1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh nghiệm giảng dạy MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4, LỚP 5 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ VỀ DẤU HỎI DẤU NGÃ; PHỤ ÂM ĐẦU SX MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 3

43 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh nghiệm giảng dạy một vài biện pháp giúp học sinh lớp 4, lớp 5 viết đúng chính tả về dấu hỏi, dấu ngã; phụ âm đầu s/x một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3
Trường học Tiểu Học
Chuyên ngành Tiếng Việt
Thể loại Tài liệu chuyên môn
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 393 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh nghiệm giảng dạy MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4, LỚP 5 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ VỀ DẤU HỎI DẤU NGÃ; PHỤ ÂM LỜI NÓI ĐẦU Viết đúng chính tả Tiếng Việt có tầm quan trọng, viết đúng chính tả giúp ta hiểu rõ ý nghĩa thật của từ, nếu viết sai sẽ gây cho việc hiểu lệch ý nghĩa khi từ nằm trong văn cảnh cụ thể, ví dụ như sau: ‘xe đã đổ” và “xe đã đỗ” có nghĩa khác xa nhau, một bên có nghĩa xe đã bị nhào, một bên có nghĩa xe đã dừng lại; hay như “đã xa” và “đã sa”: xa có nghĩa là xe (hỏa xa), là hoang phí (xa hoa), là khoảng cách lớn (đường xa), là cách biệt (xa quê)… sa có nghĩa là thứ hàng tơ lụa thưa giống như áo the (áo sa),là cát (sa mạc), là rơi xuống, rớt xuống (chuột sa chĩnh gạo) vậy “đã xa” có nghĩa là đã cách biệt nhau không còn gần nhau, còn “đã sa” có nghĩa là đã rơi xuống,rớt xuống.Thế nhưng học sinh thường hay mắc lỗi về dấu hỏidấu ngã và phụ âm sx nhiều lắm. Không riêng gì HS tiểu học mà HS trung học cũng vậy, đồng thời người lớn đôi khi cũng lúng túng. Trong tác phẩm” Dạy và học chính tả Dấu hỏi hay dấu ngã” tác giả Hoàng Phê có viết: “Chính tả là một vấn đề nhiều người quan tâm. Chính tả thống nhất là biểu hiện rõ rệt của tính thống nhất của một ngôn ngữ. Viết đúng chính tả là yêu cầu đầu tiên, và cũng là yêu cầu tối thiểu, đối với một người có văn hóa” Môn Tiếng Việt có một vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập, nó là công cụ giúp ta học các môn học khác. Mục tiêu của môn Tiếng Việt trong chương trình Tiều học cũng đã ghi rất rõ đó là: Hình thành và phát triển các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh giúp các em sử dụng hiệu quả Tiếng Việt trong giao tiếp cũng như trong học tập hàng ngày. Cùng với các môn học khác phát triển năng lực tư duy cho học sinh. Nhằm bồi dưỡng thẩm mĩ cho các em, giúp các em biết cảm nhận được cái hay cái đẹp trước những buồn vui yêu ghét của con người. Trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học gồm có năm phân môn : Tập đọc, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn và Chính tả. Thì kĩ năng viết đúng chính tả có một vai trò và ý nghĩa to lớn đối với học sinh. Có những câu chuyện về “Bài học chính tả” cho thấy việc viết đúng chính tả có thể có những ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc sống của chúng ta. Ví dụ năm 20005, Ngân hàng Quốc gia Philippines phải ra thông báo chính thức xin lỗi toàn dân vì sự cố sai lối chính tả trên tờ giấy bạc 100 peso mới phát hành.Ở tờ giấy bạc mới in này, tên tổng thống Aroroyo đã bị in nhầm thành Arovoyo. Việc viết sai tên này dù rất nhỏ nhưng không chỉ ảnh hưởng đến thể diện ngoại giao mà còn làm tổn hại về kinh tế (ngân hàng Philippines phải chấp nhận in lại đợt giấy bạc mới và hủy serie xin lỗi, đồng thời phải chịu toàn bộ chi phí cho sự cố) Do đó,có thể thấy Chính tả là môn khoa học, góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp, là công cụ có vị trí quan trọng trong việc học tập hàng ngày của con người nói chung và với học sinh nói riêng. Mặt khác, trong cuộc sống hiện đại ngày nay dường như việc nói, viết chính tả đúng dường như một trở ngại lớn đối với con người.Nói, viết sai chính tả tràn lan từ học trò cho đến cử nhân, cao học thậm chí là tiến sĩ. Sai từ trong nhà ra ngoài phố từ bảng hiệu quảng cáo, pa nô tuyên truyền cho đến tên danh nhân đặt cho đường phố. Hoặc có những bài viết văn của học sinh lớp 6 giáo viên không tài nào đọc nổi bởi sai lỗi chính tả quả nhiều. Một câu hỏi đặt ra đó là: “Lỗi ở đâu mà ra ?” hay Đó chỉ là chuyện nhỏ”. Vậy chúng ta cần bắt đầu từ đâu từ lứa tuổi nào? Theo tôi để hình thành và giúp các em viết đúng chính tả phải bắt đầu từ khi các em được làm quen với các chữ cái đầu tiên đó là lứa tuổi học sinh Tiểu học. Qua nhiều năm công tác và được phân công chủ nhiệm khối lớp 3 tôi nhận thấy rằng: Lớp 3 là lớp kết thúc giai đoạn chính tả tập chép, chủ yếu là chính tả nghe viết. Thực hiện chính tả nghe viết là cùng một lúc các em phải thực hiện nhiều kĩ năng nghe phân tích tổng hợp viết . Đối với chính tả tập chép ,những chữ các em chưa nắm vững âm tiết nhưng vẫn có thể nhìn để viết đúng. Còn với chính tả nghe viết, nếu chữ nào các em đọc chưa đúng hoặc chưa nắm vững âm tiết thì rất dễ viết sai. Do đó dạy chính tả lớp 3 có một vị trí quan trọng trong trường Tiểu học. Đó là làm thế nào để học sinh nắm vững các quy tắc chính tả, các từ khó, các hiện tượng chính tả bất quy tắc. Từ đó rèn luyện để các em có khả năng ghi nhớ chúng, giúp cho việc nghe đọc viết chuẩn chính tả. Đây là điều mà nhiều giáo viên quan tâm với mong muốn thực hiện tốt chương trình, nội dung, phương pháp dạy học nhằm đạt được mục tiêu của môn học. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3” để có thể góp phần giúp các em học sinh có kiến thức về luật chính tả, hình thành kĩ năng viết đúng chính tả, làm tiền đề để các em tiếp cận với tri thức ở các lớp và cấp học cao hơn. Trân trọng được giới thiệu tài liệu:MỘT VÀI BIỆN PHÁPGIÚP HỌC SINH LỚP 4, LỚP 5 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢVỀ DẤU HỎI DẤU NGÃ; PHỤ ÂM ĐẦU SXMỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢCHO HỌC SINH LỚP 3

