2 Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững thì hệ thống giao thông là m[.]
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững thì hệ thống giaothông là một trong những công trình hạ tầng được ưu tiên đầu tư Hàng năm ngânsách Nhà nước đầu tư một lượng vốn đáng kể cho các dự án xây dựng các công trìnhthuộc hệ thống giao thông Trong những năm gần đây Hòa Bình đã tập trung vốn đầu
tư để xây dựng, cải tạo hệ thống đường giao thông từ tỉnh lộ đến đường giao thôngnông thôn, các dự án đầu tư xây dựng trong lĩnh vực giao thông thuộc nguồn ngânsách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua đã hoàn thành và từngbước phát huy hiệu quả, đã cải thiện đáng kể việc đi lại của nhân dân cũng như cácphương tiện tham gia giao thông và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại trong công tác QLDAđầu tư xây dựng một số công trình giao thông trên địa bàn tỉnh: chất lượng còn hạnchế, thời gian thực hiện còn bị kéo dài, tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tưXDCB vẫn còn là vấn đề nhức nhối; với những kinh nghiệm trong việc quản lý các
dự án xây dựng công trình giao thông còn thiếu, thì việc quản lý các dự án của ngànhgiao thông với nguồn vốn lớn một cách hiệu quả là một bài toán đáng được quantâm Do vậy, việc tìm ra một mô hình quản lý dự án hay nói cách khác là tìm ranhững giải pháp phù hợp trong công tác quản lý dự án trong lĩnh vực xây dựng cáccông trình giao thông là một yêu cầu cấp thiết để đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn đầu tư Chính bởi lẽ đó, em đã chọn đề tài “Phân tích và đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý các dự án xây dựng công trình giao thông sử
dụng nguồn vốn ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Hòa Bình” làm đề tài luận
văn Thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số cơ sở lý luận cơ bản về công tác quản lýđầu tư các công trình giao thông có sử dụng vốn ngân sách nhà nước Vận dụngnhững cơ sở lý luận đó để phân tích thực trạng QLDA các công trình giao thông sử
Trang 2dụng vốn từ ngân sách Nhà nước và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả công tác QLDA đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn ngân sách Nhànước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến côngtác quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông sử dụng vốn ngân sáchnhà nước
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vào tình hình công tácQLDA đầu tư xây dựng các công trình giao thông bằng vốn ngân sách Nhà nước tạitỉnh Hòa Bình trong giai đoạn 2010 - 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng lý luận kết hợp các phương pháp thống kê, phân tích vàtổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương đểnghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư các công trình xây dựng từ nguồn vốn NSNN.
Chương 2: Phân tích thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư các công trình giao thông từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư các công trình giao thông từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan về dự án đầu tư
1.1.1 Khái niệm đầu tư
Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài
chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếphoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹthuật của nền kinh tế Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư,
có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiếnhành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất địnhtrong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực
có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Các kết quả đạtđược có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ vànguồn lực
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ởhiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơncác nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó
Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng cácnguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinhdoanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xãhội
Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:
- Trước hết phải có vốn Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác nhưmáy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu côngnghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng
Trang 4đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác Vốn có thể là nguồn vốn Nhànước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
- Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trởlên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm Những hoạt động ngắnhạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư Thời hạn đầu tư đượcghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của
dự án
- Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểuhiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội).Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế Lợi ích tài chính ảnhhưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đếnquyền lợi của xã hội, của cộng đồng
1.1.2 Các loại đầu tư
Có nhiều cách phân loại đầu tư Để phục vụ cho việc quản lý dự án đầu tư cócác loại đầu tư sau đây:
a) Theo chức năng quản lý vốn đầu tư
- Đầu tư trực tiếp: là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp thamgia quản lý vốn đã bỏ ra Trong đầu tư trực tiếp người bỏ vốn và người quản lý sửdụng vốn là một chủ thể Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trong nước, đầu tư củanước ngoài tại Việt Nam
Đặc điểm của loại đầu tư này là chủ thể đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm vềkết quả đầu tư Chủ thể đầu tư có thể là Nhà nước thông qua các cơ quan doanhnghiệp nhà nước; Tư nhân thông qua công ty tư nhân, công ty cổ phần, công ty tráchnhiệm hữu hạn
- Đầu tư gián tiếp: là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư không trực tiếptham gia quản lý vốn đã bỏ ra Trong đầu tư gián tiếp người bỏ vốn và người quản lý
sử dụng vốn không phải là một chủ thể Loại đầu tư này còn được gọi là đầu tư tàichính như cổ phiếu, chứng khoán, trái khoán…
Trang 5Đặc điểm của loại đầu tư này là người bỏ vốn luôn có lợi nhuận trong mọi tìnhhuống về kết quả đầu tư, chỉ có nhà quản lý sử dụng vốn là pháp nhân chịu tráchnhiệm về kết quả đầu tư
- Cho vay (tín dụng): đây là hình thức dưới dạng cho vay kiếm lời qua lãi suấttiền cho vay
b) Theo nguồn vốn
- Đầu tư trong nước: Đầu tư trong nước là việc bỏ vốn vào sản xuất kinhdoanh tại Việt Nam của các tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ởnước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam Đầu tư trong nước chịu sựđiều chỉnh của Luật khuyến khích đầu tư trong nước
- Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại ViệtNam, dưới đây gọi tắt là đầu tư nước ngoài, là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vàoViệt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu
tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Đầu tư ra nước ngoài: Đây là loại đầu tư của các tổ chức hoặc cá nhân củanước này tại nước khác
c) Theo tính chất đầu tư
- Đầu tư chiều rộng (đầu tư mới): Đầu tư mới là đầu tư để xây dựng mới cáccông trình, nhà máy, thành lập mới các Công ty, mở các cửa hàng mới, dịch vụ mới.Đặc điểm của đầu tư mới là không phải trên cơ sở những cái hiện có phát triển lên.Loại đầu tư này đòi hỏi nhiều vốn đầu tư , trình độ công nghệ và quản lý mới Thờigian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, độ mạo hiểmcao
- Đầu tư chiều sâu: Đây là loại đầu tư nhằm khôi phục, cải tạo, nâng cấp, trang
bị lại, đồng bộ hoá, hiện đại hóa, mở rộng các đối tượng hiện có Là phương thức đầu
tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản trị vốn đã bỏ ra, đòi hỏi ít vốn, thờigian thu hồi vốn nhanh
d) Theo thời gian sử dụng: Có đầu tư ngắn hạn, đầu tư trung hạn và đầu tư dài
hạn
Trang 6e) Theo lĩnh vực hoạt động: Có đầu tư cho sản xuất kinh doanh, đầu tư cho
nghiên cứu khoa học, đầu tư cho quản lý…
f) Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư
- Đầu tư phát triển: Là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốnnhằm gia tăng giá trị tài sản Đây là phương thức căn bản để tái sản xuất mở rộng
- Đầu tư chuyển dịch: Là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốnnhằm chuyển dịch quyền sở hữu giá trị tài sản (mua cổ phiếu, trái phiếu…)
g) Theo ngành đầu tư
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xâydựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, điện nước) và
hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, cơ sở thông tin văn hoá)
- Đầu tư phát triển công nghiệp: Nhằm xây dựng các công trình công nghiệp
- Đầu tư phát triển dịch vụ: Nhằm xây dựng các công trình dịch vụ…
1.1.3 Dự án đầu tư
1.1.3.1 Khái niệm dự án đầu tư
Theo luật đầu tư thì dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dàihạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xácđịnh
Như vậy dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:
- Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết
và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả
và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
- Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật
tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài
- Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiếtcủa một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đềcho cho các quyết định đầu tư và tài trợ
Trang 7- Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan vớinhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả
cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định
1.1.3.2 Yêu cầu của dự án đầu tư
Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
- Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có một quá trìnhnghiên cứu tỷ mỷ kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung của dự ánđặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ kỹ thuật Tính khoa học cònthể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư cần có sự tư vấn của các cơ quanchuyên môn
- Tính thực tiễn: Các nội dung của dự án đầu tư phải được nghiên cứu, xácđịnh trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụthể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư
- Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù hợpvới chính sách và luật pháp của Nhà nước Muốn vậy phải nghiên cứu kỹ chủ trương,chính sách của Nhà nước, các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư
- Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các
cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư Với các
dự án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủ quy định chung mang tính quốc tế
1.1.3.3 Phân loại dự án đầu tư
a) Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư
- Dự án đầu tư trong nước: Để tiến hành quản lý và phân cấp quản lý, tuỳ theo
tính chất của dự án và quy mô đầu tư, các dự án đầu tư trong nước được phân theo 3nhóm A, B và C Có hai tiêu thức được dùng để phân nhóm là dự án thuộcngành kinh tế nào?; Dự án có tổng mức đầu tư lớn hay nhỏ? Trong các nhóm thìnhóm A là quan trọng nhất, phức tạp nhất, còn nhóm C là ít quan trọng, ít phức tạphơn cả Tổng mức vốn nêu trên bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất, mặt nước,mặt biển, thềm lục địa, vùng trời (nếu có)
Trang 8- Đối với các dự án đầu tư nước ngoài: Gồm 3 loại dự án đầu tư nhóm A, B vàloại được phân cấp cho địa phương
b) Phân theo trình tự lập và trình duyệt dự án
Theo trình tự (hoặc theo bước) lập và trình duyệt, các dự án đầu tư được phân
1.2 Quản lý dự án đầu tư
1.2.1 Khái niệm về quản lý dự án
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đốitượng quản lý để điều khiển đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Quản lý dự án (Project Management - PM) là quá trình lập kế hoạch, theo dõi
và kiểm soát tất cả những vấn đề của một dự án và điều hành mọi thành phần tham gia vào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách được duyệt với các chi phí, chất lượng và khả năng thực hiện chuyên biệt Nói cách khác QLDA là công việc áp dụng các chức năng và hoạt động
của quản lý vào suốt vòng đời của Dự án hay nói cách khác QLDA là việc huy độngcác nguồn lực và tổ chức các công việc để thực hiện được những mục tiêu đề ra.QLDA đầu tư là một quá trình phức tạp nó mang tính duy nhất không có sự lặplại, không xác định rõ ràng và không có dự án nào giống dự án nào Mỗi dự án có địađiểm khác nhau, không gian và thời gian khác nhau, yêu cầu về số lượng và chấtlượng khác nhau, tiến độ khác nhau, con người khác nhau,… thậm chí trong quá trình
Trang 9thực hiện dự án còn có sự thay đổi mục tiêu, ý tưởng từ Chủ đầu tư Cho nên việcđiều hành QLDA cũng luôn thay đổi linh hoạt, không có công thức nhất định.
