1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh brvt lớp 10

85 342 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Giáo Dục Địa Phương Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Lớp 10
Tác giả Trần Thị Ngọc Châu, Trần Thị Kim Nhung, Lưu Thanh Tú, Nguyễn Thị Hiển, Nguyễn Hữu Bách, Trần Văn Chung, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Nguyễn Hữu Hào, Hoàng Minh Phúc, Bùi Thị Xuyến
Trường học Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Chuyên ngành Giáo Dục Địa Phương
Thể loại Tài liệu
Thành phố Bà Rịa – Vũng Tàu
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 4,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiêu biểu trong số đó là các dự án như nâng cấp khoảng 91,8 km đê kè biển; chống xói lở bờ biển đoạn từ thành phố Vũng Tàu đến huyện Xuyên Mộc; xây dựng các khu tránh trú bão cho tàu th

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG TỈNH

TRẦN THỊ NGỌC CHÂU – TRẦN THỊ KIM NHUNG (đồng Tổng Chủ biên)

LƯU THANH TÚ – NGUYỄN THỊ HIỂN (đồng Chủ biên)NGUYỄN HỮU BÁCH – TRẦN VĂN CHUNG – NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG NGUYỄN HỮU HÀO – HOÀNG MINH PHÚC – BÙI THỊ XUYẾN

Trang 2

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU

MỤC TIÊU

Giúp các em hình thành được những phẩm chất, năng lực cần đạt sau mỗi chuyên đề

GIỚI THIỆU BÀI HỌC Tạo hứng thú, xác định nhiệm vụ học tập

KHỞI ĐỘNG

Giúp học sinh huy động những kiến thức, kĩ năng, hiểu biết của bản thân về các vấn đề có nội dung liên quan đến chuyên đề học tập

KHÁM PHÁ

Giúp học sinh lĩnh hội được các kiến thức, kĩ năng mới bằng cách tổ chức các hoạt động tương thích với từng nội dung học tập

LUYỆN TẬP Giúp học sinh củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Các em học sinh thân mến!

Nhằm đáp ứng yêu cầu nội dung giáo dục địa phương của Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức biên soạn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu – lớp 10 Tài liệu gồm các chủ đề về:

Địa lí, Văn hoá, Văn học, Âm nhạc, Mĩ thuật và Kinh tế Mỗi chủ đề được thiết kế qua các

hoạt động: Khởi động, Khám phá, Luyện tập Vận dụng nhằm tạo điều kiện giúp học sinh phát huy tính tích cực học tập, khả năng sáng tạo, đồng thời hỗ trợ các em phát triển năng lực tự học cũng như định hướng nghề nghiệp trong tương lai

Với tính chất đồng hành, hỗ trợ, chúng tôi hi vọng Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu – lớp 10 sẽ đồng thời giúp các em phát triển các phẩm chất và năng lực của bản thân, vừa cụ thể hoá tình yêu quê hương bằng những suy nghĩ, hành động

và việc làm cụ thể; góp phần xây dựng quê hương Bà Rịa – Vũng Tàu phát triển bền vững, hài hoà giữa truyền thống và hiện đại; hội nhập sâu rộng với các khu vực, vùng miền trên

cả nước

Chúc các em có những trải nghiệm bổ ích cùng Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu – lớp 10

Trang 4

NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH TRONG MỘT SỐ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

CỦA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU .54

CHỦ ĐỀ 6

CÁC NGÀNH KINH TẾ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 63Giải thích thuật ngữ, khái niệm 84

Trang 5

– Trình bày được một số đặc điểm của khí hậu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

– Trình bày được những biểu hiện của biến đổi khí hậu ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

– Nêu được tác động của biến đổi khí hậu đối với sự phát triển kinh tế – xã hội ở tỉnh

I BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Dựa vào thông tin trong bài, em hãy trình bày những biểu hiện của biến đổi khí hậu

ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

?

1 Nhiệt độ trung bình năm

Nhiệt độ trung bình năm tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cao (khoảng 27oC) và ngày càng có

xu hướng tăng Các số liệu về nhiệt độ tại trạm quan trắc cho thấy: từ năm 1993 đến năm

2020, nhiệt độ trung bình năm đã tăng thêm 1,06OC, bình quân mức 0,039OC/năm

CHỦ ĐỀ

1 Ở TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Trang 6

Bảng 1.1 Nhiệt độ trung bình năm tại trạm quan trắc, giai đoạn 1993 – 2020

(Đơn vị: O C)

Năm 1993 1994 1999 2002 2007 2010 2015 2019 2020 Nhiệt độ 27,0 27,2 27,41 27,56 27,76 28,14 28,08 28,17 28,06

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

2 Lượng mưa

Lượng mưa trung bình năm của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng 1 500 mm và có sự thay đổi đáng kể trong thời gian qua Tổng lượng mưa trung bình năm tăng, giảm thất thường Những năm gần đây, tổng lượng mưa có xu hướng giảm, đạt mức thấp hơn so với bình quân nhiều năm

Bảng 1.2 Lượng mưa trung bình năm tại trạm quan trắc, giai đoạn 1993 – 2020

(Đơn vị: mm)

Năm 1993 1994 1999 2002 2007 2010 2015 2019 2020 Lượng mưa 1 603 1 527 1 922 1 582 1 520 1 422 1 328 1 066 1 426

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

3 Mực nước biển

Là tỉnh nằm ven biển với đường bờ biển kéo dài nên tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ chịu tác động mạnh của hiện tượng nước biển dâng Các địa phương có địa hình thấp trũng như thành phố Vũng Tàu, thị xã Phú Mỹ và huyện Long Điền được đánh giá là những nơi sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng này Tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình năm tại trạm Vũng Tàu được ghi nhận ở mức khoảng 0,3 cm/năm và có thể dâng lên tối đa khoảng 0,4 cm/năm

4 Các hiện tượng thời tiết cực đoan

Tình hình thời tiết ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong thời gian qua đã có những biến đổi thất thường Theo thống kê, trước đây trung bình gần 100 năm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mới

có một cơn bão lớn Tuy nhiên, gần đây xuất hiện hai cơn bão lớn kế tiếp (tháng 11 – 1997

và tháng 12 – 2006), gây thiệt hại nặng về người và tài sản

Hiện tượng gió bão, xâm nhập mặn,… kết hợp với triều cường, sóng lớn làm xói lở vùng ven bờ, bồi lấp luồng lạch các cửa sông, cửa biển Đặc biệt, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc mạnh kết hợp triều cường dâng cao, đã gây tình trạng sạt lở ở 17 khu vực

Trang 7

dọc bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trong đó, đối với phần đất liền có 10 khu vực bị sạt lở nghiêm trọng với tổng chiều dài khoảng 50 km, chủ yếu trên đoạn bờ biển từ Bình Châu (huyện Xuyên Mộc) đến mũi Nghinh Phong (thành phố Vũng Tàu).

Em có biết?

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có đường bờ biển dài 305 km, là một lợi thế lớn để phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Tuy nhiên, tình trạng xói lở, xâm thực đất liền trên địa bàn tỉnh đang xảy ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng Những nơi bị xâm thực, xói lở nghiêm trọng nhất là khu vực Trại Nhái (thành phố Vũng Tàu), Lộc An (huyện Đất Đỏ), Cửa Lấp (huyện Long Điền), Hồ Cốc – Hồ Tràm (huyện Xuyên Mộc),… Trong đó, khu vực Trại Nhái gần đây có tốc độ xâm thực đến hàng chục mét mỗi năm, làm cho gần như toàn bộ dãy đồi cát ở khu vực này bị nước biển cuốn trôi Bên cạnh đó, hiện tượng bồi lấp các cửa biển xảy ra với cường độ cao, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của tàu thuyền ở đây, đặc biệt khu vực Cửa Lấp (huyện Long Điền).

II TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH

Hình 1.1 Đường Lê Hồng Phong, thành phố Vũng Tàu ngập sâu kéo dài khiến nhiều phương tiện đi lại

Trang 8

1 Đối với sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành kinh tế chịu tác động trực tiếp của hiện tượng biến đổi khí hậu Sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị ảnh hưởng nặng nề khi nhiệt

độ tăng, thời tiết biến đổi thất thường trong thời gian qua Năm 2020, mùa khô tại tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu kéo dài nên mực nước tại nhiều hồ trên địa bàn tỉnh đang ở mức nước

“chết” hoặc dưới mực nước “chết”, khiến nhiều diện tích cây trồng bị ảnh hưởng vì thiếu nước tưới

Hình 1.2 Hồ Sông Hoả, huyện Xuyên Mộc

Các địa phương có thế mạnh trong nông nghiệp như huyện Châu Đức, Xuyên Mộc, Long Điền, Đất Đỏ và thị xã Phú Mỹ chịu tác động nặng nhất bởi biến đổi khí hậu

2 Đối với ngành du lịch

Với lợi thế vị trí địa lí thuận lợi, đường bờ biển dài, nhiều bãi biển đẹp, nắng ấm quanh năm nên tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có thế mạnh trong phát triển du lịch, nhất là du lịch biển Tuy nhiên, biến đổi khí hậu đã và đang tác động nhiều đến ngành này Điều này sẽ ảnh hưởng đến lượng khách du lịch và doanh thu từ du lịch biển trên địa bàn tỉnh

Hiện tượng nước biển dâng và sạt lở bờ biển đã tác động đến các khu du lịch ven biển thành phố Vũng Tàu, huyện Xuyên Mộc, huyện Long Điền, gây tổn thất lớn về kinh tế do

bị hư hại, phải đầu tư tu bổ hoặc phải di dời Sự hấp dẫn của du lịch biển cũng bị tác động mạnh khi các hệ sinh thái ven biển bị tàn phá và biến đổi, nhất là các rạn san hô

3 Đối với các ngành sản xuất khác và đời sống

Tình trạng gia tăng nhiệt độ, hạn hán không những gây thiếu nước cho sản xuất

mà còn ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt cho người dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Trang 9

Hiện tượng bồi lấp luồng lạch các cửa sông, sạt lở ven biển ảnh hưởng lớn đến hoạt động nuôi trồng thuỷ, hải sản và nghề đánh bắt ven bờ; các công trình xây dựng, cảng, đường giao thông và cư dân sinh sống ven bờ cũng chịu ảnh hưởng lớn Các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhất là mưa và bão thất thường có thể gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản đối với người dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trên địa bàn tỉnh hiện có 5 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá gồm: Cửa Lấp (huyện Long Điền), khu vực Sông Dinh (thành phố Vũng Tàu), cảng cá Lộc An (huyện Đất Đỏ), Bến Lội – Bình Châu (huyện Xuyên Mộc) và huyện Côn Đảo.

