Tiểu luận: Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 1Tiểu luận
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 2CHƯƠNG 1: GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP
1 Khái quát các quan điểm ngoài Mácxít về giai cấp và đấu tranh giai cấp
1.1 Quan điểm của các nhà tư tưởng trước Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp
Thời cổ đại
9 Ở Trung Quốc cổ đại
phân chia xã hội gồm: quân tử và tiểu nhân
+ Quân tử là người có nhân cách cao, có quyền lực lớn
+ Tiểu nhân là người có địa vị và nhân cách thấp, phải phục tùng quyền
lực của người quân tử
hội gồm: Sỹ, Nông, Công, Thương
9 Ở Ấn Độ cổ đại
- Theo Upanisat: phân biệt về chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo và
phân chia đẳng cấp gồm: Tăng lữ, Quý tộc, Bình dân tự do và Tiện nô
9 Ở Hy Lạp cổ đại
chia xã hội gồm: Triết gia, Chiến binh, Bình dân
+ Triết gia: là các nhà triết học thông thái có địa vị cao nhất, thực hiện
nhiệm vụ lãnh đạo xã hội
+ Chiến binh: là các chiến binh dũng cảm có địa vị thấp hơn, thực hiện
nhiệm vụ bảo vệ xã hội
+ Bình dân: là những người nông dân và thợ thủ công có địa vị thấp nhất,
thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất, tạo ra của cải nuôi sống xã hội
Thời cổ đại ở phương Đông và phương Tây đều xuất hiện những tư tưởng phản
ánh sự phân chia xã hội thành giai cấp và đấu tranh giai cấp Tuy nhiên những tư
tưởng này rất đơn giản và chất phát, chưa phải là một định nghĩa khoa học về giai
cấp mà chỉ thừa nhận giai cấp là những người có quyền lực, có địa vị và chức năng
Trang 3khác nhau trong xã hội Đồng thời theo người cổ đại, sự phân chia xã hội thành
những hạng người khác nhau là do tự nhiên (Trời) hay do Thượng đế, thần thánh
và chưa thấy được giai cấp có nguồn gốc từ đời sống kinh tế - xã hội cũng như
chưa thấy được tính lịch sử của giai cấp
Thời phục hưng và cận đại
cùng tư tưởng cho rằng:
+ Giai cấp: là những tầng lớp có quyền lực và địa vị khác nhau trong xã hội
+ Đấu tranh giai cấp, bất công trong xã hội xuất phát từ sự phát triển kinh
tế, trong hình thức sở hữu
Tuy nhiên, các nhà tư tưởng thời kỳ này còn chịu ảnh hưởng tư tưởng cơ
đốc giáo hoặc đứng trên quan điểm tự nhiên thần luận về lịch sử để giải thích vấn
đề giai cấp nên chưa thấy được cơ sở kinh tế của giai cấp
+ Quyền sở hữu: là tiêu chuẩn phân biệt xã hội và là cơ sở của thượng tầng
kiến trúc của xã hội
+ Xã hội được chia thành 3 giai cấp: các nhà khoa học, các chủ sở hữu và
những người không có sở hữu
+ Đấu tranh giai cấp: là đặc trưng của bất kỳ xã hội nào có áp bức bóc lột,
là cuộc đấu tranh giữa tư sản và quý tộc, đấu tranh giữa những người hữu sản với
những người vô sản (không có tài sản)
+ Sự thay đổi quan hệ sở hữu về tài sản, chủ yếu là thay đổi quan hệ sở hữu về
ruộng đất đã dẫn đến sự thay đổi về quan hệ giai cấp và thay đổi về chế độ chính trị
+ Xã hội có nhiều giai cấp
+ Sự hình thành giai cấp dựa vào con đường bạo lực và nô dịch Đấu tranh
giai cấp tạo nên nội dung chủ yếu của lịch sử
Các nhà tư tưởng trước Mác đã nêu lên nhiều tư tưởng có giá trị về vấn đề
giai cấp và đấu tranh giai cấp Những tư tưởng đó là tiền đề cho sự ra đời lý luận
Trang 4của chủ nghĩa Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp Do đó, “thuyết đấu tranh
giai cấp không phải do Mác, mà do các giai cấp tư sản trước Mác sáng tạo ra”
1.2 Quan điểm tư sản hiện nay về giai cấp và đấu tranh giai cấp
- Một số học giả tư sản phủ nhận hoàn toàn học thuyết giai cấp và đấu tranh
