ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Đề tài HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN ĐƯỜNG BIỂN QUỐC TẾ HÀ NỘI 2022 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 4 PHẦN NỘI DUNG 7 CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN ĐƯỜNG BIỂN
Khái niệm bảo hiểm hàng hóa
Hoạt động bảo hiểm ngày nay ra đời và phát triển từ khi con người nhận thức được thực tế phải chống chọi với nhiều loại rủi ro trong quá trình sinh tồn, từ đó có những ý tưởng bù đắp thiệt hại mà họ phải gánh chịu nhờ vào sự đóng góp từ số đông của các thành viên trong cộng đồng Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ "bảo hiểm" được sử dụng chung cho cả hai loại hình: bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ Theo Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế là một trong các nghiệp vụ thuộc bảo hiểm phi nhân thọ, vì vậy mọi vấn đề lý luận và thực tiễn được đề cập trong đề tài sẽ liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ Nghiên cứu kho tàng lý luận về bảo hiểm có thể nhận thấy đã có nhiều tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau về bảo hiểm.
Theo như Dr.David Bland, “ Bảo hiểm” là một hợp đồng theo đó một bên, (gọi là công ty bảo hiểm) bằng công việc thu tiền (gọi là bảo hiểm), cam kết thanh toán cho bên kia (gọi là người được bảo hiểm), một khoản tiền hoặc hiện vật tương đương với tiền tài khoản đó khi xảy ra sự cố ngược lại quyền lợi của người được bảo hiểm.
Theo Từ điển thuật ngữ kinh doanh bảo mật do Bảo Việt ban hành năm 2002, “Bảo hiểm” ( Insurance) là cơ chế chuyển giao theo hợp đồng gánh nặng hậu quả của một số rủi ro thuần túy bằng cách chia sẻ rủi ro cho nhiều người khác cùng gánh chịu Theo Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 1 năm 2000 sửa đổi 2013 do Văn phòng Quốc hội ban hành: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”
1 Khoản 1, Điều 3, văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật Kinh doanh bảo
Sự khác nhau trong các quan niệm về bảo hiểm xuất phát từ cách nhìn nhận “bảo hiểm” ở các góc độ khác nhau và các phương thức tiếp cận khác nhau Bảo hiểm là một phạm vi lớn và đều liên quan đến các yếu tố kinh doanh, pháp lý, đặc tính kỹ thuật nghiệp vụ, khó có thể tìm thấy một nghĩa vụ hoàn toàn có thể thực hiện được với tất cả các khía cạnh đó Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu đơn giản rằng: Bảo hiểm là sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và người bảo hiểm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi có xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Các đặc điểm cốt lõi nhất về khái niệm bảo hiểm trong kinh doanh được khái quát rõ ràng rằng:
- Đặc thù pháp lý của việc chuyển giao rủi ro bằng bảo hiểm là thực hiện qua hợp đồng bảo hiểm,
- Hai chủ thể đặc trưng của đồng bảo hiểm là người mua bảo hiểm và người bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm),
- Qua bảo hiểm, hậu quả của rủi ro có thể xảy ra khi chuyển giao từ bên mua bảo hiểm sang bên bảo hiểm theo một cơ chế đặc biệt, bên mua bảo hiểm trả phí bảo hiểm để lấy "lời hứa" (cam kết) bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm,
- Điều kiện để doanh nghiệp thực hiện cam kết của mình là sự kiện bảo hiểm.
Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm 2
1.1.2 Khái niệm bảo hiểm hàng hóa ( Cargo insurance)
Bảo hiểm hàng hóa là một cam kết giữa bên bán bảo hiểm và bên mua bảo hiểm.Theo đó, người bán bảo hiểm sẽ phải bồi thường cho người mua bảo hiểm trong trường hợp nếu trong trường hợp vận chuyển hàng hóa bị tổn thất, hư hỏng do rủi ro gây ra Với điều kiện những rủi ro được bồi thường phải có thể hiện trong quy định hợp đồng bảo hiểm mà hai bên đã thống nhất Để được bảo hiểm, bên mua bảo hiểm sẽ trả phí bảo hiểm, là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm 3
Phân loại bảo hiểm
Có thể phân loại hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo nhiều khía cạnh khác nhau. Thông thường bảo hiểm được phân loại hai loại căn bản, đó là: phân loại bảo hiểm theo đối tượng bảo hiểm và phân loại bảo hiểm theo trình tự ưu tiên áp dụng luật đối với hợp đồng bảo hiểm.
1.2.1 Phân loại theo đối tượng bảo hiểm
Theo đối tượng bảo hiểm, toàn bộ hoạt động kinh doanh bảo hiểm được chia thành ba loại: bảo hiểm tài sản; bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người Có thể thấy rõ điều này qua việc phân loại tại khoản 2 Điều 12, Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi 2010.