QLDA là một yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của dự án QLDA là sựvận dụng lý luận, phương pháp quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý cóhiệu quả toàn bộ công việc có liên quan tới dự án dưới sự dàng buộc về nguồn lực cóhạn
Quản lý dự án bao gồm những đặc trưng cơ bản sau:
- Chủ thể của quản lý dự án chính là người quản lý dự án
- Khách thể của QLDA liên quan đến phạm vi công việc của dự án (tức là toàn
bộ nhiệm vụ công việc của dự án) Những công việc này tạo thành quá trình vận độngcủa hệ thông dự án Quá trình vận động này được gọi là chu kỳ tồn tại của dự án
- Mục đích của QLDA là để thực hiện được mục tiêu dự án, tức là sản phẩmcuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng Bản thân việc quản lý khôngphải mục đích mà là cách thực hiện mục đích
- Chức năng của QLDA có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ chức,chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án Nếu tách rời các chức năng này thì dự án khôngthể vận hành có hiệu quả, mục tiêu quản lý cũng không được thực hiện Quá trìnhthực hiện mỗi dự án đều cần có tính sáng tạo, vì thế chúng ta thường coi việc quản lý
dự án là quản lý sáng tạo
1.2.2 Mục đích của quản lý dự án
QLDA đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố như sự nỗ lực, tính tập thể, yêu cầuhợp tác…vì vậy nó có tác dụng rất lớn, dưới đây trình bày một số mục đích chủ yếusau:
- Liên kết tất cả các công việc, các hoạt động của dự án;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm quản
lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án;
- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của cácthành viên tham gia dự án
Trang 10- Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điềuchỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán được Tạo điềukiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng
- Tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn
Đối với những dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước vai trò của QLDAlại càng thể hiện một cách rõ rệt vì:
- Dự án đầu tư là những dự án có tính chất phức tạp, quy mô tiền vốn lớn, máymóc, thiết bị, vật tư cần nhiều, thời gian thi công kéo dài
- Dự án đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế xã hội nơi nó tọa lạckhi được hoàn thành
- Do sử dụng vốn của Nhà nước, nguồn vốn quản lý còn nhiều lỏng lẻo và tồntại nhiều kẽ hở nên cần phải quản lý một cách chặt chẽ
1.2.3 Trình tự quá trình quản lý dự án
QLDA đầu tư gồm các giai đoạn: Chủ trương, ý tưởng đầu tư, Chuẩn bị đầu tư;thực hiện đầu tư; kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng
Sơ đồ 1.1: Quá trình quản lý dự án
a) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Chủ đầu tư dự án chuẩn bị lập hồ sơ chuẩn bị đầu tư theo các nội dung sau:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư;
- Nghiên cứu thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh củasản phẩm, tìm nguồn cung cấp thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về
Chủ trương, ý tưởng đầu tưChuẩn bị đầu tư
Thực hiện đầu tư kết thúc đầu tư
Xác định chủ đầu tư
Dự án đượcphê duyệt
Dự án đượcnghiệm thu
Trang 11- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng;
- Lập dự án đầu tư;
- Thẩm định dự án đầu tư
- Phê duyệt dự án đầu tư
Một dự án đầu tư được coi là hiệu quả khi giai đoạn chuẩn bị đầu tư đáp ứng được các yêu cầu về quy hoạch, kỹ thuật, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội.
b) Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư
Giai đoạn thực hiện đầu tư, gồm những công việc sau:
- Thiết kế kỹ thuật thi công, dự toán và tổng dự toán xây dựng công trình;
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình;
- Lựa chọn Nhà thầu theo luật đấu thầu;
- Đền bù thực hiện GPMB;
- Quản lý thi công xây dựng công trình;
- Quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình;
Một dự án được coi là hiệu quả khi quá trình thực hiện đầu tư đáp ứng được những yêu cầu về tiến độ, chất lượng và chi phí.
c)Giai đoạn kết thúc đầu tư
Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng, gồm nhữngcông việc sau:
- Nghiệm thu, bàn giao công trình
- Thực hiện việc kết thúc hoạt động xây dựng công trình
- Hướng dẫn sử dụng công trình và vận hành công trình
- Tạm ứng, thanh quyết toán vốn đầu tư
- Bảo hành công trình
- Bảo trì công trình
Một dự án được coi là hiệu quả khi công tác nghiệm thu, xác nhận các côngviệc đã hoàn thành phải được thực hiện nhanh chóng, kịp thời đúng các quy trình,chính xác về quy cách, đủ về khối lượng
1.2.4 Nội dung quản lý dự án
Trang 12Quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu Đó là việc lập kế hoạch, điềuphối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiệngiám sát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định.
Lập kế hoạch Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính
nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hànhđộng thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thốnghoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống
Điều phối thực hiện dự án Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền
vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian.Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự
án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết
bị phù hợp
Giám sát Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình
thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trongquá trình thực hiện Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ vàcuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết, rút kinh nghiệm, kiến nghị các pha saucủa dự án
Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án hình thành một chu trình năng động
từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc táilập kế hoạch dự án như trình bày trong Hình 1.1
Trang 13Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án nói chung là hoàn thành các công việc dự
án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt vàtheo tiến độ thời gian cho phép
Ba yếu tố: thời gian, chi phí, mức độ hoàn thiện công việc có quan hệ chặt chẽvới nhau Tầm quan trọng của từng mục tiêu có thể khác nhau giữa các dự án, giữacác thời kỳ đối với từng dự án, nhưng nói chung, đạt được kết quả tốt đối với mụctiêu này thường phải “hi sinh” một hoặc hai mục tiêu kia Trong quá trình quản lý dự
án thường diễn ra hoạt động đánh đổi mục tiêu Đánh đổi mục tiêu dự án là việc hisinh một mục tiêu nào đó để thực hiện tốt hơn mục tiêu kia trong điều kiện thời gian
và không gian cho phép, nhằm thực hiện tốt nhất tất cả các mục tiêu dài hạn của quátrình quản lý dự án Nếu công việc dự án diễn ra theo đúng kế hoạch thì không phảiđánh đổi mục tiêu Tuy nhiên, kế hoạch thực thi công việc dự án thường có nhữngthay đổi do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau nên đánh đổi làmột kỹ năng quan trọng của nhà quản lý dự án Việc đánh đổi mục tiêu diễn ra trongsuốt quá trình quản lý, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc dự án Ở mỗi giai đoạn của quátrình quản lý dự án, có thể một mục tiêu nào đó trở thành yếu tố quan trọng nhất cầnphải tuân thủ, trong khi các mục tiêu khác có thể thay đổi, do đó, việc đánh đổi mụctiêu đều có ảnh hưởng đến kết quả thực hiện các mục tiêu khác
Cùng với sự phát triển và yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động quản lý dự
án, mục tiêu của quản lý dự án cũng thay đổi theo chiều hướng gia tăng về lượng vàthay đổi về chất Từ ba mục tiêu ban đầu với sự tham gia của các chủ thể gồm chủđầu tư, nhà thầu và nhà tư vấn đã được phát triển thành tứ giác, ngũ giác mục tiêu với
sự tham gia quản lý của Nhà nước như Hình 1.2
source not found]
Trang 14- Quản lý những thay đổi
Quản lý phạm vi công việc
- Xác định phạm vi dự án
- Lập kế hoạch phạm vi công việc
- Quản lý thay đổi phạm vi công việc
Quản lý thời gian
- Tuyển dụng, đào tạo
- Phát triển nhóm
Quản lý thông tin
- Lập kế hoạch quản lý
thông tin
- Xây dựng kênh và phân
phối thông tin
- Báo cáo tiến độ
Quản lý rủi ro dự án
- Xác định rủi ro
- Đánh giá mức độ rủi ro
- Xây dựng chương trình quản lý rủi ro đầu tư
Bảng 1.1 Các lĩnh vực của quản lý dự án
Lập kế hoạch tổng quan Lập kế hoạch tổng quan cho dự án là quá trình tổ
chức dự án theo một trình tự logic, là việc chi tiết hóa các mục tiêu của dự án thànhnhững công việc cụ thể và hoạch định một chương trình thực hiện những công việc
Hình 1.2 Quá trình phát triển của các mục tiêu quản lý dự án[Error: Reference source not found]
Trang 15đó nhằm đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác nhau của dự án đã được kết hợp mộtcách chính xác và đầy đủ.