giai cấp vì cho rằng:
+ Các Mác đã quá nhấn mạnh đến sự đối lập giữa tư sản và vô sản khi xây
dựng học thuyết về giai cấp Quy luật đấu tranh giai cấp không phải là quy luật
phổ biến, quy luật chung cho mọi xã hội Do đó, lý luận giai cấp là sai lầm
+ Điển hình như tại Mỹ, quan hệ sở hữu đã thay đổi, không còn giai cấp vô
sản nữa Do đó đấu tranh giai cấp là vô nghĩa
- Thừa nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp, bác bỏ cơ sở kinh tế của giai
cấp đi tìm cơ sở sinh học hay tâm lý của giai cấp vì giải thích nguồn gốc giai cấp
từ cơ sở sinh học (những tố chất cấu tạo nên cơ thể, cấu trúc hoàn thiện hoặc
không hoàn thiện của cơ thể…) hoặc giải thích dựa vào trạng thái, khả năng trí
tuệ, nghề nghiệp… làm cơ sở để phân chia giai cấp Phần lớn các nhà kinh tế căn
cứ vào thu nhập để phân biệt giai cấp
- Trong phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế xuất hiện hai quan niệm
sai lầm về đấu tranh giai cấp
+ Quan điểm hữu khuynh (tiêu biểu là Bécxtanh - Đức) thừa nhận cơ sở kinh
tế của giai cấp và dùng phương pháp cải lương để giải quyết mâu thuẫn giai cấp,
nhấn mạnh biện pháp đấu tranh kinh tế và mục tiêu kinh tế mà không chú ý đúng
mức đến mục tiêu chính trị, lảng tránh trách nhiệm xã hội Nhìn chung theo quan
điểm này là coi thường, buông lỏng, xem nhẹ vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp
+ Quan điểm tả khuynh đưa các khẩu hiệu cách mạng cực đoan để lợi dụng tình
cảm của quần chúng nhân dân, che giấu bản chất chủ nghĩa cơ hội của mình Họ đánh
giá các sự kiện lịch sử, các hiện tượng xã hội một cách chủ quan và bỏ qua các bước
quá độ đẩy phong trào đến chỗ phiêu lưu, mạo hiểm (chủ quan, duy ý chí) Theo quan
điểm này đề cao quá mức tầm quan trọng của vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp
Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp rất phức tạp, các nhà tư tưởng tư sản
luôn xuyên tạc hay che đậy nó
Trang 52 Quan niệm Mácxít về giai cấp và đấu tranh giai cấp
2.1 Giai cấp
Quan niệm: “Người ta gọi giai cấp, những tập đoàn to lớn, những tập đoàn
này khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định
trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được
pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của
họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng
thụ về phần của cải ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn
người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt có địa vị khác nhau trong một chế
độ kinh tế - xã hội nhất định” (V.I.Lênin)
Theo định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin thì giai cấp gắn liền với một hệ thống
sản xuất nhất định và có địa vị khác nhau trong hệ thống sản xuất đó Địa vị này do
các quan hệ sản xuất quyết định Vì vậy, các giai cấp khác nhau thì:
+ Quan hệ khác nhau đối với sở hữu tư liệu sản xuất Những giai cấp như chủ
nô (trong chế độ nô lệ), địa chủ (trong chế độ phong kiến), tư sản (trong chế độ tư
bản) là những tập đoàn người giữ địa vị thống trị trong hệ thống kinh tế - xã hội mà
họ là đại biểu vì họ nắm được phương tiện, điều kiện vật chất quan trọng nhất
(chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội) để chi phối lao động của tập đoàn người không
có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất Những tập đoàn người bị mất tư liệu sản xuất như
nô lệ (trong chế độ nô lệ), nông nô (trong chế độ phong kiến), vô sản (trong chế độ
tư bản) buộc phải phụ thuộc về kinh tế vào các tập đoàn thống trị
+ Vai trò khác nhau trong tổ chức, quản lý lao động xã hội Tập đoàn nào
chiếm hữu tư liệu sản xuất đương nhiên giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy hoạt động
sản xuất và lưu thông trên qui mô toàn xã hội cũng như từng đơn vị kinh tế
+ Phương thức và quy mô thu nhập của cải xã hội khác nhau Là người
chiếm hữu tư liệu sản xuất và tổ chức lãnh đạo sản xuất, tập đoàn thống trị đủ
điều kiện thực hiện mục đích của mình trong sản xuất là chiếm đoạt sản phẩm
thặng dư do các giai cấp lao động tạo ra Địa vị khác nhau của giai cấp là cơ sở
của quan hệ bóc lột giai cấp, thực chất quan hệ giai cấp trong xã hội đối kháng là
quan hệ bóc lột
Trang 6Nguồn gốc: Lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến có sự phân công lao động,
mang lại năng suất lao động cao hơn, từ đó dẫn đến sản phẩm thặng dư tương đối
Trong xã hội sẽ xuất hiện chế độ tư hữu làm cơ sở cho sự hình thành giai cấp Như
vậy, nguồn gốc cơ bản ra đời giai cấp là nguồn gốc kinh tế - đó là chế độ tư hữu
Kết cấu: Trong kết cấu giai cấp của xã hội bao gồm các giai cấp cơ bản đối
lập nhau, các giai cấp không cơ bản và tầng lớp trung gian
+ Các giai cấp cơ bản đối lập nhau: là các giai cấp do phương thức sản xuất
của xã hội sinh ra Đó là giai cấp chủ nô và nô lệ (phương thức sản xuất chiếm hữu
nô lệ), giai cấp địa chủ và nông nô (phương thức sản xuất phong kiến), giai cấp tư
sản và vô sản (phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa) Quan hệ giữa các giai cấp
này là quan hệ bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị Cuộc đấu tranh giữa các giai
cấp cơ bản quyết định xu hướng tính chất của sự vận động xã hội
+ Các giai cấp không cơ bản: là các giai cấp tàn dư của phương thức sản
xuất cũ để lại như giai cấp chủ nô và nô lệ (trong giai đoạn đầu của phương thức
sản xuất chiếm hữu nô lệ) hay các giai cấp mầm mống của phương thức sản xuất
tương lai như giai cấp công nhân (trong giai đoạn cuối của phương thức sản xuất
phong kiến - thời kỳ công trường thủ công)
+ Các tầng lớp trung gian: là sản phẩm của chính phương thức sản xuất
đang thống trị, là kết quả của quá trình phân hóa xã hội không ngừng diễn ra như
tầng lớp bình dân (phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ), tiểu tư sản (phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa), tầng lớp trí thức tồn tại trong bất kỳ xã hội có
giai cấp nào Tầng lớp trí thức có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động kinh
tế, xã hội, chính trị, văn hóa …
Tóm lại, sự xung đột của các giai cấp cơ bản sẽ dẫn đến đấu tranh giai cấp
2.2 Đấu tranh giai cấp
Quan niệm: Đấu tranh giai cấp là “cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết
quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và
bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những
người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản” (V.I.Lênin)
Nguyên nhân: Sự xung đột lợi ích kinh tế giữa các giai cấp
Trang 7Nguồn gốc: Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất cũ
(phương thức sản xuất) Mâu thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội thành mâu thuẫn
giữa một bên là giai cấp cách mạng, tiến bộ đại diện cho lực lượng sản xuất mới
đòi hỏi một quan hệ sản xuất mới thích hợp, với một bên là giai cấp thống trị bóc
lột, bảo thủ, đại biểu cho quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu Khi mâu thuẫn này