Bảo hiểm tài sản là thể loại bảo hiểm trong đó đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm là tài sản và các quyền tài sản Tài sản được bảo hiểm bao gồm nhiều chủng loại với những đặc tính riêng, do đó trong thực tế doanh nghiệp bảo hiểm phải thiết kế nhiều sản phẩm bảo hiểm tương thích với từng loại tài sản.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là loại bảo hiểm trong đó người bảo hiểm nhận trách nhiệm bồi thường phần trách nhiệm dân sự - trách nhiệm bồi thường của người được bảo hiểm cho người thứ ba theo cách thức và mức độ đã thỏa thuận Trách nhiệm bồi thường của người được bảo hiểm cho người thứ ba là một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng.
Bảo hiểm con người là loại bảo hiểm trong đó tính mạng, sức khỏe, khả năng lao động và tuổi thọ của người được bảo hiểm là đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm. Trong các hợp đồng bảo hiểm con người, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm trả một khoản tiền bảo hiểm hoặc trợ cấp định kỳ cho người thụ hưởng bảo hiểm. Khác với bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự, khoản tiền doanh nghiệp bảo hiểm trả cho bên mua bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm con người thường không
3 Khoản 11, Điều 3, văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật Kinh doanh bảo mang tính chất bồi thường thiệt hại mà đơn thuần chỉ là việc thực hiện cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm.
Theo cách phân loại trên, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế là một trong các loại hình bảo hiểm tài sản.
1.2.2 Phân loại theo nghiệp vụ bảo hiểm
Theo nghiệp vụ bảo hiểm, Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam chia hoạt động kinh doanh bảo hiểm thành hai loại bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ Tại Điều 7 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định bảo hiểm nhân thọ bao gồm 6 nhóm nghiệp vụ và bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm 12 nhóm nghiệp vụ bảo hiểm sau:
“1 Bảo hiểm nhân thọ bao gồm: a) Bảo hiểm trọn đời; b) Bảo hiểm sinh kỳ; c) Bảo hiểm tử kỳ; d) Bảo hiểm hỗn hợp; đ) Bảo hiểm trả tiền định kỳ; e) Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác do Chính phủ quy định.
2 Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: a) Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người; b) Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; c)Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không; d) Bảo hiểm hàng không; đ) Bảo hiểm xe cơ giới; e) Bảo hiểm cháy, nổ; g) Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; h) Bảo hiểm trách nhiệm chung; i) Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; k) Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; l) Bảo hiểm nông nghiệp; a) Bảo hiểm tai nạn con người; b) Bảo hiểm y tế; c) Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe.
4 Các nghiệp vụ bảo hiểm khác do Chính phủ quy định.
5 Bộ Tài chính quy định Danh mục sản phẩm bảo hiểm.”
Theo cách phân loại trên, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển nói chung và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế nói riêng là một trong các nghiệp vụ bảo hiểm thuộc bảo hiểm phi nhân thọ Trong bảo hiểm phi nhân thọ, có những nghiệp vụ bảo hiểm thuộc lĩnh vực hàng hải (bảo hiểm hàng hải) và có những nghiệp vụ bảo hiểm không thuộc lĩnh vực hàng hải (bảo hiểm phi hàng hải) So với bảo hiểm phi hàng hải, bảo hiểm hàng hải có những nét đặc thù về pháp lý riêng Chính vì vậy, tại khoản 3 Điều 12, Luật kinh doanh bảo hiểm có quy định: “ Hợp đồng bảo hiểm hàng hải được áp dụng theo quy định của Bộ luật hàng hải; đối với những vấn đề mà Bộ luật hàng hải không quy định thì áp dụng theo quy định của Luật này” Bảo hiểm hàng hải vận chuyển bằng đường biển quốc tế là một trong các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải.
Do đó, hợp đồng bảo hiểm này được điều chỉnh trước hết bởi Bộ luật hàng hải.
1.2.3 Các nguyên tắc trong bảo hiểm hàng hóa
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (Utmost good faith): Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối Cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các vấn đề Theo Luật bảo hiểm hàng hải 1906 từ điều 17 đến điều 20 đề cập đến yêu cầu trung thực, tất cả các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm hàng hải phải thương lượng với nhau trên cơ sở tin tưởng tuyệt đối Trung thực tối đa ngụ ý phải khai báo đầy đủ mọi sự kiện cần thiết đã biết hoặc coi như đã biết Đặc biệt người được bảo hiểm phải kê khai và trình bày đúng tất cả các sự việc mà họ biết hoặc phải biết trong công việc thương mại bình thường Như thế người bảo hiểm cũng được biết đầy đủ các thông tin cần thiết để giúp họ trong việc đánh giá rủi ro, nhận hay từ chối bảo hiểm và tính giá phí hợp lý Việc phải trung thực cũng ràng buộc cả người bảo hiểm Họ không thể xúi giục khách hàng thực hiện một hợp đồng bảo hiểm mà họ biết là không hợp pháp hoặc họ không thể nhận một rủi ro mà họ đã biết là không còn nữa trong khi người yêu cầu bảo hiểm chưa biết.