Quản lý phạm vi công việc Quản lý phạm vi công việc dự án là việc xác định,
giám sát việc thực hiện mục đích, mục tiêu của dự án, xác định công việc nào thuộc
về dự án và cần phải thực hiện, công việc nào nằm ngoài phạm vi của dự án
Quản lý thời gian Quản lý thời gian là việc lập kế hoạch, phân phối và giám
sát tiến độ thời gian nhằm đảm bảo thời hạn hoàn thành dự án Nó chỉ rõ mỗi côngviệc phải kéo dài bao lâu, khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc và toàn bộ dự án khi nào
sẽ hoàn thành
Quản lý chi phí Quản lý chi phí của dự án là quá trình dự toán kinh phí, giám
sát thực hiện chi phí theo tiến độ cho từng công việc và toàn bộ dự án, là việc tổ chức,phân tích số liệu và báo cáo những thông tin về chi phí
Quản lý chất lượng Quản lý chất lượng dự án là quá trình triển khai giám sát
những tiêu chuẩn chất lượng cho việc thực hiện dự án, đảm bảo chất lượng sản phẩm
dự án phải đáp ứng mong muốn của chủ đầu tư
Quản lý nhân lực Là việc hướng dẫn, phối hợp nỗ lực của mọi thành viên
tham gia dự án vào việc hoàn thành mục tiêu dự án Nó cho thấy việc sử dụng lựclượng lao động của dự án hiệu quả đến mức nào?
Quản lý thông tin Quản lý thông tin là quá trình đảm bảo các dòng thông tin
thông suốt một cách nhanh nhất và chính xác giữa các thành viên dự án và với cáccấp quản lý khác nhau Thông qua quản lý thông tin có thể trả lời 3 câu hỏi: ai cầnthông tin về dự án? Mức độ chi tiết và các nhà quản lý dự án cần báo cáo cho họ bằngcách nào?
Quản lý rủi ro Quản lý rủi ro là việc nhận diện các nhân tố rủi ro của dự án,
lượng hóa mức độ rủi ro và có kế hoạch đối phó cũng như quản lý từng loại rủi ro
Quản lý hợp đồng và hoạt động mua sắm Quản lý hợp đồng và hoạt động mua
sắm của dự án là quá trình lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ, thương lượng,quản lý các hợp đồng và điều hành việc mua bán nguyên vật liệu, trang thiết bị, dịchvụ… cần thiết cho dự án Quá trình quản lý này nhằm giải quyết vấn đề: bằng cách
Trang 16nào dự án nhận được hàng hóa và dịch vụ cần thiết của các tổ chức bên ngoài? Tiến
độ cung, chất lượng cung ra sao?
1.2.6 Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư
Có hai hình thức quản lý thực hiện dự án đầu tư và xây dựng Căn cứ điều kiệnnăng lực của tổ chức, cá nhân, người quyết định lựa chọn một trong các hình thứcquản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sau:
- Chủ đầu tư xây dựng công trình thuê tổ chức Tư vấn QLDA đầu tư xây dựngcông trình
- Chủ đầu tư xây dựng công trình trực tiếp QLDA đầu tư xây dựng công trình
1.2.6.1 Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án
Việc thu được một sản phẩm tốt, chất lượng cao đảm bảo kỹ mỹ thuật, phát huyhiệu quả giá cả hợp lý chính là bài toán đối với các Chủ đầu tư Để làm được điều nàythì không thể phủ nhận được vai trò công tác quản lý dự án, do đó Chủ đầu tư cần cânnhắc việc lựa chọn hình thức quản lý dự án cho phù hợp
Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án là hình thức Chủ đầu tư sử dụng bộ máy cơquan, đơn vị của mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án hoặc giao cho Banquản lý dự án do mình thành lập ra để tổ chức quản lý thực hiện dự án với hai môhình sau:
- Mô hình 1: Chủ đầu tư không thành lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộ máyhiện có của mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án, mô hình này được ápdụng với dự án quy mô nhỏ có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng, khi bộ máy của Chủđầu tư kiêm nhiệm được việc quản lý thực hiện dự án
- Mô hình 2: Chủ đầu tư thành lập Ban QLDA để giúp mình trực tiếp tổ chứcquản lý thực hiện dự án Với hình thức này thì phải đảm bảo nguyên tắc:
+ Ban QLDA do Chủ đầu tư thành lập, là đơn vị trực thuộc Chủ đầu tư Quyềnhạn, nhiệm vụ của Ban QLDA do Chủ đầu tư giao
+ Ban QLDA có tư cách pháp nhân hoặc sử dụng pháp nhân của Chủ đầu tư
để tổ chức quản lý thực hiện dự án
Trang 17+ Cơ cấu tổ chức của Ban QLDA gồm có giám đốc, các phó giám đốc, và lựclượng chuyên môn, nghiệp vụ Cơ cấu bộ máy phải phù hợp với nhiệm vụ được giao
và bảo đảm dự án được thực hiện đúng tiến độ, chất lượng và tiét kiệm chi phí Cácthành viên của Ban QLDA làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm
+ Ban QLDA hoạt động theo quy chế do Chủ đầu tư ban hành, chiụ tráchnhiệm trước pháp luật và Chủ đầu tư theo nhiệm vụ, quyền hạn được giao
+ Chủ đầu tư phải cử người có trách nhiệm để chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra BanQLDA thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ để đảm bảo dự án được thực hiện đúng nộidung và tiến độ đã được phê duyệt
1.2.6.2 Chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý thực hiện dự án
QLDA là hình thức Chủ đầu tư ký hợp đồng thuê một pháp nhân khác làm tưvấn QLDA Trong trường hợp này Chủ đầu tư phải cử cán bộ phụ trách đồng thờiphân giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc bộ máy của mình thực hiện các nhiệm vụ,quyền hạn của Chủ đầu tư và quản lý việc thực hiện hợp đồng của Tư vấn quản lý dựán
Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án thì tổ chức Tư vấn đóphải thành lập một tổ chức bộ máy có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý phù hợpvới quy mô, tính chất của dự án Trách nhiệm, quyền hạn cuả tư vấn quản lý dự ánđược thực hiện theo hợp đồng thoả thuận giữa hai bên Tư vấn quản lý dự án đượcthuê tổ chức, cá nhân tham gia quản lý nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận vàphù hợp với hợp đồng đã ký với chủ đầu tư
1.3 Quản lý dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
1.3.1 Đặc điểm các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách
Vốn ngân sách nhà nước bao gồm vốn ngân sách Trung ương, vốn ngân sáchcấp tỉnh, vốn ngân sách cấp huyện, thị xã… Vốn ngân sách được hình thành từ vốntích lũy của nền kinh tế và được nhà nước duy trì trong kế hoạch ngân sách để cấpcho các đơn vị thực hiện các kế hoạch nhà nước hàng năm, kế hoạch 5 năm và kếhoạch dài hạn
Trang 18Đối với cấp hành chính là huyện, thị xã thì việc nhận vốn ngân sách cho đầu tưbao gồm vốn đầu tư của nhà nước cấp thông qua sở tài chính, vốn ngân sách cấp tỉnh.
