Tiểu luận: Quan điểm về con người của L. Phoi obac. Những giá trị và hạn chế
Trang 1Tiểu luận
Quan điểm về con người của L
Phoiobac Những giá trị và hạn chế
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Bất cứ khoa học nào cũng vì con người, hư ớng tới cuộc sống con ngư ời Triết học là một trong những hình thái ý t hức xã hội, là khoa học về nhữ ng quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội loài người và tư duy Con người là đối tượng nghiên cứu của triết học trong tính phổ quát Có nhiều trư ờng phái triết học ra đời cũng đồng thời có nhiều quan niệm khác nhau về con ngư ời Quan niệm về con ngư ời đã phát sinh và tồn tại từ khi triết học mới hình thành, như ng phải đợi đến cuối thế kỷ XIX, khi xuất hiện hệ thống triết học phê phán của nhà triết học cổ điển Đ ức I K ant(1724-1804) thì các quan niệm đó m ới được hệ thống hoá và trình bày dưới dạng m ột học thuyết triết học với tên gọi
là chủ nghĩa nhân bản Tiếp thu những giá trị tư tưởng trong nhân bản học của Kant, đồng thời dựa trên nhữn g thành tựu mới của k hoa học tự nhiên đương thời, L Phoiobac(1804-1872) có tham vọng vư ơng tới việc thiết lập một nền triết học m ới triết học tương lai lấy con người và đời sống tâm s inh lý của nó làm đối tư ợng nghiên cứu cơ bản T riết học mới L.Phoiobac viết, biến con ngư ời, kể cả giới tự nhiên với tư cách là nền tảng của con ngư ời, thành đối tượng duy nhất, phổ biến, cao nhất của triết học, do đó cũng biến nhân bản học,
kể cả s inh lý học thành khoa học phổ quát
Việc tìm hiểu quan niệm về con người trong triết học L Phoiobac có ý nghĩa giúp ta có cái nhìn toàn diện về lịch sử quan niệm về con người trong triết học nói chung và nhữn g ưu điểm, đóng góp lẫn những hạn chế của ông nói riêng
Trang 3MỤC LỤC
LỜ I NÓI ĐẦU i
CHƯƠNG 1: HO ÀN C ẢN H LỊC H S Ử 1
VÀ CUỘC ĐỜI S Ự NGHIỆP CỦA L PHO IO BAC 1
1.1 Hoàn cảnh lịch sử .1
1.1.1 Đặc điểm k inh tế– xã hội 1
1.1.2 Đặc điểm của triết học cổ điển Đứ c 1
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp Phoiobac 3
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM VỀ C ON NGƯỜI TRON G TRIẾT HỌC L PHOIO BAC .6
2.1 Nội dung triết học Phoiobac: 6
2.2 Quan niệm về con người trong triết học Phoiobac: 6
2.2.1 Mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên 7
2.2.2 Mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại 8
2.2.3 Mối quan hệ giữa con người với con người 10
2.2.4 Mối quan hệ giữa người và thần 11
2.3 Ả nh hư ởng của Chủ ngh ĩa duy vật Phoiobac đ ến t riết học Mác 15
2.3.1 Về tôn giáo: 16
2.3.2 Về con người 16
2.3.3.Về tự nhiên: 18
KẾT LUẬN .20
TÀI LI ỆU TH AM KHẢO .23
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 5
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
VÀ CUỘC ĐỜI SỰ NGHIỆP CỦA L PHOIOBAC
1.1 Hoàn cảnh lịch sử
1.1.1 Đặc điểm kinh tế– xã hội