Hình 1.4 Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá tại xã Lộc An, huyện Đất Đỏ

(Nguồn: Nguyễn Thành Thơ)

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến tất cả các ngành sản xuất và đời sống của người dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Chính vì vậy, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có các giải pháp lâu dài, đồng bộ để ứng phó nhằm hạn chế đến mức thấp những tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu

Em có biết?

Rạng sáng ngày 5 – 12 – 2006, bão số 9 có tên quốc tế là Đu-ri-an (Durian) đã đổ

bộ vào tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và các tỉnh phía nam Đây là một trong hai cơn bão lớn nhất trong vòng 100 năm qua vào khu vực này Theo báo cáo nhanh của Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương, tính đến 20 giờ ngày 5 – 12, bão số 9 đã làm cho tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu có 28 người chết, 16 người mất tích, 173 người bị thương, 21 447 căn nhà bị sập, tốc mái Bà Rịa – Vũng Tàu là tỉnh chịu thiệt hại nặng nề nhất trong cơn bão này.

III CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Dựa vào thông tin trong bài, em hãy trình bày các giải pháp ứng phó với biến đổi khí

?

Trang 10

Hình 1.5 Một góc rừng phòng hộ ven biển Hồ Tràm, huyện Xuyên Mộc

(Nguồn: Nguyễn Thành Thơ)

1 Giải pháp giảm nhẹ

Thúc đẩy nghiên cứu, phát triển công nghệ xử lí nước thải, khí thải, chất thải rắn; ưu tiên thu hút các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng, sử dụng có hiệu quả tài nguyên; tăng cường tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại

Bảo vệ đa dạng sinh học và các hệ sinh thái; chú trọng phát triển hệ thống rừng phòng

hộ ven biển, bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái rừng tự nhiên

2 Giải pháp thích ứng

Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức, trách nhiệm về phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lí tài nguyên, bảo vệ môi trường

Củng cố, sắp xếp, kiện toàn bộ máy quản lí nhà nước; đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị nhằm nâng cao năng lực quản lí về ứng phó với biến đổi khí hậu và quản lí tài nguyên, bảo vệ môi trường

Thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, mùa vụ, kĩ thuật sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu

Đầu tư xây dựng các hồ điều hoà, kênh thoát nước; các công trình, dự án phòng chống xói lở, chống xâm thực bờ biển; các công trình ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trên địa bàn tỉnh

Tăng cường huy động nguồn lực tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu và quản lí tài nguyên, bảo vệ môi trường của tỉnh

Trang 11

Em có biết?

Thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 3 – 6 – 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII, khoá XI về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lí tài nguyên và bảo vệ môi trường”, Tỉnh uỷ Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành Kế hoạch hành động số 49-KH/TU ngày 27 – 10 – 2016 về “Thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ VII, khoá XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lí tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2020” và Quyết định số 3070/QĐ-UBND ngày 5 – 10 – 2021 ban hành “Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2021 –

2030, tầm nhìn đến 2050”.

Kế hoạch hành động số 49-KH/TU tập trung chỉ đạo các ngành, địa phương và các đơn vị liên quan triển khai thực hiện 35 nhiệm vụ, giải pháp về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lí tài nguyên và môi trường đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Trong giai đoạn

2013 – 2020, ưu tiên thực hiện nhiều dự án về ứng phó với biến đổi khí hậu; phòng, chống, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng Tiêu biểu trong số đó là các dự án như nâng cấp khoảng 91,8 km đê kè biển; chống xói

lở bờ biển đoạn từ thành phố Vũng Tàu đến huyện Xuyên Mộc; xây dựng các khu tránh trú bão cho tàu thuyền; dự án lập bản đồ xác định nguy cơ sạt lở bờ sông, bờ biển, nguy

cơ ngập do nước biển dâng vùng ven sông, ven biển trên địa bàn tỉnh; dự án chống xói

lở bờ biển, bồi tụ và xâm nhập mặn của các huyện ven biển; các dự án nghiên cứu, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với vùng ven sông, ven biển,… Theo Quyết định số 3070/QĐ-UBND ngày 5 – 10 – 2021, đến năm 2050, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về hành động ứng phó biến đổi khí hậu một cách chủ động, hiệu quả; phát triển chủ yếu dựa vào kinh tế các-bon thấp, thân thiện với môi trường; hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng, các thành phần kinh tế, hệ sinh thái có khả năng chống chịu linh hoạt, thích nghi cao trước tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và ngập lụt đô thị.

Trang 12

CHỦ ĐỀ

2

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ

I KHÁI QUÁT VỀ DI SẢN VĂN HOÁ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

1 Khái quát về di sản văn hoá tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Đọc thông tin mục 1, em hãy khái quát về di sản

văn hoá của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

?

Di sản văn hoá tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là những giá trị

kết tinh từ sự sáng tạo văn hoá, hình thành trong

quá trình khai phá, xây dựng, bảo vệ vùng đất này của

các thế hệ cha ông, được trao truyền, kế thừa sáng tạo từ

nhiều thế hệ cho đến ngày nay và trở thành dấu ấn lịch

sử – văn hoá địa phương Hình 2.1 Cổ vật thời nhà Thanh vớt

được tại vùng biển huyện Côn Đảo

Trang 13

Từ hàng ngàn năm trước, vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu là nơi giao lưu, hội tụ các dòng văn hoá từ nhiều vùng miền khác nhau Di sản văn hoá tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là sự kết hợp, tiếp biến (tiếp thu, biến đổi) đa dạng văn hoá của các dân tộc Chơ Ro, Hoa, Khmer, Kinh (Việt), Mạ,

Hình 2.2 Di tích Thích Ca Phật đài (thành phố Vũng Tàu)

(Nguồn: Bảo tàng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Hình 2.3 Khu di tích Nhà Lớn Long Sơn

(thành phố Vũng Tàu)

(Nguồn: Hoàng Chương)

Di sản văn hoá tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phong phú, đa dạng về loại hình, thể hiện bản sắc văn hoá của cộng đồng cư dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vừa có các di sản văn hoá vật thể, vừa có di sản văn hoá phi vật thể tiêu biểu như: Khu di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia đặc biệt Nhà tù Côn Đảo (huyện Côn Đảo); Di tích lịch sử – văn hoá Bạch Dinh (thành phố Vũng Tàu); Bảo vật quốc gia như Mặt nạ vàng Giồng Lớn (thành phố Vũng Tàu); các lễ hội cầu an, cầu mùa, cầu ngư,

lễ hội của các dân tộc ít người; văn học truyền miệng với Sự tích núi Ông Trịnh và núi

Thị Vải, Sự tích Sông Ray, các truyền thuyết của người Chơ Ro, Bên cạnh đó, di sản văn

hoá tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu còn là sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với các công trình kiến trúc có giá trị tạo thành các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: di tích danh thắng Thích ca Phật Đài (thành phố Vũng Tàu), di tích thắng cảnh Dinh Cô (huyện Long Điền),…

Ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, di sản văn hoá nói chung, đặc biệt di sản văn hoá phi vật thể nói riêng có sức sống mạnh mẽ, được bảo tồn và phát huy trong đời sống văn hoá của cộng đồng Một số lễ hội ở địa phương tổ chức đã thu hút đông đảo nhân dân trong vùng đến cúng tế, chiêm bái và trở thành lễ hội của cả vùng Nam Bộ như lễ hội Nghinh Ông tại đình thần Thắng Tam (thành phố Vũng Tàu), lễ hội Nghinh Cô ở thị trấn Long Hải (huyện

Trang 14

thể hiện tính nhân văn sâu sắc, cầu cho “quốc thái, dân an”, mưa thuận, gió hoà, mùa màng bội thu, trời yên, biển lặng, thuyền về đầy ắp cá, tôm Bên cạnh đó, văn hoá biển của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu còn thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế (đánh bắt, chế biến thuỷ sản), ẩm thực (các món ăn chế biến từ hải sản),

2 Giá trị các di sản văn hoá tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Đọc thông tin mục 2, em hãy trình bày giá trị di sản văn hoá của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

?

a Về giá trị giáo dục

Với số lượng lớn các di tích lịch sử, lễ hội truyền thống,… tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có lợi thế trong tiến hành những hình thức giáo dục giá trị của các di sản như: Tổ chức hoạt động ngoại khóa, dạy học tại nơi có di sản văn hoá, tổ chức tham quan các di tích lịch sử,… Qua

đó, góp phần giáo dục thế hệ trẻ ý thức gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hoá, tình yêu quê hương, xóm làng, sống có trách nhiệm với cộng đồng nơi mình sinh sống,

b Về giá trị du lịch

Đối với ngành du lịch, “di sản văn hoá và thiên nhiên là nguồn tài nguyên du lịch đặc biệt… của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”(1) Nhiều di sản văn hoá ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã trở thành địa điểm thu hút nhiều du khách địa phương và trong nước, góp phần làm đa dạng hoá các loại hình du lịch Từ đó, tạo thêm nguồn thu cho địa phương, tăng nguồn vốn để đầu tư tôn tạo trở lại các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh

c Về giá trị văn hoá

Đối với ngành văn hoá, di sản văn hoá góp phần xây dựng và phát triển văn hoá, con người Bà Rịa – Vũng Tàu vì sự phát triển vững bền của địa phương,…

II MỘT SỐ DI SẢN VĂN HOÁ TIÊU BIỂU Ở TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Đọc thông tin dưới đây và dựa vào hiểu biết của bản thân, em hãy kể tên một số di sản văn hoá tiêu biểu của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

?