Là nguồn vốn được huy động chủ yếu từ nguồn thu thuế và các loại phí, lệ phí Đây
là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng mặc dù vốn ngân sách chỉ chiếm khoảng 13%tổng vốn đầu tư xã hội, song là nguồn vốn nhà nước chủ động điều hành, đầu tư cáclĩnh vực cần ưu tiên phát triển then chốt của nền kinh tế, đầu tư những lĩnh vực khó
có khả năng thu hồi vốn, những lĩnh vực mà tư nhân hoặc doanh nghiệp không muốnhoặc không thể đầu tư vào các dự án thuộc các lĩnh vực như đầu tư xây dựng cáccông trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đường giao thông, hạ tầng đô thị, các côngtrình cho giáo dục, văn hóa xã hội, quản lý nhà nước… Đầu tư các dự án sự nghiệpkinh tế như giao thông, duy tu, bão dưỡng, sửa chữa cầu đường; nông nghiệp, thủylợi, bão dưỡng các tuyến đê… Đầu tư duy tu bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng, vỉa
hè, hệ thống cấp thoát nước… Đầu tư hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn
cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham giacủa nhà nước theo quy định của pháp luật
Nguồn vốn này rất quan trọng đối với các địa phương cấp huyện, thị xã nhất lànhững địa phương nghèo, nguồn thu ít
Ngoài việc đầu tư vào các lĩnh vực như đã nêu trên, vốn ngân sách còn có ýnghĩa rất quan trọng để khơi dậy các nguồn vốn khác còn tiềm tàng, đặc biệt là vốntrong dân cư, ở đây vốn ngân sách có tính chất “vốn mồi”, vốn hỗ trợ một phần nhưchi để lập các dự án, các quy hoạch cần thiết để nhân dân và các tổ chức kinh tế khácđưa vốn vào đầu tư phát triển Hoặc vốn ngân sách hỗ trợ một phần làm đường ngõxóm, trường học, nhà trẻ… phần còn lại cộng đồng dân cư tự đóng góp và quản lý sửdụng Hình thức này được sử dụng phổ biến ở các nước nhất là trong việc tham giacủa nhân dân vào các dự án dịch vụ và hạ tầng đô thị mới với các hình thức tài trợxen kẽ, hợp vốn công – tư…
Nguồn vốn ngân sách nói chung được tập hợp từ các nguồn vốn trên địa bànnhư:
- Vốn ngân sách Trung ương đầu tư qua các Bộ, ngành trên địa bàn
Trang 19- Vốn ngân sách Trung ương cân đối hoặc ủy quyền qua ngân sách địa phương(xây dựng cơ bản tập trung, thiết bị nước ngoài ghi thu ghi chi, vốn chương trìnhquốc gia…)
- Vốn ngân sách từ các nguồn thu của địa phương được giữ lại (cấp quyền sửdụng đất, bán nhà thuộc sở hữu nhà nước, xổ số,…)
- Vốn ngân sách sự nghiệp có tính chất xây dựng cơ bản
1.3.2 Phân cấp quản lý các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách
Theo nghị định 12/2009/NĐ-CP, các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước
kể cả các dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từviệc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, dự toán,lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trìnhvào khai thác sử dụng Chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tưquyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định củaLuật Ngân sách nhà nước
Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, chủ đầu tư là mộttrong các cơ quan, tổ chức sau: Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơquan khác ở Trung ương (gọi chung là cơ quan cấp Bộ), Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và doanh nghiệpnhà nước
Đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch Ủy bannhân dân các cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư là đơn vị quản lý, sử dụng công trình
Trường hợp chưa xác định được đơn vị quản lý, sử dụng công trình hoặc đơn
vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì người quyếtđịnh đầu tư có thể giao cho đơn vị có đủ điều kiện làm chủ đầu tư Trong trường hợpđơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì đơn vị sẽquản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư trongviệc tổ chức lập dự án, thiết kế, theo dõi, quản lý, nghiệm thu và tiếp nhận đưa côngtrình vào khai thác, sử dụng
Trang 20Đối với các dự án đầu tư sử dụng ngân sách phường, xã, thị trấn sẽ áp dụngThông tư số 28/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủtịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trước khi phê duyệt dự án đầu tư, người quyết định đầu
tư phải xác định rõ nguồn vốn thực hiện dự án đầu tư; chỉ được quyết định đầu tư khi
đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn và đảm bảo bố trí đủ vốn để thựchiện dự án không quá 3 năm Trường hợp dự án đầu tư có sử dụng nguồn vốn hỗ trợcủa ngân sách cấp trên thì trước khi phê duyệt dự án đầu tư, phải có thỏa thuận bằngvăn bản về nguồn vốn của cấp hỗ trợ vốn Dự án được quyết định đầu tư mà khôngxác định rõ nguồn vốn, mức vốn thuộc ngân sách nhà nước, làm cho dự án thi côngphải kéo dài, gây lãng phí thì người ký quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm vềnhững tổn thất do việc kéo dài này gây ra
Trường hợp đặc biệt, cấp bách (do thiên tai, hoả hoạn) cần phải khởi côngngay thì dự án đầu tư phải được Thường trực Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấnhoặc Thường trực Ủy ban nhân dân đối với địa phương thực hiện thí điểm không tổchức Hội đồng nhân dân có ý kiến đồng ý bằng văn bản và được Uỷ ban nhân dânquận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh chấp thuận bằng văn bản
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn ngân sách
1.3.3.1 Chỉ tiêu kết quả sử dụng vốn
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện: là tổng số tiền chi để tiến hành các hoạtđộng của các công cuộc đầu tư bao gồm: các công tác cho chi phí xây lắp, chi phí chocông tác mua sắm trang thiết bị và các chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán
và được ghi trong dự toán đầu tư được duyệt
Chi phí xây lắp là chi phí phá và tháo dỡ các vật kiến trúc cũ (có tính đến giátrị vật tư, vật liệu thu hồi để giảm vốn đầu tư), chi phí san lấp mặt bằng xây dựng, chiphí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công (đường thi công,điện, nước,…), nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công Chi phí xâydựng các hạng mục công trình, chi phí lắp đặt thiết bị (đối với thiết bị cần lắp đặt), chiphí di chuyển lớn thiết bị thi công và lực lượng xây dựng
Trang 21Chi phí thiết bị bao gồm chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (gồm cả thiết bịphi tiêu chuẩn cần sản xuất gia công, các trang thiết bị khác phục vụ sản xuất, làmviệc, sinh hoạt của công trình, chi phí vận chuyển, kho bãi, bảo quản, thuế, bảo hiểm.
Chi phí khác bao gồm chi phí ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chi phí ở giai đoạnthực hiện đầu tư, chi phí ở giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào sử dụng
Ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư có chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đốivới các dự án nhóm A hoặc dự án nhóm B nếu cấp có thẩm quyền quyết định đầu tưyêu cầu bằng văn bản, báo cáo nghiên cứu khả thi đối với dự án nói chung và các dự
án chỉ thực hiện lập báo cáo đầu tư Chi phí tuyên truyền quản cáo cho dự án Chi phínghiên cứu khoa học, công nghệ có liên quan đến dự án đối với dự án nhóm A và một
số dự án có yêu cầu đặc biệt được thủ tướng chính phủ cho phép Chi phí và lệ phíthẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đầu tư
Ở giai đoạn thực hiện đầu tư có chi phí khởi công công trình, chi phí đền bù và
tổ chức thực hiện trong quá trình đền bù đất đai, hoa màu, di chuyển dân cư và cáccông trình trên mặt bằng xây dựng, chi phí phục vụ cho công tác tái định cư và phụchồi Chi phí khảo sát xây dựng, thiết kế công trình, chi phí mô hình thí nghiệm, chiphí lập hồ sơ mời thầu, chi phí cho việc phân tích, đánh giá kết quả đấu thầu xây lắp,mua sắm vật tư thiết bị, chi phí giám sát thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị và các chiphí tư vấn khác Tiền thuê đất hoặc tiền chuyển quyền sử dụng đất, chi phí ban quản
lý dự án, chi phí bảo vệ an toàn, bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng côngtrình, chi phí kiểm định vật liệu đưa vào công trình Chi phí lập thẩm tra đơn giá dựtoán, chi phí quản lý, chi phí xây dựng công trình Chi phí bảo hiểm công trình, lệ phíđịa chính, chi phí và lệ phí thẩm định thiết kế mỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật thicông, tổng dự toán công trình
Ở giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào sử dụng có chi phí thực hiện việcquy đổi vốn, thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư công trình Chi phí tháo dỡcông trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công Chi phí thu dọn vệ sinh côngtrình, tổ chức nghiệm thu, khánh thành và bàn giao công trình Chi phí đào tạo côngnhân kỹ thuật và cán bộ quản lý sản xuất Chi phí nguyên vật liệu, năng lượng và
Trang 22nhân lực cho quá trình chạy thử không tải, có tải, chi phí dự phòng cho những khoảnphát sinh không dự kiến trước được.