Nguyên tắc được hưởng lợi ích bảo hiểm (Insurable interest): Nguyên tắc này chỉ ra rằng người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm Nguyên tắc này chỉ ra rằng người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm.
1.2.3.3 Chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn
Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (Fortuity not certainty): là chỉ bảo hiểm một rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một điều chắc chắn xảy ra Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, cả doanh nghiệp mua bảo hiểm và bên bảo hiểm đều không thể khẳng định rủi ro có xảy ra hay không, nếu một hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế được giao kết khi người mua bảo hiểm đã biết có rủi ro xảy ra cho hàng hóa hoặc nếu người bảo hiểm đã biết là hàng hóa đã về đến đích an toàn sẽ trở nên vô hiệu
Nguyên tắc bồi thường (Indemnity) : Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi Bồi thường là một trong những quy tắc cơ bản quan trọng của bảo hiểm nói chung và cũng như bảo hiểm hàng hải nói riêng và cũng chính vì mục đích này mà bảo hiểm tồn tại Về nguyên tắc số tiền bồi thường, tối đa mà người được bảo hiểm nhận trong mọi trường hợp không thể vượt quá giá trị thiệt hại mà người đó gặp phải trong sự kiện bảo hiểm.
Nguyên tắc thế quyền (Subrogation) : Theo nguyên tắc thế quyền, Sau khi bồi thường bên có trách nhiệm bồi hoàn trong giới hạn số tiền bồi thường đã trả Khi đã bồi thường tổn thất, người bảo hiểm có quyền đặt mình vào địa vị người được bảo hiểm trong phạm vi quyền đòi bù đắp đối với bên có trách nhiệm về tổn thất Điều 79 MIA 1906 quy định: Nếu người bảo hiểm thanh toán tổn thất toàn bộ, hoặc một phần của đối tượng bảo hiểm thì người bảo hiểm có quyền hưởng quyền lợi của người được bảo hiểm về bất kỳ cái gì còn lại của đối tượng bảo hiểm đã được bồi thường và do đó người bảo hiểm được người được bảo hiểm chuyển lại mọi quyền hạn và hưởng quyền được bồi thường về đối tượng đó kể từ khi tai nạn gây ra tổn thất Điều 247 Bộ luật hàng hải Việt Nam cũng đã quy định: “Khi trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm, người bảo hiểm được quyền truy đòi người có lỗi gây ra tổn thất đó (gọi là người thứ ba) trong phạm vi số tiền đã trả Người bảo hiểm thực hiện quyền này theo quy định đối với người được bảo hiểm”.Như vậy, thế quyền là một nguyên tắc mang tính chất luật định nhằm ngăn ngừa hiện tượng trục lợi trong quan hệ bảo hiểm.
Các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển
Trách nhiệm của các bên liên quan được phân định như sau:
● Trách nhiệm của người bán (bên xuất khẩu): phải chuẩn bị hàng hóa theo đúng hợp đồng trong mua bán ngoại thương về số lượng, chất lượng, quy cách, loại hàng, bao bì đóng gói và tập kết hàng đến cảng tới ngày nhận, thông báo tàu đến nhận chuyên chở, giao hàng cho tàu khi qua lan can an toàn mới hết trách nhiệm về những rủi ro tai nạn đối với hàng hoá Ngoài ra, người bán phải làm các thủ tục hải quan, kiểm dịch, lấy giấy chứng nhận kiểm định phẩm chất, đóng gói bao bì phải chịu được điều kiện vận chuyển bốc dỡ thông thường. Cuối cùng, người bán phải lấy được vận tải đơn sạch Nếu bán hàng theo điều kiện CIF người bán còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho lô hàng hoá sau đó ký hậu vào đơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho người mua.
● Trách nhiệm của người mua (bên nhập khẩu): nhận hàng của người chuyên chở theo đúng số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợp đồng mua bán ngoại thương, lấy giấy chứng nhận kiểm đếm, biên bản kết toán giao nhận hàng với chủ tàu, biên bản hàng hoá hư hỏng đổ vỡ do tàu gây lên (nếu có), nếu có sai lệch về số lượng hàng đã nhập khác với hợp đồng mua bán nhưng đúng với hợp đồng vận chuyển thì người mua bảo lưu quyền khiếu nại đối với người bán nếu phẩm chất, số lượng hàng hoá được nhận có sai lệch với vận tải đơn thì người mua căn cứ vào biên bản trên bảo lưu quyền khiếu nại với chủ phương tiện chuyên chở Ngoài ra, người mua còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá nếu mua hàng theo giá CF và mua bảo hiểm, thuê tàu trả cước phí vận chuyển hàng hóa nếu mua hàng theo giá FOB hay nhận lại chứng từ bảo hiểm do người bán chuyển nhượng nếu mua hàng theo giá CIF.
