

3.2 Lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay bám sát định hướng điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nước

và lãi suất huy động Tuy nhiên, lãi suất cho vay giảm chậm hơn so với lãi suất huy động vì chi phí huy động và rủi ro nợ xấu tăng cao trong hệ thống ngân hàng Ngày 5-4, VietinBank công bố hạ lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp ưu tiên ở mức 14%-15%/năm Riêng cho vay thu mua tạm trữ lúa gạo vụ đông xuân

2011-2012, lãi suất chỉ còn 12%/năm Từ ngày 1-4, Ngân hàng MHB triển khai chương trình “Cùng MHB - Không lo lãi suất” MHB dành hạn mức 3.000 tỉ đồng cho các doanh nghiệp có phương án vay vốn khả thi, lãi suất giảm 1%-2% Trước đó, Eximbank cũng công bố gói tín dụng trên với quy mô 1.000 tỉ đồng, dành riêng cho các hộ kinh doanh cá nhân vay vốn phát triển kinh doanh Thời gian cho vay tối đa là sáu tháng Đối tượng là các khách hàng đăng ký kinh doanh, cá nhân hoạt động kinh doanh liên tục từ ba năm trở lên, ưu tiên và tập trung vào các tiểu thương, thương mại thuần túy

Tính đến cuối tháng 6/2012, lãi suất cho vay nông nghiệp-nông thôn của khối NHTMNN giảm từ 16%/năm từ đầu năm xuống chỉ còn 12%/năm; nhóm NHTMCP giảm từ 19,2% xuống 13%/năm Lãi suất cho vay với các lĩnh vực khác cũng đang trong xu hướng giảm Nhóm NHTMNN giảm lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường và lĩnh vực phi sản xuất từ mức 17,6% và 21,4% xuống cùng mức 17% Nhóm NHTMCP giảm mạnh lãi suất lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường từ 24% xuống 18,6%

Ở thời điểm hiện tại, lãi suất cho vay phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ ở mức 10-13%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 12-16%/năm

3.3 Lãi suất liên ngân hàng.

Những tháng gần cuối năm 2011, thị trrường vẫn còn hơi hưởng của cuộc đua lãi suất huy động lên 20%/năm và căng thẳng thanh khoản khiến lãi suất liên ngân hàng tăng lên 20%/năm Đến tháng 12/2011, được sự định hướng từ Nghị quyết tái

cơ cấu nền kinh tế, có tái cấu trúc thị trường tài chính mà trọng tâm là tái cấu trúc

hệ thống NHTMCP và các tổ chức tài chính, được sự chỉ đạo của Chính phủ về việc xây dựng đề án và thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, đối tượng là các NHTMCP hoạt động yếu kém, ngay lập tức sau đó, NHNN đã nhanh chóng khoanh vùng các NH yếu kém và chính thức tuyên bố hợp nhất 3 NHTM cổ phần thành một NH duy nhất

Sau sự kiện này, bước sang những tháng đầu năm 2012, lãi suất liên ngân hàng chưa kịp giảm Nhưng từ tháng 3 đến tháng 6, lãi suất qua đêm liên ngân hàng đã

Ngày đăng: 09/05/2014, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w