1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kh≤A Lu_N T_T Nghi_P Hoαn L_N 2.Doc

60 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động tạo hình trong giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 307 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TẠM ỔN, SỬA TIẾP NHÉ, CĂN CHỈNH PHÔNG, LÙI DÒNG, CÁCH DÒNG, CHÍNH TẢ TÓM TẮT THÌ GIỮ NGUYÊN PHẦN MỞ ĐẦU, CÒN LẠI CÁC CHƯƠNG CẮT TÓM TẮT NHƯ E OK, K 20 TRANG TÀI LIỆU THAM KHẢO HƠI ÍT, CÓ THỂ ĐƯA THÊM[.]

Trang 1

TẠM ỔN, SỬA TIẾP NHÉ, CĂN CHỈNH PHÔNG, LÙI DÒNG, CÁCH DÒNG, CHÍNH TẢ

TÓM TẮT THÌ GIỮ NGUYÊN PHẦN MỞ ĐẦU, CÒN LẠI CÁC CHƯƠNG CẮT TÓM TẮT NHƯ E OK, K 20 TRANG

TÀI LIỆU THAM KHẢO HƠI ÍT, CÓ THỂ ĐƯA THÊM LUẬT GD, CHƯƠNG TRÌNH GDMN, BỘ CHUẨN CHO TRẺ 5 TUỔI…

nó là cơ sở ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người”

HĐTH còn phát triển ở trẻ khả năng quan sát, trí tưởng tượng sáng tạo, khả năng phối hợp giữa mắt và tay, hoàn thiện một số kỹ năng cơ bản (vẽ, nặn, xé dán cắt ) Đặc biệt trong giờ học vẽ trẻ thích tự tay vẽ được một cái

gì đó dù là các hình còn đơn giản như ngôi nhà, cái cây, bông hoa, ô tô nhưng mang lại cho trẻ cảm xúc thực sự khi tạo ra được một sản phẩm Còn đối với những gì trẻ không thích, không hứng thú thì trẻ sẽ vẽ đại khái cho xong và cảm thấy hài lòng, hơn nữa tư duy của trẻ gắn liền với cảm xúc, ý

Trang 2

muốn chủ quan nên trẻ ghi nhớ những gì trẻ cảm thấy thích thú và say mê thực hiện ý tưởng của mình Ngoài ra, giờ vẽ còn hình thành ở trẻ những kỹ năng như ngồi ngay ngắn, kỹ năng cầm bút… là những kĩ năng rất cẩn thiết cho trẻ bước vào lớp 1 CHUYỂN Ý, ĐẶC BIỆT HĐTH góp phần giáo dục thẩm mỹ tích cực cho trẻ ….

Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát

triển toàn diện đối với thế hệ trẻ và cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo Đối với các em, thế giới xung quanh chứa đựng bao điều mới lạ, hấp dẫn Trẻ thường tỏ ra dễ xúc cảm với cảnh vật xung quanh, trẻ dễ bị cuốn hút trước cảnh vật có nhiều màu sắc, hay một bông hoa đẹp, bức tranh sinh động, đồ chơi ngộ nghĩnh…Tính hình tượng đang phát triển mạnh mẽ hầu như chi phối mọi hoạt động của trẻ.Với đặc điểm như vậy nên năng khiếu nghệ thuật thường được nảy sinh ngay từ tuổi ấu thơ Vì vậy việc giáo dục thẩm mỹ cần được bồi dưỡng ngay từ tuổi mẫu giáo để ươm trồng những tài năng nghệ thuật cho tương lai

CHUYỂN Ý VIỆC GDTM THÔNG QUA HĐTH CÓ Ý NGHĨA… VỚI

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ MG NÓI CHUNG VÀ ĐẶC BIỆT VỚI TRẺ MGL, CHUẨN BỊ VÀO LỚP 1

Cơ sở thực tiễn:

Hiện nay, giáo dục mầm non được coi là mắt xích đầu tiên trong

hệ thống giáo dục quốc dân Đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục, hoàn thiện nhân cách trẻ em. Điều 21, 22 Luật giáo dục (2005) xác định nhiệm vụ

và mục tiêu giáo dục Mầm non: Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ

em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu

tố đầu tiên của nhân cách chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 Bên cạnh các nội dung

về giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, lao động, giáo dục thẩm mỹ giữ vai tròquan trọng trong việc học và phát triển toàn diện của trẻ Việc giáo dục thẩm

Trang 3

mỹ cho trẻ giúp trẻ phát triển các chức năng tâm lí như khả năng tri giác các

sự vật hiện tượng xung quanh, từ đó buộc trẻ phải tư duy và quá trình đó làm phát triển óc tưởng tượng, ham muốn tạo ra cái đẹp Đây là yếu tố cần thiết góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách

Tuy nhiên, việc giáo dục thẩm mỹ trong trường mầm non vẫn chưa được quan tâm đúng mức.Thực tiễn ở trường Mầm non, đa số trẻ chưa phát huy hết khả năng sáng tạo Các phương pháp HĐTH lâu nay đang được sử dụng còn mang tính áp đặt, dập khuôn theo mẫu, sao chép chưa phát huy hếtkhả năng sáng tạo và sự linh hoạt của người giáo viên nên kết quả giáo dục thẩm mỹ vẫn chưa cao. Với tư cách là một cô giáo mầm non trong tương lai tôi nhận thức được trách nhiệm nghề nghiệp của mình Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng và phát triển của trẻ,BỎ nâng cao chất lượng giáo dục MN– đào tạo và nâng cao kiến thức của bản thân, tôi chọn nghiên cứu

đề tài: “Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa Hồng – Thị xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc”

E CÓ THỂ THAM KHẢO CÁCH DIỄN ĐẠT NÀY Thực tiễn giáo dục trong các trường MN cho thấy nội dung GDTM góp phần hình thành những nét tính cachcs đầu tiên cho trẻ, định hướng cho khả năng tiếp nhận, cảm thụ

và sang tạo cái đẹp; góp phần phát triển cả trí tuệ, tình cảm và hành vi đạo đức tuy nhiên nếu được giáo dục thường xuyên và linh hoạt thông qua môn học tạo hình thì các phẩm chất đạo đức, thói quen hành vi, thể chất, trí tuệ vàđời sống tình cảm của trẻ được thể hiện và rèn luyện hiệu quả hơn Với tư cách là người giáo viên mầm non tương lai, tôi mong rằng thông qua việc tìm hiểu thực trạng…… , sẽ góp them những cách nhìn khách quan và đầy

đủ hơn về thực tế giáo dục thẩm mỹ tại địa phương; cải thiện chất lượng hoạt động tạo hình và nâng hiệu quả chăm sóc, giáo dục trẻ mn

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sởBỎ tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa hồng, Thị xã Phúc

Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc nhằm tìm ra, TỪ ĐÓ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ biện pháp

hữu hiệu nhất để NHẰM nâng cao CHẤT LƯỢNG GDTM Ở TRƯỜNG

MN mẫu giáo lớn, giúp trẻ hình thành những xúc cảm thẩm mỹ - yêu thích cái đẹp., Đồng thời còn giúp giáo viên TÍCH CỰC VÀ THƯỜNG XUYÊN trau dồi những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH KHÁC NHAU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ công tác CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ giảng dạy sau này

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn

4.2 Đối tượng nghiên cứu: GDTM thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa Hồng, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

4 Giả thuyết khoa học

Tạo hình là một môn học có tác dụng to lớn trong việc hình thành pháttriển nhân cách cho trẻ cả về trí tuệ, lao động, đạo đức và đặc biệt là về thẩm

mỹ Nếu nhận thức đúng VAI TRÒ ý nghĩa của môn học này ĐỒNG THỜI

TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TẠO HNHF ĐA DẠNG, SÁNG TẠO trong việc giáo dục trẻ thì sẽ làm tăng hiệu quả NỘI DUNG GDTM NÓI RIÊNG VÀ CHẤT LƯỢNG GDMN NÓI CHUNGcủa giáo dục toàn diện nói chung và giáo dục thẩm mỹ cho trẻ nói riêng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 5

5.1 Tìm hiểu các vấn đề lí luận về GDTM và HĐTH của trẻ mẫu giáo lớn.

5.2 Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trườngmầm non Hoa Hồng, thị xã Phúc yên, tỉnh Vĩnh Phúc

5.3 Bước đầu đề xuất một số biện pháp để khắc phục thực trạng giáo dụcthẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động tạo hình và nhằm nâng cao chất lượng GDTM qua môn học này

6 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian và điều kiện có hạn nên trong đề tài này tôi chỉ tìm hiểu thực trạng GDTM thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu giáo lớn ở

trường mầm non Hoa Hồng, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

GIỚI HẠN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU TRÊN? TRẺ VÀ? GV,CÁN

BỘ QUẢN LÍ

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: VÍ DỤ Nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu về GDTM, HĐTH, trên cơ sở phân tích, tổnghợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa, từ đó rút ra những kết luận khái quát làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu Thông qua các tài liệu về tâm

lí học, giáo dục học, phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình…để phân tích,

so sánh, tổng hợp, khái quát các vấn đề về giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động tạo hình.DIỄN ĐẠT

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát: LẬP KẾ HOẠCH VÀ Quan sát những hoạt động HÀNG NGÀY của trẻ, phương phápCÁCH tổ chức VÀ THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC của giáo viên qua giờ học tạo hình 7.2.2 Phương pháp điều tra:

Trang 6

Điều tra bằng phiếu Anket đối với BAO NHIÊU??? giáo viên và phụ huynh của trẻ về vai trò và thực trạng việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua môn học tạo hình.

7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Dựa trên các tiêu chí để phân tích đánh giá sản phẩm của giáo viên và trẻ ( sản phẩm vẽ, nặn, xé, dán, xếp hình,…)

7.2.4 Phương pháp đàm thoại : Đàm thoại TRAO ĐỔI, CHIA SẺ với giáo viên và phụ huynh của trẻ VÀ TRẺ về vai trò và thực trạng việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động tạo hình

7.2.5 Phương pháp chuyên gia: hỏi ý kiến chuyên gia là những người cóchuyên môn về giáo dục thẩm mỹ, tạo hình như: giáo viên giảng dạy, giáo viên hướng dẫn, giảng viên trong trường đại học

7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học: Điều tra thu thập số liệu, tính %, xây dựng bảng số.để thu thập số liệu, thông tin, tư liệu bằng việc áp dụng các kỹ thuật thống kê và xử lý các số liệu điều tra, khảo sát, thiết lập các sơ đồ, biểu đồ nhằm đảm bảo cho kết quả nghiên cứu có tính chính xác

và đủ độ tin cậy

8 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mở đầu , kết luận và kiến nghị thì nội dung chính của khoá luận bao gồm:

Chương 1 : Cơ sở lí luận của việc giáo dục thẩm mỹ thông qua hoạt độngtạo hình cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa Hồng, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 2 : Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ thông qua môn họctạo hình cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa Hồng, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 7

Chương 3: Bước đầu đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao chất lượng GDTM cho trẻ mẫu giáo lớn, thông qua môn học tạo hình.

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Trang 8

con tàu mà các em đi bằng trên chiếc ghế, cứ để các em dựng những

ngôi nhà bằng các mảnh gỗ vụn Trong quá trình trẻ chơi trẻ khắc phục khó khăn, nhận biết cái xung quanh mà tìm ra lối thoát, phát triển óc sáng tạo trong quá trình chơi”. 

A.V Daparojets, Các công trình nghiên cứu về tâm lý học khẳng định:

“Tính hình tượng, tính dễ cảm xúc và tính đồng cảm tạo nên đặc trưng ở lứa tuổi mẫu giáo”

 KHÁI QUÁT LẠI: CÁC TÁC GIẢ ĐỀU ĐỀ CẬP ĐẾN VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC CÁI ĐẸP CHO TRẺ MẪU GIÁO, VÀ COI TRỌNG THỜI KÌ ĐẦU TIÊN CŨNG NHƯ Ý NGHĨA CỦA VIECJ GIÁO DỤC TRONG THỜI KÌ NÀY

Ở Việt Nam, cũng có nhiều công trình nghiên cứu tới thẩm mỹ nói chung và giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non nói riêng như: 

Tác giả Nguyễn Quốc Toản, khi nghiên cứu về hoạt động thẩm mỹ cho trẻ Mầm non với đề tài “ Một số biện pháp bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo hình”

Tác giả Phan Việt Hoa đã chỉ ra con đường nâng cao hiệu quả GDTM cho trẻ mẫu giáo

Tác giả Tào Văn Ân – Trường Đại học Cần Thơ –Thẩm mỹ học đại cương. Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn Giáo dục Cái đẹp cho trẻ thơ, NXB Giáo Dục, Hà Nội (1989). 

Đào Thanh Âm (Chủ biên) – Giáo dục học mầm non Tập II – NXB Đại học

Sư phạm. VD “GDTM LÀ MỘT QUÁ TÌNH TÁC ĐỘNG CÓ MỤC ĐÍCH

VÀ CÓ HỆ THỐNG VÀO NHÂN CÁCH CẢU TRẺ NHAWMD PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ VÀ NHẬN BIẾT VỀ CÁI DẸP TRONG NGHỆ THƯ=ẬT, TRONG TỰ NHIÊN VÀ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, GIÁO DỤC LÒNG YÊU CÁI ĐẸP VÀ ĐƯA CÁI ĐẸP VÀO CS MỘT

Trang 9

CAHS SÁNG TAO” GDHMN TẬP 2 TRANG 179, ĐAOG THANH ÂM CHURBIEEN, PHÂN TÍCH THÊM… NHÓM TÁC GIẢ CŨNG NHẤN MẠNH GDTM TRẺ MG CÓ TÂM HỒN NHẠY CẢM, TÍNH DỄ XÚC CẢM VÀ TÍNH HÌNH TƯỢNG CAO NÊN CÁC HOẠT ĐỘNG NHƯ VẼ NẶN, CÁT….TẠO HÌNH DỄ GIÚP CÁC EM CẢM NHẬN VÀ VẬN DỤNG TRONG CS…….

Và nhiều công trình nghiên cứu luận văn, luận án khác như khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Ánh “ Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻmẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc” NÊN ĐỀ CẬP ĐẾN NHỮNG TL THAM KHẢO LÀ LUẬN VĂN THẠC SĨ VÀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ , CÒN NẾU KO THAM KHẢO DC THÌ THÔI,

CÁC TÁC GIẢ CŨNG ĐÃ TÌM HIỂU, NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH

VỀ GDTM, VAI TRÒ CỦA HĐTH DƯỚI NHIỀU KHÍA CANHJ KHÁC NHAU ĐỂ THẤY Ý NGHĨA CỦA GDTM, KHẢ NĂNG VẬN DỤNG VÀ

SỰ GẦN GŨI, DỄ LÀM, ĐỄ HIỂU CẢU CÁC HOẠT DDOODNGJ TẠO HÌNH ĐỐI VỚI TRẺ MG.Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào NGHIÊN CỨU viết về THỰC TIỄN VIỆC“thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động tạo hình ở trường

mầm non Hoa Hồng – Thị xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc” TRONG ĐỀ TÀI NÀY TÔI MUỐN THÔNG QUA VIỆC TÌM HIỂU THỰC TẾ HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH ĐÃ ĐƯỢC TỔ CHỨC TRONG TRƯỜNG MN KHU VỰC PHÚC YÊN ĐỂ KHÁI QUÁT HIỆU QUẢ CỦA NÓ VÀ ĐỀ XUẤT NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM CẢI THIỆN VÀ NÂNG CAO HƠN NỮA CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG NÀY

1.2 Một số vấn đề vầ GDTM-GDTM cho trẻ mẫu giáo

Trang 10

Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ đưa ra khái niệm: “GDTM là quá trình hoạt động chung của nhà sư phạm và của người học sinh, hướng vào việc tổ chức lĩnh hội những nền tảng phổ thông của văn hóa thẩm mỹ, nhằm hình thành ở học sinh những quan hệ thẩm mỹ đúng đắn đối với hiện thực và nghệ thuật, nguyện vọng và năng lực sáng tạo, sống theo quy luật của cái đẹp, góp phần làm cho nhân cách thế hệ trẻ phát triển hài hòa và toàndiện”

Dưới góc độ giáo dục học “GDTM được coi là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống nhằm hình thành và phát triển ở trẻ em lòng yêu cái đẹp và năng lực sáng tạo cái đẹp”

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu NHƯ VẬY: GDTM ĐƯỢC HIỂUlà quátrình tác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm hình thành ở mỗi cá nhân năng lực nhận thức, khả năng cảm thụ, đánh giá và sángtạo cái đẹp trong tự nhiên, xã hội và trong nghệ thuật

1.2.2 Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo. 

1.2.2.1 Khái niệm GDTM cho trẻ mẫu giáo

Trang 11

đẹp trong tự nhiên, trong đời sống sinh hoạt xã hội và trong nghệ thuật, giáo dục trẻ lòng yêu cái đẹp, sống theo cái đẹp và biết tạo ra cái đẹp trong cuộc sống. 

1.2.2.2 Vai trò, ý nghĩa của GDTM cho trẻ mẫu giáo

GDTM là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện đối với thế hệ trẻ và cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo Do

những đặc điểm tâm lý ở lứa tuổi này mà trẻ mẫu giáo là thời kỳ “hoàng kim” của GDTM. 

GDTM là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích vào nhân cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, giáo dục lòng yêu cái đẹp và đưa cái đẹp vào trong đời sống một cách sáng tạo. 

Giáo dục thẩm mỹ có liên quan mật thiết với các mặt giáo dục nhân cách con người phát triển toàn diện, đặc biệt là với giáo dục trí tuệ và giáo dục đạo đức. 

- Đối với trí dục: Giáo dục thẩm mỹ giúp trẻ cảm thụ thẩm mỹ và nhận thức sâu sắc hơn những hiện tượng của cuộc sống xung quanh, qua đó

mở rộng tầm mắt nhìn cho trẻ trau dồi lòng ham hiểu biết, chẳng hạn những

đồ dùng to, đẹp, rõ nét, màu sắc hài hòa,…sẽ giúp trẻ tri giác sự vật nhanh,

dễ dàng, dễ hình thành những biểu tượng Ngược lại sự hiểu biết sâu sắc về các sự vật hiện tượng xung quanh, hiểu sâu sắc nội dung của tác phẩm nghệ thuật lại là cơ sở để hình thành những xúc cảm, tình cảm thẩm mỹ ở trẻ. 

- Đối với giáo dục đạo đức.Những yếu tố thẩm mỹ không những có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành nhận thức thẩm mỹ mà còn tác độngđến việc hình thành tình cảm thẩm mỹ cho trẻ Những xúc cảm có liên quan đến việc cảm thụ các tác phẩm nghệ thuật, cảm thụ thiên nhiên, cảm thụ hành vi đẹp, của con người có ảnh hưởng lớn đến bộ mặt đạo đức của trẻ Những xúc cảm này làm cho tính cách của trẻ thêm cao thượng, đời sống tình cảm thêm phong phú, từ đó hình thành ở trẻ thái độ tích cực đối với cuộc sống đối với mọi người xung quanh Đặc biệt thông qua việc tiếp nhận các tác phẩm nghệ thuật, trẻ nhận thức được đúng đắn, cái đẹp, cái xấu…từ

đó có ảnh ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình thành những phẩm chất đạo đức ở trẻ như: Lòng nhân ái, tinh thần cộng đồng, lòng yêu quê hương đất nước, yêu lao động… 

Trang 12

- Giáo dục thẩm mỹ có liên quan trực tiếp tới giáo dục lao động và giáo dục thể chất Qua việc tiếp xúc, khám phá, tìm hiểu cái đẹp trẻ hứng thú

và làm việc say mê, tích cực hơn Góp phần phát triển sức khỏe và thể lực,tưthế đẹp và mang lại những cảm xúc thẩm mĩ tích cực về mặt tinh thần Vẻ đẹp của các thao tác vận động theo nhịp điệu giúp trẻ hứng thú với việc tập thể dục

Với những ý nghĩa trên, giáo dục thẩm mỹ góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện Vì vậy cần tiến hành giáo dục thẩm mỹ cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non Ở trẻ em ngay từ khi chưa biết nói, trẻ đã rất thích ngắm nhìn đồ vật có màu sắc, lắng nghe những âm thanh êm dịu ở xung quang, những lời ru ngọt ngào của mẹ Đây là điều kiện thuận lợi để giáo dục thẩm mỹ cho trẻ ngay từ nhỏ. 

1.3 GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua môn học tạo hình

1.3.1 Một số vấn đề về hoạt động tạo hình cho trẻ mẫu giáo

1.3.1.1 Khái niệm hoạt động tạo hình

Hoạt động tạo hình gắn liền với hoạt động của con người Ngay từ khicon người chưa có ngôn ngữ viết họ đã sử dụng hoạt động tạo hình như một phương tiện để giao tiếp và truyền đạt lại kinh nghiệm sản xuất Điều đó chứng tỏ hoạt động tạo hình là một trong những nhu cầu cần thiết của đời sống con người

Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động của con người để tạo ra các sản phẩm có hình thể và có màu sắc, đem lại khoái cảm thẩm mỹ cho người xem nhận ra cái đẹp và cảm xúc trước cái đẹp

Ví dụ: Bức tranh, pho tượng hay mọi thứ trong cuộc sống thường ngày như nhà cửa, công viên, vải vóc, quấn áo, ấm chén, lọ hoa…

1.3.1.2 Nguồn gốc, bản chất của hoạt động tạo hình

Trẻ em phải hoạt động để phát triển và hoàn thiện về thể chất và nhận thức Một trong những hoạt động thường thấy ở hoạt động tạo hình, mặc dù chúng chưa có ý thức, kiến thức về hoạt động này.Cũng như người xưa, hoạt

Trang 13

động tạo hình đối với trẻ là một trong những như cầu, có thể như là không khí để thở, nước để uống, và thực phẩm để ăn Vì vậy trẻ hoạt động rất tự nhiên không hề bị thúc ép bên ngoài.

Bản chất của hoạt động tạo hình trẻ em là tự thân – tự nhiên, không thể thiếu được, bởi:

- Chúng nhìn thế giới xung quanh với sự “lạ lẫm”trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, vì tất cả mọi điều đều mới lạ, đều hấp dẫn, bởi vốn hiểu biết của trẻ còn quá hạn hẹp mà thế giới xung quanh thì muôn màu muôn vẻ

- Trẻ có tay để cầm và để nắm Theo dõi trẻ ta thấy “vớ được gì là trẻ không để yên trong tay: khi thì giữ chặt, khi thì vạch lên bàn, lên giấy, đất để tạo thành những nét thẳng, nét cong chẳng ra hình

gì, như những sợi chỉ rối mù Song hoạt động này rất cần thiết vì

nó phát triển thị giác, nâng cao nhận thức về sự vật và hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày mà chúng chưa được tiếp xúc, tạo điều kiện cho cơ bắp, khớp hoàn thiện và phát triển, giúp trẻ làm ra những sản phẩm đó là nét và hình, mà trước đó là ở mặt đất, mặt giấy…

- Trẻ vẽ bằng sự thích thú hơn là sự hiểu biết, hình vẽ của trẻ hồn nhiên và ngây thơ, vẽ nên những điều mình thấy…

Như vậy, hoạt động tạo hình có nguồn gốc từ xã hội, bản chất mang tính chất xã hội rõ rệt

1.3.1.3 Đặc điểm và khả năng tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn.

Đặc điểm hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn:

Để có một khả năng phát triển tạo hình cần phải trải qua một quá trìnhliên tục có hệ thống Nếu như ở lứa tuổi mẫu giáo bé là nên tảng sự phát triển khả năng tạo hình cho lứa tuổi mẫu giáo nhỡ, thì lứa tuổi mẫu giáo nhỡ lại là cầu nối cho sự phát triển tạo hình ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, vốn được coi là bước đệm hết sức cần thiết để chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 Mỗi đứa trẻ

Trang 14

đều có một vai trò nhất định trong quá trình phát triển khả năng tạo hình của trẻ Đó là mối quan hệ xuyên suốt không thể tách rời.

Chính vì vậy ở mỗi lứa tuổi đều cần có những yêu cầu riêng biệt để phù hợp với tâm lý trẻ Tuổi mẫu giáo lớn trẻ đã có sự phát triển mạnh về thể lực và sự khéo léo của đôi bàn tay Vì vậy trẻ miêu tả được đặc điểm về hình dáng, đường nét, bố cục và các mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng khi vẽ, nặn, xé, dán Trẻ mẫu giáo lớn tìm hiểu cái đẹp trong ảnh, đồ dùng,

đồ chơi và trong thiên nhiên, nhận biết sự thay đổi của thiên nhiên và loài vật qua màu sắc, hình dáng, bố cục Trẻ có thể diễn đạt những cảm xúc của mình bằng lời và bằng sản phẩm một cách có mục đích Ở tuổi mẫu giáo lớn trẻ đã biết bàm bạc để nêu lên ý định chung khi tạo sản phẩm tập thể Biết tựgiới thiệu sản phẩm của mình và nêu nhận xét về sản phẩm của bạn Từ đó giúp trẻ tự hệ thống hóa và chuẩn xác các biểu tượng, nâng cao chất lượng sản phẩm tạo hình, đồng thời tạo bước đệm vững chắc, phát triển khả năng tạo hình ở lứa tuổi phổ thông

Khả năng tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn:

Khái niệm “khả năng”: Khả năng có thể hiểu là những đặc điểm riêng

của mỗi cá nhân, đảm bảo cho sự lĩnh hội một cách tương đối dễ dàng và có chất lượng một dạng HĐTH nào đó Khả năng không phải là phẩm chất bẩmsinh, nó chỉ là hình thành và phát triển trong hoạt động Kết quả hoạt động chỉ phụ thuộc vào trình độ phát triển khả năng được hình thành trong hoạt động đó Mặc dù vậy, sự phát triển khả năng cũng có những điều kiện sinh

lý, hay còn gọi là sơ sở vật chất và khả năng như cấu tạo của não, kiểu của hoạt động thần kinh cao cấp, cấu tạo của cơ quan cảm giác, cơ quan vận động

TMGL đã nắm được kỹ năng tạo hình và hoạt động có hứng thú, có kết quả khả quan; các sản phẩm của trẻ rất hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng

về hình thức và màu sắc; trẻ thể hiện được cảm thụ hiểu biết MTXQ

- Về quan sát, nhận biết: Trẻ đã biết quan sát có chủ đích – quan sát

có nhận xét để hiểu biết về đối tượng

Trang 15

- Về sử dụng phương tiện tạo hình: Trẻ biết cầm bút, màu, chì,… đúng cách, dễ dàng và thoải mái hơn Điều khiển các khớp ngón tay, cổ tay linh hoạt hơn.

+ Tuy nhiên, bài vẽ của một số trẻ ở lứa tuổi này còn có một số điểm lưu ý như hình vẽ còn nhỏ và đều làm cho bài vẽ vụn, xếp hình nhiều bài vẽ trở nên rối, sắp xếp hình vẽ như kể, liệt kê…

- Về vẽ màu: Vẽ màu tươi sáng, đã chú ý đến độ đậm nhạt của màu gọn trong hình Tuy nhiên, trẻ khi vẽ màu thường di nhiều lần làm cho lì, bong lên, không đẹp; còn yếu về màu bột, màu nước

- Về xếp hình: Trẻ xếp được hình theo ý thích, hình xếp rõ nội dung như gia đình, lễ hội, trường học…

- Về xé dán: Trẻ xé được một số hình đã rõ đặc điểm, xé thêm các

bộ phận chi tiết của đối tượng và sắp xếp hình theo đề tài

Trang 16

Trên đây là những đặc điểm tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn Tuy nhiên,

nó không chính xác với tất cả các trẻ

1.3.2 GDTM cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua môn học tạo hình 1.3.2.1 Vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc GDTM cho trẻ MGL

Với tư cách là hoạt động nghệ thuật, HĐTH tạo nên những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển cảm giác, tri giác thẩm mỹ, việc quan sát,tìmhiểu các sự vật hiện tượng giúp trẻ nhận ra các đặc điểm thẩm mỹ (hình dáng, màu sắc, tỷ lệ, sự sắp xếp trong không gian,…), nhận ra nét độc đáo tạo nên sự hấp dẫn của đối tượng miêu tả

Các đặc điểm thẩm mỹ phong phú, đa dạng của đối tượng miêu tả là những yếu tố kích thích sự xuất hiện của những rung động, của những xúc cảm thẩm mỹ (cảm xúc về vẻ đẹp của hình, màu, nhịp điệu, vẻ cân đối, hài hòa, ) Từ những xúc cảm thẩm mỹ, giúp trẻ biết thưởng thức cái đẹp từ thiên nhiên và các tác phẩm nghệ thuật

Quá trình thể hiện các sản phẩm tạo hình (vẽ, nặn , xé dán, ) là điều kiện thuận lợi cho trẻ vận dụng tích cực vốn biểu tượng hình tượng đã tích lũy được để phối hợp, xây dựng hình tượng mới, làm cho sản phẩm tạo hình càng sinh động, đầy hấp dẫn và mang màu sắc nghệ thuật Sự thể hiện nội dung tạo hình bằng phương tiện truyền cảm mang tính trực quan (đường nét,hình dáng, màu sắc, ) sẽ làm cho cảm xúc thẩm mỹ của trẻ ngày càng trở nên sâu sắc hơn, trí tưởng tượng mang tính nghệ thuật của trẻ ngày càng phong phú

Hoạt động thực tiễn tạo ra các sản phẩm nghệ thuật tạo hình không chỉ

là cơ hội thuận lợi cho trẻ luôn được tiếp xúc với cái đẹp, luôn được rèn luyện trong việc tìm kiếm, tìm hiểu về cái đẹp mà còn nảy sinh và nuôi dưỡng ở trẻ hứng thú với hoạt động nghệ thuật và niềm say mê sáng tạo nghệ thuật

Khác với mọi hoạt động khác trong trường mầm non, tham gia HĐTHtrẻ được làm quen không chỉ với cái đẹp trong đời sống mà cả trong nghệ thuật (qua tranh, ảnh, đồ chơi , ) Qua đó, giúp trẻ nhận ra giá trị thẩm mỹ

Trang 17

của các sự vật, hiện tượng xung quanh và mong muốn được thể hiện những

vẻ đẹp đó một cách sáng tạo nhất

Sự phản ánh hiện thực và biểu lộ tình cảm trong các phương tiện truyền cảm đặc trưng cho các loại hình nghệ thuật vật thể như đường nét, hình dạng, màu sắc, bố cục không gian, chính là con đường lĩnh hội các kinh nghiệm văn hóa thẩm mỹ rất phù hợp với lứa tuổi trẻ, trên cơ sở đó mà hình thành thị hiếu thẩm mỹ

1.3.2.2 Ý nghĩa của GDTM cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua môn học tạo hình

Ở trường mầm non, chương trình HĐTH chiếm khá nhiều thời lượng

và thông qua nhiều bài học như: vẽ, nặn, xé dán, chắp ghép và làm quen với các tác phẩm tạo hình Tất cả các hoạt động tạo hình ở trường mầm non đều hướng đến GDTM cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, làm quen và tập tạo ra cái đẹp để trẻ nâng cao nhận thức thẩm mỹ và vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào trong đời sống hàng ngày, từ đó trẻ có ý thức tôn trọng

+ Vào tuổi lên ba thì đứa bé mới dùng lời nói để đặt tên cho những cái

mà nó định vẽ, mặc dù khi vẽ ra thì không thật giống với cái định vẽ, nhưng đây là thời điểm rất quan trọng và sự diễn đạt ý định vẽ bằng lời nói chính là

Trang 18

thời điểm bắt đầu của hoạt động tạo hình Khi đứa trẻ nói lên ý định vẽ một cái gì đó, chẳng hạn như: cháu sẽ vẽ ông mặt trời hay con sẽ vẽ bông hoa…tức là nó đã nhìn thấy hình ảnh đồ họa tương tự và muốn vẽ lại cái đó, cũng tức là nó bắt chước các nét vẽ của người lớn nhằm miêu tả một cái gì đó, nhưng đã giản lược đi rất nhiều.

Ví dụ: Hình vẽ người dưới dạng “đầu,chân” bao gồm có vòng tròn để biểu thị cái đầu, còn hai điểm xuất phát đó để miêu tả thân mình và hai chân

là hình vẽ điển hình của những hình ảnh đồ họa

+ Đến tuổi mẫu giáo thì phần lớn trẻ bước sang giai đoạn tạo hình, nếu có sự giúp đỡ, hướng dẫn Trước hết, người lớn cần dạy cho trẻ biết cách cầm bút vẽ, và tư thế ngồi đúng để vẽ những đường cơ bản như: đường thẳng, đường tròn, Tuy nhiên, cách dạy ở đây không cần theo bài bản y nhưgiờ dạy ở trường phổ thông, mà phải hết sức tự nhiên, lồng được những sự vật sinh động đầy hấp hẫn vào các đường nét khô cứng ấy thì hiệu quả sẽ tốt hơn rất nhiều

Ví dụ: Vẽ đường ngang người lớn cần tạo cho trẻ “chúng ta hãy vẽ những con đường ô tô chạy” hay khi vẽ đường xiên “ chúng ta hãy vẽ nhưnghạt mưa rơi từ trên xuống”…

Trước khi vẽ vào giấy giáo viên cần hướng dẫn trẻ giơ tay vẽ vào không khí theo động tác từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, đưa tay quay tròn theo đường kim đồng hồ

+ Cùng với việc dạy cho trẻ những nét cơ bản, người lớn cần hướng trẻ phối hợp các đường cơ bản ấy thành một hình vẽ sống động hơn để gây hấp dẫn

Ví dụ: Vẽ con đường bằng hai đường ngang rồi vẽ mưa rơi bằng những đường xiên dài từ trên xuống dưới, vẽ những đường cong làm đám mây, đường tròn làm quả bóng,

+ Cao hơn nữa từ những đường riêng lẻ dạy trẻ phối hợp lại các hình

mà các cháu đã được làm quen như hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật…

Trang 19

Ví dụ: Vẽ ngôi nhà: hình tam giác là mái, hình vuông là thân nhà và

có mặt trời chiếu sáng là hình tròn và những nét xiên làm tia nắng, tạo thành một bức tranh sinh động hơn

+ Vấn đề chọn màu cũng được hướng dẫn cẩn thận Người lớn cần cho trẻ xem những bức tranh màu phù hợp với con mắt của trẻ thơ, hoặc chotrẻ xem những mảnh vải hoa có nhiều màu sắc hài hòa, hoặc những đường nét hoa văn ở những nơi trang trí đượm sắc thái dân tộc rõ rệt Ở trường mẫugiáo các cô giáo sưu tầm những mảnh vải vụn, đóng lại thành cuốn album cómàu sắc hài hòa trông rất đẹp Qua đó, trẻ sẽ học được một cách thích thú lốipha màu Điều này không những giúp trẻ mà còn thị hiếu thẩm mỹ về trang phục sau này

+ Với nhưng hiểu biết về các đường nét cơ bản, chọn màu và phối hợpmàu,trẻ có thể làm ra những bức tranh tùy theo ý thích.Tất nhiên việc này cũng cần có sự hướng dẫn của người lớn.Để làm được việc đó cần hướng trẻquan sát phong cảnh thiên nhiên và sinh hoạt của con người; cần chỉ ra những nét đặc trưng nổi bật và những địa điểm đẹp mắt, lí thú gần gũi với trẻ thơ

+ Bố cục là một vấn đề khó khăn đối với trẻ nhỏ.Vì vậy, việc làm để gợi ý có hiệu quả nhất là cho trẻ xem những bức tranh có chọn lọc của những họa sĩ nhí tài hoa Sau đó đàm thoại với trẻ về bức tranh để gợi ý, nhận xét về bố cục đó

+ Những bức tranh của trẻ do bắt chước, hoặc do người lớn hướng dẫn mà trẻ tự tạo ra những cái chưa hề có trong kinh nghiệm

Ví dụ: Một em bé vẽ bức tranh con mèo nhưng có một điều kì lạ là bụng của con mèo em vẽ một con cá nằm nguyên trong đó

1.3.2.3.2 Về nặn

- Ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, có thể gợi ý cho trẻ nặn những con vật nuôi quen thuộc trong gia đình hay những con vật giống như đã nhìn thấy ngoài chợ, trong các cửa hàng hay trong sở thú… Đối với những trẻ khéo tay, có thể hướng dẫn nặn các hình phức tạp hơn và cần khuyến khích trẻ tự nặn theo ý thích của mình

Trang 20

- Cần hướng dẫn trẻ tạo ra các kiểu tạo hình khác nhau Đây là một công trình mang tính tổng hợp, như vậy thu hút được nhiều trẻ tham gia, sáng kiến của các cháu sẽ bổ sung cho nhau, tạo nên nằng khiếu thẩm mỹ phong phú.

1.3.2.3.3 Về trò chơi xây dựng

- Trò chơi xây dựng là trò chơi biểu hiện khả năng tạo hình nhiều nhất Chỉ cần những mẩu gỗ hay nhựa với các hình dạng và màu sắc khác nhau trẻ có thể lắp ráp, xây dựng những công trình kiến trúc đẹp đẽ

- Ngoài gỗ và nhựa ra, vật liệu xây dựng còn bao gồm nhiều thứ khác như bao diêm, hộp giấy, nắp chai,… đặc biệt là những vật liệu từ thiên nhiênnhư vỏ nghêu, sò, ốc, hến, Với con mắt của trẻ thơ tất cả các vật liệu ấy trong phút chốc đều có thể biến thành “ công trình xây dựng” lí thú Trong những công trình này sáng kiến của trẻ được bộc lộ rõ nét Việc hướng dẫn của người lớn sẽ giúp trẻ có thể hình thành ý đồ xây dựng rõ ràng, biết chọn vật liệu phù hợp, đẹp mắt, pha trộn màu sắc hài hòa.Tránh áp đặt một cách cứng nhắc các mẫu có sẵn buộc các cháu phải làm theo

1.3.2.4 Các phương pháp dạy học thường được sử dụng trong môn học tạo hình nhằm GDTM cho trẻ.

“Phương pháp” là cách thức hướng dẫn HĐTH cho trẻ mầm non chính là hệ thống qua lại của nhà sư phạm với trẻ để HĐTH nhận thức thẩm

mỹ và hoạt động thực tiễn cho trẻ nhằm bồi dưỡng các năng lực tạo hình, giúp trẻ nắm được các hiểu biết cũng như các kỹ năng, kỹ xảo tạo hình, hìnhthành và phát triển ở trẻ khả năng sáng tạo

Trong đề tài này sử dụng 4 nhóm phương pháp: nhóm phương pháp thông tin – tiếp nhận, nhóm phương pháp thực hành – ôn luyện, nhóm phươn g pháp tìm tòi – sáng tạo, nhóm phương pháp vui chơi

1.3.2.4.1 Nhóm phương pháp thông tin – tiếp nhận.

Là nhóm các phương pháp có vai trò cung cấp cho trẻ những ấn tượng, những kiến thức sơ đẳng về tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật về

Trang 21

các phương thức hoạt động (các kỹ năng tạo hình) đồng thời hình thành ở trẻtình cảm và xúc cảm thẩm mỹ.

 Ý nghĩa:

Đây là phương pháp tạo điều kiện phát triển ở trẻ tri giác thẩm mỹ, giúp trẻ hiểu biết về nội dung miêu tả và phương thức tạo hình, hình thành hứng thú, bồi dưỡng khả năng cảm thụ thẩm mỹ

- Nội dung:

Nhóm phương pháp này bao gồm các quá trình quan sát nghiên cứu các đối tượng miêu tả như các sự vật, các đồ chơi, các mô hình, tranh ảnh ảnh minh họa và những quá trình cung cấp cho trẻ thông tin các sự vật, hiện tượng xung quanh

Nhóm phương pháp này còn gồm các quá trình hướng dẫn cho trẻ các phương thức kỹ năng tạo hình

 Yêu cầu về việc sử dụng:

Trong nhóm này có 3 phương pháp cơ bản: quan sát, chỉ dẫn trực quan và dùng lời

- Phương pháp quan sát:

Việc tổ chức quá trình quan sát trong hoạt động tạo hình cần được tiếnhành một cách sinh động để gây hứng thú và hình thành các xúc cảm, tình cảm thẩm mỹ ở trẻ Các thao tác tổ chức quan sát phải được nghiên cứu kỹ phù hợp với đối tượng quan sát để sao cho kết thúc quá trình quan sát trẻ có thể hiểu và hình dung ra trình tự của quá trình miêu tả, sự vận hành của các thao tác tạo hình và kết quả cần đạt được của sự thể hiện sau hoạt động

Cần giúp trẻ bắt đầu bằng quan sát bao quát, sau đó mới tập trung vàocác chi tiết, rồi trở lại quan sát toàn bộ diện mạo của đối tượng

Nắm vững cách thức, kỹ năng quan sát như vậy trẻ sẽ trở nên tích cực

và tự lập, tích lũy vốn kinh nghiệm xúc cảm, tri giác thẩm mỹ của trẻ sẽ dần được hình thành và trở nên phong phú, làm cơ sở cho sự phát triển óc sáng tạo

Trang 22

- Phương pháp chỉ dẫn trực quan:

Việc cho trẻ làm quen với các thủ pháp miêu tả mới cũng được tiến hành thông qua những phương pháp của nhóm phương pháp thông tin – tri giác – đó là chỉ dẫn trực quan

Muốn hình thành cho trẻ những kỹ năng, những hiểu biết cần phải chỉdẫn, giải thích cho trẻ cách thức hành động, về đặc điểm của các thao tác tạohình

Ví dụ : Việc sử dụng các loại dụng cụ và vật liệu (bút chì, bút sáp, bút lông, hồ dán, )

Lưu ý:

+ Không nên chỉ dẫn các biện pháp miêu tả trên mỗi giờ học

+ Cùng với việc tổ chức chỉ dẫn, giải thích cần giúp trẻ huy động kinhnghiệm của mình, tập cho trẻ thói quen khi tiếp thu thông tin mới, biện pháp mới…có thể tham gia vào quá trình chỉ dẫn bồi dưỡng cho trẻ tính tích cực, độc lập trong hoạt động

+ Phối hợp linh hoạt phương pháp chỉ dẫn toàn phần với phương phápchỉ dẫn từng phần

1.3.2.4.2 Nhóm phương pháp thực hành – ôn luyện.

Là nhóm phương pháp tổ chức hoạt động tạo ra sản phẩm tạo hình, giúp trẻ bồi dưỡng các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, các kinh nghiệm biểu cảm

 Ý nghĩa:

Trang 23

Là hoạt động của cả giáo viên và trẻ nhằm củng cố tri thức bồi dưỡng các kỹ năng, rèn luyện và hình thành các kỹ xảo trong hoạt động tạo hình.

 Nội dung:

Bao gồm cách thức hướng dẫn các hoạt động, các bài tập tạo hình nhằm tổ chức cho trẻ vận dụng tích cực những hiểu biết, những thông tin mới tiếp thu được tạo điều kiện cho trẻ được lặp lại, được rèn luyện các thao tác, các phương thức hoạt động tạo hình để hình thành các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn tạo ra sản phẩm tạo hình

 Yêu cầu của việc sử dụng:

Các bài tập thực hành ôn luyện cần được sử dụng ở lớp, ở nhóm trong trường mẫu giáo, song hình thức tổ chức thực hiện và nội dung của chúng phải biến đổi phù hợp với độ tuổi

- Các bài tập thực hành ôn luyện cần được sắp xếp theo hệ thống phát triển từ tạo hình theo mẫu tới tạo hình theo đề tài, phức tạp dần để dẫn trẻ từng bước đi tới khái niệm đơn thuần, tới tái tạo tíchcực, từ sự tiếp thu, củng cố các kỹ năng tới hình thành các kỹ xảo

- Các bài tập thực hành ôn luyện cần phải thường xuyên thay đổi tạonên yếu tố mới gây cho trẻ sự ngạc nhiên, thích thú, kích thích sự tưởng tượng

- Để quá trình ôn luyện mang tính tích cực, hạn chế sự sao chép, hạnchế sự hình thành khuôn mẫu, cần thường xuyên động viên,

khuyến khích trẻ suy nghĩ liên hệ, thay đổi phương thức và thời gian chỉ dẫn Vì vậy, cần có những cách thức tổ chức hoạt động, cóthể áp dụng các giải pháp sau:

+ Tổ chức quan sát bổ sung

+ Cải tiến, đa dạng hóa mẫu đối tượng miêu tả

+ Phát triển mở rộng nội dung các đề tài

1.3.2.4.3 Nhóm phương pháp tìm tòi – sáng tạo.

Trang 24

Là các phương pháp tổ chức hoạt động tìm kiếm, khám phá bồi dưỡngcho trẻ các kinh nghiệm hoạt động sáng tạo.

 Yêu cầu của việc sử dụng:

- Phương pháp tìm tòi:

+ Phương pháp này từng bước dựa vào quá trình tiếp nhận những yếu

tố sơ đẳng của hoạt động sáng tạo mà trẻ có thể thực hiện được ở mọi độ tuổi

+ Tùy theo lứa tuổi và trình độ của trẻ mà yêu cầu của sự tìm kiếm, tự giải quyết vấn đề sẽ thay đổi ở các mức độ khác.VD : phân tích tình hình theo cấu trúc của vật sẽ miêu tả chúng ta gợi ý cho trẻ tự suy nghĩ về cách sắp đặt của mình trong từ đấy sao cho đẹp mắt

- Phương pháp sáng tạo:

+ Đây là phương pháp tổ chức hoạt động nhằm giúp trẻ không chỉ tìm kiếm từng phần mà còn biết độc lập tổ chức một quá trình sáng tạo, giải quyết các bài tập mang tính sáng tạo theo dự định tạo hình của riêng trẻ

+ Nội dung của các bài tập tạo hình sáng tạo thường là những đề tài tựchọn, những cốt truyện hay nội dung các tác phẩm nghệ thuật khác

1.3.2.4.4 Các phương pháp vui chơi.

Trang 25

Là biện pháp tổ chức hoạt động tạo hình có sử dụng yếu tố chơi Đây

là biện pháp phù hợp với trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo Vì ở độ tuổi này hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo

 Ý nghĩa:

- Sử dụng các biện pháp này sẽ làm tăng hứng thú của trẻ, tạo nên tâm trạng phấn khởi mong muốn được vẽ, nặn, xé, dán,…và làm tăng hiệu quả của các quá trình hoạt động

- Các biện pháp này được sử dụng hỗ trợ cho các phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình, bổ trợ cho chúng trong việc thực hiện mục đích của hoạt động tạo hình

 Nội dung:

Bao gồm các tình huống chơi trong hoạt động tạo hình, các biện pháp

tổ chức, hướng dẫn mang dáng vẻ của trò chơi, các trò chơi, tạo hình…

 Yêu cầu của việc sử dụng:

Để tổ chức hoạt động tạo hình thông qua hoạt động vui chơi cần nắm được bản chất của yếu tố vui chơi trong hoạt động tạo hình, hiểu được sự giống và khác nhau những hoạt động tạo hình với hoạt động vui chơi

 Phân loại các biện pháp vui chơi thành các nhóm:

- Các biện pháp vui chơi tìm hiểu thế giới xung quanh

- Các biện pháp chơi – miêu tả có chủ đề

- Các biện pháp chơi – ôn luyện

- Các biện pháp “trò chơi hóa” sản phẩm tạo hình

1.3.2.5 Các hình thức tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non HAY MG LỚN?

Có hai hình thức quan trọng:

- Tổ chức hoạt động tạo hình trong tiết học

Trang 26

- Tổ chức hoạt động tạo hình ngoài tiết học.

1.3.2.5.1 Hoạt động tạo hình trong tiết học

Trên thực tế, tiết tạo hình này đang được coi là hình thức quan trọng, được các trường mầm non quan tâm nhiều nhất

Có nhiều loại tiết học tạo hình: Tiết học tạo hình theo nhóm nhỏ, tiết học theo nhóm lớp

Các tiết học tạo hình trong trường mầm non được phân theo các loại hình của hoạt động tạo hình : vẽ, nặn, xé dán,… Ngoài ra còn một số tiết họcmang tính ứng dụng như: xếp hình, gấp giấy,…

Thể loại các tiết học tạo hình được phân loại theo cơ sở của sự hình thành hình tượng, gồm 3 loại:

+ Các tiết học tạo hình theo mẫu

` + Các tiết học tạo hình theo đề tài

+ Các tiết học tạo hình theo ý thích

Tiết học theo mẫu: là loại tiết học mà ở đó trẻ miêu tả, tái hiện lại một cách tương đối chính xác hình ảnh của đối tượng miêu tả Trên các tiết học này người ta cung cấp kiến thức, những hiểu biết tương đối đầy đủ, chính xác về đối tượng miêu tả để giúp trẻ hình thành những biểu tượng một cách

rõ nét và tiếp thu những ấn tượng ban đầu một cách sâu sắc Đây là hình thức miêu tả theo hệ thống biểu tượng tri giác một cách trực tiếp Quan sát mẫu trực tiếp, nếu ta cung cấp trước cho trẻ biểu tượng đó ngoài các tiết học một cách cụ thể, thì nó tạo điều kiện thuận lợi hơn để rèn luyện ở trẻ phát triển khả năng đánh giá bằng mắt, trí nhớ tri giác Khi trẻ đã có những ấn tượng, những hình ảnh về đối tượng mình miêu tả, thì quá trình cho trẻ tái hiện những hình ảnh tri giác tốt hơn Trong các tiết học mẫu, sản phẩm phải giống nhau, sự tương đối giữa hình ảnh được miêu tả chủ yếu của các loại tiết này là những sự vật đơn lẻ, có cấu trúc tương đối đơn giản Mục đích là tập cho trẻ quan sát, cung cấp các hiểu biết,các kỹ năng,kỹ xảo

Trang 27

Tiết học theo đề tài: Mang tính ôn luyện, ở đó trẻ phải sử dụng các biểu tượng, hiểu biết đã được tích lũy, cất giữ trong trí nhớ để tái tạo lại các hình ảnh mà nó không nhìn thấy trực tiếp Tiết học theo đề tài còn có thể hiểu là tạo hình theo trí nhớ hoặc theo sự hình dung (không có mẫu để quan sát trực tiếp) Mục đích của loại tiết học này là phát triển trí nhớ hình tượng,tưởng tượng tái tạo, rèn luyện khả năng tích cực,độc lập.

Tiết học tạo hình theo ý thích: Miêu tả khả năng tưởng tượng sáng tạo,thể hiện những biểu tượng, hình tượng mà khả năng tưởng tượng sáng tạo nên

Mục đích của loại tiết học này là hình thành và phát triển ở trẻ khả năng hoạt động tích cực độc lập, sáng tạo Nội dung miêu tả của tiết học này thể hiện các quan hệ tương đối phức tạp giữa các sự vật hiện tượng trong MTXQ, là sự tổng hợp, phối hợp giữa các nội dung mà trẻ đã thể hiện trên các tiết học tạo hình theo mẫu hoặc theo đề tài

1.3.2.5.2 Hoạt động tạo hình ngoài tiết học

Để giúp trẻ tiếp thu, tích lũy, mở rộng vốn kinh nghiệm tri giác, vốn biển tượng, hình tượng phong phú về TGXQ, cần bổ sung cho hệ thống các tiết học tạo hình ít ỏi bằng hàng loạt các hoạt động phong phú “mọi lúc mọi nơi”, trong các giờ học khác, các hoạt động vui chơi mà mọi hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ Chính những hoạt động mang tính tạo hình không bị

gò bó, phù hợp với hứng thú và tầm hiểu biết của trẻ, sẽ nuôi dưỡng ở trẻ lòng say mê với môn học tạo hình và tạo điều kiện phát triển tính tích cực nhận thức ở trẻ Thông qua đó, giáo viên cung cấp cho trẻ những kiến thức

về cái đẹp,kỹ năng kỹ xảo, đặc biệt là xúc cảm tình cảm

Có thể nói phương châm “học mà chơi, chơi mà học” sẽ rất có hiệu quả, nếu chúng ta biết lồng ghép các biện pháp vào trong phương pháp dạy học cho trẻ Nó không chỉ giúp trẻ cảm thấy hứng thú đối với HĐTH mà thông qua đó trẻ tiếp thu được các tri thức kỹ xảo, tưởng tượng sáng tạo trong quá trình tri thức đối tượng miêu tả đồng thời GDTM cho trẻ đạt hiệu quả cao

Trang 28

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ THÔNG QUA MÔN HỌC TẠO HÌNH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG, THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

2.1 Một số nét về khách thể nghiên cứu

Phúc Yên là một thị xã đang trên đà phát triển nên việc chăm sóc – giáo dục cho thế hệ trẻ, đặc biệt là trẻ em mẫu giáo ngày càng được quan tâm nhiều hơn Qua quá trình thực tập tại trường mầm non Hoa Hồng tôi đã được tiếp xúc và trò chuyện với giáo viên, phụ huynh và trẻ trong trường, đặc biệt là các giáo viên đang giảng dạy tại các lớp mẫu giáo lớn, qua tìm hiểu tôi được biết:

- Quá trình thành lập và phát triển trường mầm non Hoa Hồng :

Trang 29

Trường mầm non Hoa Hồng đóng trên địa bàn phường Trưng Trắc, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Trường thành lập ngày 30 tháng 7 năm

1994, tiền thân của trường là nhà trẻ Liên Cơ thuộc UBND huyện Mê Linh

cũ - nay là UBND thị xã Phúc Yên Địa điểm trường là trung tâm kinh tế - chính trị của thị xã Phúc Yên, có điều kiện kinh tế tốt thuận lợi, phụ huynh trên địa bàn có điều kiện kinh tế, quan tâm tới giáo dục

- Cơ cấu của trường

+ Tổng số trẻ : 613 trẻ

+ Tổng số lớp : 16 lớp; 5 lớp mẫu giáo lớn A,B,C,D,E; 5 lớp mẫu giáo nhỡ A,B,C,D,E ; 4 lớp mẫu giáo bé A,B,C,D và 2 lớp nhà trẻ A,B

+ Tổng số cán bộ giáo viên : 45 giáo viên

+ Ban giám hiệu : 3 người

+ Trường có 2 tổ chuyên môn : Tổ chuyên môn 2,3 tuổi

Tổ chuyên môn 4,5 tuổi

- Thuận lợi:

+ 16/16 lớp thực hiện chương trình “đổi mới hình thức chăm sóc giáo dục trẻ” Về đội ngũ 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn nghiệp vụ sư phạm, số lượng giáo viên giỏi các cấp đều tăng hàng năm, giáo viên nhiệt tình, có trách nhiệm, có nhiều kinh nghiệm công tác, chăm sóc, giáo dục trẻ

+ Về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đảm bảo tương đối đầy đủ, không gian vui chơi của trẻ đa dạng các trò chơi, sạch đẹp

+ Trẻ được đến trường đầy đủ, được học tập và vui chơi cùng bạn bè,

cô giáo Các cháu ngoan, khỏe, tích cực tham gia hoạt động do cô tổ chức, tỷ

lệ Bé ngoan – Bé chuyên cần đạt trên 98% số liệu năm học 2016-2017) Đến trường mầm non trẻ được tiếp xúc với những cái đẹp trong giao tiếp , với cô giáo, bạn bè, với cái đẹp trong thiên nhiên, trong MTXQ của trẻ Đó

là điều kiện thuận lợi để giáo viên giáo dục thẩm mỹ cho trẻ

Trang 30

- Khó khăn:

Trình độ nhận thức của giáo viên về giáo dục thẩm mỹ cho trẻ thông qua HĐTH còn có sự chênh lệch, khác biệt và hạn chế Qua quá trình tìm hiểu thực tế tôi thấy rằng, hầu hết các giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ thông qua môn học tạo hình nhưng việc vận dụng các phương pháp, hình thức giảng dạy còn nhiều hạn chế, chưa có sự sáng tạo, giảng dạy một cách máy móc, rập khuôn, quá trình

tổ chức còn nặng về lí thuyết và quan tâm quá nhiều đến kết quả sản phẩm chưa chú ý đến rèn kĩ năng cho trẻ, chưa vận dụng tốt các điều kiện thuận lợi

từ MTXQ để tạo hứng thú cho trẻ Do đó, nhiều trẻ vẫn còn yếu về những kĩ năng tạo hình (vẽ , tô màu, nặn…) khả năng độc lập, sáng tạo của trẻ còn hạn chế, nhiều trẻ còn nhút nhát, chưa tích cực tham gia hoạt động…

2.2 Thực trạng về việc GDTM thông qua môn học tạo hình cho TMGL

ở trường mầm non Hoa Hồng, thị xã Phúc yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Để tìm hiểu việc GDTM thông qua môn học tạo hình cho trẻ 5-6 tuổi

ở trường mầm non Hoa Hồng, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tôi đã sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu anket, kết hợp phương pháp trò chuyện với giáo viên, học sinh và phụ huynh, bên cạnh đó tôi còn sử dụng phương pháp quan sát các tiết học tạo hình, phương pháp thống kê toán học

Đối tượng điều tra: Các giáo viên giảng dạy tại trường mầm non Hoa Hồng

Thời gian điều tra: Đợt 1 : Từ ngày 5/11/2017 đến 30/11/2017

Đợt 2 : Từ ngày 26/2/2018 đến 13/4/2018Tổng số phiếu phát ra là 25

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vai trò của việc GDTM thông qua môn học tạo hình cho TMGL (5-6 tuổi).

Để tìm hiểu thực trạng vấn đề này tôi đã sử dụng câu hỏi :

“ Các cô có suy nghĩ như thế nào về vai trò của việc GDTM cho trẻ 5-6 tuổi thông qua môn học tạo hình”

Ngày đăng: 09/04/2023, 17:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w