Trang 1

VỀ DẤU HỎI / DẤU NGÃ; PHỤ ÂM ĐẦU S/X

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 3

Tiểu học

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Viết đúng chính tả Tiếng Việt có tầm quan trọng, viết đúng chính

tả giúp ta hiểu rõ ý nghĩa thật của từ, nếu viết sai sẽ gây cho việc hiểulệch ý nghĩa khi từ nằm trong văn cảnh cụ thể, ví dụ như sau: ‘xe đãđổ” và “xe đã đỗ” có nghĩa khác xa nhau, một bên có nghĩa xe đã bịnhào, một bên có nghĩa xe đã dừng lại; hay như “đã xa” và “đã sa”: -xa

có nghĩa là xe (hỏa xa), là hoang phí (xa hoa), là khoảng cách lớn(đường xa), là cách biệt (xa quê)… -sa có nghĩa là thứ hàng tơ lụa thưagiống như áo the (áo sa),là cát (sa mạc), là rơi xuống, rớt xuống (chuột

sa chĩnh gạo) vậy “đã xa” có nghĩa là đã cách biệt nhau không còn gầnnhau, còn “đã sa” có nghĩa là đã rơi xuống,rớt xuống.Thế nhưng họcsinh thường hay mắc lỗi về dấu hỏi/dấu ngã và phụ âm s/x nhiều lắm.Không riêng gì HS tiểu học mà HS trung học cũng vậy, đồng thờingười lớn đôi khi cũng lúng túng

Trong tác phẩm” Dạy và học chính tả- Dấu hỏi hay dấu ngã” tác giảHoàng Phê có viết: “Chính tả là một vấn đề nhiều người quan tâm.Chính tả thống nhất là biểu hiện rõ rệt của tính thống nhất của mộtngôn ngữ Viết đúng chính tả là yêu cầu đầu tiên, và cũng là yêu cầutối thiểu, đối với một người có văn hóa” Môn Tiếng Việt có một vaitrò rất quan trọng trong  quá trình học tập, nó là công cụ giúp ta họccác môn học khác Mục tiêu của môn Tiếng Việt trong chương trìnhTiều học cũng đã ghi rất rõ đó là: Hình thành và phát triển các kĩ năng:nghe, nói, đọc, viết cho học sinh giúp các em  sử dụng hiệu quả TiếngViệt trong giao tiếp cũng như trong học tập hàng ngày Cùng với cácmôn học khác phát triển năng lực tư duy cho học sinh Nhằm bồidưỡng thẩm mĩ cho các em, giúp các em biết cảm nhận được cái haycái đẹp trước những buồn vui yêu ghét của con người

     Trong chương trình  Tiếng Việt ở Tiểu học gồm có năm  phânmôn : Tập đọc, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn  và Chính tả

Trang 3

Thì kĩ năng viết đúng chính tả có một vai trò và ý nghĩa to lớn đối vớihọc sinh.

     Có những câu chuyện về “Bài học chính tả” cho thấy việc viết đúngchính tả có thể có những  ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc sống củachúng ta Ví dụ năm 20005, Ngân hàng Quốc gia Philippines phải rathông báo chính thức xin lỗi toàn dân vì sự cố sai lối chính tả trên tờgiấy bạc 100 peso mới phát hành.Ở tờ giấy bạc mới in này, tên tổngthống Aroroyo đã bị in nhầm thành Arovoyo Việc viết sai tên này dùrất nhỏ nhưng  không chỉ ảnh hưởng đến thể diện ngoại giao mà cònlàm tổn hại  về kinh tế (ngân hàng Philippines phải chấp nhận in lạiđợt giấy bạc mới và hủy serie xin lỗi, đồng thời phải chịu toàn bộ chiphí cho sự cố) Do đó,có thể thấy Chính tả là môn khoa học, góp phầnnâng cao hiệu quả giao tiếp, là công cụ có vị trí quan trọng trong việchọc tập  hàng ngày của con người nói chung và với học sinh nói riêng.     Mặt khác, trong cuộc sống hiện đại ngày nay dường như việc nói,viết chính tả đúng dường như một trở ngại lớn đối với con người.Nói,viết sai chính tả tràn lan từ học trò cho đến cử nhân, cao học thậm chí

là tiến sĩ Sai từ  trong nhà ra ngoài phố từ  bảng hiệu quảng cáo, pa nôtuyên truyền cho đến tên  danh nhân đặt cho đường phố Hoặc cónhững bài viết văn của học sinh lớp 6 giáo viên không tài nào đọc nổibởi sai lỗi chính tả quả nhiều

     Một câu hỏi đặt ra đó là: “Lỗi ở đâu mà ra ?” hay "Đó chỉ là chuyệnnhỏ” Vậy chúng ta cần bắt đầu từ đâu từ lứa tuổi nào? Theo tôi đểhình thành và giúp các em viết đúng chính tả phải bắt đầu từ khi các

em được làm quen với các chữ cái đầu tiên đó là lứa tuổi học sinh Tiểuhọc

      Qua nhiều năm công tác và được phân công chủ nhiệm khối lớp 3tôi nhận thấy rằng: Lớp 3 là lớp kết thúc giai đoạn chính tả tập chép,chủ yếu là chính tả nghe viết Thực hiện chính tả nghe viết là cùng một

Trang 4

lúc các em phải thực hiện nhiều kĩ năng nghe phân tích tổng hợp viết Đối với chính tả tập chép ,những chữ các em chưa nắm vững âmtiết nhưng vẫn có thể nhìn để viết đúng Còn với chính tả nghe viết,nếu chữ nào các em đọc chưa đúng hoặc chưa nắm vững âm tiết thì rất

-dễ viết sai Do đó dạy chính tả lớp 3 có một vị trí quan trọng trongtrường Tiểu học Đó là làm thế nào để học sinh nắm vững các quy tắcchính tả, các từ khó, các hiện tượng chính tả bất quy tắc Từ đó rènluyện để các em có khả năng ghi nhớ chúng, giúp cho việc nghe - đọc -viết chuẩn chính tả Đây là điều mà nhiều giáo viên quan tâm vớimong muốn thực hiện tốt chương trình, nội dung, phương pháp dạyhọc nhằm đạt được mục tiêu của môn học Chính vì vậy  tôi đã mạnhdạn lựa chọn đề tài nghiên cứu:

     “Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3” để cóthể góp phần giúp các em học sinh có kiến thức về luật chính tả, hìnhthành kĩ năng viết đúng chính tả, làm tiền đề để các em tiếp cận với trithức ở các lớp và cấp học cao hơn Trân trọng được giới thiệu tài liệu:

MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4, LỚP 5 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ

VỀ DẤU HỎI / DẤU NGÃ; PHỤ ÂM ĐẦU S/X

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 3

Trang 5

NỘI DUNG TÀI LIỆU GỒMPhần I: MỘT VÀI BIỆN PHÁP

GIÚP HỌC SINH LỚP 4, LỚP 5 VIẾT ĐÚNG

CHÍNH TẢ VỀ DẤU HỎI / DẤU NGÃ; PHỤ ÂM ĐẦU S/X

Phần II: MỘT SỐ BIỆN PHÁP

RÈN VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ

CHO HỌC SINH LỚP 3

Trang 6

Phần I: MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4, LỚP 5 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ VỀ DẤU HỎI / DẤU NGÃ; PHỤ ÂM ĐẦU S/X