1 Di sản văn hoá phi vật thể

Một số lễ hội đình làng, lễ hội Nghinh Cô, lễ hội Nghinh Ông, lễ hội của dân tộc Chơ Ro

là những di sản văn hoá phi vật thể tiêu biểu của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

(1) Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Văn hoá – Du lịch Vai trò của các di tích tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu,

Trang 15

Lễ hội đình làng

Ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xưa, mỗi làng

đều có một ngôi đình Đình làng là nơi thờ

thần, thờ những người có công khai hoang,

lập ấp, xây dựng và bảo vệ xóm làng, là nơi

tổ chức sinh hoạt văn hoá của cộng đồng

Các lễ cúng chính của làng đều tổ chức

tại đình Lễ cầu an với ý nghĩa cầu cho “quốc

thái, dân an” là lễ cúng lớn nhất trong năm

Lễ cầu an thường tổ chức vào tháng Giêng

âm lịch, lấy nghĩa mùa xuân để cầu phúc;

hoặc vào tháng 8, tháng 9 âm lịch, lấy mùa

thu để báo ơn thần

Ngoài lễ cầu an, đối với các làng chuyên làm nông nghiệp, mỗi năm còn tổ chức hai lễ khác là lễ Hạ điền và lễ Thượng điền Lễ Hạ điền tổ chức vào đầu mùa mưa, mang ý nghĩa người nông dân xuống đồng để cày cấy Lễ Thượng điền cử hành vào cuối mùa mưa, khi mùa màng đã thu hoạch xong

Đối với các làng chuyên nghề biển, hằng năm tổ chức lễ hội Nghinh Ông, lễ hội Nghinh Cô, lễ cầu an, lễ cầu ngư,…

Lễ hội Nghinh Cô

Lễ hội diễn ra ở Dinh Cô (thị trấn Long Hải,

huyện Long Điền) Đây là lễ hội nước lớn nhất

của cư dân ven biển Nam Bộ, diễn ra vào các

ngày 10, 11, 12 tháng 2 âm lịch hằng năm

Theo truyền thuyết, Cô tên là Lê Thị Hồng

Thuỷ, quê ở Bình Thuận, theo cha vào buôn

bán ở Bà Rịa, Gò Công Một hôm, thuyền

đi qua mũi Thuỳ Vân (Long Hải), Cô bị dây

buồm gạt rơi xuống biển Ba ngày sau, xác

Cô trôi dạt vào bãi biển và được ngư dân địa

phương chôn cất trên đồi Cô Sơn Lúc ấy, Cô vừa tròn 16 tuổi Từ đó, Cô trở nên linh thiêng, phù trợ cho người đi biển gặp điều lành, tránh điều dữ Dân làng lập miếu thờ Cô bên bãi biển, lấy ngày cô mất (12 tháng 2 âm lịch) để cúng bái hằng năm

Bên cạnh nghi thức tế lễ, lễ hội Nghinh Cô còn tổ chức đua thuyền thúng, bơi lội,…và

Hình 2.4 Đình thần Thắng Tam (phường Thắng Tam, thành phố Vũng Tàu)

(Nguồn: Bảo tàng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Hình 2.5 Lễ hội Nghinh Cô (huyện Long Điền)

(Nguồn: Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Trang 16

Lễ hội Nghinh Cô là dịp để ngư dân tạ ơn trời đất, thánh thần, cầu mong trời yên, biển lặng, được mùa cá tôm, thể hiện bản sắc văn hoá của cư dân miền biển

Lễ hội Nghinh Ông

Theo quan niệm dân gian, cá Ông (cá voi)

thường cứu giúp ngư dân mỗi khi họ gặp

nạn trên biển nên được tôn thờ là vị thần hộ

mệnh Hằng năm, ngư dân ven biển thường

tổ chức lễ Nghinh Ông linh đình để tỏ lòng

biết ơn, sùng kính và cầu mong được gia hộ

khi đi biển

Lễ hội Nghinh Ông được ngư dân tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức hằng năm tại đền

thờ cá Ông (đền thờ Ông Nam Hải) Ngày tổ

chức cúng lễ (ngày vía) là ngày ngư dân phát hiện cá Ông luỵ (mất) trôi dạt vào bờ hoặc ngày cá Ông được vua sắc phong Ngư dân tôn thờ cá Ông là vị thần hộ mệnh trên biển

Ở thị trấn Phước Hải (huyện Đất Đỏ), lễ hội Nghinh Ông diễn ra vào ngày 16, 17, 18 tháng 2 âm lịch; ở xã Phước Tỉnh (huyện Long Điền) vào ngày 16, 17 tháng 8 âm lịch; ở đình Thắng Tam (thành phố Vũng Tàu) vào ngày 16, 17, 18 tháng 8 âm lịch,…

Lễ hội cúng thần Lúa và thần Rừng của dân tộc Chơ Ro

Lễ hội cúng thần Lúa (lễ hội Ốp Yang Va)

Đây là lễ hội được tổ chức hằng năm,

gắn liền với tục thờ thần Lúa của người Chơ

Ro Lễ hội thường tổ chức sau vụ gặt, vào

khoảng tháng 11, tháng Chạp âm lịch, lúc

này, “lúa đã bò lên nhà ngủ”, người Chơ Ro

tổ chức lễ hội cúng thần Lúa

Tại các rẫy lúa, khi thu hoạch, người Chơ

Ro để lại một đám lúa tốt, trĩu hạt Các bông

lúa được bó lại bằng tranh, rơm, lá chuối và

rào lại để bảo vệ Trước sân nhà, người Chơ

Ro dựng một cây nêu để đốt lửa và sinh

hoạt cộng đồng vào ban đêm Theo quan niệm của người Chơ Ro thì “hồn Lúa” trú ngụ tại đám lúa tốt nhất và chờ dân làng rước về khi cúng lễ

Theo tục xưa, lễ cúng thần Lúa được tổ chức tại rẫy lúa Ngày chính của lễ hội, phụ nữ trong làng mang lễ vật lên rẫy cúng, sau đó, rước “hồn Lúa” về từng nhà để hành lễ Lễ vật dâng cúng gồm cau trầu, rượu cần, gà, vịt, heo, dê, hoa quả, bánh dày, cơm lam, củ mài,… Nghi thức cúng lễ gồm: rước thần Lúa từ rẫy về nhà, đón tiếp, trao đổi, chúc sức khỏe thần Lúa Lễ hội cúng thần Lúa được tổ chức vào ban đêm và luân phiên trong từng gia đình

Hình 2.6 Lễ hội Nghinh Ông (đình thần Thắng Tam, thành phố Vũng Tàu)

(Nguồn: Hoàng Chương)

Hình 2.7 Lễ cúng thần Lúa của người Chơ Ro (xã Bàu Chinh, huyện Châu Đức)

(Nguồn: Báo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Trang 17

để mọi người trong làng cùng dự Sau lễ, chủ nhà và dân làng cùng nhau ăn, uống rượu cần, trò chuyện, ca hát, nhảy múa theo nhịp cồng chiêng cho đến trưa ngày hôm sau mới kết thúc

Lễ hội cúng thần Lúa của người Chơ Ro để mừng thành quả lao động, tạ ơn trời đất ban tặng một vụ mùa bội thu, cầu mong vụ mùa sau “mưa thuận, gió hoà”, lúa nảy hạt,

to bông

Lễ hội cúng thần Rừng (lễ hội Ốp Yang Vri)

Lễ hội gắn liền với tục cúng thần Rừng

của người Chơ Ro, ba năm tổ chức một lần

vào khoảng tháng 2, tháng 3 âm lịch,…

Lễ hội diễn ra dưới một gốc cây cổ thụ

do già làng chọn để cúng lễ Lễ vật dâng

cúng do dân trong làng tự nguyện đóng

góp như gạo, gà, lợn, dê,… Ngoài ra, nhiều

gia đình còn đưa đến mâm cúng riêng

Cúng lễ xong, những mâm cúng này được

chia làm đôi, một nửa góp chung vào cuộc

vui của cộng đồng, nửa còn lại đưa về nhà

để hưởng “cái lộc của thần”

Cúng thần Rừng là một nét sinh hoạt văn hoá dân gian gắn với tín ngưỡng thờ đa thần của người Chơ Ro, cho nên bên cạnh lễ cúng thần Rừng, người Chơ Ro còn cúng thần Sông, thần Núi, thần Lúa,

Lễ hội không chỉ có giá trị về văn hoá, mà còn đề cao trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ thiên nhiên Lễ hội cúng thần Rừng với ý nghĩa cầu mong thần linh phù hộ cho dân làng khoẻ mạnh, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, đủ đầy

2 Di sản văn hoá vật thể

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có nhiều di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật tiểu biểu như: Nhà Tròn (thành phố Bà Rịa), Nghĩa trang Hàng Dương (huyện Côn Đảo), Nhà lưu niệm Võ Thị Sáu (huyện Đất Đỏ), Mặt nạ vàng Giồng Lớn (thành phố Vũng Tàu),

a Một số di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh

Khu di tích lịch sử cách mạng Nhà tù Côn Đảo (huyện Côn Đảo)

Năm 1862, thực dân Pháp thành lập nhà tù Côn Đảo Trong suốt 113 năm (1862 – 1975) tồn tại, nhà tù Côn Đảo là “địa ngục trần gian”, nơi giam cầm những người Việt Nam yêu nước, các chiến sĩ cộng sản đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc

Khu di tích Nhà tù Côn Đảo là bằng chứng sống động về cuộc đấu tranh kiên cường,

là “trường học cách mạng” của những người Việt Nam yêu nước bị giam cầm trong lao tù

Hình 2.8 Lễ cúng thần Rừng của người Chơ Ro

(Nguồn: Đào Quốc Trung)

Trang 18

Nhà tù Côn Đảo là khu di tích lịch sử đặc biệt cấp quốc gia, có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ

Năm 1979, Bộ Văn hoá – Thông tin ra quyết định đặc cách công nhận Khu di tích lịch sử cách mạng Nhà tù Côn Đảo là Di tích lịch sử đặc biệt cấp Quốc gia

Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận Khu di tích lịch sử cách mạng Nhà tù Côn Đảo là Di tích Quốc gia đặc biệt

