1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Vận dụng phép biện chứng duy vật trong triết lý tuyển dụng, đào tạo nhân sự tại Công ty Cổ Phần Hóa An

25 2,5K 22
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 453,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận: Vận dụng phép biện chứng duy vật trong triết lý tuyển dụng, đào tạo nhân sự tại Công ty Cổ Phần Hóa An

Trang 1

Tiểu luận

Vận dụng phép biện chứng duy vật trong triết lý tuyển dụng, đào tạo nhân sự tại Công ty Cổ Phần Hóa An

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam chính thức được gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 07/11/2006 và là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này Đây là một thuận lợi đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam Bên cạnh những khó khăn về ngành nghề, thương hiệu, tài chính, thị trường , các doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc gây dựng cho mình một đội quân “tinh nhuệ” Đó chính là đội ngũ nhân viên có năng lực, phẩm chất, sáng tạo, nhiệt tình và gắn bó với doanh nghiệp Doanh nghiệp cần có một chiến lược nhân s ự toàn diện trong đó việc đầu tiên là phải xây dựng một chương trình tuyển dụng, đào tạo lao động tốt cho mình

Cha ông ta cũng đã từng đúc kết “Dụng nhân như dụng mộc” Gỗ mà tốt, chắc chắn làm khung; gỗ mềm, đẹp là m bề mặt; gỗ không tốt, không đẹp làm bộ phận bên trong không cần chịu lực Biết sử dụng từng loại gỗ cho từng sản phẩm, từng bộ phận sản phẩm cũng giống như sử dụng người phải đúng người đúng việc, phát huy được sở trường, khả năng của từng người Nguồn lực con người chính là nguồn lực quan trọng nhất của mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp Để có thể sử dụng đúng người phải bắt đầu ngay từ khâu tuyển dụng Làm tốt công tác tuyển dụng, doanh nghiệp sẽ thu hút được những con người có năng lực, phẩm chất và sở thích phù hợp với doanh nghiệp, với công việc mà họ sẽ làm

Tuy nhiên việc tuyển dụng, đào tạo nhân lực là một công việc phức tạp, hoàn toàn không thể dựa vào trực giác mà phải theo quy trình, phương pháp khoa học Bài viết này

tìm hiểu về “Vận dụng phép biện chứng duy vật tr ong triết lý tuyển dụng, đào tạo nhân sự tại Công ty Cổ Phần Hóa An” và ảnh hưởng của triết lý đó đến tuyển dụng, đào tạo nhân s ự công ty từ năm 2010 đến năm 2015

Trang 3

MỤC LỤC Lơì mở đầu

Giới thiệu về nhóm và nhiệ m vụ

Phần I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC

1.1 Phép biện chứng duy vật

1.2 Phép biện chứng duy vật trong tuyển dụng và đào tạo nhân sự trong doanh nghiệp

Phần II: Giới thiệu tổng quan công ty Cổ Phần Hoá An

I- Giới thiệu tổng quan về Công ty Cổ Phần Hóa An

II- Bộ máy tổ chức tại Công ty Cổ Phần Hóa An

Phần III: Vận dụng phép biện chứ ng duy vật trong công tác tuyển dụng, đào tạo của Công ty Cổ Phần Hóa An, giai đoạn 2011 – 20…

3.1 Quy Trình và triết lý tuyển dụng của Công ty cổ phần Hóa trên cơ sở phép biện chứng duy vật của Triết học

3.1.1 Quy trình tuyển dụng của Công ty cổ phần Hóa An

3.1.2 Triết lý tuyển dụng của Công ty cổ phần Hóa An trên cơ sở phép biện chứng duy vật của Triết học

3.1.3 Những vấn đề tồn tại và k iến nghị của nhóm về công tác tuyển dụng của Công ty cổ phần Hóa An

3.2 Quy trình và triết lý đào tạo của Công ty cổ phần Hóa An trong giai đoạn 2010-2016 trên cơ sở phép biện chứng duy vật của Triết học

3.2.1 Quy trình đào tạo của Công ty cổ phần Hóa An.(giai đoạn 2011-2016) 3.2.2 Triết lý đào tạo của Công ty cổ phần Hóa An trên cơ sở phép biện chứng duy vật của Triết học

3.2.3 Những vấn đề tồn tại và kiến nghị của nhóm về công tác đào tạo của Công ty

cổ phần Hóa An

Phần IV: Các kiến nghị chung về giải pháp cho công tác tuyển dụng, đào tạo tại Công ty

cổ phần Hóa An

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC

1.1 Phép biện chứng duy vật

1.1.1 Khái niệm

Thuật ngữ “biện chứng” có gốc từ tiếng Hy Lạp là dialektica (với nghĩa là nghệ thuật đàm thoại, tranh luận) Theo nghĩa này, biện chứng là nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân lý bằng cách phát hiện các mâu thuẫn trong lập luận của đối phương và nghệ thuật bảo vệ những lập luận của mình Người Hy Lạp cổ đại cho rằng, đã là tri thức đúng thì không thể có mâu thuẫn trong tri thức đó và quá trình đi tới chân lý là quá trình giải quyết những mâu thuẫn trong lập luận

Trong triết học Mác, thuật ngữ “biện chứng” được dùng đối lập với “siêu hình”

Đó là lý luận đồng thời là phương pháp xe m xét sự vật trong trạng thái liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau và trong quá trình vận động, phát tirển không ngừng Phương pháp đó không chỉ thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng; không chỉ thấy s ự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành

và tiêu vong của sự vật; không chỉ thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật; không chỉ thấy “cây” mà còn thấy cả “rừng” Phương pháp đó vừa mề m dẻo, vừa linh hoạt, thừa nhận trong những trường hợp nhất định, bên cạnh cái “ hoặc là … hoặc là”, còn có “cả cái này lẫn cái kia” nữa

Phép biện chứng duy vật có khả năng đem lại cho con người tính tự giác cao trong mọi hoạt động Mỗi luận điểm của phép biện chứng duy vật là kết quả của sự nghiên cứu rút ra từ giới tự nhiên, cũng như lịch sử xã hội loài người Mỗi nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng đều được khái quát và luận giải trên cơ sở khoa học Chính vì vậy, phép biện chứng duy vật đã đưa phép biện chứng từ tự phát đến tự giác

1.1.2 Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng

Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật là hai nguyên lý cơ bản và đóng vai trò xương s ống trong phép duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin khi xe m xét, kiến giải sự vật, hiện tượng Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh hiện thực khách quan Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất Hai nguyên lý cơ bản gồm:

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là nguyên tắc lý luận xe m xét sự vật, hiện

tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng

trong thế giới Nguyên lý này biểu hiện thông qua 06 cặp phạm trù cơ bản

Nguyên lý về sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi xe m xét sự

vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ ké m hoàn

Trang 5

thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật) Nguyên lý này biểu hiện thông qua ba quy luật cơ bản

1.1.2.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát bức tranh toàn cảnh về thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tuợng của nó Tính vô hạn của thế giới khách quan, tính có hạn của sự vật hiện tượng trong thế giới đó chỉ có thể giải thích được trong mối liện hệ phổ biến và được quy định bằng nhiều mối liên hệ có hình thức

và vai trò khác nhau

a) Các tính chất của mối liên hệ:

- Tính khách quan: các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức của con người

- Tính phổ biến: bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào; ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với sự vật và hiện tượng khác Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên

b) Ý nghĩa phương pháp luận:

Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hoá, qui định lẫn nhau giữa các

sự vật hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xe m xét phiến diện

Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại g iữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật

1.1.2.2- Nguyên lý về sự phát triển:

Trong phép biện chứng duy vật, phát triển dùng để khái quát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Quá trình đó vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt làm cho sự vật, hiện tượng cũ mất đi, sự vật, hiện tượng mới về chất ra đời Phát triển là tự thân Động lực của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng Phát triển đi theo đường

“xoáy ốc”, cái mới dường như lặp lại một số đặc trưng, đặc tính của cái cũ nhưng trên cơ

sở cao hơn; thể hiện tính quanh co, phức tạp, có thể có những bước thụt lùi tương đối

trong s ự phát triển

Trang 6

a) Tính chất của sự phát triển:

- Tính khách quan: nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, vì thế

sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người

- Tính phổ biến: tính phổ biến được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật hiện tượng nào của thế giới khách quan

- Tính đa dạng, phong phú: tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau,

sự vật phát triển sẽ khác nhau

b) Ý nghĩa phương pháp luận:

Quan điểm phát triển đòi hỏi khi nhận thức, khi giải quyết một vấn đề nào đó con người phải đặt chúng ở trạng thái động, nằm trong khuynh hướng chung là

phát triển

Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tuỳ theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống con người Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, đ ịnh kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt độn thực tiễn

1.3- Những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

1.3.1- Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất:

Cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhất định và cái đơn nhất Cái chung là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính lập lại trong nhiều

sự vật, nhiều hiện tượng Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm chỉ có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác

Giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất có mối liên hệ biện chứng nhau Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, biểu hiện thông qua cái riêng, ngược lại, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, bao hàm cái chung cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận nhưng sâu s ắc hơn cái riêng, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình vận động và phát triển của

sự vật

1.3.2- Nguyên nhân và kết quả:

Nguyên nhân là sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vậ, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

Giữa nguyên nhân, kết quả có mối liên hệ qua lạ i, quy định nhau Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên luôn có trước kết quả, sau khi xuất hiện, kết quả có ảnh hưởng

Trang 7

tích cực trở lại đối với nguyên nhân Sự phân biệt nguyên nhân, kết quả có tính tương đối Một sự vật, hiện tượng ở trong mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng lại là kết quả trong mối quan hệ khác và ngược lại tạo nên chuỗi nhân -quả vô tận Do vậy, nguyên nhân, kết quả bao giờ cũng ở trong mối quan hệ cụ thể

1.3.3- Tất nhiên và ngẫu nhiên:

Trong khi phản ánh hiện thực khách quan, con người nhận thức được tính không một nghĩa, không cùng một giá trị của các mố i liên hệ khác nhau của sự vật, hiện tượng nên phân chia chúng thành nhóm các mối liên hệ nhất định phải xảy ra đúng như thế và nhóm các mối liên hệ có thể xảy ra, cũng có thể không xảy ra, cũng có thể xảy ra thế này hay thế khác Tất nhiên do mối liên hệ bản chất, do những nguyên nhân cơ bản bên trong của sự vật, hiện tượng quy định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác Ngẫu nhiên do mối liên hệ không bản chất, do những nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định, có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện thế này hoặc có thể xuất hiện thế khác Giữa tất nhiên và ngẫu nhiên có mối liên hệ biện chứng với nhau

1.3.4- Nội dung và hình thức:

Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng; là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố, sự vật của hiện tương

Giữa nội dung và hình thức có mối liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau, trong đó nội dung giữ vai trò quyết định Nội dung đòi hỏi phải có hình thức phù hợp với nó Khi nội dung thay đổi thì hình thức cũng phải thay đổi theo Tuy nhiên, hình thức cũng có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại nội dung Khi hình thức phù hợp với nội dung, nó là động lực thúc đẩy nội dung phát triển, còn khi không phù hợp, hình thức cản trở sự phát triển của nội dung Cùng một nội dung, trong quá trình phát triển, có thể thể hiện dưới nhiều hình thức và ngược lại, cùng một hình thức có thể phù hợp những nội dung khác nhau

1.3.5- Bản chất và hiện tượng:

Để nhận thức đúng sự vật từ các hiện tượng phong phú, con người đi sâu nghiên cứu bản chất của sự vật Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định bên trong, quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Hiện tượng là những biểu hiện bên ngoài, bề ngoài của sự vật

Giữa bản chất và hiện tượng có mối liên hệ biện chứng nhau Bản chất và hiện tượng thống nhất nhau: bản chất thể hiện thông qua hiện tượng, còn hiện tượng là sự thể hiện của bản chất Bản chất tương đối ổn định, ít biến đổi hơn, còn hiện tượng “động” hơn, thường xuyên biến đổi hơn

1.3.6- Khả năng và hiện thực:

Khi đã nhận thức được bản chất và những mâu thuẫn vốn có của sự vật, hiện tượng, chúng ta có thể phán đoán được sự vật, hiện tượng s ẽ biến đổi theo hướng nào,

Trang 8

nghĩa là chúng ta có thể nhận thức được đồng thời cả hiện thực và khả năng biến đổi của

sự vật, hiện tượng

Khả năng là cái hiện chưa xảy ra, nhưng s ẽ xảy ra khi có các điều kiện thích hợp Hiện thực là cái đang có, đang tồn tại thực sự Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật Trong hiện thực bao giờ cũng chứa những khả năng nhất định; ngược lại, khả năng lại nằ m trong hiện thực và khi đủ điều kiện sẽ biến thành hiện thực mới

1.4- Một số quy lu ật cơ bản của phép biện chứng duy vật:

Bên cạnh các cặp phạm trù, phép biện chứng duy vật còn bao hàm ba quy luật phổ biến về sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy

1.4.1- Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất và ngược lại:

Chất là t ính quy định khách quan, vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác Lượng là tính quy định vốn

có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật Mỗi sự vật đều là sự thống nhất giữa chất và lượng Những thay đổi về lượng của sự vật chưa gây ra những thay đổi căn bản về chất được gọi là độ Những thay đổi về lượng quá giới hạn độ sẽ làm cho chất của sự vật biến căn bản Điểm mà tại đó sự thay đổi căn bản về chất được thực hiện gọi là điểm nút Bước nhảy là bước thay đổi căn bản về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất còn có chiều ngược lại

Nắm được nội dung quy luật này sẽ tránh nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, đồng thời tránh tư tưởng tuyệt đối hoá sự thay đổi về lượng, không kịp thời chuyển những thay đổi

về lượng sang những thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến hoá sang những thay đổi mang tính cách mạng và ngược lại không biết sử dụng chất mới để thúc đẩy lượng tiếp tục phát triển

1.4.2- Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập:

Đây là “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật, nó chỉ ra nguồn gốc, động lực của

sự phát triển Theo phép biện chứng, mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau Sự tác động giữa chúng tạo thành mâu thuẫn bên trong của sự vật Các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau Trong đó, thống nhất là tương đối, tạm thời; đấu tranh là tuyệt đối, vĩnh viễn Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động, sự phát triển.Quy luật này có ý nghĩa phương pháp luận to lớn trong việc phát hiện và phân tích mâu thuẫn của sự vật cũng như tìm ra con đường đúng đắn để giải quyết mâu thuẫn nhằm thúc đẩy sự vật phát triển

1.4.3- Quy luật phủ định của phủ định:

Phủ định biện chứng là quá trình khách quan, tự thân, là quá trình kế thừa cái tích cực đã đạt được từ cái cũ, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới cao hơn, tiến bộ hơn

Trang 9

Quá trình phủ định của phủ định tạo thành sự vận động, phát triển không ngừng mang tính chu kỳ của thế giới khách quan Trải qua một số lần phủ định, sự vật, hiện tượng dường như lặp lại những giai đoạn đã qua trên cơ sở mới, cao hơn và như vậy, phát triển không đi theo đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”

Quy luật này có một ý nghĩa phương pháp luận to lớn trong quá trình thay thế cái

cũ bằng cái mới Nó đòi hỏi phải xuất phát từ những điều kiện khách quan cho phép, phải tạo điều kiện, tiền đề cho cái mới chiến thắng cái cũ, phải biết kế thừa và phát triển sang tạo những cái tích cực đã đạt được từ cái cũ, đồng thời phải thấy được tính chất quanh co, phức tạp trong quá trình ra đời cái mới

1.2 Phép biện chứng duy vật trong tuyển dụng và đào tạo nhân sự tại doanh nghiệp Nguyên Tắc tuyển dụng

Tuyển dụng nhân sự là một công việc hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp Không đơn giản như khi có việc làm, cần người thì tiến hành tuyển và khi dư thừa người, hoặc nếu người được tuyển dụng không đáp ứng được yêu cầu của công việc thì doanh nghiệp

sa thải một cách dễ dàng Để tránh tình trạng này, việc tuyển người phải xuất phát từ quan điểm chọn lọc những thành viên có năng lực, có phẩm chất đạo đức và họ sẽ gắn

bó cả cuộc đời với doanh nghiệp Chất lượng của các thành viên sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Xe m xét vấn đề nhân sự cần phải trên lập trường thế giới quan và nhân s inh quan cộng sản chủ nghĩa, mặt khác phải nhìn nhận bằng một phương pháp biện chứng duy vật

Để phục vụ cho việc tuyển dụng được chính xác, các doanh nghiệp nên lựa chọn vào những triết lý mang tính biện chứng; đồng thời phải rèn luyện cho mỗi cá nhân có tinh thần hợp tác vì đồng đội, vì cái chung

- Cuộc sống xã hội rất phức tạp và biến đổi không ngừng, nhất là trong môi trường kinh doanh – sản xuất thì sự thay đổi có thể tính từng giờ, từng phút Cho nên không thể tuyển những người có tư duy máy móc, rập khuôn, thiếu s áng tạo, mà phải lựa chọn những người có tính nhanh nhẹn, nhạy bén, linh hoạt thích ứng với sự biến đổi của hoàn cảnh Đối với doanh nghiệp, kiến thức chuyên môn của một nhân viên rất quan trọng nhưng có thể đào tạo, vì nó thuộc về bản tính, tư chất riêng của người đó

- Doanh nghiệp tồn tại và phát triển rất cần tinh thần hợp tác, tinh thần đồng đội, có sự hòa nhập vào tập thể, biết vì mục đích chung của doanh nghiệp Do vậy, triết lý tuyển dụng ở đây là tìm những đồng đội chứ không phải tìm những s iêu sao Trên thực tế, có những người rất giỏi chuyên môn, nhưng s au một thời gian thử việc họ không phát huy được, không hòa nhập được với tập thể, vì họ là những người mang tính ích kỷ, tự cao,

cá nhân chủ nghĩa, không tạo dựng được êkip là m việc tốt Phải chăng: Sức mạnh của

Trang 10

công ty không chỉ cần những cá nhân xuất sắc về chuyên môn, mà công ty còn phải có những cá nhân biết hợp tác tốt với nhau

Nguyên tắc đào tạo

Về lĩnh vực đào tạo nhân sự còn tùy thuộc vào nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu kinh doanh và tính chất, trình độ kỹ thuật, máy móc của doanh nghiệp Sự chi phối và ảnh hưởng của những nhân tố đặc thù của nền văn hóa cùng với những đặc điểm nền kinh tế - xã hội cụ thể có sự tác động rất lớn đến mục tiêu đào tạo nhân sự của doanh nghiệp chứ không phải chỉ phụ thuộc vào các triết lý nhân sự của từng doanh nghiệp

Ở nước ta, có lẽ nên thiên về xu hướng cung cấp những kiến thức mang tính ứng dụng thực tế để có thể áp dụng trực tiếp vào sản xuất kinh doanh, đồng thời nên tập trung vào đối tượng đại chúng nhằm nâng cao trình độ dân trí Nên đặt vấn đề đào tạo nhân sự gắn với tính chất biện chứng của nhu cầu thiết thực của doanh nghiệp: phát hiện nhân tố mới, đào tạo bồi dưỡng để nhân tố mới hình thành và không ngừng phát triển, cần phải tin tưởng vào nhân tố mới

Thực tế hiện nay các doanh nghiệp rất cần đội ngũ công nhân lành nghề, có ý thức tổ chứa kỷ luật cao; cần đội ngũ kỹ sư, chuyên gia giỏi thực hành Để đáp ứng được đội ngũ nhân sự nêu trên, cần phải có nhân tố hết sức quan trọng đó là các trường đại học, cao đẳng, trường dạy nghề Phải xây dựng chương trình đào tạo gắn lý luận với thực tiễn, có thể hình thành các xí nghiệp, công ty trong trường đại học, trường dạy nghề (vấn

đề này đã được Đảng và nhà nước ta cho phép) Những nhân viên mới tuyển dụng cần phải trải qua quán trình đào tạo, huấn luyện của doanh nghiệp, quá trình đó chia làm nhiều giai đoạn và cần chú ý các triết lý sau :

- Triết lý là m quen với doanh nghiệp

Nhân viên mới tuyển dụng cần phải hiểu về lịch sử, truyền thống của doanh nghiệp, mục tiêu sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, các nguyên tắc làm v iệc, triết lý kinh doanh Nhân viên mới được học về các quy chế, quy định, quyền lợi và nghĩa vụ của họ đối với doanh nghiệp, học về cơ cấu tổ chức, các chức danh chủ chốt của doanh nghiệp

và biết những đảm nhận của chức vụ đó Nhân viên mới phải được học cách ăn nói, cách tiếp xúc, xử sự trong quan hệ với mọi người trong doanh nghiệp, với cấp trên, với đối tác của doanh nghiệp …Tất cả những yêu cầu đó rất cần thiết đối với một nhân viên, công nhân, chuyên gia mới vào doanh nghiệp nhằm tạo ra một phong cách lao động kỷ luật làm việc, lố i ứng xử đúng đắn; đặc biệt là hình thành lối tư duy hết sức khoa học, tiến

bộ, tránh được những suy nghĩ duy tâm, duy ý chí

- Triết lý đào tạo và tự đào tạo chuyên môn

Trang 11

Tại doanh nghiệp, phải xây dựng được quan hệ chuyên môn gắn bó giữa những đồng nghiệp, giữa chủ và thợ, giữa thợ với thợ vì đây là yếu tố quyết định s ự phát triển của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của từng cá nhân Do vậy, trong vài ba năm doanh nghiệp phải xây dựng chương trình đào tạo lại, hoặc nâng cao hoặc tổ chức cho nhân viên học thêm những nghề mới Việc là m này có tác dụng tạo cho nhân viên giỏi nghề, biết nhiều nghề để trong quá trình làm việc họ hiểu được những yêu cầu đó trong dây chuyền s ản xuất Đồng thời khi một vị trí nào đó gặp khó khăn, các bạn đồng nghiệp có khả năng, có tay nghề cao sẽ giúp đỡ được lẫn nhau

Doanh nghiệp tạo điều kiện để công nhân, viên chức của mình hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống cũng như trong chuyên môn, tránh hiện tượng ganh ghét, ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân… Khuyến khích nhân viên tự học tập nâng cao trình độ văn hóa, nghiệp

vụ, chuyên môn ngoài giờ là m việc, thiếu linh hoạt trong khi hành động

Mỗi nhân viên phải lấy triết lý “ tự thân vận động” để nâng cao chuyên môn của mình, còn đồng nghiệp, cơ quan, thủ trưởng … chỉ đạo điều kiện, góp phần cùng với sự tự phấn đấu, tự nâng cao trình độ của chính mình Do vậy, nhân viên phải xác định được hiện tại mình đang ở vị trí nào trong doanh nghiệp, tương lai mình sẽ tiến bộ thế nào và cũng phải biết các mối quan hệ trong doanh nghiệp ra sao? Xu hướng phát triển doanh nghiệp như thế nào? Từ đó lập kế hoạch tự rèn luyện và phấn đấu cho phù hợp với xu hướng chung của tập tểh doanh nghiệp, kết hợp chặt chẽ giữa cái riêng và cái chung cho thỏa đáng

Một triết lý khác được đặt ra là các doanh nghiệp có thể tổ chức các chương trình đào tạo tại chỗ cho công nhân, viên chức của mình bằng cách thuyên chuyển, thay đổi chức

vụ trong nội bộ nhằm:

- Tránh sự nhàm chán, chủ quan, ỷ lại…do quá quen là m một loại công việc, nhưng khi nhận chức vụ mới buộc họ phải tìm h iểu để thích nghi, tạo ra thói quen ham tìm hiểu, ham học tập

- Tạo cho nhân viên có cách nhìn toàn diện, bao quát hơn về doanh, thấy hết được những khó khăn, thuận lợi của doanh nghiệp cũng như của từng bộ phận, từ đó có sự cảm thong, tạo s ự hợp tác, giúp đỡ nhau giữa người này với người khác, vươn lên trong lao động sản xuất

Như vậy, nắm vững tính biện chứng trong tuyển dụng và đào tạo nhân sự nhằm mục đích phục vụ cho triết lý thị trường của doanh nghiệp, phục vụ cho cơ cấu tổ chức của thị trường cuả doanh nghiệp : thị trường, thực tế sản xuất – kinh doanh và con người Các yếu tố này luôn luôn biến đổi, cho nên muốn giành thắng lợi phải thường xuyên tiếp thu những ý kiến mới, bổ sung những chủ trương, biện pháp mới để nâng cao hiệu quả

Trang 12

sản xuất với tốc độ nhanh nhất; phải năng động, linh hoạt, hội nhập với điều kiện mới, chính s ách mới của Nhà nước trên cơ sở đó đủ bản lĩnh để cạnh tranh và thắng lợi trên thương trường, tạo cho doanh nghiệp tăng trưởng vững chắc

PHẦN II:GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN HÓA AN

1 Lịch sử hình thành và phát triển cuả c ông ty

1.1 Lịch sử hình thành:

Công ty cổ phần Hóa An là một doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp

Được thành lập theo Quyết định số 47/2000 QĐ- TTg ngày 18 tháng 4 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Doanh nghiệp Nhà nước Công ty Khai thác đá

và VLXD Hóa An, thuộc Tổng Công ty VLXD số 1, Bộ Xây dựng thành Công ty cổ phần Hóa An

Tiền thân Công ty khai thác đá và VLXD Hóa An là Xí nghiệp đá Bình Hòa (Vĩnh Cửu, Đồng Nai ) thuộc Công ty VLXD số 1, Bộ Xây dựng Được thành lập theo quyết định số 1309/BXD- TCCB ngày 29 tháng 7 năm 1978 của Bộ trưởng Bộ xây dựng với nhiệm vụ : tổ chức khai thác và chế biến đá Xây dựng, phục vụ cho các công trình xây dựng ở khu vực : Thành phố Hồ Chí Minh,miền Đông Nam Bộ và một phần miền Tây Nam Bộ

Tháng 1 năm 1980 xí nghiệp đá Bình Hòa được đổi tên thành : Xí nghiệp đá Hóa

An, thuộc Liên hiệp các xí nghiệp đá cát sỏi- Bộ xây dựng

Từ tháng 1 năm 1985 trực thuộc Liên hiệp các xí nghiệp VLXD số 1,Bộ xây dựng

để phù hợp với xu thế phát triển của Doanh nghiệp, cũng như chính sách của Nhà nước,

Xí nghiệp đá Hóa An đã được Bộ trưởng Bộ xây dựng cho phép đổi tên thành : Công ty khai thác đá và VLXD Hóa An từ tháng 4 năm 1995, trực thuộc Tổng Công ty VLXD số

1, Bộ Xây dựng

Vào ngày 25 tháng 5 năm 2000, Công ty tiến hành thành lập tổ chức Đại hội Cổ đông thông qua điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty cổ phần Hóa An và kế hoạch sản xuất kinh doanh cho các năm 2000 đến 2002 Đã được Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4703000008 ngày 8 tháng 6 năm

2000 do sở kế hoạch đầu tư tỉnh Đồng Nai cấp lần 1 và đăng ký thay đổi lần 7 ngày 31 tháng 11 năm 2010

Công ty chính thức hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần kể từ ngày 1 tháng 6 năm 2000

Ngày đăng: 09/05/2014, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w