1.3.3.2 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
Ở tầm vĩ mô các hiệu quả kinh tế thường biểu hiện một cách không rõ nét,thường phải chờ đợi một thời gian dài mới thấy hết hiệu quả của nó Hiệu quả đầu tư
là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế - xã hội đạtđược của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong mộtthời kỳ nhất định
Hệ số ICOR Hệ số ICOR cho từng thời kỳ cụ thể muốn tăng thêm một đồng
GDP thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư Hệ số này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốnđầu tư càng lớn
Hiệu suất vốn đầu tư Biểu hiện quan hệ so sánh giữa mức tăng trưởng GDP
và vốn đầu tư trong kỳ
Hi = (1.2)
Trong đó:
- Hi: hiệu suất vốn đầu tư trong kỳ
- I: mức tăng đầu tư trong kỳ
Chỉ tiêu hiệu suất vốn đầu tư phản ánh tổng hợp hiệu quả vốn đầu tư, nhưngchỉ tiêu này có nhược điểm cơ bản là sự hạn chế về tính so sánh được giữa tử số vàmẫu số của chỉ tiêu, vì giữa GDP và vốn đầu tư trong cùng một thời kỳ không tồn tạimối quan hệ trực tiếp Thời kỳ ngắn thì nhược điểm này càng bộc lộ rõ
Trang 23Hệ số trang bị tài sản cố định cho lao động Hệ số trang bị tài sản cố định cho
lao động (HL) được xác định bằng tỷ số giữa giá trị bình quân của tài sản cố địnhtrong kỳ (FA) và số lượng lao động sử dụng bình quân trong (L) được tính theo côngthức:
HL = (1.3)
Hệ số này cũng là một chỉ tiêu quan trọng vì kết quả vốn đầu tư được biểuhiện ở khối lượng tài sản cố định, yếu tố vật chất hóa sự tiến bộ của khoa học kỹ thuậttrong việc nâng cao mức trang bị kỹ thuật cho lao động biểu hiện kết quả của việctăng cường cơ giới hóa, tự động hóa và các phương hướng phát triển khoa học kỹthuật khác là tiền đề quan trọng đảm bảo tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất,nâng cao mức sống của dân cư
Hệ số thực hiện vốn đầu tư Hệ số thực hiện vốn đầu tư phản ánh mối quan hệ
giữa khối lượng vốn đầu tư bỏ ra với các tài sản cố định (kết quả của vốn đầu tư)được đưa vào sử dụng Hệ số được tính theo công thức:
Hu = (1.4)
Trong đó:
Hu: Hệ số thực hiện vốn đầu tư
FA: Giá trị tài sản cố định
I: Tổng vốn đầu tư trong kỳ
Hệ số thực hiện vốn đầu tư càng lớn thể hiện hiệu quả sử dụng vốn đầu tưcàng cao
Ở tầm vi mô thường đo lường và đánh giá hiệu quả của từng dự án đầu tư cụthể, từng công trình xây dựng Một số chỉ tiêu thường sử dụng bao gồm:
Tỷ suất lợi ích trên chi phí (B/C) Tỷ suất lợi ích trên chi phí xác định mối
quan hệ giữa lợi ích thu được của dự án đầu tư so với chi phí bỏ ra Để xác định được
tỷ lệ này chúng ta cần xác định được dòng lợi ích và dòng chi phí của dự án Tỷ lệnày được tính theo công thức:
Trang 24(1.5)Trong đó:
- Bt: lợi ích trong năm t (thu nhập tại năm t)
- i: lãi suất tính toán
- Ct: chi phí về vốn đầu tư tại năm t
- n: số năm hoạt động kinh tế của dự án (tuổi thọ kinh tế của dự án)Kết quả thu được từ công thức (1.6) cho thấy:
- Nếu B/C > 1: thu nhập lớn hơn chi phí, dự án có lãi (hiệu quả)
- Nếu B/C < 1: thu nhập nhỏ hơn chi phí, dự án bị lỗ
- Nếu B/C = 1: dự án hòa vốn
Ưu điểm của chỉ tiêu B/C giúp ta thấy mức lợi ích của một đồng chi phí,nhưng nhược điểm là không cho ta biết tổng số lãi ròng thu được
Thời hạn thu hồi vốn đầu tư (T) Thời hạn thu hồi vốn đầu tư xác định khoảng
thời gian số vốn đầu tư bỏ vào thu hồi lại được hoàn toàn, được tính bằng công thức:
(1.6)Trong đó:
- Vi: số vốn đầu tư ứng trước năm thứ i
- Li: lợi nhuận ròng bình quân đến năm thứ i
- Ki: khấu hao tài sản cố định bình quân đến năm thứ i
Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần (NPV) Giá trị hiện tại thuần là tổng lãi ròng của
cả đời dự án được chiết khấu về năm hiện tại theo tỷ lệ nhất định
(1.7)
Trang 25Nếu NPV > 0 thì dự án đó khả thi về mặt tài chính Đối với nhiều dự án đầu tưxây dựng cơ bản đã khả thi về mặt tài chính nhưng loại trừ lẫn nhau thì phương án cóNPV lớn nhất thường được chọn Nếu các phương án của lợi ích dự án như nhau thìphương án có giá trị hiện tại của chi phí nhỏ nhất được đánh giá cao nhất về mặt tàichính.
Nhược điểm của chỉ tiêu này là phải đưa vào lãi suất chiết khấu được lựachọn, nó rất phức tạp vì có nhiều cách thức và cho kết quả khác nhau Thông thườnglãi suất chiết khấu được xác định bằng lãi suất thu lợi tối thiểu có thể chấp nhận được(vốn dài hạn, vốn ngắn hạn, vốn cổ phần,…) và lãi suất vay trên thị trường vốn
Tỷ suất hoàn vốn nội tại (IRR) Là tỷ suất chiết khấu mà ứng với nó giá trị
hiện tại thuần bằng không (NPV = 0) Biểu hiện dưới dạng công thức:
(1.8)IRR cho biết tỷ lệ lãi vay tối đa mà dự án có thể chịu đựng được, nếu phảivay với lãi suất lớn hơn IRR thì NPV âm, tức là thua lỗ
Khác với chỉ tiêu khác, chỉ tiêu IRR không có một công thức toán học nàocho phép tính trực tiếp Trong thực tế, IRR được tính thông qua phương pháp nội suytức là xác định một giá trị gần đúng giữa hai giá trị đã chọn
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả vốn đầu tư Các nhân tố này có thề
là khách quan, chủ quan như yếu tố về tự nhiên, con người,… bao gồm:
a) Nhân tố chủ quan của đơn vị thực hiện đầu tư
Đó là trình độ quản lý và sử dụng vốn của cán bộ quản lý và thực hiện đầu tưtại địa phương Năng lực chuyên môn của các cơ quan tư vấn về đầu tư xây dựng cơbản, chất lượng thiết kế các công trình Nếu công tác thẩm định dự án đầu tư có nhiềumặt hạn chế, hình thức, thiếu cán bộ có năng lực chuyên môn sẽ dẫn đến chất lượng
dự án sẽ không đảm bảo
Trang 26Công tác thẩm định thiết kế, dự toán và công tác xét thầu phải được thực hiệnnhanh gọn, đơn giản Vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành phải rõ ràng, sựphối hợp phải nhịp nhàng, ăn khớp Ngoài ra các chính sách về quản lý đầu tư và xâydựng, đấu thầu và chỉ định thầu cũng ảnh hưởng đến việc triển khai các thủ tục liênquan.
Năng lực quản lý của các chủ đầu tư, đội ngũ cán bộ kiêm nhiệm nhiều dẫnđến thiếu thời gian, số lượng cán bộ chuyên môn nghiệp vụ về xây dựng cơ bản trựctiếp chi phối quá trình thực hiện dự án Hiệu quả kinh tế xã hội của dự án có sứcthuyết phục hay không còn phụ thuộc vào quá trình chỉ đạo thực hiện từ khâu chuẩn
bị đầu tư, thực hiện dự án đến nghiệm thu, chất lượng lập dự án Phải có các dữ liệu
cụ thể thể hiện năng lực của các nhà thầu
Công tác chuẩn bị đầu tư, bố trí vốn, việc chủ động tham gia của các cấp cácngành Tính cấp bách của dự án cũng ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư Các công trìnhtrọng điểm thường có quy mô lớn nên việc triển khai chậm, kéo dài dẫn đến hiệu quả
và không kịp đưa vào khai thác, sử dụng
Công tác hướng dẫn thực hiện của tỉnh và các ngành, trong việc ra văn bảnthực hiện cho địa phương đặc biệt là việc phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng Cácnhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các dự án đầu tư Đối với đơn vịthực hiện đầu tư phải nghiên cứu sao cho có hiệu quả nhất, tránh thất thoát, lãng phívốn đầu tư
b) Các nhân tố khách quan
Đó là các yếu tố không lường trước được như thiên tai, các rủi ro từ sự biếnđộng của nền kinh tế thế giới, của cả nước tác động tới địa phương một cách trực tiếphoặc gián tiếp, các chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô của Nhà nước, các chiến lược vềkinh tế… Các nhân tố khách quan này có thể xảy ra đối với các địa phương vì vậyphải tính toán, lường trước các rủi ro để giảm các thiệt hại xảy ra
c) Các chính sách kinh tế của Trung ương và địa phương
Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động lớn nhất đến hiệu quả sửdụng vốn đầu tư bao gồm chính sách công nghiệp hóa – hiện đại hóa, các chính sách
Trang 27về ưu đãi, chính sách thương mại, chính sách về tiền lương,… và các chính sách làmcông cụ điều tiết vĩ mô hoặc vi mô như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chínhsách tỷ giá hối đoái, chính sách khấu hao…
Các chính sách kinh tế tác động đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tạo điềukiện cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, vốn đầu tưđược sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vựcđầu tư, góp phần tạo ra một cơ cấu hợp lý hay không cũng tác động làm giảm hoặctăng thất thoát vốn đầu tư, theo đó mà vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả hoặc kémhiệu quả
Khi đã lựa chọn mô hình chiến lược công nghiệp hóa đúng, nếu các chính sáchkinh tế được xác định phù hợp có hệ thống, đồng bộ và nhất quán thì sự nghiệp côngnghiệp hóa sẽ thắng lợi, vốn đầu tư sẽ mang lại hiệu quả sử dụng cao
d) Công tác tổ chức quản lý vốn đầu tư và quản lý đầu tư
Công tác này không chỉ ở một địa phương riêng lẻ mà nó được phân cấp từtrung ương đến địa phương Hệ thống quản lý có tác động mạnh tới hiệu quả sử dụngvốn đầu tư và kết quả của các dự án đầu tư cũng như công cuộc đầu tư nói chung
Tổ chức quản lý đầu tư xây dựng là một lĩnh vực rất rộng, bao gồm nhiều nộidung nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh phù hợpvới chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng, của địaphương trong từng thời kỳ Việc tổ chức quản lý chặt chẽ theo đúng trình tự xây dựng
cơ bản đối với các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do cácngân hàng nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển Quyền hạn và tráchnhiệm của cơ quan quản lý nhà nước phải được phân cấp rõ ràng, chủ đầu tư và nhàthầu trong quá trình đầu tư và xây dựng nhằm sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư
1.3.5 Kinh nghiệm quản lý dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách
Nhiều kinh nghiệm về quản lý dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách ởSingapore có thể áp dụng tại Việt Nam như sự khoa học trong công tác quy hoạch.Các chương trình quy hoạch thường có tầm nhìn tới 50 năm, từng giai đoạn lại xâydựng các chương trình quy hoạch chi tiết đồng thời cập nhật liên tục thông tin để
Trang 28điều chỉnh hợp lý Các kinh nghiệm về thiết kế hệ thống giao thông đô thị thành trụcxương sống để phát triển đô thị, thiết kế khung đô thị, các chính sách hạn chếphương tiện cá nhân, phát triển giao thông công cộng, chiến lược phát triển đô thịxanh… cũng là những vấn đề cần được đặc biệt quan tâm Đồng thời, những ứngdụng về công nghệ thông tin trong quản lý dự án tại Singapore có thể áp dụng tạiVũng Tàu, góp phần khai thác tối đa năng lực của hệ thống quản lý; nâng cao sự antoàn và tiện lợi cho cán bộ dự án; góp phần tự động hoá công tác quản lý và điềuhành, nâng cao chất lượng hoạt động của các phòng ban chức năng.
Còn tại Đà Nẵng, UBND Thành phố luôn chỉ đạo thực hiện công tác rà soát,phân loại dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách tại địa phương theo Chỉ thị số2196/CT-TTg, lập danh mục các dự án chi tiết Xem xét các dự án không phù hợpquy hoạch, kế hoạch phát triển dự án ở của địa phương, các dự án chậm triển khai,
đã giao đất nhưng không sử dụng quá thời hạn quy định của pháp luật để thu hồi,tạm dừng hoặc điều chỉnh dự án
Ngoài ra có thể học tập kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trongquản lý dự án, quản lý đất đai, xây dựng tại một số quận, huyện thành phố Hồ ChíMinh do việc xin giấy phép đầu tư hiện nay ở Vũng Tàu còn mất nhiều thời gian,công sức của các cơ quan hành chính trong việc giải quyết các thủ tục và quản lý hồ
sơ Từ năm 2006 đến nay, một số quận, huyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
đã triển khai ứng dụng CNTT theo hình thức đầu tư Hệ thống thông tin mang tínhquản lý và hỗ trợ xử lý nghiệp vụ trong lĩnh vực đất đai xây dựng Với hệ thốngnày, tất cả thông tin được quản lý tập trung tại máy chủ, các máy trạm kết nối vớitrung tâm thông qua hệ thống mạng, thông tin được liên thông tới tất cả các bộ phận
từ khâu nhận hồ sơ, đến xử lý hồ sơ, duyệt hồ sơ của lãnh đạo, ký giấy chứng nhậncủa Thường trực UBND và trả hồ sơ Mọi thao tác đều được ghi nhận trong máychủ, bộ phận sau kế thừa thông tin của bộ phận trước Thông tin về đất đai xây dựngđược lưu trữ, từ đó in giấy chứng nhận, giấy phép xây dựng, phiếu chuyển thuế vàcác loại biểu mẫu khác Thông tin được kế thừa cho các loại hồ sơ biến động sửdụng đất, thay đổi thiết kế và điều chỉnh nội dung…Ngoài việc xử lý hồ sơ nhanh
Trang 29hệ thống này còn giúp tra cứu được lịch sử và quá trình sử dụng nhà đất, là cơ sở đểcông khai thông tin về nhà đất trên trang điện tử cho người dân và doanh nghiệp dễdàng tra cứu Việc tổng hợp và thống kê tình trạng nhà đất đơn giản và chính xác,phục vụ cho lãnh đạo cơ quan trong việc quản lý và hoạch định chính sách pháttriển.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã đưa ra được những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư và quản lý dự
án đầu tư Dự án đầu tư được trình bày với các nội dung: khái niệm đầu tư, các loạiđầu tư, dự án đầu tư Trên cơ sở đó tìm hiểu về quản lý dự án đầu tư về các nội dung:khái niệm, vai trò của quản lý dự án đầu tư, nội dung quản lý dự án đầu tư, lĩnh vựcquản lý dự án Các đặc điểm của quản lý dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách, phâncấp quản lý các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách, trình bày các chỉ tiêuđánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, các nhân tố ảnh hưởngđến kết quả và hiệu quả quản lý các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách.Ngoài ra tác giả còn trình bày những kinh nghiệm quản lý dự án đầu tư ở một số địaphương khác để hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư các công trình giaothông thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình ở các chươngsau
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH
2.1 Tổng quan về tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Hòa Bình
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam, tiếp giáp với phía Tâyđồng bằng sông Hồng, Hòa Bình có địa hình núi trung bình, chia cắt phức tạp, độ dốclớn và theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm
về phía Tây Bắc có độ cao trung bình từ 600 - 700 m, địa hình hiểm trở; vùng núithấp nằm ở phía Đông Nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh,địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 - 250, độ caotrung bình từ 100 – 200 m Phía Bắc giáp với các tỉnh Phú Thọ; phía Nam giáp vớicác tỉnh Hà Nam, Ninh Bình; phía Đông giáp với thủ đô Hà Nội, phía Tây giáp vớiSơn La,Thanh Hóa, thủ phủ là thành phố Hòa Bình cách thủ đô Hà Nội 73km,
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662.5 km², chiếm 44,8% diện tích toàn vùng,chiếm 1,41% tổng diện tích tự nhiên của cả nước
Trang 31Hòa Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa ; mùa hè nóng,mưa nhiều Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23°C
Hòa Bình có mạng lưới sông suối phân bổ tương đối dày và đều khắp ở cáchuyện Sông Ðà là sông lớn nhất chảy qua tỉnh có lưu vực 15.000 km2 chảy qua cáchuyện Mai Châu, Ðà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn và thành phố Hòa Bình với tổng chiềudài là 151 km Hồ sông Ðà có dung tích 9,5 tỷ m3 nước nối liền với Sơn La, phần hạlưu chảy qua Phú Thọ, Hà Tây thông với sông Hồng, được điều tiết nước bởi hồ sôngĐà
2.1.2 Đặc điểm dân cư và tổ chức hành chính
a) Tổ chức hành chính
Hòa Bình gồm 1 thành phố tỉnh lỵ và 10 huyện tổng cộng 210 phường, thịtrấn, xã : Thành phố Hòa Bình (trung tâm tỉnh lỵ), Huyện Lương Sơn, Huyện CaoPhong, Huyện Đà Bắc, Huyện Kim Bôi, Huyện Kỳ Sơn, Huyện Lạc Sơn, Huyện LạcThủy, Huyện Mai Châu, Huyện Tân Lạc, Huyện Yên Thủy
b) Đặc điểm dân cư
Dân số trung bình năm 2008 của tỉnh là 815.462 người, trong đó nam là405.912 người và nữ là 409.550 người (chiếm 50,22%) Dân cư chủ yếu tập trung ởvùng nông thôn với 686,9 nghìn người, chiếm trên 84% tổng dân số Tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên là 1,062%, trong đó ở khu vực thành thị là 1,056% và ở khu vực nôngnông thôn là 1,086%
Trên địa bàn tỉnh có 6 dân tộc sinh sống, đông nhất là dân tộc Mường, chiếm61,82%; dân tộc Kinh chiếm chiếm 28,69%; dân tộc Thái chiếm 4,04%; dân tộc Dao chiếm 1,76%; dân tộc Tày chiếm 3,23%; dân tộc Mông chiếm 0,372%; ngoài ra còn
có người Hoa sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh Người Hoa trước đây sống tậptrung ở Ngọc Lương, Yên Thủy; nhưng sau năm 1979 còn lại một số gia đình và hiệnnay sống phân tán ở thành phố Hòa Bình, huyện Kỳ Sơn, Tân Lạc, Mai Châu, YênThủy, chiếm 0,016% tổng dân số toàn tỉnh
2.1.3 Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ của Tỉnh
Trang 32Hòa Bình hiện có 5.083,7 km chiều dài đường bộ Các đường giao thông quantrọng trên địa bàn tỉnh như quốc lộ số 6 đi qua các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, thànhphố Hòa Bình, huyện Tân Lạc, Mai Châu nối liền Hòa Bình với thủ đô Hà Nội và cáctỉnh Tây Bắc khác, điểm gần trung tâm Hà Nội nhất trên quốc lộ 6 của Hòa Bìnhthuộc huyện Lương Sơn là gần 40km; quốc lộ 15A đi từ huyện Mai Châu nối quốc lộ
6 với các huyện vùng cao tỉnh Thanh Hóa; quốc lộ 12A đi qua các huyện Tân Lạc,Lạc Sơn, Yên Thuỷ và tỉnh Ninh Bình, nối quốc lộ 6 (ở Mãn Đức - Tân Lạc); quốc lộ12B chạy qua Lạc Thủy, Kim Bôi, Cao Phong gặp quốc lộ 6 ở ngã ba thị trấn CaoPhong; quốc lộ 21 có điểm đầu là ngã ba giao cắt với đường quốc lộ 32, trước cửangõ vào thành phố Sơn Tây, điểm cuối là thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnhNam Định qua thị trấn Xuân Mai tỉnh Hà Tây qua các huyện Lương Sơn, Kim Bôi,Lạc Thủy xuống Phủ Lý Đường Hồ Chí Minh chạy song song với quốc lộ 21, gặpquốc lộ 12B xã Hưng Thi, Lạc Thủy và quốc lộ 12A tại địa bàn giáp ranh giữa xãYên Nghiệp của huyện Lạc Sơn và xã Lạc Thịnh của huyện Yên Thuỷ Các tuyếnđường chính này nối với hệ thống đường nối liền các huyện, xã trong tỉnh với thị xã
và với các huyện, tỉnh bạn rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế - xã hội
2.1.4 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua
Theo báo cáo về tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Hòa Bình, tốc độ tăng trưởngkinh tế năm 2012 của tỉnh đạt khá (10,2%); trong đó: Ngành nông, lâm nghiệp, thủysản tăng 3,9%; công nghiệp - xây dựng tăng 15,2% (công nghiệp tăng 15,7%, xâydựng tăng 13,8%); dịch vụ tăng 9,8% Lạm phát được kiềm chế ở mức một con số,chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 tăng 5,16% so với tháng 12 năm 2011
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 1.847 tỷ đồng, bằng 116% dựtoán Thủ tướng Chính phủ giao, vượt 1,17% Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh.Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 6.150 tỷ đồng, trong đó đầu tư từ ngânsách nhà nước là 2.038 tỷ đồng Năm 2012 đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 43 dự
án (trong đó có 04 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với vốn đăng ký trên 174 triệuUSD và 39 dự án đầu tư trong nước với vốn đăng ký 2.230 tỷ đồng)…
Trang 33Nhiều vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh nguyên liệu tập trung được pháttriển và nhân rộng như: vùng cam huyện Cao Phong; vùng mía tím huyện Tân Lạc,Cao phong; vùng gỗ, luồng nguyên liệu ở huyện Đà Bắc, Mai Châu; vùng lạc, đậu ởhuyện Lạc Sơn, Yên Thủy; vùng cây dưa hấu ở huyện Lạc Thủy, Kim Bôi; vùng câydược liệu ở Tân Lạc, Lạc Sơn; vùng chè ở huyện Lương Sơn, Mai Châu, Đà Bắc.
Địa hình đồi núi trùng điệp với các động Thác Bờ, Hang Rết, động Hoa Tiên,vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh Pù Noọc và vùng hồ sông Ðà thơ mộng cho phépphát triển du lịch vùng lòng hồ và ven hồ có đầy đủ vịnh, đảo và bán đảo mà ở đóđộng thực vật quý hiếm được bảo tồn
Hòa Bình là một tỉnh có khá nhiều những suối nước khoáng nóng, nhữngthung lũng hoang sơ huyền bí Suối nước khoáng Kim Bôi với nguồn nước phun lên
ở nhiệt độ 3600C, đủ tiêu chuẩn dùng làm nước uống, để tắm
Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: với trữ lượng sét và đá vôi lớn, hiệnnay sản xuất vật liệu xây dựng là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn củatỉnh, cung cấp vật liệu xây dựng cho vùng và các tỉnh lân cận Ngoài ra, tỉnh còn có 3nhà máy sản xuất xi măng công suất mỗi nhà máy 8,8 vạn tấn/năm tại các huyệnLương Sơn, Yên Thuỷ và thành phố Hoà Bình; ngoài ra còn 2 nhà máy đang hoànchỉnh thủ tục để đầu tư xây dựng với công suất 1,2 triệu tấn và 8,8 vạn tấn/năm ởLương Sơn và các cơ sở sản xuất đá, vôi, gạch ở hầu hết các huyện, thị
Công nghiệp cơ khí, điện tử, may mặc, giày da: dựa trên địa thế tiếp giáp vớicác trung tâm công nghiệp lớn là Hà Nội và tiềm năng lao động dồi dào, cộng thêm
số lao động ở nông thôn chiếm 84%, trong khi thời gian sử dụng chỉ đạt 74%, do đóHoà Bình có thể phát triển công nghiệp cơ khí điện tử, may mặc, giày da Hiện nay,trên địa bàn đã có một số cơ sở sản xuất như: Công ty May sông Đà, Công ty May3/2, Công ty Ban Đai (sản xuất linh kiện điện tử), Công ty R Việt Nam (sản xuất thấukính), Công ty Điện tử SANKOR
2.2 Tình hình đầu tư các công trình giao thông từ nguồn vốn ngân sách của tỉnh Hòa Bình
2.2.1 Kết quả đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách của tỉnh Hòa Bình
Trang 34Trong những năm qua, với sự chỉ đạo tích cực của Tỉnh ủy, HĐND, UBNDTỉnh, cùng với những nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương, tình hình đầu
tư XDCB trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã có những chuyển biến rõ nét Việc huyđộng và sử dụng vốn ngân sách nhà nước đã có đóng góp quan trọng vào việc đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi góp phần thúcđẩy sản xuất phát triển, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân Tuynhiên, do yêu cầu của Chính phủ trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạmphát đầu tư công trong những năm 2010 - 2013 có giảm so với năm 2009
Kết quả đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnhHòa Bình giai đoạn 2009 – 2013 thể hiện như sau:
Bảng 2.2.1 Kết quả đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước từ năm 2009 – 2013
(Nguồn:Báo cáo tình hình KT-XT của tỉnh qua các năm)
2.2.2 Các dự án đầu tư công trình giao thông thuộc nguồn vốn ngân sách của tỉnh Hòa Bình
Trong thời gian qua, tỉnh Hòa Bình triển khai 65 dự án giao thông thuộc
Trang 35nguồn vốn ngân sách tỉnh trong đó có 17 dự án giao thông do Sở Giao thông vận tảilàm chủ đầu tư, 48 dự án do UBND các huyện làm chủ đầu tư được thể hiện
(Chi tiết tại bảng 2.2.2 kèm theo)
2.2.3 Đặc điểm các dự án thuộc công trình giao thông
Khác với dự án đầu tư xây dựng các công trình xây dựng dân dụng và côngnghiệp, dự án xây dựng công trình giao thông có một số đặc điểm sau:
- Giao thông vận tải (GTVT) là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, cũngtrực tiếp tạo ra giá trị và giá trị gia tăng trong quá trình thực hiện chức năng củamình Giữ cho huyết mạch giao thông của đất nước luôn thông suốt là nhiệm vụ củangành Quy mô, khối lượng xây lắp công trình thuộc dự án xây dựng công trìnhgiao thông rất lớn, trên thực tế thì có những loại hình công trình giao thông cơ bảnnhư sau: công trình đường bộ; công trình đường sắt; công trình đường thủy; cầu;hầm; sân bay mỗi công trình thì lại có nhiều loại, nhiều cấp, nhiều kiểu làm bằngcác vật liệu khác nhau như đất, đá, bêtông, gỗ, sắt thép, nhựa đường, v.v với tổngkhối lượng rất lớn
- Phần lớn các dự án xây dựng công trình giao thông đều đòi hỏi chất lượngcao Công trình giao thông yêu cầu phải ổn định, bền lâu, an toàn tuyệt đối trongquá trình khai thác Do đó việc xây dựng công trình phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹthuật của ngành bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn của các đối tượng thamgia giao thông
- Việc triển khai thực hiện dự án trong điều kiện khó khăn, phức tạp Côngtác thi công công trình giao thông tiến hành trên mọi địa hình, địa chất Tùy vàotừng loại công trình giao thông, nhưng nhìn chung thời gian thi công các hạng mụccông trình thuộc dự án dài Công trình giao thông thường phải xây dựng với nhiềucông đoạn và khối lượng lớn, trong khi đó, việc thi công công trình đòi hỏi phảiđược thực hiện trong mùa khô, tránh mùa mưa bão nhưng phải đáp ứng yêu cầuhoàn thành căn bản với chất lượng cao, do đó thời gian thi công thường bị dàn trải
do phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn khách quan
Trong quá trình quản lý dự án cần lưu ý một số điểm sau:
Trang 36- Cán bộ làm công tác QLDA xây dựng công trình giao thông phải nắm chắctình hình chất lượng hệ thống công trình giao thông, nhất là địa chất khu vực thựchiện dự án để có phương án xử lý sự cố kịp thời các tình huống có thể xảy ra nhưsụt, lún, lở đất nhằm đảm bảo an toàn tính mạng cho người, tài sản và công trìnhđang thi công.
- Trong quá trình thực hiện dự án giao thông, Công tác GPMB bao giờ cũng
là công tác khó khăn, phức tạp nhất của các dự án Do vậy, Chủ đầu tư công trìnhphải luôn chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan và chính quyền địa phươngnơi thực hiện dự án để triển khai công tác GPMB khẩn trương và hiệu quả vì đây làcông việc quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện dự án
- Tổ chức triển khai dự án, thi công công trình giao thông phải đảm bảo đúngtiến độ, có biện pháp thi công phù hợp nhằm kịp thời giữ cho huyết mạch giaothông luôn thông suốt
- Đối với công tác lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng, ngoài các yêu cầuđáp ứng về năng lực tài chính, nhân sự, máy móc thiết bị…phải ưu tiên lựa chọnnhà thầu có kinh nghiệm thi công công trình giao thông để có thể xử lý tốt các tìnhhuống, sự cố bất khả kháng xảy ra trong quá trình triển khai thực hiện dự án
- Trong thời gian triển khai dự án, Chủ đầu tư phải luôn chủ động phối hợptích cực với chính quyền địa phương về tiến độ thi công công trình thường xuyên đểchính quyền địa phương biết, chủ động trong công tác điều hành kinh tế xã hội củađịa phương
2.2.4 Phân cấp quản lý dự án các công trình giao thông sử dụng nguồn vốn NSNN
2.2.4.1 Phân cấp quyết định đầu tư và quản lý dự án các công trình giao thông
a) Phân cấp quyết định đầu tư
Quy định về quản lý đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách tỉnhtrên địa bàn tỉnh Hòa Bình, bao gồm cả công trình thuộc lĩnh vực giao thông đượcthực hiện theo Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009, Nghị định số
Trang 3783/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 và Quyết định số 09/2013/QĐ-UBND ngày16/5/2010
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư các dự án nhóm A, B, Ctrong phạm vi và khả năng cân đối ngân sách của địa phương mình sau khi đượcHội đồng nhân dân cùng cấp thông qua
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu
tư quyết định đầu tư đối với các dự án có tổng mức đầu tư dưới 1 tỷ đồng thuộcnguồn vốn ngân sách do tỉnh quản lý
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền, phân cấp quyết định đầu tư các dự
án sử dụng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng (bao gồm cả các dự
án duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị;cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất của các cơ quan đơn vị; các dự án sửa chữa, cải tạonâng cấp nhà thuộc sở hữu nhà nước sử dụng vốn từ tiền thuê nhà) có tổng mức đầu
tư dưới 1 tỷ đồng cho Giám đốc các Sở, ngành theo lĩnh vực quản lý nhà nước, phùhợp với chức năng nhiệm vụ được giao
Người có thẩm quyền quyết định đầu tư chỉ được quyết định đầu tư khi đãxác định rõ nguồn vốn thực hiện dự án, khả năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách
và có trách nhiệm bố trí đủ vốn theo tiến độ thực hiện dự án nhưng không quá 5năm với dự án nhóm B và không quá 3 năm đối với dự án nhóm C
b) Chủ đầu tư xây dựng công trình
Việc xác định chủ đầu tư dự án thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 3Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ và Điều 1 Thông tư
tư Đơn vị quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham gia với đơn vị
Trang 38được giao làm chủ đầu tư trong việc tổ chức lập dự án, thiết kế, theo dõi, quản lý,nghiệm thu và tiếp nhận đưa công trình vào khai thác, sử dụng Người được cửtham gia với chủ đầu tư là người sẽ tham gia quản lý, sử dụng công trình sau nàyhoặc người có chuyên môn phù hợp với tính chất của dự án.
- Chủ đầu tư có trách nhiệm bố trí người của đơn vị quản lý, sử dụng côngtrình vào vị trí phù hợp để được tham gia quản lý các công việc nêu trên đảm bảohiệu quả và mục tiêu của dự án
Trường hợp không xác định được đơn vị để giao làm chủ đầu tư theo quyđịnh nêu trên thì việc xác định chủ đầu tư được thực hiện như sau:
- Người quyết định đầu tư đồng thời làm chủ đầu tư
- Người quyết định đầu tư giao cho Ban quản lý dự án do mình quyết địnhthành lập làm chủ đầu tư nếu Ban quản lý dự án đó có tư cách pháp nhân và có đủđiều kiện tổ chức triển khai thực hiện dự án hoặc người quyết định đầu tư thực hiện
uỷ thác thông qua hợp đồng với một tổ chức có đủ điều kiện làm chủ đầu tư
2.2.4.2 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông
Căn cứ điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân, yêu cầu của dự án, ngườiquyết định đầu tư XDCT quyết định lựa chọn một trong các hình thức QLDA đầu tưXDCT sau đây:
Thứ nhất: Trực tiếp quản lý dự án khi CĐT XDCT có đủ điều kiện năng lực
về quản lý dự án Trường hợp CĐT trực tiếp QLDA thì CĐT có thể thành lập Banquản lý dự án (PMU)
PMU là đơn vị trực thuộc chủ đầu tư, có tư cách pháp nhân hoặc sử dụng tưcách pháp nhân của chủ đầu tư để thực hiện quản lý dự án Nhiệm vụ, quyền hạn củaPMU do chủ đầu tư giao Cơ cấu tổ chức của PMU do chủ đầu tư quyết định phù hợpvới quy mô, tính chất, yêu cầu của dự án và nhiệm vụ, quyền hạn được chủ đầu tưgiao Cơ cấu tổ chức của PMU gồm có giám đốc, các phó giám đốc, các đơn vịchuyên môn, nghiệp vụ; những người tham gia PMU có thể làm việc theo chế độchuyên trách hoặc kiêm nhiệm Giám đốc, các phó giám đốc và những người phụ
Trang 39trách về kỹ thuật, kinh tế, tài chính phải có trình độ đại học thuộc chuyên ngành phùhợp với lĩnh vực phụ trách và có kinh nghiệm làm việc chuyên môn tối thiểu 3 năm.
Hiện nay, ở Hòa Bình các chủ đầu tư chủ yếu dùng hình thức này để quản lý
dự án, hầu hết các chủ đầu tư như Sở Giao thông vận tải và Ủy ban nhân dân cáchuyện, thành phố đều có Ban quản lý dự án, nhưng chỉ có Sở Giao thông vận tải mới
có Ban QLDA giao thông chuyên ngành,
Hình thức QLDA với sự giám sát trực tiếp của PMU Thứ 2: Hình thức thuê tổ chức tư vấn QLDA khi CĐT XDCT không đủ điều
kiện năng lực
Hình thức thuê tổ chức tư vấn QLDA được thực hiện khi chủ đầu tư không đủnăng lực quản lý nên phải thuê tư vấn quản lý giám sát thi công Có những dự án chủđầu tư có thể thuê từ A đến Z (từ khi thi công đến khi công trình hoàn thành bàn giao)cũng có chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý riêng phần giám sát thi công
Khi áp dụng hình thức thuê tư vấn quản lý dự án thì nhà thầu tư vấn phải thànhlập một tổ chức để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án theo hợp đồng đã kývới chủ đầu tư Cơ cấu, thành phần của tổ chức này gồm có giám đốc tư vấn quản lý
Chủ đầu tư
TVGSchất lượng thi công(d)
TVGSthí nghiệm
Tư vấn đo khối lượng
và áp giá
Tổng thầu xâydựng Đại diện BQLDA- TVTKGS tác giả
Trang 40dự án, các phó giám đốc và các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm
vụ, quyền hạn theo hợp đồng mà nhà thầu tư vấn đã ký với chủ đầu tư Giám đốc tưvấn quản lý dự án phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định 12/2009/NĐ-CP Cácphó giám đốc và những người phụ trách chuyên môn, nghiệp vụ phải có trình độ đạihọc thuộc các chuyên ngành phù hợp và có thời gian làm việc chuyên môn tối thiểu 3năm
Nhà thầu tư vấn quản lý dự án được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn tham gia một
số phần việc quản lý dự án, nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp vớinhiệm vụ, quyền hạn trong hợp đồng đã ký với chủ đầu tư
Hiện nay, ở Hòa Bình hình thức này ít được áp dụng đối với các dự án giaothông mà thường được áp dụng chủ yếu đối với các các công trình Xây dựng dândụng do các chủ đầu tư là các cơ quan, đơn vị không chuyên ngành xây dựng, vì việcquản lý dự án là công việc đặc thù Nên để công tác quản lý dự án được thực hiệnđảm bảo tuân thủ theo các quy định hiện hành của Nhà nước thì Chủ đầu tư thường
Chủ đầu tư
Ban quản lý GS chung
TVGSThí nghiệm (d)Tư vấn
đo khối lượng và
áp giá