Khu di tích Nhà tù Côn Đảo có hàng trăm di tích, địa điểm ghi dấu những sự kiện lịch

sử quan trọng, trong đó có 4 di tích tiêu biểu là: Cầu tàu 914, Chuồng cọp Pháp, Chuồng cọp Mỹ và Nghĩa trang Hàng Dương

Hình 2.9 Di tích Cầu tàu Côn Đảo

(Nguồn: Di tích danh thắng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Hình 2.10 Di tích Chuồng cọp Pháp

(Nguồn: Bảo tàng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Hình 2.11 Di tích Chuồng cọp Mỹ

(Nguồn: Trung tâm Bảo tồn Di tích Quốc gia Côn Đảo)

Hình 2.12 Một góc Nghĩa trang Hàng Dương

(huyện Côn Đảo)

(Nguồn: Nguyễn Hữu)

Di tích lịch sử cách mạng Nhà Tròn Bà Rịa (thành phố Bà Rịa)

Nhà Tròn là dấu tích của một tháp nước được thực dân Pháp xây dựng vào đầu thế kỉ XX Nhà Tròn là tên gọi theo hình dáng của tháp nước ở trên cao, toạ lạc tại công viên Chiến Thắng, trung tâm của thành phố Bà Rịa ngày nay

Nhà Tròn gắn liền với hai sự kiện lịch sử quan trọng của quân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Ngày 25 tháng 8 năm 1945, hơn một vạn quần chúng ở khắp nơi đổ về thành

Trang 19

của Uỷ ban Nhân dân Cách mạng lâm thời

Bà Rịa trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Ngày 1 tháng 5 năm 1975, tại địa điểm này, Thị uỷ Bà Rịa tổ chức lễ mít-tinh trọng thể, biểu dương lực lượng, chào mừng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và miền Nam hoàn toàn giải phóng

Di tích lịch sử Nhà Tròn Bà Rịa gắn liền với các sự kiện lịch sử tiêu biểu của quân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ Năm 1987, Bộ Văn hoá – Thông tin công nhận Nhà Tròn là Di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia

Di tích lịch sử nhà lưu niệm Võ Thị Sáu (huyện Đất Đỏ)

Nhà lưu niệm Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Võ Thị Sáu toạ lạc ở thị trấn Đất Đỏ, huyện Đất Đỏ

Năm 1980, Uỷ ban nhân dân huyện Long Đất tu bổ lại căn nhà, xây dựng thành nhà lưu niệm Võ Thị Sáu Ngôi nhà là nơi ghi dấu nhiều

kỉ niệm về thời thơ ấu và những ngày đầu tham gia hoạt động cách mạng của chị Sáu Anh hùng Võ Thị Sáu là tấm gương kiên trung, bất khuất tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam

Nhà lưu niệm Võ Thị Sáu là một di tích lịch sử có ý nghĩa to lớn đối với việc giáo dục và phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng cho thế hệ trẻ

Năm 1989, nhà lưu niệm Võ Thị Sáu được Bộ Văn hoá – Thông tin quyết định công nhận, xếp hạng Di tích lịch sử – lưu niệm cấp quốc gia

b Bảo vật Quốc gia

Mặt nạ vàng Giồng Lớn (xã Long Sơn, thành phố Vũng Tàu)

Giồng Lớn là một di chỉ mộ táng toạ lạc trên một giồng cát ven biển thuộc xã Long Sơn, thành phố Vũng Tàu Tại đây, qua hai đợt khai quật khảo cổ năm 2003 và 2005, hàng nghìn

Hình 2.13 Quân dân thị xã Bà Rịa mít-tinh

mừng ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng tại

Nhà Tròn Bà Rịa (ngày 1 – 5 – 1975)

(Nguồn: Địa chí tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Hình 2.14 Di tích lịch sử nhà lưu niệm Võ Thị Sáu

(huyện Đất Đỏ)

(Nguồn: Bảo tàng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Trang 20

Ba chiếc mặt nạ được tìm thấy có đặc điểm như sau: – Chiếc thứ nhất là một mảnh lá vàng hình chữ nhật, dát mỏng, ở bốn góc có bốn lỗ nhỏ để buộc dây đeo;

bề mặt dập nổi hình đôi mắt mở to, đôi lông mày rậm, cong xếch, sống mũi nổi cao

– Chiếc thứ hai là một mảnh lá vàng có dạng hình chữ nhật, dát mỏng, rìa cạnh có sáu lỗ nhỏ để buộc dây đeo;

bề mặt dập nổi hình đôi mắt tròn, mở to, đôi lông mày cụp xuống

– Chiếc thứ ba là một mảnh lá vàng có dạng hình chữ nhật, dát mỏng, có lỗ nhỏ ở bốn góc để buộc dây đeo; mặt nạ được in dập nổi hình khuôn mặt người với đôi mắt mở to, đôi lông mày rậm giao nhau, mũi to, sống mũi nổi cao, ngang và đôi môi dày

Có nhiều khả năng đây là những chiếc mặt nạ được đặt trên mắt người chết trước khi mai táng Mặt nạ vàng Giồng Lớn có niên đại thế kỉ I trước Công nguyên – thế kỉ II

Mặt nạ vàng Giồng Lớn là bảo vật quốc gia có giá trị to lớn trong việc nghiên cứu đời sống kinh tế, văn hoá của cư dân cổ sinh sống ở vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu thời cổ đại.Năm 2021, Chính phủ ra quyết định công nhận Mặt nạ vàng Giồng Lớn là Bảo vật quốc gia

III BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ Ở TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

1 Thuận lợi và khó khăn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Đọc thông tin mục 1, em hãy nêu những thuận lợi và khó khăn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Di tích cấp tỉnh, Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được các cơ quan chức năng chú trọng, tổ chức thường xuyên,

Hình 2.15 Mặt nạ vàng Giồng Lớn

(xã Long Sơn, thành phố Vũng Tàu)

(Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

Trang 21

Nhu cầu thưởng thức văn hoá của nhân dân trong tỉnh, du khách trong và ngoài nước đến tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham quan, trải nghiệm ngày càng tăng đã tạo động lực phát triển cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản Đồng thời, nền kinh tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tăng trưởng nhanh nên có nguồn lực để đầu tư cho việc trùng tu, tôn tạo, phát huy giá trị của di sản

Công tác giáo dục di sản cho thế hệ trẻ được các ngành, các cấp đặc biệt chú trọng Ngành giáo dục đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn, các tổ chức chính trị – xã hội triển khai có hiệu quả công tác giáo dục di sản cho học sinh

và đứng trước nguy cơ biến mất

Một số loại hình di sản văn hoá phi vật thể ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đứng trước nguy

cơ mai một, thất truyền vĩnh viễn như văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số (nhà sàn, lễ hội, ), một số nghề thủ công (nghề đúc đồng ở Long Điền, nghề rèn),

Việc bảo quản, tu bổ, tôn tạo, chống xuống cấp, sưu tầm các hiện vật gặp khó khăn do thiếu kinh phí, việc bảo tồn chưa đúng với quy định, không gian của các di tích bị thu hẹp

do quá trình đô thị hoá,

2 Các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Đọc thông tin mục 2, em hãy trình bày các giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị

di sản văn hoá tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

?

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật, các quy định của địa phương liên quan đến việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, chấn chỉnh các hoạt động tuỳ tiện trong tu bổ, tôn tạo di tích, xử lí nghiêm minh các hành vi lấn chiếm đất đai, xâm phạm di tích,

Trang 22

Hình 2.16 Học sinh cấp trung học cơ sở thành phố Vũng Tàu tham quan học tập

tại Khu di tích Căn cứ Minh Đạm

(Nguồn: Bảo tàng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Chú trọng việc xây dựng và phát triển văn hoá, con người tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững giá trị di sản văn hoá trên địa bàn tỉnh, giáo dục ý thức, trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo tồn, tôn tạo các giá trị di sản văn hoá

Gắn kết bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá với giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của địa phương

Bảo tồn và phát huy giá trị bền vững các di sản, các công trình có giá trị tiêu biểu, có

ý nghĩa chính trị, văn hoá, lịch sử, truyền thống đặc sắc trên địa bàn tỉnh, ưu tiên bảo tồn một số loại hình di sản văn hoá có nguy cơ bị mai một, thất truyền, xuống cấp trầm trọng Đối với ngành giáo dục, tăng cường giáo dục di sản đối với học sinh phổ thông; tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản như tổ chức chăm sóc, bảo vệ các di tích, tham gia các lễ hội truyền thống, tổ chức tìm hiểu, học tập, trải nghiệm tại các di tích ở địa phương Kết hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường đặc biệt là gia đình trong công tác giáo dục ý thức bảo vệ di sản văn hoá

3 Ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Đọc thông tin mục 3, em hãy phân tích ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy giá trị

di sản văn hoá tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước hiện nay.

?

Trang 23

Giáo dục cho thế hệ trẻ ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, tinh thần cộng đồng, nâng cao trách nhiệm đối với quê hương, đối với di sản

Thông qua giáo dục di sản giúp cho học sinh có những hiểu biết về các giá trị của

di sản văn hoá, cũng như có ý thức gìn giữ, bảo vệ di sản

Góp phần vào việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá của các thế hệ trước để lại trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước hiện nay

Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá thể hiện mối liên hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai

Trang 24

CHỦ ĐỀ

3 TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU VĂN HỌC DÂN GIAN

– Xác định được những kiến thức cơ bản về đặc điểm, thể loại, giá trị của văn học dân gian tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; sự thống nhất, gặp gỡ giữa đặc trưng của văn học dân gian địa phương với kho tàng văn học dân gian của dân tộc

– Sưu tầm, giới thiệu được nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của một số tác phẩm văn học dân gian ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

– Tự hào và có ý thức bảo tồn vốn văn học dân gian địa phương

MỤC TIÊU

TỔNG QUAN VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thông tin trước khi đọc

Là cửa ngõ của vùng Đông Nam Bộ, lại giáp biển, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hội tụ nhiều nền văn hoá khác nhau Điều đó khiến cho vùng đất này chứa đựng di sản văn hoá vô cùng phong phú Bên cạnh các phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu còn

có một kho tàng văn học dân gian đa dạng, rất cần được quan tâm, tìm hiểu

I ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Văn học dân gian tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mang những đặc trưng của văn học dân gian nói chung là tính truyền miệng, tính tập thể và sự gắn bó với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng Ba đặc trưng này làm nên sự khác biệt giữa văn học dân gian

so với văn học viết về sự sáng tạo, phương thức lưu truyền và ý nghĩa đối với đời sống Ngoài các đặc trưng trên, xét tương quan với văn học dân gian của các địa phương khác, văn học dân gian tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu còn có những nét đặc trưng sau:

1 Kết hợp, hoà trộn giữa văn học dân gian của nhiều vùng, miền

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được xem là cửa ngõ phía đông của vùng Đông Nam Bộ Vì thế, vùng đất này vừa mang những đặc trưng văn hoá Nam Bộ vừa mang dấu ấn của các vùng

Trang 25

văn hoá khác Cùng với quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của các chúa Nguyễn, văn hoá Bắc Bộ, Trung Bộ đã xâm nhập vào vùng đất này Trong thời kì thuộc địa, nơi đây còn chịu ảnh hưởng ít nhiều từ văn hoá phương Tây Tất cả những điều này là cơ sở khiến cho văn học dân gian của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không thuần nhất mà có sự kết hợp, ảnh hưởng từ nhiều vùng, miền khác nhau.