Nước Đức giữa thế kỷ 18 – nữa đầu thế kỷ 19 lạc hậu, nền kinh tế nông nghiệp phân tán nghèo nàn, lạc hậu , về chính trị chế độ quân chủ Phổ rất khắc nghi ệt, trong tình hình như vậy thì giai cấp tư sản Đức yếu ớt , không đủ sức làm cách mạng tư s ản như một s ố nư ớc kh ác ở Ch âu Âu lúc bấy giờ Vì yếu không đủ sức làm cách mạng cho nên đội ngũ trí thức Đức buộc phải làm cách mạng tư tưởng, và điều đó đư ợc thể hiện trong triết học cổ điển Đức Trong khoảng thời gi an này, khoa học tự nhiên ở phư ơng tây và các nư ớc phát triển, đạt được một s ố t hành tựu l ớn: phát hiện oxy – b ản chất của sự cháy,
tế bào, định l uật bảo toàn và chuyển hóa năng l ượng, học thuy ết về dưỡng khí
và dưỡng khí và đã đưa ra các giả thuy ết khoa học về sự ra đời của vũ trụ Với bối cảnh chính trị xã hội và sự phát triển của khoa học ở phương T ây
và nước Đứ c như vậy đã chứ ng tỏ sự bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc lý giải bản chất các hiện tượng tự nhiên và thự c t iễn xã hội đang diễn
ra vào cuối thế kỷ X VIII, đầu thế kỷ XIX D o đó, nó đòi hỏi cần phải có m ột cách nhìn mới về bản chất các hiện tượng tự nhiên và tiến trình của lịch sử nhân loại, cũng như cần có một quan niệm m ới về khả năn g và vai trò của con ngư ời, và triết học cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứ ng nhữ ng yêu cầu này
1.1.2 Đ ặc điểm của tr iết học cổ điển Đ ức
Triết học cổ điển Đ ức đã tiếp tục phát huy truyền thống duy lý của phương Tây, khôi phục lại quan niệm coi triết học là khoa học của mọi khoa học Các triết gia ra sức xây dựng các hệ thống triết học vạn năng, bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của con người đề làm cơ s ở cho nhữ ng hoạt động đó Đối với Hê-ghen, triết học thật sự phải là logic học; còn đối với Phoiobac, đó là nhân bản học
Tuy nhiên, do cố khắc phục những hạn chế s iêu hình và m áy móc trong nền triết học d uy vật thế kỷ XVII-X VIII mà triết học cổ điển Đức lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm, thần bí Họ cho rằn g, tính biện chứ ng s ống động chỉ là bản tính của cái tinh thần, còn bản thân giới tự nhiên thì phi biện chứng Dù vậy, họ vẫn biết tiếp thu những tư tưởng biện chứng quý báu trong di sản triết học
Trang 6truyền thống của n hân loại, phát triển thêm và xây dựng đư ợc phép biện chứ ng như một h ọc thuyết triết học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển xảy ra trong thế giới Triết học cổ điển Đức đề cao vai trò tích cự c của con ngư ời với tính cách là chủ thể của mọi hoạt động cải tạo th ế giới – khách thể; và khảo sát khách thể gắn liền với hoạt động thự c tiễn của chủ thể– con người Song, do quan điểm duy tâm chi phối mà nh iều triết gia của n ền triết học này hiểu thực tiễn chỉ là hoạt động sáng tạo của ý thức, đồng thời tuyệt đối hóa ý t hức, biến ý thức thành một lực lư ợng s iêu nhiên có năng lự c sáng tạo kỳ vĩ; vì vậy, triết học của họ mang tính duy tâm – thần bí
Triết học cổ điển Đức là cơ sở thế giới quan, là nền tảng ý thức của giai cấp tư sản Đức cuối thể kỷ XVII đầu thế kỷ XIX vốn yếu về kinh tế, như ợc về chính trị, nhưn g có đời sống văn hóa t inh thần khá p hong phú, sống trong m ột
xã hội mà tàn tích phong kiến còn quá nặng nề
Triết học cổ điển Đức ra đời và đáp ứng đư ợc nhu cầu xã hội, nó có một
số điểm cần quan tâm :
- D o đặc điểm tình hình xã hội lúc bấy g iờ, triết học Đức có nội dung rất cách mạng nhưng hình thứ c h iện thì rối rắm và m ang tính bảo thủ ( đi ển hình trong triết h ọc H ê-ghen)
- Đ ã x ây dựng ph ép biện chứng như là một học thuyết hoàn chỉnh trình bày về mối liên hệ phổ b iến và sự phát triển (sau này Triết học Mác ra đời là
kế thừa phép biện chứng n ày) như ng tiếc thay biện chứ ng ở đây là phép biện chứ ng duy tâm
- Đ ề cao v ai trò hoạt đ ộng tíc h cực của con người Con ngư ời đối v ới
họ là một thực thể hoạt động, là chủ thể, nhưng đồng thời là kết quả quá trình hoạt động của chính họ Tư duy và ý thức con người chỉ có thể phát triển trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế gi ới Tuy n hiên họ đã quá thần thánh v ề trí tuệ, sứ c m ạnh của con ngư ời tới mức coi con ngư ời là chúa tể của
tự nhiên
Trang 71.2 Cuộc đời và sự ng hiệp L Phoi obac
L Phoiobac (1804-1872)– đại biểu cuối cùng của triết học cổ điển Đức,
sự kết thúc đầy vinh quang của nó, nhà cải cách kiên cường của nền triết học Đức– nhà duy vật và nhà khai s áng Triết học Phoiobac là s ản phẩm tất y ếu của nhữ ng điều kiện mới, hình thành vào cuối những năm 30– đầu những năm 40
Đó là thời kỳ nhen nhóm t ình thế cách m ạng ở n hiều nơi trên nư ớc Đức, thời
kỳ gia tăng các cuộc đấu tranh tư tư ởng giữa giai cấp tư sản và p hản động Lẽ
cố nhiên nư ớc Đức vẫn chư a thoát khỏi tình trạng lạc hậu về kinh t ế và chính trị, còn giai cấp tư sản Đ ức thì chư a được thống nhất trong phạm vi quốc gia Bên cạnh đó giai cấp tư sả n bây giờ đứn g trước h ai lực lượng mà họ cho là đáng ngại: lực lượng của quá kh ứ và lực lượng của tương lai T rong trường hợp
đó, phần đông nhữ ng người trung lưu chọn giải pháp dung hòa với chế đ ộ dân chủ Nhưn g m ột bộ phận khác, tiến bộ hơn thấy rõ cuộc khủng hoản g s âu s ắc bao trùm toàn bộ hệ thống xã hội phong kiến– nông nô và mon g muốn đưa nước Đ ức ra khỏi tình trạng hiện có Vào những năm 40– 50 của thế kỷ XIX, khắp nơi trên nư ớc Đ ức đã dấy lên làn sóng khởi nghĩa của nông dân.Trong hàng ngũ những ngư ời tham gia đấu tranh có mặt những đại biểu ưu tú nhất của tầng lớp thứ ba và tri thứ c quí tộc Rõ ràn g sự gia tăng mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản đang phát triến và quan hệ phong kiến lỗi thời kéo theo sự ra đời các tổ chứ c xã hội đối lập với chính thể phong kiến, chế độ chuyên chế Phong trào khai s áng Pháp và chủ nghĩa duy vật Pháp thế kỷ XVIII cũng ảnh hư ởng to lớn đến tâm trạng của người Đức Sinh hoạt kinh t ế và chính trị, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Volt aire, M ontesquieu, Rouss eau v.v… ngày càng trở nên sôi động Sự phát triển tư b ản ở Đức đòi hỏi t hủ tiêu Song các nhà tư tưởng tư sản Đức tránh né sự va chạm trự c tiếp với chế độ hiện hành H ọ chống đối chế
độ chuyên chế dư ới dạng phê phán về mặt triết học C ơ đốc giáo chính thống
Họ ngầm hiểu rằng phê phán tôn giáo tức là phê phán lực lư ợng phản động chính trị, bởi lẽ tôn giáo, đặc biệt Cơ đốc giáo, là h ệ tư tư ởng thống trị của nhà nư ớc quân chủ Phổ Tro ng số của những đại biểu kiệt xuất của khuynh hướng dân chủ tư sản nổi lên L.Phoiobac
Trang 8L.P hoiobac sinh trưởng trong một gia đình lu ật sư nổi tiếng ở Đức Năm
1823 với mục đích nghiên cứ u tôn giáo, P hoiobac vào học tại khoa thần học của trường đại học Heidelberg, nhưn g s au một năm lại rời khoa thần học và chuy ển đến Berlin, nơi H ê-ghen đang giảng triết học Tại đây ông trở thành học trò của Hê-ghen và gia nhập phái H ê-ghen trẻ "Nhờ Hê-ghen,– Phoiobac công nhận,– tôi đã ý thứ c được chính mình, ý thức đư ợc thế giới H ê-ghen trở thành người cha thứ hai của t ôi…” Năm 1828 Phoiobac gởi cho H ê-ghen bản luận án của mình m ang tên “ Về lý tính đơn nhất, phổ biến và vô hạn” trong đó ông nói thẳng ý nguyện triển khai tiếp tục chủ nghĩa duy tâm khách quan Đ ôi khi Phoiobac bày tỏ hoài nghi về tinh thần tuyệt đối chế ngự sự vận động tự nhiên, như ng ngay lập tức những lập luận s ắc sảo của H ê-ghen đã chinh phục học trò
Năm 1829, P hoiobac lúc đó 25 tuổi bắt đầu sự nghiệp giảng dạy của mình tại trư ờng đại học Erlangen Tại đây Phoiobac trình bày logic học và s iêu hình học, đồng thời nhen nhóm tư tưởng nhân bản m à về s au trở thành nội dung chủ yếu của chủ nghĩa duy vật đặc trư ng – chủ nghĩa duy vật nhân bản Khái niệm trung tâm –tình yêu
Tình yêu là bản chất của loài người Con ngư ời biết sống trước hết là con ngư ời biết yêu."Đ ứa trẻ chỉ thành người khi nó y êu Bản chất tình yêu thể hiện ở một dạng tình yêu, đó là t ình yêu của ngư ời đàn ông dành cho ngư ời đàn bà"
Năm 1830, Phoiobac xuất bản tác phẩm đ ầu tiên "Q uan điểm về cái chết
và bất tử" Một lần nữa chủ đề tình yêu lại được nêu ra Phoiobac nói về tình yêu thiên đường và tình yêu trần t ục, tình yêu thần t hánh và tình yêu con ngư ời Ông khẳng định: con ngư ời yêu con người, cần phải yêu, yêu là hiến dâng Đề cập đến sự bất tử, Phoiobac cho rằng chỉ cần những hành vi vĩ đại của lý tính con ngư ời mới bất tử, như ng nhìn chung ông bác bỏ tư tưởng phổ biến về sự bất
tử của linh hồn Sách của Phoiobac bị tịch thu, còn vị phó giáo sư bị thì mất việc Cũng từ năm ấy Phoiobac bắt đầu cuộc sống đơn độc, thậm chí ẩn dật ở vùng quê, công bố những tác phẩm đánh dấu cách nhìn khác đối với tr iết học Hê-ghen
Năm 1831, Hê-ghen mất, Phoiobac có dịp bày tỏ toàn bộ quan điểm của mình Cũng như Strauss , Bauer, ông xem việc phê phán tôn giáo giải phóng con người khỏi sự nô dịch của ý thức tôn giáo là mục đích tối cao Như ng ông tuyên bố tô n giáo là hình thức sinh hoạt tinh thần cần có ở bất cứ xã hội nào Vấn đề là ở chỗ tôn giáo đó không kìm hãm nhân cách, trái lại khơi dậy khả năng tiềm tàng nơi con ngư ời N ăm 1836 Phoiobac cưới vợ, trong suốt 25 năm
Trang 9hầu như không rời khỏi ngôi nhà nhỏ của mình, mặc dù năm 1848 trúng cử đại biểu quốc hội vùng F rankfurt
N ăm 1839 Phoiobac đoạn tuyệt hoàn toàn với chủ nghĩa duy tâm Tro ng tác phẩm “Góp phần phê phán triết học H ê-ghen", Phoiobac giải quy ết vấn đề
cơ bản của triết học t heo hư ớng duy vật và xem xét giới tự nhiên, tồn tại, vật chất, như thực tại sinh ra lý tính tư d uy Vư ợt qua khỏi giới h ạn triết học H ê-ghen và Schelling, Phoiobac viết:"Thực tại của tồn tại cảm tính đơn nhất là chân lý" Thuật ngữ “chân lý” trong lối diễn đạt này có nghĩa là “thực tiễn",
“tính có trư ớc” Ở chỗ khác Phoiobac nói thêm: “Chân lý, thự c t iễn, tính cảm giác đồng nhất với nhau Chỉ bản chất cảm tính mới là bản chất chân lý thực tiễn”
N ăm 1841, Phoiobac cho ra mắt tác phẩm chính “ Bản chất đạo Cơ đốc”,
ấn tượng mà nó đem lại thật to lớn Những năm t iếp theo ông viết “Luận cương khởi đầu về cải cách triết học” (1842), “Các luận điểm triết học cơ b ản của tương lai" (1843), Phoiobac đứ ng bên lề của diễn biến cách mạng 1848, tỏ ra là ngư ời thụ động về chính trị, mặc dù hoan nghênh tinh thần dân chủ tư sản của cuộc cách mạng đó
Thời kỳ cách mạng P hoiobac viết và công bố một vài tác phẩm nhưng chẳng mấy ai chú ý Giai cấp tư sản quay lưng lại với nhà tư tư ởng vĩ đại, vì họ không thích t hú gì cái tình yêu nhân loại quá lớn của ông, còn các lực lượng khác nhận thấy ở đó nhữ ng biểu hiện của chủ nghĩa không tưởng chính trị Mãi mãi P hoiobac cũng chỉ là một ngư ời dân chủ xã hội, mặc dầu nhữ ng năm cuối cuộc đ ời ông đọc say sưa bộ "Tư bản", trao đổi bằng thư từ với không ít nhà Mác- xít Ô ng mất năm 1872, tức là s au công xã Paris (1871) thất bại
Trang 10CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG
TRIẾT HỌC L PHOIOBAC
2.1 N ội dung triết học Phoi obac:
N ền triết học mới mà Phoiobac đề cập đến là triết học phản ánh chân lý của thời đại, nó đặt ra và lý giải nhữ ng vấn đề xã hội đư ơng thời mà chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm trước ông đều bất lực: “ Chân lý không phải là chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm, không phải là s inh lý học hay tâm lý học Chân lý là nhân bản học” T heo Phoiobac, tr iết học mới hay triết học tư ơng lai
sẽ khắc phục được sự khác biệt của mình đối với tôn giáo, sẽ không còn là thứ triết học nhận thứ c tư biện, mà trở thành nhân bản học- một học thuy ết toàn diện về con người, về m ối quan hệ của nó với thế giới Tron g triết học m ới, hình ảnh con người sẽ đư ợc trình bày trên cơ sở của các dữ liệu khoa học cũng như trên cơ s ở của họ c thuyết về Chúa Con ngư ời trong nhân bản học không chỉ được hiểu như là một bộ phận của giới tự n hiên mà còn là m ột sinh thể tự nhiên toàn năng Triết học mới có sức mạnh truy tìm lời giải đáp hiện thực để giải quyết mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại Triết học cũ là hệ thống triết học gắn liền với thần học còn triết học mới kết hợp chặt chẽ với khoa học tự nhiên, thực hiện sứ mệnh cao cả của mình là giúp con người nhận diện chính mình như một bộ phận của giới tự nhiên, nhận ra chân giá trị của cuộc sống và nhằm
nỗ lực phấn đấu cho hạnh phúc ngay trong thế giới trần gian Và để thự c hiện được sứ m ệnh lịch sử thiêng liêng đó thì “triết học cần th iết phải liên hệ chặt chẽ với khoa học tự nhiên, còn khoa học tự nhiên thì phải liên hệ chặt chẽ với triết học”
Vốn là n gư ời có tư tưởng cách t ân, Phoiob ac mơ tới việc thiết kế những đồ
án cho việc cải cách triết học và ô ng đã thự c hiện điều đó trong hai tác phẩm
“Những luận điểm dự thảo cho cuộc cải cách triết học” (1842), và “Nhữn g luận
đề cơ bản của triết học tư ơng lai” (1843) Trong các tác phẩm đó, ông đã mở ra một hướng đi mới cho các nhà triết học s au này, đó là truy tìm bí mật của triết học ngay trong giới tự n hiên và con người: “Hãy quan s át giới tự nhiên và con ngư ời bạn s ẽ thấy trong đó những bí m ật của triết học”
2.2 Quan niệm về con người trong triết học Phoi obac :
Với tham vọng như vậy nhà triết học mới này đi s âu vào việc nghiên cứu bản chất con ngư ời bắt đầu từ việc truy tìm: M ối quan hệ giữa con ngư ời và
Trang 11giới tự nhiên; mối qu an hệ giữa tư duy và tồn tại; mối quan hệ giữa người và ngư ời để từ đó ông đi đến kết luận về mối quan hệ giữa n gười và thần
2.2.1 M ối quan hệ giữ a con ngư ời với giới tự nhiên
Tiếp thu những thành tựu của khoa học tự nhiên trên nền t ảng của chủ nghĩa duy vật nhân bản, Phoiobac cho rằng, con người không phải là s ản phẩm của thượng đế như các nh à thần học qu an niệm, nó cũng không phải là sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối như H ê-ghen nói, mà là sản phẩm của giới tự nhiên, ông viết: “Giới tự nhiên là ánh sáng, điện từ, từ tính, không khí, nư ớc, lửa, đất, động vật, thực vật, con người… bởi vì con người là thự c thể hoạt động thiếu tự chủ và vô thức” Như vậy sự phát s inh và tồn tại của con người cũng giống như
sự phát sinh và tồn tại của các hiện tượng tự nhiên khác, chỉ có điều khác là: con người là s ản phẩm tiến hoá cao nhất của giới tự nhiên, là một sinh vật bậc cao có tính vư ợt trội so với các loài động vật khác ở đời s ống t inh thần của nó:
“Sự khác biệt cơ bản giữa loài ngư ời và loài vật là gì? Câu trả lời chung rất đơn giản là: đó là sự khác nhau trong ý thức đúng với nghĩa chân chính của từ này…bởi ý thức theo nghĩa chính xác chỉ có ở chỗ, khi chủ thể có khả năng nhận thức được loài của mình, bản chất của mình Động vật nhận thứ c mình như một cá thể, nó chỉ làm chủ đư ợc quá trình tự cảm giác mà thôi, chứ không phải như một loài…bởi vậy, động vật sống đơn giản m ột mình còn con ngư ời sống có bạn Đ ời sống nội t âm của con vật hoà đồng với thế giới bên ngoài, còn con ngư ời s ống với cả 2 chiều: nội tâm và thế giới bên ngoài Đời sống nội tâm của con ngư ời liên quan mật thiết với loài và bản chất của loài Con ngư ời suy nghĩ, bàn luận và nói với chính mình”
Toàn bộ mối quan hệ giữa giới tự nhiên và con người phản ánh mối quan
hệ giữa thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ, phản ánh tiến trình tiến hoá của sự sống, theo nghĩa thế giới vô cơ là tiền đề, là nền tảng của mọi sự sống nói chung, của đời sống con người nói riêng Con ngư ời chỉ có thể tồn tại trong giới tự nhiên, trong s ự tiếp xúc với thế giới khách quan bên ngoài của nó, và cũng chính thế giới này quy định sự tồn tại và phát triển của các giác quan con ngư ời chứ không phải ngược lại như chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định Ánh sáng tồn tại không phải để cho con m ắt nhìn mà con mắt tồn tại bởi vì có ánh sáng, tương tự n hư vậy, không khí tồn tại không phải để cho con người hít thở mà con người hít thở b ởi vì có không khí Bởi vì nếu không có không khí thì sẽ không có sự sống Tồn tại một m ối quan hệ tất yếu giữa thế giới vô cơ và thế giới hữ u cơ Mối quan hệ này chính là cơ s ở, là bản ch ất của sự sống Bởi
Trang 12vậy, chúng ta không có căn cứ nào để giả định rằng nếu như con người có nhiều cảm giác hay nhiều cơ quan thì nó s ẽ hiểu biết đư ợc nhiều thuộc tính hay nhiều sự vật củ a tự nhiên hơn…con người vừa có đủ những giác quan cần thiết
để cảm nhận thế giới trong tính toàn vẹn và tính tổng thể của nó
2.2.2 M ối quan hệ giữ a tư duy và tồn tại
Từ việc qu an s át hình th ể bên ngoài của con ngư ời cho đến mọi hoạt động lao động s ản xuất cũng như hoạt động t inh thần của nó, Phoiobac cho rằng, con ngư ời là một sinh vật có hình thể vật lý- sinh lý ở trong không gian và thời gian, nhờ vậy nó có năng lực quan sát và s uy nghĩ vượt trội các loài sinh vật khác Bản chất con người là một cái gì đó thống nhất toàn vẹn giữa hai phương diện thể xác (tồn tại) và tinh thần (tư duy) Sự thống nhất toàn vẹn này đảm bảo cho con người có thể tồn tại và phát triển như m ột sinh vật cao nhất, hoàn thiện nhất trong m ọi s inh vật hiện có Và sai lầm của chủ nghĩa duy tâm là sự toan tính thủ tiêu sự thống nhất toàn vẹn đó của con ngư ời, tách tư duy con ngư ời khỏi tồn tại của nó, biến tư duy con ngư ời thành một thự c thể s iêu tự nhiên có khả năng sáng tạo nên thế giới vật chất Còn sai lầm của chủ nghĩa nhị nguyên là đánh đồng tư duy và tồn tại, coi chúng như nhữn g thực thể tồn tại độc lập bên cạnh nhau, đó là một sự khẳng định vòng vo, nử a vời, trái ngư ợc Phê phán nhữn g quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa nhị nguyên trong việc tách đôi thể xác và tinh th ần, tồn tại và tư duy, Phoiobac đã thừa nhận một cách dứt khoát rằng quan hệ thực sự của t ồn t ại đối với tư duy là tồn tại– chủ thể, tư duy– thuộc t ính Tư duy xuất phát từ tồn tại, chứ không phải tồn tại xuất phát từ tư duy…Cơ sở của tồn tại nằm ngay trong tồn tại chính là cảm tính, là nguy ên lý trí tuệ, là sự tất yếu và chân lý…Bản chất của tồn tại với
tư cách một tồn tại chính là bản chất của giới tự n hiên T ại s ao tồn tại là chủ thể, còn tư duy là thuộc tính (của chính chủ thể đó)? Để trả lời câu hỏi này, theo Phoiobac, chúng t a cần đến từ đâu, bộ óc từ đâu đến, cơ qu an cơ thể từ đâu đến, thì tinh thần cũng đến từ đấy, ngay cả hoạt động tinh thần cũng là việc làm của cơ thể, của đầu óc con người, hoạt động đó khác với các hoạt động khác ở chỗ, nó là hoạt động của đầu óc
K hông phải là người nghiên cứu s âu về sinh lý học, s ong Phoiobac cũng nhận thấy rằng, mỗi con ngư ời cụ thể bằng xương bằng thịt đang sống và ho ạt động là những bằng chứ ng sinh động về sự thống nhất giữa thể xác và tinh thần, giữa phư ơng diện vật lý và p hương diện tâm lý Sự thống nhất này p hản ánh sự thống nhất giữa cấu trúc v à chức năng, giữa giải phẫu học và s inh lý
Trang 13học Và cũng từ đó ông dễ dàng rút ra một kết luận triết học duy vật rằng, tư duy, ý thứ c củ a con ngư ời không là cái gì khác như là thuộc tính vốn có của một dạng vật chất có tổ chứ c cao– bộ óc con người Ch ính ở đ ây ông đã phần nào phỏng đoán được nội dung vấn đ ề cơ bản của triết học, điều mà suy nghĩ này, Ănghen đã phát biểu một cách rõ ràn g hơn trong tác phẩm “Lutvich Phoiobac và sự cáo chung của triết học cổ điển Đ ức”
Sau khi công nhận m ột cách dứt khoát rằng, tồn tại của chủ thể, tư duy là thuộc tính, ý thức là sản phẩm của bộ óc con người, Phoiobac đi đến việc tìm hiểu sâu hơn bản chất tự nhiên– s inh học của con người “ Bản chất chung của con ngư ời là gì? Nhữn g nhân tính cơ bản trong con ngư ời là gì? Đ ó là lý tính, ý chí và trái tim Con ngư ời hoàn thiện có năng lực tư duy, sức mạnh ý chí và nguồn lực t ình cảm Năng lực tư duy chính là ánh s áng của nhận thứ c, sức mạnh của ý chí ch ính là năng lượng của tính cách, nguồn lực tình cảm chính là tình yêu…Trong ý chí, tư duy và tình cảm luôn chứa đựn g bản chất tối cao, tuyệt đối của con ngư ời là m ục đích tồn t ại của n ó…con người tồn t ại để nhận thức, yêu thương và mong muốn.Nhưng mục đích của lý tính, của ý chí, của tình yêu là gì? Là để làm cho con ngư ời trở t hành ngư ời tự do Qua nhữ ng lời
lẽ đ ó, nhà triết học cổ điển Đức m uốn chứn g m inh rằng, bản chất chung của con người là tổng hoà mọi khát vọng chính trị, mọi năn g lực nhận thức v à nhu cầu tự nhiên-s inh học đã trầm tích trong quá trình phát triển lịch sử lâu dài của
nó
Mọi mong muốn, khát vọng tự nhiên của con ngư ời theo quan điểm của Phoiobac không phải xuất phát từ tư tưởng thuần tuý m à chúng phản ánh đời sống hiện thực của con người và do đời sống đó quy định Nói cách khác, trong con người, cái sinh lý q uy định cái tâm lý, cái tự nhiên- s inh học quy định cái
xã hội, nhu cầu vật chất quy định hành động xã hội “Đ iều ác xuất hiện không phải trong đầu óc, trong trái tim- Phoiobac viết- mà xuất hiện chính trong dạ dày con người” Quan điểm này của Phoiobac đã làm cho Ă nghen rất chú ý Trong t ác phẩm “Lutvich Phoiobac và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, Ă nghen đánh giá cao luận điểm của P hoiobac: “Trong một cung điện, ngư ời ta suy nghĩ khác trong m ột túp lều tranh” “Nếu như vì đói, vì nghèo mà trong cơ thể không có ch ất dinh dư ỡng, th ì trong đầu óc anh, trong tình cảm và trong trái tim anh cũng không có chất nuôi đạo đứ c” Đây là luận điểm hoàn toàn mới s o với đương t hời, vì theo quan điểm này thì điều kiện sinh hoạt vật chất của con người quy định suy nghĩ và tư tưởng của nó Tuy nhiên, Phoiobac chư a có khả năng nhìn nhận con người với tư cách là một cá thể của loài, với tư