I/Đặt vấn đề

Viết đúng chính tả Tiếng Việt có tầm quan trọng,viết đúng chính tả giúp ta hiểu rõ ý nghĩa thật của từ, nếu viết sai sẽ gây cho việc hiểu lệch ý nghĩa khi từ nằm trong văn cảnh cụ thể, ví

dụ như sau: ‘xe đã đổ” và “xe đã đỗ” có nghĩa khác xa nhau, một bên có nghĩa xe đã bị nhào, một bên có nghĩa xe đã dừng lại; hay như “đã xa” và “đã sa”: -xa có nghĩa là xe(hỏa xa),là hoang phí(xa hoa),là khoảng cách lớn(đường xa),là cách biệt (xa quê)…-sa có nghĩa là thứ hàng tơ lụa thưa giống như áo the (áo sa),là cát(sa mạc),là rơi xuống,rớt xuống(chuột sa chĩnh gạo) vậy “đã xa” có nghĩa là đã cách biệt nhau không còn gần nhau, còn “đã sa” có nghĩa là đã rơi xuống,rớt xuống.Thế nhưng học sinh thường hay mắc lỗi về dấu hỏi/dấu ngã và phụ

âm s/x nhiều lắm.Không riêng gì HS tiểu học mà HS trung học cũng vậy,đồng thời người lớn đôi khi cũng lúng túng.

Trong tác phẩm”Dạy và học chính tả- Dấu hỏi hay dấu ngã” tác giả Hoàng Phê có viết: “Chính tả là một vấn đề nhiều người quan tâm.Chính tả thống nhất là biểu hiện rõ rệt của tính thống nhất của một ngôn ngữ.Viết đúng chính tả là yêu cầu đầu tiên, và cũng là yêu cầu tối thiểu, đối với một người có văn hóa” Để thực hiện được yêu cầu tối thiểu cần cho HS tiểu học(mà cụ thể là lớp 4/c tôi đang dạy),tôi không dám tham vọng mở rộng về nhiều vấn đề viết đúng chính tả khác mà chỉ

chọn hai vấn đề và xin được trình bày qua đề tài: “Một vài

Trang 7

biện pháp giúp học sinh lớp 4,lớp 5 viết đúng chính tả về dấu hỏi/dấu ngã ; phụ âm đầu s/x”.

II/Cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học chính tả về dấu hỏi

/dấu ngã; phụ âm đấu s/x

Chính tả là vấn đề được nhiều người quan tâm.Nói đúng và viết đúng chuẩn mực Tiếng Việt tức là góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.Tuy nhiên,do đặc điểm lịch sử nên nước ta có ba phương ngữ lớn: phương ngữ Miền Bắc, phương ngữ Miền Trung, phương ngữ Miền Nam, mà mỗi phương ngữ

có một số phụ âm đầu, vần, phụ âm cuối thường được phát âm chưa chuẩn, do đó dẫn đến việc viết sai chính tả Ở phạm vi đề tài này,chúng tôi không dám nói rộng ra mà chỉ khu trú ở phạm vi viết phụ âm đầu s/x và dấu hỏi/dấu ngã.Đây chỉ là những kinh nghiệm nhỏ qua việc dạy HS và lượm lặt được qua sách vở với mong muốn giúp HS lớp 4,lớp 5 dễ tiếp thu mà áp dụng vào thực tiễn để ngày càng khắc phục việc viết sai s/x và dấu hỏi/dấu ngã.

Chúng ta thấy trong các lỗi chính tả thì phổ biến nhất là sự lầm lẫn về dấu hỏi/dấu ngã Theo tác giả Phan Ngọc có đến hai phần ba dân số không phân biệt hỏi/ngã Theo ông : “ Chỉ ở đồng bằng Bắc Bộ sự phân biệt về hỏi/ngã mới thực chuẩn và ngay ở đồng bằng Bắc Bộ thì cũng chỉ những từ thuần Việt mới có sự phân biệt thực chính xác, còn gặp những từ Hán Việt, vì người viết không nghe quen nên vẫn lẫn lộn”.

Về phụ âm đầu s/x, do cách phát âm không có thói quen

“quặt lưỡi” cho nên đọc s thành x, đó là lỗi trong khi nói của người ở đồng bằng Bắc Bộ.

Trang 8

Nói như trên là xét về phạm vi rộng trong cả nước, còn về phạm vi nhỏ hẹp ở trường, lớp thì hai lỗi trên cũng khá phổ biến theo tình hình chung Theo sự theo dõi của chúng tôi ở lớp (của những năm giảng dạy đã qua), chúng tôi thấy HS mắc phải lỗi về dấu hỏi/dấu ngã và lỗi về phụ âm đầu s/x là do không phân biệt được cách phát âm và không nắm, không hiểu

rõ cách viết do không rõ căn bản và ý nghĩa.

Từ căn cứ trên,chúng tôi giúp HS khắc phục hai lỗi này như sau:

III/Nội dung nghiên cứu

Trước khi đi vào nội dung, xin được trình bày thấu rõ về hai

mục thực hành và thời gian

+Thực hành là phần GV đưa ra, bắt buộc HS luyện tập.Phần này tùy vào mỗi GV chọn nội dung cho phù hợp với phần căn bản (ở đây chỉ là gợi ý).

+Thời gian là giờ giấc mà GV giúp HS hiểu vấn đề đưa ra, giờ giấc này tùy thuộc vào hoàn cảnh học của lớp.

A.Cách khắc phục lỗi về dấu hỏi/dấu ngã

Trang 9

*Thời gian: Vào các tiết học chú ý các từ có dấu hỏi/dấu ngã

A.3/Cung cấp các mẹo luật chính tả

A.3.1 Quy luật bổng/trầm trong từ láy

- Nắm căn bản: Trong một từ láy âm có hai chữ thì bao giờ hai chữ này cũng đều hoặc cùng là bổng hoặc cùng là trầm Cụ thể: Gặp một chữ mà ta không biết nó là dấu hỏi hay dấu ngã thì hãy tạo ra một từ láy âm.Ta có:

Trang 10

Ví dụ: đọc suồng sã – học sinh ghi sã (dấu ngã) – kết luận: luật huyền/ngã.

đọc lỏng lẻo – học sinh ghi lỏng (dấu hỏi) - kết luận: luật hỏi/hỏi…v.v…

*Thời gian: Ở các phân môn của Tiếng Việt rất thường hay gặp từ láy do vậy mẹo luật hệ bổng/trầm này sử dụng thường xuyên với nhiều hình thức khác nhau.

A.3.2 Mẹo luật hỏi/ngã dùng trong các từ gốc Hán

a/Ghi nhớ chữ có âm đầu sau: m, n, nh, v, l, d, ng.

-Nắm căn bản: Cho HS nắm được câu: “ mình nên nhớ viết là

dấu ngã”

-Giải thích: Nếu gặp một chữ Hán Việt bắt đầu bằng một trong

những âm đầu là: m(mình), n(nên), nh(nhớ), v(viết), l(là),

d(dấu), ng(ngã) thì cứ mạnh dạn viết là dấu ngã (các trường

hợp khác bảy âm trên thì đều viết là dấu hỏi).

Trang 11

-Thực hành: Đọc cho HS viết hoặc cho làm bài tập với từ gốc Hán không ghi dấu để HS tự ghi.Ví dụ: mi man, nô lực, nhân nại, vu lực, phụ lao, da man, tín ngương, v.v…

-Thời gian: Gặp các từ gốc Hán trong các phân môn khác, luôn nhắc mẹo luật để HS áp dụng.

b/Ghi nhớ 4 câu thơ: Kĩ tài, bãi bỏ, tĩnh yên

Tiễn đưa, xã xã, sĩ em học trò

Hữu phải, hữu có, cưỡng gò Huyễn mê, hoãn chậm, hỗ cùng nhớ ghi

-Nắm căn bản: Cho HS thuộc 4 câu thơ trên.Giải thích cho HS

rõ: Kĩ tài - từ đứng trước (Kĩ) là từ Hán Việt, từ đứng sau (tài)

là nghĩa của từ trước.Vậy kĩ có nghĩa là tài.Ví dụ: Kĩ thuật, kĩ năng, kĩ xảo…Vậy kĩ mà có nghĩa như thế là viết dấu ngã.

Tương tự:

*Bãi có nghĩa là bỏ.Như: bãi chức, bãi khóa…

*Tĩnh - yên(lặng).Như: tĩnh mịch, tĩnh tâm,tĩnh vật.

*Tiễn - đưa(đi).Như: tiễn biệt, tống tiễn, tiễn hành.

*Xã -xã(nhiều người họp lại, là làng, là thần đất).Như: xã hội, xã thôn, xã tắc.

*Sĩ - học trò.Như: sĩ tử, sĩ số.

*Hữu - (bên) phải.Như: hữu khuynh, hữu ngạn, hữu phái.

*Hữu - có.Như: hữu lí, hữu ích, hữu tài.

*Cưỡng -gò(ép).Như: cưỡng bách, cưỡng bức, cưỡng chế.

*Huyễn - mê.Như: huyễn hoặc.

*Hoãn -chậm.Như: trì hoãn, hoãn binh.

*Hỗ -cùng(lẫn nhau).Như: tương hỗ, hỗ trợ.

Trang 12

-Thực hành: Thuộc bài thơ và nhớ áp dụng vào các chữ mang sắc thái nghĩa như vậy.(GV cung cấp từ Hán Việt cho HS).

- Thời gian: Từ Hán Việt thường gặp trong các phân môn Tiếng Việt Ngoài giờ học thì sử dụng quỹ thời gian làm trò chơi học tập.

B.Cách khắc phục lỗi về phụ âm đầu s/x

*Tiếng trống vang lên.Cảnh xôn xao im bặt Chúng

em xách cặp, sắp hàng vào lớp.

-Thời gian: Thường vào các tiết học chú ý đến các từ có s hay

x để luyện phát âm cho học sinh.

B.2/Tập phân biệt nghĩa

-Tương tự như bên dấu hỏi/ngã, đối với s/x tôi cũng áp dụng

so sánh nghĩa.

-Thực hành: Gặp trường hợp viết “sương”, cần đưa ra từ

“xương” và cho HS hiểu:

*Sương: hơi nước gồm những hạt nước nhỏ lơ lửng gần mặt đất,Ví dụ: sương sớm.

*Xương: là phần khung cứng trong thân thể người và động vật.Ví dụ: xương cá

Trang 13

*Cho HS nêu một vài ví dụ để phân biệt rõ sự khác nhau -Thời gian: Trong các tiết của môn Tiếng Việt nếu gặp trường hợp s/x trong trường nghĩa tương đối khó thì GV cần gợi ý để

HS phân biệt ngay và kết hợp phát âm.

B.3/Phân biệt s/x về mặt kết hợp trong âm tiết

-Nắm căn bản: Cho HS ghi nhớ: S không đi với các vần bắt đầu bằng OA, OĂ, OE, UÊ.(Ngoại lệ: soát lại)

B.4/Phân biệt s/x về mặt láy âm

-Nắm căn bản: Khi láy âm s đi với s, x đi với x (không có lẫn lộn s,x hoặc x,s)

-Thực hành: HS cho các từ láy về âm s, các từ láy về âm x

-s/s như: sờ soạng, sồ sề, sục sạo…

-x/x như: xao xuyến, xanh xao, xôn xao…

-Nắm căn bản: +s không láy âm với những âm đầu khác

+x có láy âm với những âm đầu khác -Thực hành: Cho HS nêu từ láy âm x với những âm đầu khác.

+x với l: liểng xiểng, lòa xòa…

+x với b: bung xung, bờm xơm…

+x với m: xoi mói, xích mích…

B.5/Mẹo về từ vựng

Cung cấp cho HS hiểu rõ về mẹo từ vựng như sau:

B.5a/Căn bản: Tên các thức ăn và một số đồ dùng liên quan

đến thức ăn thì thường đi với x.

-Thực hành: Cho HS nêu tên các thức ăn.

Ví dụ: xà lách, xúc xích, lạp xưởng…

cái xăm, cái xanh, cái xoong, cái xiên nướng thịt…

Trang 14

B.5b/Căn bản: Hầu hết các DANH TỪ (không kể tên thức ăn

và đồ dùng liên quan) đều viết với s chứ không viết với x.

-Thực hành: Cho HS nêu tên danh từ và rút ra nhận xét.

+Chỉ người: ông sư, sứ thần,…

+Tên cây: cây sen, cây sim, cây sắn,…

+Hiện tượng tự nhiên: sao, suối, sương, sông,…

+Đồ vật: hòn sỏi, song cửa, cái sọt,…

+Động vật: cá sấu, con sóc, con sò,…

Ngoại lệ (Danh từ viết với x): Nhớ cho câu này: Mùa xuân, đi xuồng gỗ xoan mang xoài đến xã, đổi xẻng ở xưởng để đem đến cho trạm xá.

B.5c/Căn bản: - Những chữ chỉ hơi đi ra viết với x (không với

s)

- Những chữ có nghĩa sụp xuống đi với s (không

đi với x)

-Thực hành: Nêu câu hỏi:

+Từ nào có nghĩa chỉ hơi đi ra ?- gợi ý HS chú ý đến bong bóng hoặc bánh xe.Ví dụ: xì, xọp, xẹp,…

+Từ nào mang nghĩa sụp xuống ?- gợi ý nghĩa để HS tìm Ví dụ: sụt, sụp, sẩy chân, sặc sụa, (kém) sút,…

B.5d/Căn bản: Những từ công cụ ngữ pháp có nhiều chữ đi với

s nhưng không có chữ đi với x.

-Thực hành: GV cung cấp.Ví dụ: sự, sẽ, sắp sao, sẵn, song le, suy ra,…

-Thời gian: Tất cả các mẹo nêu trên (B.3, B.4, B.5) ngoài thời gian cung cấp phần căn bản, có thể sử dụng trong các tiết học

Trang 15

có liên quan bằng nhiều hình thức như đố nhau, thi đua, trò chơi học tập,…

C.Cung cấp các bài tập chính tả

Hầu hết các mẹo luật trên đều phải kèm theo bài tập chính tả nhằm giúp HS ghi nhớ sâu hơn phần căn bản mà GV cung cấp ( Xem phụ lục)

IV/Kết quả nghiên cứu và kết luận

Trên đây là công việc thực tế qua những năm giảng dạy; có

khi áp dụng một vài mẹo chính tả “Chữa lỗi chính tả cho HS”,

có khi sử dụng một vài cách phân biệt trong “Từ điển so sánh”, cao điểm nhất là khi dạy chính tả cho HS mà bài viết có vấn đề sai lỗi nhiều thì tôi lại đem ra áp dụng.Dần dần quen với nếp chữa lỗi chính tả cho HS, tôi mới gom lại hai vấn đề cần làm trước tiên là hỏi/ngã và s/x cho cụ thể.

Sau những năm dạy lớp 5, đến khi lớp 4 chuyển sang thay sách đầu tiên, tôi được phân dạy lớp 4 và tôi thấy trong chương trình lớp 4 có phần chính tả rất mới, phong phú nhất là bài tập chính tả Do vậy, năm học 2007-2008 và năm học 2008-2009 tôi đã áp dụng mẹo luật này vào giảng dạy bài bản và thấy hiệu quả rõ rệt, HS không viết sai hỏi/ngã và âm đầu s/x (trừ mọt vài em quá yếu thì còn tồn tại lỗi do hạn chế về sự tiếp thu).Theo dõi kết quả,tôi thấy đạt từ 90% đến 95%.

Nói là nghiên cứu thì chắc chắn là “quá to tát” đối với tôi,

mà ở đây tôi chỉ học tập ở sách và đem ra áp dụng.Chỉ có khác

là sách thì nhiều và nội dung cũng nhiều mà HS tiểu học thì chưa thể tiếp cận được; tôi chỉ rút gọn lại và xét thấy cái cần thiết là làm sao đưa ra đúng lúc, có cách đưa để đạt hiệu quả

Trang 16

thôi.Do vậy,thời gian thực hành và hình thức thực hành là rất quan trọng và nó phải mang tính thường xuyên.

Từ trên, tôi muốn nói tính hiệu quả là phụ thuộc vào người GV.Trong đề tài này, tôi thấy nội dung “phân biệt nghĩa” là rất quan trọng và đòi hỏi người GV luôn trau dồi kiến thức của mình đồng thời phải luôn kiên nhẫn.

Tóm lại, qua phần trình bày trên, bản thân tôi nghĩ gì thì nói vậy, chắc chắn không thể tránh được những thiếu sót đáng tiếc nên rất kính mong quý đồng nghiệp bỏ quá cho và xin chân thành góp ý để cho đề tài này được tốt hơn

V/Đề nghị

Phạm vi đề tài có thể áp dụng cho những người có nhầm lẫn

về dấu hỏi/ngã và phụ âm đầu s/x chứ không nhất thiết chỉ ở

HS tiểu học Tuy nhiên, do xác định đối tượng từ đầu về thực hành và thời gian chỉ khu trú vào mức hạn chế nhất định.

Nếu có điều kiện thì có thể phát triển tiếp tục đề tài này, trên

cơ sở giải quyết vấn đề về lỗi chính tả nhiều hơn đồng thời đưa

ra bảng tổng hợp ngắn gọn có tính khái quát giúp HS hiểu nhanh hơn, dễ nhớ hơn.

Trang 17

a/Tôi chi mới nói được một nưa, còn định nói nưa thì không

a/Hưởng ứng lời kêu gọi của lanh tụ và của đang, thanh niên

dung cảm bao vệ Tô quốc.

b/Chi thị chống lang phí, đề cao ki luật đã được triệt đê thực

hiện v.v…

4.Căn cứ theo mẹo láy âm để điền hỏi/ngã

a/Thôi đừng liều linh nữa.

b/Trước sân anh thơ thân

2.Điền những chữ ở trong ngoặc đơn vào chỗ trống

a/Tôi ….lấy cưa về … gỗ.( xẻ, sẽ)

b/Đi ngoài đường không mặc áo ấm….lạnh thấu …… (xương, sương)

v.v…

3.Giải thích tại sao những chữ in nghiêng viết sai

Trang 18

a/Bài này soàng lắm.

b/Con cá xấu hình thù sấu sí.

v.v…

4.Điền những từ láy âm s hoặc x

a/Phố nào nhà cửa cũng ………

b/Cô ấy ốm nên người ……….

v.v…

5.Điền x hoặc s vào những câu sau đây:

a/Đi khéo …ẩy chân, …a…uống hố đấy.

b/Dao có mài mới …ắc.

v.v…

VIII/Mục lục

2 Cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học chính tả về dấu hỏi/dấungã và phụ âm đầu s/x 1

-Cách khắc phục về lỗi dấu hỏi/dấu ngã 2 đến 4 -Cách khắc phục về lỗi phụ âm đầu s/x 4 đến 6

Trang 19

7 Tài liệu tham khảo 8

Trang 20

Phần II: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN VIẾT ĐÚNG CHÍNH

TẢ CHO HỌC SINH LỚP 3

 1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài:

     Để biết được viết chính tả có tầm quan trong như thế nào thì trướchết chúng ta cần nắm được khái niệm về chính tả Chính tả là nhữngquy ước của xã hội trong ngôn ngữ, mục đích của nó là truyền đạtthông tin bằng chữ viết, đảm bảo cho người viết và người đọc  hiểuthống nhât nội dung của văn bản.Có thể nói chính tả là sự quy định cótính chất xã hội, nó không cho phép vận dụng quy tắc một cách linhhoạt mang tính sáng tạo cá nhân

      2 Vai trò của việc viết đúng chính tả:

     Phân môn Chính tả dạy cho học sinh tri thức và kĩ năng chính tả,phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức viết hoặc hoạt độnggiao tiếp Nếu với phân môn Tập viết dạy học sinh biết viết chữ thìchính tả dạy cách tổ hợp, kết hợp các chữ đúng quy ước của xã hội đểlàm chất liệu hiện  thực hóa ngôn ngữ

      Không biết chữ hoặc không viết chữ đúng chuẩn, con người tự hạnchế hoạt động giao tiếp, làm ảnh hưởng đến năng lực tư duy Vì thếdạy chính tả cho học sinh chính là hình thành năng lực tư duy cho các

em nói cách khác: Chính tả là công cụ, có vị trí quan trọng trong họctập các môn học khác của học sinh Đồng thời Chính tả cũng là mônhọc đặt nền móng cho sự phát triển ngôn ngữ, văn hóa nói chung

Trang 21

- Mục tiêu cần đạt của học sinh lớp 3 khi viết Chính tả đó là:

 + Viết chữ đúng mẫu, đúng chính tả, không mắc quá 5 lỗi / bài trêndưới 60 chữ

 + Tấc độ viết từ 4 đến 5 chữ / phút

     II Thực trạng :

     1 Đặc điểm chung của học sinh lớp 3 khi viết chính tả

      - Lứa tuổi học sinh lớp 3, các em đã chuyển dần từ tập chép ở lớp 2sang nghe - viết hoặc nhớ - viết với những yêu cầu về số lượng chữ,tấc độ cao hơn các lớp trước Do đó đầu học kì I học sinh gặp rất nhiềulúng túng khi viết chính tả và viết sai tương đối nhiều Có một số emcòn viết chưa thành chữ Một số em bước đầu nắm được quy tắc viếtnhưng lại thiếu tính cẩn thận ( quên ghi dấu thanh và dấu phụ ở một sốchữ) Một số em khác tuy viết đúng âm tiết, nhưng chưa đẹp, chưađúng cỡ chữ, chưa đúng li hoặc sai về khoảng cách ( thường là mauquá )

      Trong thực tế, ở một số bài chính tả khác có em còn mắc tới trên

10 lỗi chính tả Ví dụ như bài : “ Chiều trên sông Hương”.( Tiếng Việt

3, tập 1 trang 96 ) có bài viết của em Quách Thu Ngân  mắc 13 lỗi, em  Xuân Đạt  mắc 11 lỗi, em Tiến Dũng  mắc 12 lỗi, Điều này cho thấy,

kĩ năng viết chính tả của các em còn nhiều hạn chế, làm ảnh hưởng tớikết quả học tập ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác

     2 Những bất cập  của việc  viết đúng chính tả ở học sinh lớp 3:

      - Qua tìm hiểu thực tế, tôi thấy các loại lỗi chính tả mà học sinhlớp 3 mắc phải

      a Lỗi về âm đầu :

       Học sinh thường viết lẫn lộn một số âm đầu sau :

      - l /n : nên/lên, nồi/lồi, nảy/lảy, nửa/lửa, lắm /nắm, lền/ nền,  

      - ch/tr : chân/trân , trả/chả , tre/che , chắc/trắc , truyền/chuyền,

Ngày đăng: 09/04/2023, 18:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w