Đặc điểm này được thể hiện rõ nhất ở ca dao – dân ca Diện mạo ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ nói chung và ca dao – dân ca tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng được tạo nên bởi “một quá trình hội tụ, phát huy những truyền thống của ngôn ngữ ca dao – dân

ca dân tộc mà cha ông từ miền ngoài mang vào, đồng thời là quá trình sáng tạo liên tục trước những đòi hỏi của cuộc sống ở mọi hoàn cảnh, mọi mục đích giao tiếp”(1) Ca dao – dân ca tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, bên cạnh vốn từ đã trở nên quen thuộc, gần gũi, còn xuất hiện các từ chỉ địa danh gắn liền với vùng đất phương Nam:

– Đường về đất đỏ miền Đông Cao su bao lá hận lòng bấy nhiêu.

– Bao giờ Bưng Bạc hết sình, Bàu Thành hết nước, hai đứa mình xa nhau.

2 Phản ánh hành trình của những người khai hoang, mở cõi

Bà Rịa (vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu) xưa được người Việt vào khai phá từ đầu thế kỉ XVII, gắn liền với công cuộc mở rộng bờ cõi về phía Nam của các chúa Nguyễn Trước khi trở thành một vùng đất phì nhiêu, màu mỡ và đông đúc như ngày nay, nơi đây rất hoang vu, rậm rạp, ít người sinh sống Có lẽ vì vậy, ai cũng có cảm giác e ngại mỗi khi đặt chân đến đây Điều này được phản ánh rất rõ trong ca dao xưa:

Anh đi Tam Thắng xây đồn,

Sú hoang mấy bãi, cát cồn mấy doi Đất đầy dấu hổ, chân voi Biển sâu mấy khúc mõ chòi điểm canh.

(Theo Đào Việt Hùng – Lương Minh Chung, Tài liệu dạy – học Ngữ văn địa phương

tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Sử dụng trong các trường Trung học cơ sở), NXB Giáo dục Việt Nam, 2010)

Các truyền thuyết, truyện cổ tích được lưu truyền ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã phản ánh rất rõ công cuộc khai phá, chinh phục vùng đất này của các thế hệ đi trước Các truyện cổ

như: Eo ông Từ, Sự tích thần trừ thú dữ đất Long Điền kể lại công cuộc diệt trừ thú dữ, đem lại bình yên cho vùng đất mới này Sự tích Hòn Cau, Hòn Trầu giải thích sự ra đời những

hòn đảo ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Nhìn chung, các truyện cổ này đều mang âm hưởng là

Trang 26

II MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

1 Thần thoại

Thần thoại là thể loại tự sự dân gian dùng để kể lại sự tích các vị thần sáng tạo ra thế giới tự nhiên và văn hoá, phản ánh nhận thức của con người thời cổ đại về nguồn gốc của thế giới và đời sống con người

Ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu song song tồn tại các thần thoại của người Việt và người dân tộc thiểu số Người Chơ Ro – một tộc người thiểu số ở Bà Rịa – Vũng Tàu có các truyện

thần thoại rất đặc sắc như: Sự tích của đảo, Sự tích sông Ray, Sự tích núi Nhang,… Đa số các

truyện thần thoại này đều nhằm giải thích về sự ra đời các địa danh ở địa phương và phản ánh nhận thức về tự nhiên, đời sống người Chơ Ro

2 Truyền thuyết

Truyền thuyết là thể loại gắn với sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong cảnh hay sự vật của địa phương theo quan điểm của nhân dân Truyền thuyết cũng sử dụng các yếu tố kì ảo như cổ tích và thần thoại

Ngày nay, ở Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn còn lưu truyền nhiều truyền thuyết đặc sắc như:

Ẹo ông Từ, Sự tích thần trừ thú dữ đất Long Điền, Truyền thuyết về người Chơ Ro, Người ăn mây trời, Con gà trắng, Người hoá voi,…

3 Truyện cổ tích

Truyện cổ tích là một thể loại tự sự dân gian có hư cấu, bao gồm: cổ tích thần kì, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật Truyện cổ tích được lưu truyền ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu rất đa dạng, gồm truyện cổ tích của người Việt và người dân tộc thiểu số Một số

truyện cổ tích đáng chú ý như: Chàng Lác, Chàng Katiêng và con quỷ, Hai anh em,…

4 Tục ngữ

Tục ngữ không chỉ phản ánh đặc trưng văn hoá của mỗi vùng, miền mà còn chứa đựng kho tàng kinh nghiệm vô cùng quý giá mà nhân dân nhận thức được Sống dựa vào biển, người dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu rất quan tâm đến thời tiết Điều này được thể hiện trong nhiều câu tục ngữ:

– Tháng Giêng giâm mai cũng tốt.

– Tháng Ba bà già đi biển.

– Tháng Giêng nắng dài Tháng Hai giông tố Tháng Ba nồm rộ Tháng Tư nồm non.

Trang 27

– Mây đầu núi thì tạnh Mây cạnh biển thì mưa.

(Đào Việt Hùng – Lương Minh Chung, Tài liệu dạy – học Ngữ văn địa phương tỉnh Bà Rịa –

Vũng Tàu (Sử dụng trong các trường Trung học cơ sở),

NXB Giáo dục Việt Nam, 2010, tr 29).Nhiều sản vật độc đáo, đặc sắc ở Bà Rịa –Vũng Tàu cũng được nhắc đến trong các câu tục ngữ:

– Cơm Nai Rịa, cá Rí Rang.

– Rượu Hoà Long ai đong nấy uống.

– Cá Hội Bài, chuối xoài Long Phước.

– Đầu cá gáy, cháy cơm nếp.

(Đào Việt Hùng – Lương Minh Chung, sđd, tr 30)

5 Ca dao

Ca dao là một trong những thể loại được dùng để thể hiện tình cảm, cảm xúc Bà Rịa – Vũng Tàu là vùng đất mới, cảnh vật lúc đầu còn hoang vắng, buồn bã Khi đặt chân đến đây, nhiều người không khỏi có một chút lo lắng, hoang mang Càng lo lắng, họ lại càng chạnh lòng nhớ quê:

Anh đi Tam Thắng xây đồn

Sú hoang mấy bãi, cát cồn mấy doi Đất đầy dấu hổ, chân voi Biển sâu mấy khúc, mõ chòi điểm canh

Ai về Gia Định quê mình Nhắn cây có trái thì anh đón nàng.

(Đào Việt Hùng – Lương Minh Chung, sđd, tr 30)

Ca dao tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu còn thể hiện niềm cảm thương cho những người lao động bị chủ đồn điền bóc lột:

– Cao su đi dễ khó về Khi đi trai tráng khi về bủng beo.

– Cao su xanh tốt lạ đời Mỗi cây bón một xác người công nhân Hận thù trời đất khôn cầm

Trang 28

Một số bài cao dao khác còn thể hiện tình cảm gắn bó, thuỷ chung, trước sau như một:

Bao giờ Bưng Bạc hết sình, Bàu Thành hết nước, thì mình hết thương.

(Theo Điều ít biết về hồ nước Bàu Thành ngàn năm tuổi, kì 1,

baobariavungtau.com.vn, ngày 5/1/2020)

6 Trò diễn dân gian

Trò diễn dân gian là nghi thức, nghi lễ gắn liền với các lễ hội Nó được hình thành trong quá trình lao động, sản xuất, có ý nghĩa rất thiêng liêng đối với mỗi cá nhân trong cộng đồng Vì tính chất “thiêng” nên trò diễn dân gian có những quy định rất chặt chẽ mà người tham gia phải tuân theo

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là vùng đất giáp biển Nhiều lễ hội ở đây gắn liền với biển như: lễ hội Nghinh Cô (tưởng nhớ những người tử nạn trên biển), lễ hội Nghinh Ông (tưởng nhớ

cá Voi – loài cá thiêng, luôn cứu giúp những người đi biển) Trong các lễ hội này, không

thể thiếu được một trò diễn dân gian rất đặc sắc: hát Bả trạo.

Hát Bả trạo còn được gọi là chèo Bả trạo, chèo Đưa linh, hò Hầu linh, hò Đưa linh, vốn

là một loại hình nghệ thuật dân gian có yếu tố tâm linh của cư dân ven biển miền Trung,

du nhập vào tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và được ngư dân nơi đây đón nhận Trong lễ hội hinh Cô hay Nghinh Ông, hát Bả trạo được dùng để thể hiện sự biết ơn thần linh đã phù trợ cho ngư dân gặp may mắn, có những chuyến đi biển an toàn:

Ng-Lúc sinh tiền Ngài trú ngụ đại dương Khi tử hậu kí thân nơi lục địa

Người ngư nghiệp đền ơn đáp nghĩa Lúc hành thuyền, Ngài cải tử hoàn sinh.

III ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIẾT Ở TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

1 Ảnh hưởng về đề tài, nội dung

Văn học dân gian tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không chỉ thể hiện quan niệm, đạo đức của nhân dân lao động, của các dân tộc sinh sống trên vùng đất này mà còn chứa đựng những kinh nghiệm, hiểu biết về tự nhiên và xã hội vô cùng phong phú Vì thế, văn học dân gian nói riêng và văn hoá dân gian nói chung có sự ảnh hưởng đến nhiều phương diện khác nhau của đời sống hiện đại

Văn học dân gian tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã đặt ra nhiều đề tài có sức hấp dẫn và văn học viết có thể tiếp nối như: thiên nhiên, con người, lịch sử, Những nội dung gắn với các

đề tài này gồm: ca ngợi vẻ đẹp của quê hương, tự hào về truyền thống của cha ông – những người đã bỏ biết bao mồ hôi, công sức để khai phá vùng đất mới; đồng cảm với thân phận của con người, cũng là nguồn cảm hứng cho các nhà thơ, nhà văn tiếp tục sáng tác nên

Trang 29

2 Ảnh hưởng về hình thức

Văn học dân gian tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, từ thể loại trữ tình dân gian cho đến tự sự rất

đa dạng về hình thức biểu đạt Ở thể loại trữ tình, nhất là ca dao – dân ca, có sự kết hợp giữa tính chuẩn mực, trau chuốt của ngôn ngữ miền ngoài với sự mộc mạc, giản dị trong cách nói, cách nghĩ của người miền Nam nên rất dễ đi vào lòng người Các truyền thuyết, truyện cổ tích với nhiều mô típ độc đáo kết hợp với yếu tố hoang đường, kì ảo có sức hấp dẫn rất lớn Đó là những cơ sở rất quan trọng để các nhà văn, nhà thơ vận dụng vào quá trình sáng tác của mình

IV Một số nét về văn học dân gian Côn Đảo

Côn Đảo là một huyện đảo, thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, gồm 16 hòn đảo lớn, nhỏ nằm ở vùng biển phía đông nam của nước ta Đây là nơi chứa đựng những giá trị văn hoá, lịch sử vô cùng to lớn Trong đó, các truyền thuyết, cổ tích, ca dao về Côn Đảo đã góp phần làm nên sức hấp dẫn riêng cho địa danh nổi tiếng này

1 Truyền thuyết, cổ tích

Các truyện cổ tích, truyền thuyết về Côn Đảo còn lưu truyền đến ngày nay chủ yếu lí giải sự hình thành các địa danh ở Côn Đảo như: Hòn Cau, bãi Đầm Trầu, Hòn Trác, Hòn Tài hoặc đề cập đến các nhân vật lịch sử: bà Phi Yến,… Các tác phẩm văn học dân gian này còn phản ánh tình cảnh éo le, bất hạnh của người dân nơi đây Chẳng hạn, nam nữ

yêu nhau mà không lấy được nhau, phải bỏ xứ mà đi (Sự tích Hòn Cau và bãi Đầm Trầu); hai anh em sinh đôi phải chia lìa, mỗi người ở một nơi (Sự tích Hòn Trác, Hòn Tài); bà Phi Yến sống cô đơn, vò võ một mình với nhiều nỗi niềm đắng cay, uất hận (Truyền thuyết về bà Phi Yến)

Tuy nhiên, con người hiện lên qua các truyện cổ tích, truyền thuyết về Côn Đảo đa số đều mang vẻ đẹp nhân hậu, giàu lòng nhân ái, ít có những mâu thuẫn, xung đột gay gắt Điều này làm cho các tác phẩm có giá trị nhân văn rất lớn Về mặt nghệ thuật, các truyền thuyết, truyện cổ tích về Côn Đảo thường có cốt truyện đơn giản, không có nhiều yếu tố

kì ảo nên có nét gần gũi với tác phẩm văn xuôi hiện đại

2 Ca dao

Văn học dân gian Bà Rịa – Vũng Tàu có một số bài ca dao về Côn Đảo:

Đi đâu mà chẳng thấy về Hay là quần tía tựa kề áo nâu

Ai về nhắn với Ông Câu Hòn Cau cách bãi Đầm Trầu bao xa.

(Theo Huỳnh Ngọc Trảng – Phạm Thiếu Hương (biên soạn), Tổng tập văn học dân gian

Nam Bộ, quyển 2, NXB Văn hoá – Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2020)

Trang 30

Đêm sương gió lặng, sao mờ Trăng khuya chếch bóng vẫn chờ đợi mây Chừng nào núi Chúa hết cây Côn Lôn hết đá, dạ này hết thương.

(Nguồn: Báo Bà Rịa – Vũng Tàu)

Trong những bài ca dao này, các địa danh và sự kiện ở Côn Đảo chính là nguồn cảm hứng để bộc lộ cảm xúc, thái độ của tác giả dân gian Họ không chỉ đồng cảm với số phận, nỗi niềm của thân phận con người trên biển đảo xa xôi mà còn gửi gắm những tâm sự, ước mong của mình

1 Văn học dân gian tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có những đặc trưng gì?

2 Kể tên một số truyện cổ (thần thoại, truyện cổ tích, truyền thuyết) được lưu truyền

ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

3 Văn học dân gian tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có ảnh hưởng đến văn học viết ở những phương diện nào? Chứng minh những ảnh hưởng đó bằng các tác phẩm cụ thể.

4 Ca dao tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thể hiện những nội dung gì?

5 Các truyện truyền thuyết và cổ tích về Côn Đảo có những nét đáng chú nào về nội dung và nghệ thuật?

?

ĐỌC

VĂ N B ẢN 1 SỰ TÍCH NÚI NHANG(1)

(Truyện cổ dân tộc Chơ Ro)

Vợ Krung có mang, nên nàng rất thèm đồ chua Nàng bảo chồng vào rừng lấy trái chua

về ăn Vì thương vợ nên Krung chẳng nề hà gì, anh đi vào rừng hái tất cả trái chua về cho

vợ Nàng ăn no kềnh cả bụng mà vẫn không đã thèm Một hôm, nhân đi chơi với chồng, nàng nhìn thấy lá bằng lăng tím chín vàng đang lắc lư trước gió, cứ ngỡ là trái xoài đang chín trên cây, bắt Krung hái cho kì được Krung từ chối và giải thích rằng đó là cây tổ tiên, ông bà Nếu Krung leo lên ngọn bằng lăng sẽ nhận ra đường về quê hương xứ sở, bỏ vợ

và con không ai nuôi Nhưng người vợ không nghe lời giải thích của Krung, mà còn tỏ ra giận dỗi, khăng khăng bắt Krung leo hái cho được Nể vợ, Krung leo lên ngọn cây bằng lăng Vừa đưa tay định hái lá chín vàng cho vợ thì tự dưng hai cánh tay chàng biến thành hai cánh chim lớn vỗ mạnh rồi bay cao chín tầng mây hướng về xứ sở cũ Người vợ ngó lên ngọn bằng lăng chờ trông mỏi mòn

Trang 31

Chín tháng mười ngày, vợ Krung sinh hạ được một đứa con trai rất kháu khỉnh Từ con mắt, cái tai giống Krung như hệt Người vợ tần tảo nuôi con Khi đứa bé lên bảy tuổi, một hôm nó hỏi mẹ:

– Sao con chỉ có mẹ mà không có cha?

Người mẹ lặng người trả lời:

– Con đẻ từ đất, từ đá, con không có ông bà, cha mẹ

Đứa bé nghe qua buồn vô hạn Người ta có cha, có mẹ, có ông bà, còn nó chẳng có ai Một hôm vào buổi trưa, nhân mẹ ngủ say, đứa bé bắt con ve bỏ vào lỗ tai người mẹ Con ve chui vào tai người mẹ cắn Người mẹ vừa bị đau, vừa bị nhột, buồn bã, tủi thân, gọi chồng: – Mình ơi mình! Sao thân tôi khổ thế này mình? Có chồng có con mà không ai bắt hộ

ve, rận thế này?

Đứa bé từ chỗ núp, nghe mẹ than thở, trách móc, nó hỏi:

– Tại sao mẹ nói con đẻ ra từ đất, đá, không có cha mà bữa nay mẹ trách con và cha không bắt ve cho mẹ?

Người mẹ lúc này đành nói hết sự thật cho con nghe Nghe xong, đứa bé quả quyết với mẹ: “Để con đi tìm cha” Nói rồi, đứa bé lên đường, ngày đi, đêm nghỉ Hết mùa Trăng tròn đến mùa Trăng khuyết, đứa bé đã lớn thành một chàng trai Cuối cùng, chàng tìm đến quê hương của cha, nhìn thấy cha đang đứng trên sàn nhà cao lớn, xung quanh mọi người đang làm lễ tẩy uế(1) cho ông để ông nhập thế giới thần linh Thấy cha mà không đến gần được cha, chàng buồn lắm Chàng nghĩ ngợi lung tung Cuối cùng, chàng trai quyết định biến thành chim ưng bay đậu trên nóc nhà cha Nghe tiếng chim hót điều lạ, người cha ra điều kiện:

– Ơ chim! Nếu ngươi là con chim thánh thần, hãy đáp xuống tay áo ta

Con chim sà xuống đáp vào tay áo người cha Người cha vẫn không tin, lại ra điều kiện: – Nếu chim thật sự là thánh thần, chim hãy biến thành người cho ta coi

Con chim liền biến thành chàng trai khôi ngô tuấn tú và nói:

– Cha là cha của con và con là con của cha

Người cha vẫn không tin, lại ra điều kiện:

– Bây giờ ngươi hãy mài con dao cho thật bén(2), bén đến nỗi con ruồi sà xuống là đứt chân ngay Rồi sau đó ngươi hãy trượt chân lên lưỡi dao mà không hề gì thì ta sẽ nhận ngươi là con ta

Người con làm theo yêu cầu của người cha, nhưng người cha vẫn hoài nghi ra điều kiện:

Trang 32

– Ngươi hãy chặt một tàu lá chuối trải đều lên các nhánh tay tre gai, rồi kéo mạnh mà

lá chuối không bị rách thì ta sẽ nhận ngươi là con trai ta

Chàng trai làm theo, nhưng người cha vẫn không tin, vẫn tiếp tục ra điều kiện:

– Ngươi hãy chém dòng nước chảy kia sao cho nguồn chảy đằng nguồn, ngọn chảy đằng ngọn thì ta sẽ nhận ngươi là con trai ta

Người con đáp ứng yêu cầu của cha Chàng vung gươm chém đứt đôi dòng nước đang chảy, ngọn chảy đằng ngọn, nguồn chảy đằng nguồn Trước sức mạnh của tình phụ tử, người cha ôm người con vào lòng, ngậm ngùi trong thương nhớ

Để ghi lại nơi người con chém đứt đôi dòng nước, người và chim muông xứ Chơ Ro đã đào đắp cao dần lên thành núi Đó là núi Nhang Phần con suối chảy xuôi, được đặt tên là con suối Đưa Em Còn phần chảy ngược mang tên suối Gai Hai con suối này chảy bao quanh chân núi Nhang rồi cùng hợp lưu nơi suối Lúc như để nối lại dòng chảy xưa đã chia lìa

(Theo Đào Vân Anh, Truyện cổ dân gian Chơ Ro, Luận văn thạc sĩ văn học,

Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2012, tr 172)

1 Câu chuyện được chia làm mấy phần? Nội dung của mỗi phần là gì?

2 Điều gì khiến cho Krung phải rời xa người vợ đang mang thai?