● Trách nhiệm của người vận chuyển: chuẩn bị phương tiện chuyên chở theo yêu cầu kỹ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải, giao nhận hàng đúng quy định theo hợp đồng vận chuyển Theo tập quán thương mại quốc tế thì tàu chở hàng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm thân tàu và P and I Người vận chuyển còn có trách nhiệm cấp vận đơn cho người gửi hàng Vận đơn (Bill of Lading) là một chứng từ vận chuyển hàng hải trên biển do người vận chuyển cấp cho người gửi hàng nhằm nói lên mối quan hệ pháp lý giữa người vận chuyển, người gửi hàng và người nhận hàng Có nhiều loại vận đơn, nhưng ở đây chỉ quan tâm đến hai loại cơ bản là: vận đơn hoàn hảo (Clean B/L) hay còn gọi là vận đơn sạch và vận đơn không hoàn hảo (Unclean B/L) Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm với những rủi ro xảy ra đối với hàng hoá theo quy định và phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc cho lô hàng hoá chuyên chở trong hành trình từ cảng đi đến cảng đích.
● Trách nhiệm của người bảo hiểm : có trách nhiệm với những rủi ro được bảo hiểm gây ra cho lô hàng hoá tham gia bảo hiểm, người bảo hiểm cũng có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ liên quan đến hàng hoá, hành trình vận chuyển và bản thân tàu chuyên chở Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm của bảo hiểm, người bảo hiểm có trách nhiệm tiến hành giám định, bồi thường tổn thất và đòi người thứ ba nếu họ gây ra tổn thất này
Đối tượng của bảo hiểm
Đối tượng được bảo hiểm là hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, và có thể áp dụng cho cả việc hàng hóa vận chuyển nối tiếp bằng đường bộ, đường sắt, đường sông hoặc đường hàng không.
Phạm vi bảo hiểm bao gồm:
● Mất mát, hư hỏng xảy ra cho đối tượng được bảo hiểm có thể quy hợp lý cho:
○ Tàu, sà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp
○ Phương tiện vận tải trên bộ bị lật đổ hoặc trật bánh
○ Tàu, sà lan hoặc các phương tiện vận chuyển đâm va nhau hoặc đâm va phải bất kỳ vật thể gì bên ngoài không kể nước.
○ Dỡ hàng tại cảng lánh nạn
○ Động đất, núi lửa phun hoặc sét đánh
○ Manh động, hành động manh tâm
○ Các rủi ro đặc biệt như: hàng không giao, giao thiếu, mất cắp, bể, vỡ, ướt…
● Mất mát, hư hỏng xảy ra cho đối tượng được bảo hiểm gây ra bởi:
○ Hy sinh tổn thất chung
○ Ném hàng khỏi tàu hoặc nước cuốn khỏi tàu
○ Nước biển, nước hồ hay nước sông chảy vào tàu, sà lan, hầm hàng, phương tiện vận chuyển, container hoặc nơi chứa hàng.
● Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào rơi khỏi tàu hoặc rơi trong khi đang xếp hàng lên hay dỡ hàng khỏi sà lan : Đây là tổn thất mức độ cao nhất của đối tượng bảo hiểm, hư hại 100% giá trị sử dụng Trong tổn thất toàn bộ người ta còn chia ra 2 loại:
○ Tổn thất toàn bộ thực tế ( Actual Total Loss): Là đối tượng bảo hiểm bị tổn thất phá hủy hoàn toàn, bị hư hỏng mức nghiêm trọng không thể sử dụng được nữa, thường xảy ra trong các trường hợp sau:
■ Hàng hóa bị hư hỏng, phá hỏng hoàn toàn trong trường hợp xảy ra cháy nổ, thối rữa, rơi vỡ,
■ Hàng hóa bị mất hoàn toàn giá trị sử dụng so với ban đầu như: kính bị vỡ, gạo bị mốc, xi măng bị ẩm vào nước và đông cứng,
■ Hàng không còn khả năng lấy lại được mặc dù nếu lấy lại được thì vẫn sử dụng được nhưng chi phí lấy lại quá cao chẳng hạn như: hàng chở trên tàu bị chìm, hàng bị cướp biển, chủ hàng bị tước quyền sở hữu đối với hàng hóa,
■ Hàng chở trên tàu bị mất tích ( tàu mất tích và tàu bị đắm là khác nhau, mất tích là không tìm thấy)
○ Tổn thất toàn bộ ước tính (Constructive Total Loss) : Là dạng tổn thất không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế hoặc nếu bỏ ra chi phí để cứu hàng, sửa chữa, tu bổ lại và trở về cảng đích thì những chi phí này vượt quá giá trị hàng hóa tại đó Muốn được bồi thường theo tổn thất toàn bộ ước tính thì người được bảo hiểm phải thông báo cho người bảo hiểm bằng văn bản ý định từ bỏ hàng và chuyển mọi quyền lợi đối với hàng hóa được bảo hiểm cho người bảo hiểm (thông báo từ bỏ hàng hóa), đồng thời yêu cầu người bảo hiểm bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm.