lan rộng khắp các lĩnh vực đời sống xã hội và ngày càng gay gắt hơn, lôi kéo các
giai tầng trong xã hội đứng về phía bên này hay bên kia thì cuộc đấu tranh giai
cấp trong xã hội sẽ xuất hiện đầy đủ và rõ nét
Các hình thức cơ bản: Tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, vào các giai cấp
tham gia đấu tranh, vào giai đoạn phát triển cuộc đấu tranh mà đấu tranh giai cấp
diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên có 3 hình thức đấu tranh cơ
bản là: đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị và đấu tranh tư tưởng Trong thời đại
ngày nay, cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đang ở thời kỳ thoái trào, giai
cấp công nhân các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) đang đứng trước vấn đề cấp
bách là tìm những hình thức mới của đấu tranh giai cấp để chống lại những thủ
đoạn mới của giai cấp thống trị, của những tập đoàn tư bản lũng đoạn xuyên quốc
gia bảo vệ những lợi ích giai cấp trước mắt và lâu dài của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động
Vai trò của đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp đối kháng:
Trong tuyên ngôn Đảng Cộng Sản của Mac – Ăngen: “Lịch sử xã hội loài
người từ khi có giai cấp đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp” Đấu tranh giai
cấp là một trong những động lực quan trọng của các xã hội có giai cấp đối kháng
+ Lĩnh vực kinh tế:
- Thời bình lực lượng sản xuất phát triển
- Thời chiến (cách mạng xã hội xảy ra) quan hệ sản xuất phát triển dẫn
đến lực lượng sản xuất phát triển
+ Lĩnh vực chính trị:
- Thời bình đời sống chính trị phát triển
- Thời chiến (cách mạng xã hội xảy ra) kiến trúc thượng tầng phát triển
dẫn đến cơ sở hạ tầng phát triển
Trang 8+ Lĩnh vực tư tưởng:
- Thời bình đời sống tư tưởng văn hóa phát triển
- Thời chiến (cách mạng xã hội xảy ra) hệ tư tưởng phát triển dẫn đến tồn
tại xã hội phát triển
Đấu tranh giai cấp dẫn đến chuyên chính vô sản - công cụ xóa bỏ chế độ tư
hữu và giai cấp, xây dựng chủ nghĩa cộng sản Điều kiện tiên quyết là phải tạo ra
được lực lượng sản xuất phát triển rất cao cùng với sự trưởng thành vượt bậc của
con người tạo ra một năng suất lao động xã hội rất cao
2.3 Đấu tranh của giai cấp vô sản trong điều kiện mới hiện nay
Điều kiện mới
+ Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, so sánh lực
lượng thay đổi tạm thời có lợi cho các lực lượng phản cách mạng và bất lợi cho
lực lượng cách mạng Lực lượng cách mạng chia rẽ, mất đoàn kết, suy yếu Lực
lượng phản cách mạng có lợi tuyên truyền xuyên tạc lý luận giai cấp và đấu tranh
giai cấp
+ CNTB có những điều chỉnh, thay đổi để thích nghi tiếp tục phát triển,
mâu thuẫn giai cấp (tư sản và vô sản) tạm thời được xoa dịu
+ Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển mạnh mẽ làm cho
lực lượng sản xuất tăng nhanh Nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin ra đời làm
phân hóa giai - tầng trong xã hội Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất có tính chất
xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất vẫn dựa trên trên chế độ sở hữu tư nhân
TBCN về tư liệu sản xuất có nhiều biểu hiện mới gay gắt, phức tạp, không dễ
nhận thức như trước đây, những kết luận vội vàng: không còn giai cấp vô sản,
đấu tranh giai cấp lỗi thời …
+ Thực tế cho thấy, xung đột giữa tư bản lao động, phân cực giàu nghèo,
phân hóa thu nhập, xung đột dân tộc, khu vực, cộng đồng … đã tạo nên sự bất ổn
trong xã hội
Nội dung mới:
+ Đấu tranh giữa lao động và tư bản (ở các nước TBCN phát triển)
Trang 9+ Đấu tranh của nhân dân lao động (các nước đang phát triển và các nước
XHCN) chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, vì độc lập
dân tộc và CNXH và vì lợi ích chân chính của mình
+ Trọng tâm của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trên toàn thế giới là đấu
tranh vì độc lập dân tộc và CNXH chống các thế lực phản động, đế quốc chủ
nghĩa đang ráo riết thực hiện “diễn biến hòa bình (lật đổ chế độ XHCN mà không
cần chiến tranh)
Hình thức mới: Vẫn tồn tại 3 hình thức cơ bản: đấu tranh kinh tế, đấu tranh
chính trị và đấu tranh tư tưởng Nhưng vận dụng uyển chuyển, lồng ghép vào các
hình thức đấu tranh khác, không được cường điệu hóa dẫn đến cục bộ, không
đoàn kết được các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ Đồng thời cũng không
được chủ quan, thỏa hiệp, mất cảnh giác làm cho lực lượng cách mạng rơi vào
thế bị động, phân liệt
3 Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam
Điều kiện mới
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam vẫn tồn tại lâu dài các giai cấp,
tầng lớp khác nhau Đấu tranh giai cấp là một thực tế khách quan Vấn đề không
phải là lảng tránh danh từ đấu tranh giai cấp, mà cơ bản là nhận thức đúng tính
chất, đặc điểm, nội dung và hình thức đấu tranh giai cấp để từ đó xây dựng các
phương pháp xử lý tốt các quan hệ xã hội - giai cấp
Đấu tranh giai cấp ở Việt Nam diễn ra trong điều kiện mới: cơ cấu giai cấp,
vị trí giai cấp thay đổi dẫn đến quan hệ giữa các giai cấp cũng có sự thay đổi
Nội dung mới
Mục tiêu của đấu tranh giai cấp ở Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Vì vậy, đấu
tranh giai cấp ở Việt Nam diễn ra với nhiều hình thức nhưng nổi bật lên là đấu
tranh giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là quần chúng nhân dân lao động, các
lực lượng xã hội đi theo con đường dẫn tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh, đoàn kết trong mặt trận thống nhất do Đảng
Trang 10cộng sản lãnh đạo với một bên là các thế lực, các tổ chức, các phần tử chống độc
lập dân tộc và CNXH Các thế lực phản động trong nước cấu kết với các thế lực
phản động quốc tế sử dụng “Âm mưu diễn biến hoà bình” hòng thủ tiêu sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản đối với xã hội đi đến chỗ lật đổ chế độ xã hội Cuộc đấu
tranh giai cấp hiện nay không còn trực diện như thời kỳ đấu tranh giải phóng dân
tộc mà nó ẩn giấu đằng sau qua các cuộc đấu tranh về kinh tế, văn hoá, tư tưởng
Cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không chỉ là đấu tranh bảo vệ chính quyền mà
còn định hướng đi lên CNXH
Hình thức mới
Đấu tranh giai cấp ở nước ta còn thể hiện ở cuộc đấu tranh giữa hai con
đường XHCN và TBCN Đó là cuộc đấu tranh giữa các nhân tố thúc đẩy đất
nước đi theo con đường XHCN chống lại các nhân tố thúc đẩy đất nước chuyển
dịch theo hướng TBCN
Trang 11
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ GIAI CẤP VỚI DÂN TỘC VÀ NHÂN
LOẠI TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
1 Dân tộc và quan hệ giai cấp với dân tộc
1.1 Khái niệm dân tộc và sự hình thành dân tộc
Khái niệm dân tộc
Theo nghĩa khoa học (hiện đại), dân tộc là khái niệm dùng để chỉ hình thức
cộng đồng người ổn định, bền vững, được hình thành trong lịch sử lâu dài, trên cơ
sở cộng đồng về ngôn ngữ, về lãnh thổ, về kinh tế và về văn hóa, tâm lý, tính cách
Dân tộc là một cộng đồng người có những đặc điểm chung thống nhất sau đây:
- Một là, cộng đồng về ngôn ngữ - một phương tiện giao tiếp chung thống
nhất của các thành viên trong cộng đồng dân tộc
- Thứ hai, cộng đồng về lãnh thổ - đó là vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải
đảo… thuộc chủ quyền quốc gia dân tộc
- Ba là, cộng đồng về kinh tế - một thị trường thống nhất để thực hiện các
hoạt động kinh tế, các hoạt động này được cũng cố bằng thể chế chính trị là nhà
nước tập quyền Đây là đặc trưng quan trọng nhất phân biệt với bộ lạc, bộ tộc
Thiếu sự cộng đồng chặt chẽ về kinh tế thì cộng đồng dân tộc không thể hình
thành được
- Bốn là, cộng đồng về văn hóa, tâm lý, tính cách Đây là nhân tố quan trọng
của sự liên kết cộng đồng Văn hóa dân tộc được hình thành trong quá trình lịch
sử lâu dài, tạo ra sắc thái riêng của dân tộc Văn hóa dân tộc mang nhiều sắc thái
của các địa phương, các sắc tộc, các tập đoàn người, nhưng đó vẫn là một nền
văn hóa thống nhất, chứ không phải bị chia cách, tách rời nhau Tính thống nhất
trong đa dạng là đặc trưng của văn hóa dân tộc Các dân tộc thường xuyên giao
lưu văn hóa với các dân tộc khác trong quá trình phát triển Trong sự giao lưu
văn hoá đó, các dân tộc không ngừng đấu tranh để bảo tồn và phát triển bản sắc
văn hóa của mình Văn hóa dân tộc là kết tinh tâm lý, tính cách dân tộc Mỗi dân
tộc có tính cách riêng, không pha trộn với tâm lý, tính cách của dân tộc khác
Đây chính là cốt lõi bản sắc dân tộc
Trang 12Như vậy, bốn đặc trưng: cộng đồng về kinh tế, cộng đồng về lãnh thổ, cộng
đồng về ngôn ngữ về văn hóa, tâm lý, tính cách là bốn đặc trưng không thể thiếu
được của mỗi dân tộc Tuy nhiên, dân tộc không phải là phép cộng giản đơn của
bốn đặc trưng - bốn mối quan hệ cộng đồng trên mà chính là kết hợp một cách
biện chứng các mối quan hệ ấy Nó vừa kết nối dân tộc thành một khối vừa tạo ra
động lực để liên kết và phát triển cho mỗi quốc gia dân tộc
Sự hình thành dân tộc
Sự hình thành dân tộc rất đa dạng: có dân tộc được hình thành từ một bộ tộc
phát triển lên, nhưng đa số dân tộc được hình thành trên cơ sở nhiều bộ tộc và tộc
người hợp nhất lại Việc hình thành dân tộc từ các hình thức cộng đồng người
trước dân tộc phát triển lên dân tộc là một quá trình có tính chất liên tục vừa là
bước nhảy vọt Ở Việt Nam, dân tộc được hình thành sớm hơn do điều kiện
chống xâm lược và chống thiên nhiên Dân tộc không chỉ là sản phẩm của sự
phát triển kinh tế văn hóa, mà còn là động lực cho sự phát triển Trong tương lai
của loài người, dân tộc sẽ tồn tại lâu dài ngay cả khi các giai cấp đã mất đi Do
vậy, đấu tranh chống lại sự nô dịch và áp bức dân tộc chính là đấu tranh vì sự
phát triển và tiến bộ chung của nhân loại
1.2 Quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong lịch sử
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, vấn đề dân tộc không thể tách rời
khỏi vấn đề giai cấp, đấu tranh dân tộc không thể tách rời khỏi vấn đề giai cấp,
đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp quan hệ mật thiết với nhau Nhưng dân
tộc và giai cấp là những phạm trù chỉ các quan hệ xã hội khác nhau, mỗi nhân tố
có vai trò lịch sử của nó trong sự phát triển xã hội, không thể quy mối quan hệ
này vào quan hệ kia Giai cấp có trước dân tộc hàng nghìn năm Khi nhân loại
tiến lên chủ nghĩa cộng sản, giai cấp sẽ mất đi, nhưng dân tộc còn tồn tại lâu dài
Việc giải quyết vấn đề giai cấp có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết vấn
đề dân tộc, và vấn đề dân tộc bao giờ cũng được chỉ đạo bởi một quan điểm giai
cấp nhất định Đồng thời, chủ nghĩa Mác- Lênin khẳng định tầm quan trọng đặc
biệt của nhân tố dân tộc đối với sự phát triển xã hội, ý nghĩa cực kỳ to lớn của
việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp
Trang 13công nhân và nhân dân lao động Tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể
mà giải quyết vấn đề dân tộc hay vấn đề giai cấp trở thành nhiệm vụ chủ yếu
trong từng giai đoạn cách mạng
Quan hệ giai cấp, với tư cách là sản phẩm của một phương thức sản xuất
nhất định, là nhân tố có vai trò quyết định đối với sự hình thành dân tộc, tính chất
dân tộc, xu hướng phát triển của dân tộc, quan hệ giữa các dân tộc
CNTB và giai cấp tư sản đang lên có vai trò quyết định đối với quá trình
hình thành dân tộc (quá trình hình thành dân tộc mang tính chất điển hình) Đối
với các dân tộc phương Đông, vai trò này thuộc về tập đoàn xã hội tiên tiến
đương thời
Tính chất của dân tộc được quy định bởi phương thức sản xuất thống trị
trong dân tộc, bởi kết cấu giai cấp được sản sinh từ phương thức sản xuất đó Thí
dụ, sự thống trị của giai cấp tư sản đối với xã hội và đối với dân tộc nói lên tính
chất TBCN của dân tộc đó Sau cách mạng XHCN, giai cấp tư sản mất vai trò
thống trị, giai cấp công nhân trở thành giai cấp lãnh đạo xã hội và dân tộc Sự
thay đổi quan hệ giai cấp đó làm cho dân tộc tư bản chủ nghĩa chuyển hướng trở
thành dân tộc XHCN
Vai trò của nhân tố giai cấp còn thể hiện ở mối quan hệ giữa áp bức giai cấp
và áp bức dân tộc, đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc
Chủ nghĩa Mác đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa, căn bản của áp bức dân tộc là
chế độ người áp bức bóc lột người, nói cách khác, áp bức giai cấp là nguyên nhân
căn bản của áp bức dân tộc Trong thời đại ngày nay, CNTB, do bản chất kinh tế
của nó, là nguyên nhân căn bản và phổ biến của áp bức dân tộc và sự bất bình
đẳng giữa các dân tộc Thực tế hiện nay, hầu hết các dân tộc thuộc địa, do đấu
tranh đã giành được độc lập về chính trị, thì các nhà lý luận tư sản cho rằng,
CNTB đã có khả năng khắc phục tệ áp bức, bóc lột dân tộc Nhưng thực tế liệu
có như vậy, hay trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, áp bức, bóc lột dân tộc không
mất đi mà ngược lại vẫn phổ biến và ngày càng trầm trọng?
Nhân tố giai cấp đóng vai trò quyết định trong mối quan hệ giai cấp - dân
tộc Nhưng cũng không thể tuyệt đối hóa nhân tố giai cấp, coi nhẹ vai trò của dân
Trang 14tộc Thực tiễn cho thấy, các phong trào cách mạng không thể phát triển được,
thậm chí có thể gặp thất bại nếu coi thường hoặc phạm sai lầm nghiêm trọng
trong việc giải quyết vấn đề dân tộc
Kể từ khi có dân tộc thì cộng đồng xã hội dân tộc là địa bàn trực tiếp của
quá trình kinh tế - xã hội, các cuộc đấu tranh giai cấp, các biến cố chính trị, các
cuộc cách mạng xã hội Dân tộc là cái nôi của các nền văn hóa mà nếu không có
những nền văn hóa do nhiều dân tộc tạo ra thì không thể có nền văn minh nhân
loại và không có CNXH
Dân tộc là địa bàn trực tiếp của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công
nhân Lênin nói: "Tổ quốc, nghĩa là hoàn cảnh chính trị văn hóa và xã hội, là
một nhân tố cực kỳ mạnh mẽ đối với cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản
Sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân là sự nghiệp quốc tế xét về các
mặt: Lợi ích căn bản, mục tiêu cuối cùng, chống kẻ thù chung là chủ nghĩa tư
bản quốc tế ” Vì vậy, đoàn kết quốc tế là nguyên tắc căn bản hàng đầu bảo đảm
thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng Song, sự nghiệp cách mạng của
giai cấp công nhân của mỗi nước còn là sự nghiệp có tính dân tộc sâu sắc Địa
bàn chiến đấu trực tiếp của giai cấp công nhân là dân tộc, là Tổ quốc "Giai cấp
vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành
giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc" Là đại biểu chân chính của lợi
ích và truyền thống dân tộc, giai cấp công nhân có khả năng đoàn kết mọi lực
lượng yêu nước và cách mạng xây dựng mặt trận dân tộc trong cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc và CNXH
Áp bức giai cấp gây nên áp bức dân tộc và ngược lại áp bức dân tộc lại trở
thành nguyên nhân làm sâu sắc thêm áp bức giai cấp Đặc biệt trong thời đại đế
quốc chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa và đấu tranh giai cấp ở
chính quốc có quan hệ tác động lẫn nhau hết sức mật thiết Đấu tranh dân tộc
chứa đựng những nội dung giai cấp sâu sắc, nó không chỉ là kết quả mà còn là
nguyên nhân làm cho đấu tranh giai cấp phát triển cả về bề rộng, bề sâu và có
bước nhảy vọt về chất Đánh giá đúng vai trò cách mạng của dân tộc thuộc địa,
Lênin đã phát triển khẩu hiệu của tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: "Vô sản tất cả
Trang 15các nước đoàn kết lại!" thành khẩu hiệu mới: "Vô sản tất cả các nước và dân tộc
bị áp bức đoàn kết lại!" Đó là lời kêu gọi tập hợp lực lượng xung quanh giai cấp
công nhân, tất cả các lực lượng có khả năng cách mạng, chống đế quốc của thời
đại đấu tranh vì các mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH
Vấn đề dân tộc chỉ có thể được giải quyết từng bước và triệt để cùng với sự
thắng lợi của CNXH CNXH có sức mạnh xóa bỏ áp bức giai cấp, đồng thời xóa
bỏ áp bức dân tộc, bảo đảm quyền của các dân tộc tự do phát triển tất cả các giá
trị của mình Tuy nhiên, vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc - giai cấp, quan hệ giữa
các dân tộc là vấn đề cực kỳ phức tạp Quan niệm cho rằng, khi chính quyền đã
về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động thì vấn đề dân tộc sẽ trở lên rất
đơn giản, tự nó được giải quyết là một quan niệm hết sức sai lầm Phải hiểu rằng,
những mâu thuẫn của vấn đề dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH và dưới
CNXH không chỉ là di sản của xã hội cũ mà còn bao gồm các mâu thuẫn mới nảy
sinh đòi hỏi được giải quyết Vấn đề dân tộc trở nên đặc biệt phức tạp khi các
đảng cầm quyền phạm những sai lầm lớn trong việc xử lý các quan hệ dân tộc,
coi thường các lợi ích dân tộc cụ thể, coi thường bản sắc dân tộc, tình cảm dân
tộc, truyền thống dân tộc Sự khủng hoảng về vấn đề dân tộc đã khiến cho
khủng hoảng kinh tế - xã hội nói chung ở một số nước XHCN thêm trầm trọng
Đảng cộng sản Việt nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập đã thực hiện
nhất quán đường lối chiến lược giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH,
đoàn kết các cộng đồng dân tộc đứng lên đấu tranh giành quyền làm chủ vận
mệnh của mình
1.3 Vấn đề dân tộc và quan hệ giai cấp với dân tộc trong thời đại hiện nay
Thời đại ngày nay có nhiều biến đổi ảnh hưởng sâu sắc đến vấn đề dân tộc
và quan hệ dân tộc – giai cấp Đó là:
- Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ tạo
bước nhảy vọt lớn về chất của lực lượng sản xuất, thúc đẩy nhanh chóng quá
trình xã hội hóa, quốc tế hóa các kết cấu giai cấp, các quan hệ giai cấp – dân tộc
– nhân loại