3 Krung đã đặt ra cho con trai mình những điều kiện gì? Vì sao?

4 Câu chuyện có ý nghĩa gì?

?

VĂ N B ẢN 2 VÈ CÁC LÁI

Thông tin trước khi đọc

– Vè là một dạng báo nói do dân gian sáng tác và truyền tụng rộng rãi nhằm phản ánh

kịp thời các sự kiện trong cuộc sống hằng ngày trong xóm, ấp, địa phương, dân tộc Nó cũng là những tri thức dân gian về tự nhiên, về đạo lí được bắt vần để đưa về các khuôn dạng ổn định, dễ thuộc, dễ nhớ(1)”

– “Lái” là từ chỉ người lái tàu thuyền trong những chuyến buôn biển, chuyên chở hàng hoá và người buôn bán lớn, những phú thương đi buôn bán ở những nơi xa, hay những ngư dân đi đánh bắt ở những vùng biển dọc duyên hải nước ta Từ “lái” được dùng nhiều nhất vào thế kỉ XVIII Những người lái ghe bầu và những người đi buôn bán xa, dài ngày

là những người thường để lại khó khăn cho gia đình, như câu nói dân gian lưu truyền ở

Quảng Ngãi: Ghe bầu chở lái về đông cũng như con gái lấy chồng bỏ mẹ ai nuôi(2)

(1) Ngô Văn Ban (2016), Tìm hiểu về vè các lái và vè các lái trên con đường giao thương ven biển ở các tỉnh

Trang 33

Đọc văn bản

Lái vô

Buồm giương ba cánh chạy vô Hòn Bà, Hóc Kiểm quanh co Hồ Tràm Kim ngân lễ vật cúng dường Lâm râm khấn nguyện lòng thường chớ quên Bãi Giống chạy thẳng Xích Ram Lưới Rê qua khỏi, Rạn Cam nằm ngoài Ngoài Ba Luỹ sóng rền Cửa Cạn Vát một hồi tỏ rạng Thuỳ Vân Ngoài Kỳ Vân trong liền Giếng Bộng Vát một hồi lồng lộng ra khơi

Ba non chót vót cao vời Muốn cho khỏi rạn phải lơi ra ngoài Vũng Tàu kia đã đến rồi Trình đồn, rồi lại thẳng nơi Sài Gòn.

Lái ra

Một trăm ông lái làu làu

Đi qua Giáp Nước (1) Vũng Tàu phải ghê

Kỳ Vân có bãi Lưới Rê Non cao biển thẳm ủ ê tấc lòng Khúc nôi luỵ nhỏ đằm đằm Xích Ram đã khỏi, Bãi Dầm đã qua

Hồ Tràm, Hồ Đắng (2) de ra Thân Trong nằm trước, Mũi Bà (3) nằm trong.

(Nguồn: Thạch Phương – Ngô Quang Hiền (sưu tầm, tuyển chọn),

Ca dao Nam Trung Bộ, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2015)

1 Theo em, bài vè này được tác giả dân gian sáng tác nhằm mục đích gì?

2 Kể tên các địa danh được nhắc đến trong cả hai bài vè (Lái vô, Lái ra) Các địa danh này ngày nay thuộc tỉnh nào của nước ta?

3 Em biết thêm được điều gì về địa phương (tỉnh) được nhắc đến trong bài vè?

4 Cảm xúc của em khi đọc bài vè này là gì?

?

Trang 34

VĂ N B ẢN 3 ẸO ÔNG TỪ

Ẹo Ông Từ nằm trên quốc lộ 51, cách thành phố Vũng Tàu chừng mười lăm cây số Thuở xưa, Bà Rịa – Vũng Tàu còn hoang vu lắm Rừng rậm bao la Thú dữ như cọp, voi, heo rừng, rắn rết nhiều vô số kể

Mỗi năm khoảng từ đầu tháng 11 đến tháng Chạp thì cọp kéo về chật rừng Cọp đi từng đoàn bốn, năm con kéo vào xóm bắt heo, bắt bò, không sợ gì cả Đêm đêm, nhà nào cũng đóng chặt cửa, không ai dám ra khỏi nhà Khi nghe tiếng cọp vật heo, vật bò, chỉ biết ngồi trong nhà gõ thùng, đánh trống đuổi chúng đi mà thôi Vào mùa cọp loạn rừng, cả vùng không ai ngủ yên được trọn đêm

Ở Bào Vú có ông Lê Văn Từ chuyên nghề đốn cây rừng và múc dầu rái Ông là người giỏi võ nghệ, không rõ quê quán ở đâu, đến đây sinh sống từ lúc còn trẻ Mỗi lần cọp lộng hành, ông thường ra mé rừng chặn đường rút lui của cọp để đánh chúng, giết được rất nhiều cọp Vì vậy, cọp quyết tâm báo thù

Một hôm, cuối tháng 11 âm lịch, khi Trăng chưa lặn, theo thông lệ, ông Từ vào rừng múc dầu rái Thình lình, từ trong bụi rậm, một con cọp vàng to lớn phóng ra vồ ông Con cọp vật ông xuống đất, móc họng rồi bỏ chạy ngay vào rừng Ông Từ chỉ kêu cứu được mấy tiếng thì tắt thở Dân làng chạy ra tiếp cứu thì đã muộn, đành cùng vợ ông khiêng xác ông về nhà, lo chôn cất

Tối hôm đó, cọp lại kéo về đào mộ ông Từ để lấy xác đi Vợ ông Từ nghe động, kêu la

ầm ĩ Dân chúng kẻ gậy, người dao, kéo nhau chạy đến Cọp hốt hoảng tháo chạy, bỏ xác ông Từ lại

Để tránh cho thi hài ông Từ bị cọp tha lần nữa, chòm xóm đắp mộ ông thật kĩ, chung quanh mộ có cắm chông và đào hầm sâu bẫy cọp Nhờ vậy, cọp mới chịu thua

Từ khi ông Từ chết, dân làng trong vùng gọi nơi ông Từ bị cọp vồ là Ẹo Ông Từ như để ghi nhớ công lao nhiều lần giết cọp bảo vệ làng xóm của ông Đến nay, địa danh này vẫn còn thông dụng

(Theo Huỳnh Ngọc Trảng – Phạm Thiếu Hương (biên soạn), Tổng tập văn học dân gian

Nam Bộ, quyển 2, NXB Văn hoá – Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2020, tr 125 – 126)

1 Nêu những sự việc chính trong câu chuyện.

2 Những chi tiết nào cho thấy Bà Rịa – Vũng Tàu lúc bấy giờ là vùng đất hoang vu và nguy hiểm?

?

Trang 35

Viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian địa phương

Bước 1: Chuẩn bị

– Học sinh chọn một vấn đề liên quan đến văn học dân gian ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

để nghiên cứu và viết báo cáo

– Học sinh thu thập tư liệu, thông tin từ thư viện hoặc qua lời kể của cá nhân

Bước 3: Viết báo cáo

Sau khi đã có kết quả nghiên cứu và các tư liệu liên quan, học sinh tiến hành viết báo cáo Báo cáo phải được viết theo văn phong khoa học, mang tính chính xác, khách quan;

có sử dụng trích dẫn và cước chú cụ thể

Bước 4: Chỉnh sửa, hoàn thiện báo cáo

Học sinh sử dụng bảng kiểm dưới đây để phát hiện những điểm chưa đạt, sau đó chỉnh sửa, hoàn thiện báo cáo:

Tiêu chí Đạt Chưa đạt

Báo cáo đầy đủ các phần: Đặt vấn đề, Giải quyết vấn đề,

Phần Giải quyết vấn đề thể hiện được đầy đủ kết quả

Báo cáo có sử dụng trích dẫn để làm tăng tính thuyết

phục; các trích dẫn này có cước chú rõ ràng ? ?