Những rủi ro trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển quốc tế 16 1.6 Những tổn thất, thiệt hại trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển quốc tế
Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển là những tai nạn, tai hoạ, sự cố xảy ra một cách bất ngờ ngẫu nhiên hoặc những mối đe dọa nguy hại, khi xảy ra sẽ gây lên tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm Ví dụ như: tàu đắm, hàng mất, hàng bị đổ vỡ, hư hỏng Rủi ro trong xuất nhập khẩu hàng hóa vận chuyển bằng đường biển có nhiều loại, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh có thể phân rủi ro thành những loại sau:
● Thiên tai: Thiên tai là những hiện tượng tự nhiên mà con người không thể chi phối được như : biển động, bão, gió lốc, sét đánh, thời tiết xấu, sóng thần…
● Tai hoạ của biển: là những tai hoạ xảy ra đối với con tàu ở ngoài biển như: tàu bị mắc cạn, đâm va, đắm chìm, cháy nổ, tàu bị lật úp, mất tích những rủi ro này được gọi là những rủi ro chính.
● Các tai nạn bất ngờ khác: là những thiệt hại do các tác động ngẫu nhiên bên ngoài, không thuộc những tai hoạ của biển nói trên Tai nạn bất ngờ khác có thể xảy ra trên biển những nguyên nhân không phải là một tai hoạ của biển, có thể xảy ra trên bộ, trên không trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ hàng hoá, giao nhận, lưu kho, bảo quản hàng như : hàng hoá bị vỡ, lát, hấp hơi, thiếu hụt, mất trộm, mất cắp, không giao hàng những rủi ro này được gọi là những rủi ro phụ.
● Rủi ro do bản chất hoặc do tính chất đặc biệt của đối tượng bảo hiểm hoặc những thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ.
Theo nghiệp vụ bảo hiểm thì những rủi ro của hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển có thể được chia thành các loại sau đây:
● Rủi ro thông thường được bảo hiểm: là những rủi ro được bảo hiểm một cách bình thường theo các điều kiện bảo hiểm gốc Đây là những rủi ro mang tính bất ngờ ngẫu nhiên xảy ra ngoài ý muốn của người được bảo hiểm như: thiên tai, tai hoạ của biển, tai nạn bất ngờ khác tức là bao gồm cả rủi ro chính và rủi ro phụ.
● Rủi ro bảo hiểm riêng: là những rủi ro mà muốn được bảo hiểm thì phải thỏa thuận riêng, thoả thuận thêm chứ không được bồi thường theo các điều kiện bảo hiểm gốc Loại rủi ro này gồm: rủi ro chiến tranh, đình công, khủng bố được bảo hiểm theo điều kiện riêng.
● Rủi ro không được bảo hiểm: là những rủi ro không được người bảo hiểm nhận bảo hiểm hoặc không được người bảo hiểm bồi thường trong mọi trường hợp. Đó là các rủi ro đương nhiên xảy ra, chắc chắn xảy ra hoặc các thiệt hại do nội tỳ, bản chất của hàng hoá, do lỗi của người được bảo hiểm, thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ, rủi ro có tính chất thảm họa mà con người không lường trước được, quy mô, mức độ và hậu quả của nó.
Tóm lại, các rủi ro được bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất Việc phân nguyên nhân trực tiếp hay nguyên nhân gián tiếp có vai trò rất quan trọng để xác định rủi ro gây ra tổn thất có phải là rủi ro được bảo hiểm hay không Những tổn thất nào có nguyên nhân trực tiếp là rủi ro được bảo hiểm gây ra mới được bồi thường.
1.6 Những tổn thất, thiệt hại trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển quốc tế
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế hay còn được gọi là bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu ở/đi qua từng quốc gia Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là những hư hỏng, thiệt hại của hàng hoá được bảo hiểm do rủi ro gây ra. Căn cứ vào quy mô, mức độ tổn thất có hai loại tổn thất là tổn thất bộ phận và tổn thất toàn bộ:
- Tổn thất bộ phận : Được bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại về số lượng, trọng lượng, thể tích hoặc giá trị.
- Tổn thất toàn bộ : là toàn bộ đối tượng bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mới bảo hiểm nữa.
- Tổn thất toàn bộ thực tế là toàn bộ đối tượng bảo hiểm bị:
○ Bị phá huỷ toàn bộ không lấy lại được như lúc mới bảo hiểm nữa.
Trong trường hợp này, người bảo hiểm phải bồi thường toàn bộ giá trị bảo hiểm hoặc số tiền bảo hiểm.
Căn cứ vào tính chất tổn thất và trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất được chia làm hai loại là tổn thất chung và tổn thất riêng:
- Tổn thất chung : là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố ý và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hóa chở trên tàu thoát khỏi một sự nguy hiểm chung, thực sự đối với chúng.
- Tổn thất riêng : là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hay một số quyền lợi của các chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu.
NHỮNG ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN QUỐC TẾ
Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
Theo từ điển Pháp luật của Hoa Kỳ, “ Hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều người tạo lập nên một nghĩa cụ làm hay không làm một việc cụ thể” hay có thể hiểu hợp đồng chính là sự trao đổi và thống nhất giữa các ý chí hay sự thỏa thuận, tạo lập ra hậu quả pháp lý Vậy hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế có những đặc điểm, đặc trưng nào nổi bật rõ hơn sự bao trùm từ hợp đồng?
2.1.1 Khái niệm, phân loại hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế
2.1.1.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế
Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế hay có cách gọi khác là hợp đồng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển Nó đang rất được nhiều nhà xuất nhập khẩu quan tâm bởi hiện nay, phương thức vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển là phổ biến nhất so với các hình thức còn lại Hàng hóa trong vận chuyển qua các biên giới quốc gia mất nhiều thời gian và khoảng cách lớn do đó độ an toàn không cao Do đó, hầu hết các nhà xuất nhập khẩu hàng hóa đều thực hiện một bản hợp đồng bảo hiểm hàng hóa để tránh các rủi ro phát sinh trong quá trình vận chuyển.
Theo khoản 1, 2 điều 303 Bộ Luật hàng hải Việt Nam 2015 có nêu khái niệm hợp đồng bảo hiểm hàng hải :
“Điều 303 Hợp đồng bảo hiểm hàng hải
1 Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng bảo hiểm các rủi ro hàng hải, theo đó người được bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm theo thỏa thuận và người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất hàng hải thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo cách thức và điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Rủi ro hàng hải là những rủi ro xảy ra liên quan đến hành trình đường biển, quản thúc, giam giữ, ném hàng xuống biển, trưng thu, trưng dụng, trưng mua, hành vi bất hợp pháp và các rủi ro tương tự hoặc những rủi ro khác được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
2 Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể mở rộng theo những điều kiện cụ thể hoặc theo tập quán thương mại để bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm đối với những tổn thất xảy ra trên đường thủy nội địa, đường bộ, đường sắt hoặc đường hàng không thuộc cùng một hành trình đường biển.” 4
Từ khái niệm hợp đồng bảo hiểm hàng hải trong Bộ luật hàng hải nói trên và các ý nêu trên , có thể hiểu: Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa người mua bảo hiểm và người bảo hiểm, theo đó người mua bảo hiểm phải trả phí bảo hiểm còn người bảo hiểm phải bồi thường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra cho hàng hóa được bảo hiểm trong suốt hành trình được bảo hiểm.
Thông thường hành trình được bảo hiểm bắt đầu từ kho của người bản (người xuất khẩu) đến kho của người mua (người nhập khẩu) Như vậy, ngoài hành trình trên biển, hàng hóa còn được bảo hiểm cả trên quãng đường vận chuyển bộ từ kho người bản đến cảng bốc hàng và từ cảng dỡ hàng đến kho của người mua.
2.1.1.2 Phân loại hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế Đối với hợp đồng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển, được chia làm 2 loại cơ bản: hợp đồng bảo hiểm chuyến và hợp đồng bảo hiểm bao.
Hợp đồng bảo hiểm chuyến là hợp đồng bảo hiểm cho một lô hàng trên một chuyến hành trình từ địa điểm này đến địa điểm khác Đây là loại hợp đồng “tường minh" nhất bởi lẽ những thông tin về đối tượng bảo hiểm như: tên hàng, số lượng xếp xuống tàu, đặc điểm nhận biết, giá trị bảo hiểm,phí bảo hiểm, cũng như những thông tin về phương tiện vận chuyển hành trình như: tên tàu, chủ tàu, cảng xếp hàng, ngày xếp hàng, đều được thể hiện rõ trong hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm bao là hợp đồng bảo hiểm trọn gói, được áp dụng đối với đối tượng bảo hiểm là một loại hàng hóa hoặc một số hàng hóa mà người được bảo hiểm gửi đi hoặc nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm) Hợp đồng bảo hiểm bao thường áp dụng cho các khách hàng nhập khẩu thường xuyên với khối lượng hàng hóa lớn từ nhiều cảng, nhiều nơi trên thế giới hay với lô hàng lớn, vận chuyển giao hàng nhiều lần Khác với hợp đồng bảo hiểm chuyến, khi giao kết hợp đồng bảo hiểm bao có nhiều thông tin liên quan đến hợp đồng người bảo hiểm chưa được biết đến. Chính vì lẽ đó mà hợp đồng bảo hiểm bao được coi là một dạng hợp đồng nguyên tắc, trong đó các bên thỏa thuận các điều khoản làm cơ sở cho việc tính giá trị bảo hiểm, phí bảo hiểm tương ứng với những điều kiện bảo hiểm, phương thức thanh toán phí, cam kết về phương tiện chuyên chở, Với mỗi chuyến hàng, bên mua bảo hiểm phải có nghĩa vụ cung cấp những thông tin mà bên mua bảo bảo hiểm yêu cầu và theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm, bên bảo hiểm phải cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho từng chuyến hàng mà bên mua bảo hiểm nhập (xuất).
Trong thực tế kinh doanh, do mang lại nhiều lợi ích và ưu thế hơn so với hợp đồng bảo hiểm chuyến nên hợp đồng bảo hiểm bao luôn được các doanh nghiệp bảo hiểm khuyến khích áp dụng Hợp đồng bảo hiểm bao phù hợp với những khách hàng có khối lượng hàng hóa nhập, xuất lớn trong năm Hợp đồng bảo hiểm bao được ký kết và thực hiện trên tinh thần thiện chí.
2.1.1.3 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế
Thông thường hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm được quy định bắt đầu từ một thời điểm này và kết thúc tại một thời điểm khác Ví dụ một hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới bắt đầu từ 10h ngày 1 tháng 10 năm 2020 đến 10h ngày 1 tháng 10 năm 2021.
Khác với nhiều loại hợp đồng bảo hiểm thông thường, quy định về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển lại nghiêng về giới hạn không gian hơn là giới hạn thời gian.
Theo quy định của Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển do Bộ Tài chính Việt Nam ban hành năm 1990, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển bắt đầu có hiệu lực từ khi hàng rời kho hay nơi chứa hàng tại địa điểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển và tiếp tục có hiệu lực trong suốt quá trình vận chuyển bình thường Hợp đồng bảo hiểm kết thúc hiệu lực tại một trong số các thời điểm sau đây, tùy thời điểm nào đến trước:
- Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm
- Khi giao hàng vào kho hay bất kỳ nơi chứa hàng nào khác mà người được bảo hiểm chọn dùng làm nơi chia hay phân phối hàng hoặc nơi chứa hàng ngoài quá trình vận chuyển bình thường.
- Khi hết hạn 60 ngày kể từ ngày hoàn thành việc dỡ hàng tại cảng đến.
- Khi hàng được giao vào bất kỳ kho hay nơi chứa hàng nào khác với nơi nhận do nhầm lẫn.
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế
Bảo hiểm tài sản nói chung là một hình thức bảo hiểm cho các đối tượng là tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản Chúng ta bao giờ cũng có một tài sản hoặc một vật thể dễ bị đe dọa bởi cái rủi ro, tài sản hay vật thể đó được gọi là đối tượng bảo hiểm Nói một cách khác đối tượng bảo hiểm là tài sản và những lợi ích liên quan tới tài sản bị đe dọa trước các rủi ro Chính vì mục đích phục hồi, an toàn và tái tạo lại đối tượng bảo hiểm mà hợp đồng bảo hiểm được ký kết Chính vì mục đích phòng ngừa những rủi ro có thể bất ngờ xảy đến trong tương lai, hợp đồng bảo hiểm được ký kết.
Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng bảo hiểm các rủi ro hàng hải Đối tượng bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm hàng hóa phải được chỉ rõ trên đơn bảo hiểm, tính chất và phạm vi quyền lợi của người được bảo hiểm Đối tượng bảo hiểm hàng hải thì tại Điều 225 Bộ luật Hàng Hải năm 2005) Bộ luật Hàng Hải 2015 quy định đối tượng bảo hiểm hàng hải như sau:
1 Đối tượng bảo hiểm hàng hải là bất kỳ quyền lợi vật chất nào có thể quy ra tiền liên quan đến hoạt động hàng hải.
2 Đối tượng bảo hiểm hàng hải bao gồm: a) Tàu biển, tàu biển đang đóng, hàng hóa hay các tài sản khác bị đe dọa bởi các rủi ro hàng hải; b) Giá dịch vụ vận chuyển hàng hóa, tiền thuê tàu, tiền thuê mua tàu, tiền lãi ước tính của hàng hóa, các khoản hoa hồng, các khoản tiền cho vay, bảo đảm tiền ứng trước, chi phí bị nguy hiểm khi tàu biển, tàu biển đang đóng, hàng hóa hay các tài sản khác bị đe dọa bởi các rủi ro hàng hải; c) Trách nhiệm dân sự phát sinh do các rủi ro hàng hải.
Như vậy, đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là bất kỳ quyền lợi vật chất nào liên quan đến các hoạt động hàng hải mà có thể quy ra tiền, bao gồm tàu biển, tàu biển đang đóng, hàng hóa, tiền cước vận chuyển hàng hóa, tiền công vận chuyển hành khách, tiền thuê tàu, tiền thuê mua tàu, tiền lãi ước tính của hàng hóa, các khoản hoa hồng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệm dân sự và các khoản tiền được bảo đảm bằng tàu, hàng hóa hoặc tiền cước vận chuyển Các chủ thể của hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể tự do thỏa thuận bất kỳ loại quyền lợi về vật chất mà các bên nhận thấy có thể chứa đựng các rủi ro trong quá trình hoạt động hàng hải.
2.2.2 Điều khoản về phạm vi bảo hiểm, loại trừ bảo hiểm
Như đã đề cập trên, về cơ bản thì mọi rủi ro xảy ra khi vận chuyển trên biển đều được bảo hiểm Rủi ro xảy ra trong bảo hiểm hàng hải thường mang tính bất ngờ mà không thể lường trước được như thiên tai Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp người mua bảo hiểm sẽ bị từ chối bồi thường nếu rủi ro không được phù hợp với phạm vi bảo hiểm Rủi ro không được bảo hiểm là những rủi ro mà chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra hay những rủi ro do lỗi cố ý của người mua bảo hiểm, mang tính thảm họa Nội dung cụ thể của bảo hiểm hàng hải không được chấp nhận được xác định như dưới đây:
1 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm, khi bảo hiểm tàu biển và bảo hiểm đối với giá dịch vụ vận chuyển, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh trong trường hợp sau đây: a) Tàu biển không đủ khả năng an toàn đi biển vào lúc bắt đầu chuyến đi, trừ trường hợp tàu biển có khuyết tật ẩn tỳ hoặc khi xảy ra các tình huống không thể tránh khỏi mặc dù người được bảo hiểm đã có sự quan tâm thích đáng;b) Bốc lên tàu biển các chất hoặc vật liệu dễ nổ, dễ cháy hoặc những hàng hóa nguy hiểm khác không phù hợp với những quy định về việc vận chuyển loại hàng hóa này, nếu người được bảo hiểm biết nhưng người bảo hiểm không biết.
2 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm, khi bảo hiểm hàng hóa, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh trong trường hợp sau đây:a) Tính chất tự nhiên của hàng hóa;b) Hàng hóa rò rỉ, hao hụt hoặc hao mòn tự nhiên;c) Đóng gói không đúng quy cách hoặc không thích hợp;d) Chậm trễ trong việc cung ứng hàng hóa.
3 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với tổn thất của đối tượng bảo hiểm xảy ra do chiến tranh hoặc những hoạt động quân sự với bất kỳ tính chất nào và hậu quả của nó; bị cưỡng đoạt; gây rối; đình công hoặc những tổn thất xảy ra do hành động trưng thu, trưng dụng, trưng mua, bắt giữ, phá hủy tàu biển hoặc hàng hóa theo mệnh lệnh quân sự hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 8
2.2.3 Điều khoản về giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm
Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm hàng hải vận chuyển thì việc xác định giá trị và số tiền bảo hiểm là một nội dung không thể thiếu trong hợp đồng Khoản 3 Điều 325 quy định rõ về giá trị bảo hiểm đối với dịch vụ vận chuyển như sau: “Giá trị bảo hiểm đối với giá dịch vụ vận chuyển là tổng số tiền bao gồm giá dịch vụ vận chuyển cộng với phí bảo hiểm Trường hợp người thuê vận chuyển mua bảo hiểm cho giá dịch vụ vận chuyển thì giá dịch vụ vận chuyển này được tính gộp vào giá trị bảo hiểm của hàng hóa” Còn số tiền bảo hiểm là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chi trả cho bên bảo hiểm khi có sự việc xảy ra cho đối tượng bảo hiểm của họ Đây là số tiền cố định, được doanh nghiệp bảo hiểm chấp thuận và ghi trong hợp đồng bảo hiểm 9 Về hợp đồng hàng hải thì số tiền bảo hiểm được xác định tại khoản 2 Điều 312 Bộ luật Hàng Hải: “Khi giao kết hợp đồng
8 Điều 325 Miễn trách nhiệm đối với người bảo hiểm, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015. bảo hiểm, người được bảo hiểm phải kê khai số tiền cần bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm”.
Tuy nhiên, để tránh những trường hợp gian lận, trục lợi, không phải mọi nhu cầu về số tiền cần bảo hiểm của bên được bảo hiểm đều được bên bảo hiểm chấp nhận Nó có thể dẫn đến hai trường hợp như sau :
- Trường hợp số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm thì người bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm, kể cả các chi phí khác thuộc phạm vi bảo hiểm;
- Trường hợp số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm thì phần tiền vượt quá giá trị bảo hiểm không được thừa nhận 10
Số tiền bảo hiểm bằng giá trị hàng hóa được gọi là ‘bảo hiểm đúng giá trị (Full Insurance)’ Còn trường hợp số tiền bảo hiểm của hợp đồng thấp hơn giá trị hàng hóa được bảo hiểm gọi là bảo hiểm dưới giá trị (Under Insurance) và trường hợp số tiền bảo hiểm vượt qua giá trị hàng hóa được bảo hiểm gọi là bảo hiểm trên giá trị.
2.2.4 Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng là các bên tham gia vào một quan hệ hợp đồng Mỗi chủ thể thường có cả quyền và nghĩa vụ đối với nhau Trong hợp đồng bảo hiểm hàng hải, chủ thể của hợp đồng bao gồm bên được bảo hiểm và bên bảo hiểm Người được bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm theo thỏa thuận và người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất hàng hải theo cách thức và điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng Dưới đây giải thích rõ về quyền và nghĩa vụ của cả bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm hàng hải. a Quyền và nghĩa vụ của bên được bảo hiểm