Báo cáo được viết với ngôn ngữ trong sáng, rõ ràng, phù

Trang 36

NÓI VÀ NGHE

Thuyết trình một vấn đề văn học dân gian địa phương

Bước 1: Chuẩn bị

– Đọc báo cáo khoa học, chuẩn bị dàn ý thuyết trình, tư liệu hỗ trợ

– Chuẩn bị các phương tiện, thiết bị hỗ trợ: màn chiếu, máy chiếu, video

– Tập thuyết trình ở nhà

Bước 2: Thuyết trình ở lớp

– Học sinh thuyết trình một vấn đề văn học dân gian đã tìm hiểu, nghiên cứu

– Các học sinh khác đặt câu hỏi về các nội dung liên quan đến bài thuyết trình

– Học sinh thuyết trình (hoặc nhóm học sinh nghiên cứu vấn đề) sẽ giải đáp

Bước 3: Đánh giá

Học sinh và giáo viên đánh giá bài thuyết trình dựa trên các tiêu chí:

– Mức độ rõ ràng, lôi cuốn

– Mức độ chặt chẽ, thuyết phục

– Thời gian thuyết trình

– Sử dụng cử chỉ, điệu bộ và phương tiện

– Giải đáp các vấn đề được người nghe đặt ra

ĐỌC MỞ RỘNG

VĂ N B ẢN 1 SỰ TÍCH THẦN TRỪ THÚ DỮ ĐẤT LONG ĐIỀN

Ngày trước, ở Long Điền(1) có thầy Tuân rất giỏi võ nghệ Trong vùng, xuất hiện một con trâu rừng rất dữ tợn Con trâu rất to, hễ thấy người là xông tới húc khiến nhiều người đã phải bỏ mạng Ai cũng sợ nó

Trước tình hình đó, thầy Tuân tự nguyện đi diệt trâu dữ Ông nói không con gì mà con người không giết được Cả nhà can ngăn, nhất là vợ ông vì bà nghĩ sức ông làm sao chọi được với sức trâu Mặc mọi người ngăn cản, ông nhất quyết ra đi Trước khi đi, người vợ làm một bữa cơm tế sống ông Khi từ giã vợ con, ông dặn:

– Nếu tôi mất thì bà nên tái giá, đừng ở vậy Tôi tự nguyện đi giúp dân diệt trừ thú dữ.Nói xong, ông chặt hai cây dài khoảng hai thước cầm ở tay rồi lên đường Cả làng tiễn ông vào rừng Tay ông cầm cây dài vót nhọn tiến đến gần con trâu Con trâu dữ tợn giương mắt trừng trừng, đột nhiên nó xông thẳng về phía thầy Tuân Thầy Tuân rất nhanh, (1) Long Điền: một huyện ven biển thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trang 37

tránh sang một bên, tay phải vung mạnh cây gậy đâm thẳng về phía trước Thầy bị con trâu tấn công dữ dội Hai bên quần nhau một lúc thì thầy đâm thẳng cây nhọn vào cổ con trâu Nó rú lên từng hồi, giãy giụa trong vũng máu và lăn ra chết Ông liền rút cây ra khỏi

(Theo Huỳnh Ngọc Trảng – Phạm Thiếu Hương (biên soạn), Tổng tập văn học dân gian

Nam Bộ, quyển 2, NXB Văn hoá – Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2020)

1 Xác định các sự việc chính trong câu chuyện.

2 Chỉ ra các yếu tố kì ảo có trong truyện Yếu tố kì ảo này có vai trò gì trong câu chuyện?

3 Thầy Tuân đã làm được việc gì có ích cho người dân ở Long Điền?

4 Câu chuyện gợi cho em suy nghĩ, bài học gì?

?

VĂ N B ẢN 2 CHÀNG ÚT

(Truyện cổ dân tộc Chơ Ro)

Thông tin trước khi đọc

– Người Chơ Ro cư trú chủ yếu ở các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận Trước kia, người Chơ Ro sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy, cuộc sống nghèo nàn và không

ổn định Hiện nay, người Chơ Ro đã biến rẫy thành đất định canh, đồng thời làm ruộng nước, nhờ vậy cuộc sống có phần ổn định hơn

– Đa số cư dân Chơ Ro đều biết chữ quốc ngữ Họ cũng chịu ảnh hưởng phong tục, tập quán và lối sống của người Kinh

Đọc văn bản

Ngày xưa có một chàng trai Chơ Ro sống bằng nghề săn bắn Một hôm, anh đi săn qua gốc cây cổ thụ thì nghe có tiếng nhai hạt cầy khô Anh rình thì thấy một con heo rừng Anh lên ná, đặt mũi tên, ngắm vào nách heo, lẫy cò Con heo rừng né qua một bên, ngoạm mũi tên rồi chạy mất

Trang 38

heo rừng đâu cả, chỉ thấy một ngôi nhà tranh và một cô gái Chơ Ro xinh đẹp Nàng dịu dàng mời anh vào nhà hút thuốc, nói chuyện Trong lúc trò chuyện vui vẻ, anh nhìn lên nóc nhà và nhận ra mũi tên của mình, anh hỏi:

– Không biết mũi tên này của ai?

– Mũi tên của người thợ săn bắn heo rừng, tôi nhặt được – Cô gái trả lời tỉnh bơ

Anh ra về, đầu óc nghĩ ngợi mông lung Hôm sau và nhiều ngày sau đó, anh ra chỗ gốc cây rừng, lần nào anh cũng gặp con heo rừng hôm trước đang nhai hạt cầy khô Nhưng anh không sao bắn được nó Lần nào đuổi theo con heo rừng, anh cũng gặp cô gái Chơ Ro hôm trước Gặp nhiều lần, từ chỗ xa lạ, dần dà, họ trở nên thân thiết Một thời gian sau, người thợ săn cưới cô gái Chơ Ro làm vợ Họ ăn ở với nhau có sáu mặt con, gia đình rất hạnh phúc

Như mọi ngày, sáng đó, anh xách ná đi săn Anh vừa đi vừa nghe ngóng động tĩnh của thú rừng Nghe có tiếng sột soạt trong bụi rậm, anh đang định rút tên, lên ná để bắn thì

từ trong bụi cây hiện ra một cô gái Chơ Ro da nâu, mắt đen Cô nói dõng dạc: “Tôi thương anh, muốn cưới anh làm chồng” Câu nói của cô gái khiến anh xao xuyến

Anh xách ná về nhà và kể lại cho vợ nghe Anh đòi vợ cưới cô gái đó cho anh nhưng vợ anh không đồng ý Từ đó, gia đình người thợ săn trở nên bất hoà Những lúc uống rượu say, anh lại chửi bới, đánh đập vợ thậm tệ Không chịu nổi, chị giao sáu đứa con cho người chồng vũ phu rồi bỏ đi biệt xứ

Không lâu sau đó, người thợ săn lấy cô gái Chơ Ro da nâu, mắt đen gặp trong rừng làm

vợ Khác với tính hay làm của người vợ trước đây, cô vợ mới là người vô cùng lười biếng Còn người thợ săn, từ khi có vợ hai, làm ăn sa sút hẳn đi, săn bữa được, bữa không Nhà lại

có nhiều miệng ăn nên gia đình lâm vào cảnh túng quẫn Thấy thế, người vợ bé xúi giục chồng hãm hại sáu người con riêng của chồng:

– Tụi nó lớn rồi, ăn tốn lắm, nuôi không nổi đâu Bây giờ, anh đem chúng vào rừng sâu

để cọp beo bắt chúng ăn thịt đi!

Người thợ săn nghe lời vợ, đem sáu đứa con vào rừng sâu rồi lén bỏ về Nhờ sự thông minh, nhanh trí của người em út nên sáu anh em vẫn tìm được đường về nhà Người cha độc ác vừa về đến nhà, chưa kịp thở đã thấy sáu người con theo thứ tự lớn nhỏ lục tục kéo nhau về Mụ dì ghẻ bực tím cả mặt

Thời gian sau, vào mùa khô ráo, mụ dì ghẻ lại xúi giục chồng giết con:

Trang 39

– Bây giờ, anh đem chúng nó ra ngoài bãi tranh khô, đợi khi gió mạnh, anh châm lửa đốt cho chúng chết thiêu.

Người thợ săn vẫn làm theo lời xúi giục của người vợ độc ác Anh bảo sáu đứa con đi cắt tranh về lợp nhà Tưởng thật, đứa cầm lưỡi hái, đứa vác đòn sóc đi cắt tranh Đến nơi, người cha bảo các con ngồi chờ Khi một luồng gió mạnh thổi tới, người cha châm lửa đốt tranh Ngọn lửa bốc cao ngút trời, khói lửa mù mịt Thấy vậy, người con út nhanh trí bảo các anh mau chóng chui xuống hang nhím để tránh lửa Lửa tàn, sáu người con bò ra ngoài

Người con út đã nhận ra dã tâm của cha mình và mụ dì ghẻ nên khuyên các anh không nên trở về nhà nữa Những người anh nghe lời bèn rủ nhau trốn đi đến vùng đất mới Ở

đó, họ ra sức phát rừng, làm rẫy để trồng lúa, bắp, khoai, đậu,… Làm nhiều ăn ít, chịu khó dành dụm nên chẳng bao lâu, sáu anh em đã làm được nhà, tậu được trâu bò, lấy vợ sinh con,… Dần dần, họ trở nên giàu có nhất vùng Các thế hệ con cháu của sáu anh em sống bình yên, giàu sang và hùng mạnh trên vùng đất mới

(Theo Đào Vân Anh, Truyện cổ dân gian Chơ Ro, Luận văn thạc sĩ văn học,

Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2012)

1 Truyện có thể chia làm mấy phần? Xác định nội dung của từng phần.

2 Tại sao sau nhiều lần bị mụ dì ghẻ hãm hại, sáu anh em vẫn không chết?

3 Tìm một điểm tương đồng và một điểm khác biệt giữa truyện “Chàng Út” với một truyện dân gian khác của người Kinh mà em biết.

4 Qua truyện “Chàng Út”, em rút ra được bài học gì?

?

Trang 40

– Biết gõ đệm và hát đúng giai điệu, lời ca, tính chất của bài Hát vui trung thu

(Cao san) hoặc bài Bà Rịa – Vũng Tàu trong trái tim ta.

– Gìn giữ được những giá trị nghệ thuật của âm nhạc truyền thống ở địa phương thông qua các hoạt động biểu diễn nghệ thuật trong và ngoài nhà trường tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

I CÁC NGHỆ NHÂN, NGHỆ SĨ VÀ NHẠC SĨ CỦA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Dựa vào thông tin trong mục I, em hãy:

– Tóm tắt lại tiểu sử của nghệ nhân Lý Thị Nhiễn, Nghệ sĩ ưu tú Đỗ Việt Hùng, Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Viết Phong và các nhạc sĩ Đỗ Thanh Khang, Thiên Toàn – Giới thiệu một số lĩnh vực nghệ thuật truyền thống mà nghệ nhân Lý Thị Nhiễn hiện đang góp công gìn giữ và phổ biến.

– Kể tên một số ca khúc viết về quê hương Bà Rịa – Vũng Tàu của nhạc sĩ Đỗ Thanh Khang và nhạc sĩ Thiên Toàn.

?

Ngày đăng: 09/04/2023, 18:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm