II/ Lý Luận Âm Dương: Từ thực tế cuộc sống, người Trun g Hoa cổ đại cho rằng, bản thân vũ trụ cũng như vạn vật trong nó được tạo thành nhờ vào sự tác động lẫn nhau của hai cái lực lượng
Trang 1Tiểu luận
TƯ TƯỞNG ÂM DƯƠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ LÊN ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT NAM
Trang 2I/ Hoàn Cảnh Ra Đời:
I Điều kiện kinh tế xã hội và nét đặc thù của triết học Trung Hoa cổ trung đại
- Trung Hoa thời cổ đại là một quốc gia rộng lớn, có lịch sử lâu đời từ cuối thiên nIên kỷ thứ III tr.CN kéo dài tới tận cuối thế kỷ III tr.CN với sự kiện Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa bằng uy quyền bạo lực mở đầu thời kỳ Trrung Hoa phong kiến Trong khoảng 2,000 năm đó lịch sử Trung Hoa được chia làm hai thời kỳ lớn:
+ Thời kỳ từ thế kỷ IX tr.CN trở về trước
+ Thời kỳ từ thế kỷ VIII tr.CN đến cuối thế kỷ III tr.CN
- Trong thời kỳ thứ nhất tư tưởng triết học ít nhiều đã xuất hiện nhưng chưa đạt tới mức hệ thống
- Thời kỳ thứ hai gọi là thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc- Là thời kỳ chuyển biến từ chế độ Chiếm hữu nô lệ sang chế độ Phon g kiến Dưới thời thịn vượng của nhà Chu, đất đai thuộc về nhà vua thì nay quyền sở hữu tối cao về đất đai ấy bị một một tầng lớp mới, tầng lớp địa chủ chiếm làm tư hữu M ột sự phân hoá sang hèn dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện Xã hội lức này rơi vào tình trạng hết sức đảo lộn Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực cứ đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên Trong tình trạng đó, một loạt học thuyết chính trị- xã hội và triết học đã xuất hiện và hầu hết đều có xu hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị- đạo đức của xã hội Điều đó trở thành nét đặc trưng chủ yếu của Triết học Trung Hoa cổ đại
- Tuy nhiên nền triết học Trung Hoa không chỉ quan tâm giải quyết những vấn đè thực tiễn chính trị - đạo đức mà nó còn đặt ra và giải quyết những vấn đề cua triết học như vấn
đề bản nguyên thế giới, vấn đề cơ bản của Triết học, vấn đề con người; đặc biệt là vấn đề tính người, vấn đề biến dịch của vạn vật và một số vấn đề thuộc lý luận nhận thức thông qua một số học thuy ết tiêu biểu: Thuy ết Âm Dương – Ngũ Hành, Nho gia, Đạo gia, M ặc gia, Pháp gia
- Tư tưởng về Âm Dương và tư tưởng về N gũ Hành là hai luồng tư t ưởng xuất hiện rất sớm từ thời nhà Thương, là kết quả của quá trình khái quát những kinh nghiệm thực tiễn lâu dài trong lao đồng sản xuất và đấu tranh chinh phục tự nhiên của nhân dân Trung Quốc cổ xưa, hai dòng tư t ưởng này cố gắng giải thích cơ cấu và nguồn gốc vũ trụ M ột dòng được thấy trong
Trang 3viết, phụ vào Kinh Dịch Hai dòng tư t ưởng này dường như p hát triển độc lập Trong thiên Hồng Phạm và thiên Nguyện Lệnh có sự nhấn mạnh vào Ngũ hành nhưn g không đề cập âm dươn g, còn trong Dịch truy ện thì ngược lại, nói về Âm Dương mà khôn g nói đến Ngũ hành Sang thời Chiến quốc, Trâu Diễn đã thông nhất hai luồng tư tưởng đo với nhau dưới tên gọi la Âm dương gia
II/ Lý Luận Âm Dương:
Từ thực tế cuộc sống, người Trun g Hoa cổ đại cho rằng, bản thân vũ trụ cũng như vạn vật trong nó được tạo thành nhờ vào sự tác động lẫn nhau của hai cái (lực lượng) đôi lập nhau là Âm
và Dương Và mọi tai họa trong vũ trụ sở dĩ xảy ra cũng là do sự không điều hòa được hai lực lượng ấy Nội dung cơ bản của lý luận Âm Dương chủ yếu thể hiện trong nguyên lý âm dương
Nếu như thuyết Ngũ hành chủ yếu giải thích cơ cấu vũ trụ thì thuyết Âm Dương lại
đi sâu tìm hiểu lý giải nguồn gốc và sự biến hoá của vạn vật Ghi chép đầu tiên về Âm Dương
đã tìm thấy trong sách Quốc ngữ, một cuốn sách đầu tiên của Trung Quốc làm theo thể tự thuật , trình bày sự kiện lịch sử quan trọng của tám nước Chu, Lỗ Tề Tấn Trịnh Sở N gô Việt từ năm thứ
12 đời Chu M inh Vương ( 990 Tr.CN ) đến năm thứ 16 đời Chu Trịnh Định Vương ( Năm 453 Tr.CN ) Tuy nhiên quan điểm Âm Dươn g đã được nói đến trong Kinh Dịch
1/ Nguyên lý âm dương:
a/ Phạm trù âm dương
- Âm là một phạm trù đối lập với dương, phản ánh những yếu tố ( sự vật, hiện tượng, tính chất, quan hệ…) và khuynh hướng như: giống cái, đất, mẹ, vợ, nhu, thuận, tối, ẩm, phía dưới, bên phải, số chẵn, tĩnh, tiêu cực…
- Dương là phạm trù đối lập với âm, phản ánh những yếu tố ( sự vật, hiện tượng, tính chất, quan hệ…) và khuynh hướng như: giống đực, trời, cha, chồng, cương, cường, sáng, khô, phía trên, bên trái, số lẻ, động, tích cực…
- Cụ thể bảng quy loại âm dương trong tự nhiên và trong cơ thể:
Trong tự nhiên:
Âm đất trong lạnh đêm mặt trời nước tối
Trang 4Dương trời ngoài nóng ngày mặt trăng lửa sáng
Trong cơ thể con người:
Âm nữ Tạng Kinh âm tạng hàn sợ lạnh huyết mạch
nhâm
dương
tạng nhiệt
sợ nóng khí mạch
đốc
- Âm và dương không chỉ phản ánh hai loại yếu tố ( lực lượng) mà còn phản ánh hai loại
khuynh hướng đối lập, không tách rời nhau, ôm lấy nhau, xoắn vào nhau ( ví dụ: vũ trụ thì
có trời có đất, không gian thì có ngày có đêm, thiên nhiên thì có sông có núi, con người thì có đàn ông và đàn bà, tinh thần thì có khi vui, khi buồn…) Vì vậy, trong âm có dương
và trong dươn g có âm ( ví dụ: Ban ngày là dương, ban đêm là âm, thế nhưng từ 24h-6h là dương nằm trong âm; 6h-12h là dương nằm trong dương; 12h-18h là âm nằm trong dương; từ 18h-24h âm nằm trong âm.) Đó cũng là sự thống nhất giữa cái động và cái
tĩnh; trong động có tĩnh và trong tĩnh có động…nghĩa là trong âm và trong dươn g đều có tĩnh và có động và chúng chỉ khác ở chỗ, bản tính của dương là hiếu động, còn bản tính của âm là hiếu tĩnh… Do thống nhất, giao cảm với nhau mà âm và dươn g có động; mà động thì sinh ra biến; biến tới cùng thì hóa để được thông; có thông thì mới tồn vĩnh cửu được Như vậy, sự thống nhất và tác động của hai lực lượng, khuynh hướng đối lập âm và dương tạo ra sự sinh thành biết hóa của vạn vật; nhưn g vạn vật khi biến tới cùng thì quay
trở lại cái ban đầu ( ví dụ: Lá cây, trái cây từ đất đen sau chín vàng rồi hóa đỏ và cuối cùng trở lại đen và thối rửa để về với đất)
b/ Nội dung nguyên lý âm dương
Vạn vật trong vũ trụ từ vô cùng lớn đến vô cùng bé đều bao hàm hai mặt đối lập là Âm & Dương Sự thống nhất, cân bằng hai thế lực đối lập ấy trong mỗi tồn tại gọi là Thái cực Thái cực
là ngọn nguồn của mọi sự biến hóa trong vũ trụ, nó thống nhất trong mình hai lực lượng đối lập
âm dươn g, Thái cực biểu tượng là vòng tròn khép kín, nửa trắng là Thái Dương, nửa đen là Thái
Trang 5đến cùng thì có sự chuyển hóa thành Thiếu Âm trong Thái Dương và ngược lại cứ như vậy làm
vạn vật thay đổi, biến hóa không ngừng
Hai thế lực âm dương không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với nhau theo hai nguyên lý
căn bản
- M ột là, âm dươn g thống nhất, giao hòa lẫn nhau: trong âm có dương, và trong dương có âm Âm- Dương thống nhất trong thái cực ( Thái cực được coi là nguyên lý của sự
thống nhất của hai mặt đối lập là âm và dương ) nói lên tính toàn vẹn, chỉnh thể cân bằng của cái
đa và cái duy nhất Chính nó bao hàm tư t ưởng về sự thông nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi
Trong Âm có Dương và trong Dương có Âm nói lên khả năng biến đổi Âm - Dương đã bao hàm
trong hai mặt đối lập của Thái cực
Nguyên lý này thường đựơc các học giả phái Âm – Dương khái quát bằng vòng tròn khép kín ( tượng trưng cho Thái cực ) Trong đó được chia thành hai nữa đối lập (đen - trắng ) và trong nữa này đã bao hàm nhân tố của nữa kia ( trong phần đen có nhân tố của phần trắng và ngược lại ), biểu tượng cho nguyên lý trong Âm có Dương và tron g Dương có Âm
Ví dụ như Trong lòng đất (âm) có cái nóng (dương) nên càng xuống sâu đất càng ấm nóng, núi lửa là hiện tượng cái nóng ấy phun ra ngoài Trong cái nắng tiềm ẩn cái mưa (hơi nước bốc lên), trong cái mưa tiềm ẩn cái nắng (mây tan đi)
- Hai là, âm và dương tác động chuyển hóa lẫn nhau Sự khái quát đồ hình thái cực
Âm Dương còn bao hàm nguyên lý : Dương tiến đến đâu thì Âm lùi đến đó và ngược lại, đồng thời “Dương cực thì Âm sinh”, “Âm thịnh thì Dương khởi”
Chẳng hạn, ngày và đêm, tối và sáng, mưa và nắng, mùa nóng và mùa lạnh luôn đổi chỗ cho nhau Ở xứ nóng là dương phát triển các loài thực vật và nghề trồng trọt (âm) Ngược lại, ở
xứ lạnh (âm) phát triển các loài động vật và nghề chăn nuôi (dương) Lá cây trái cây từ đất đen sau chín vàng rồi hóa đỏ và cuối cùng trở lại đen và thối rữa đề về với đất N gười càng lạnh hiền thì càng hay nóng cục Từ một chất nước (âm) nếu được làm nóng đến cùng cực thì trở thành dương (bốc hơi) nhưng nếu làm lạnh đến cùng cực cũng trở thành dương (hóa đá)
2/ Quá trình biến dịch
Quá trình này mục đích làm gì? Ý nghĩa
Trang 6Từ cái duy nhất thành đa dạng của vạn vật trong vũ trụ: Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm –Dương cân bằng), Lưỡng nghi giao cảm biến hóa lẫn nhau sinh Tứ tượng (Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương), Tứ tượng sinh Bát quái (càn, ly, cấn, tốn, đoài, chấn, khôn, khảm), Bát quái sinh Trùng quái (64 trạng thái), Trùng quái sinh Vạn vật
Trong vũ trụ Tứ tượng tượng trưng cho Mặt Trời, Mặt Trăng, hành tinh, định tinh Theo Kinh dịch thì vũ trụ biến dịch từ Vô cực đến Thái cực, khi chưa có chữ viết thì Dương kí hiệu là vạch liền (-) và âm kí hiệu là vạch đứt (- -)
+ Ta lấy dương chồng lên dươn g và lấy âm chồng lên dương sẽ được hai hình tượng Thái Dương và Thiếu Dương (biểu tượng cho kim khí); Lấy Âm chồng lên Âm & Dương chồng lên
âm ta sẽ được 2 hình tượng Thái Âm (biểu tượng cho nước) và Thiếu Âm (biểu tượng cho gỗ) hay ta được các biểu thượng của tứ tượng
+ Sau đó ta lấy Dương lần lượt chồng lên Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm
và sau đó lấy Âm lần lượt chồng lên Thái Âm, Thiếu Âm, Thái Dương, Thiếu Dương ta sẽ được
8 biểu tượng của Bát quái (Càn là trời; Ly là lửa; Cấn là núi; Tốn là gió, Đoài là hồ, đầm, Chấn là sấm, Khôn là đất, Khảm là nước) Bát quái tượng trưng cho 8 yếu tố vật chất tạo nên vũ trụ được xếp thành từng cặp đối lập nhau lần lượt là: Càn-Khôn (trời-đất); Chấn-Tốn (sấm-gió); Cấn-Đoài (núi-hồ), Khảm –Ly (nước-lửa) Ngoài ra bát quá còn tượng trưng cho quan hệ gia đình, cho tính khí cá nhân cũng như các hiện tượng, thuộc tính, quan hệ khác… M ỗi quẻ (quái) có 3 vạch gọi là
ba hào (1 vạch đứt hay liền) xuất hiện dần từ dưới lên là hào 1, hào 2, hào 3 Hào dưới là hào thượng tượng trưng cho trời-dươn g, hào giữa là hào trung tượng trưng cho người, hào trên là hào
hạ tượng trưng cho đất-âm.Bát quái chỉ có 8 quẻ đơn, lấy mỗi quẻ trong 8 quẻ ấy lần lượt chồng lên cả 8 quẻ ta được 64 quẻ kép hay được gọi là trùng quái M ỗi quẻ kép có 6 hào (vạch), nếu phối hợp giữa quẻ đơn trên và quẻ đơn dưới thành quẻ kép sao cho chúng tạo ra sự giao cảm lẫn nhau thì quẻ kép đó là quẻ tốt (cát) còn nếu không tạo sự giao cảm thì quẻ kép đó là quẻ xấu (hung)
(cho thêm ví dụ trong sách và cho thêm ví dụ một quẻ cụ thể)
III/ Lý Luận Ngũ Hành:
Trang 7Ngũ hành là một trong những phạm trù triết học mang tính khái quát, trừu tượng đầu tiên của người Trung Quốc cổ đại, nhằm giải thích kết cấu vũ trụ Nó đánh dấu bước phát t riển
sơ khai của tư duy khoa học nhằm thoát khỏi sự chi phối của tư tưởng duy tâm tôn giáo về
Thượng Đế, quỷ thần đang thống trị trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc đương thời Đó
là một trong những cội nguồn của chủ nghĩa duy vật và tư tưởng biện chứng trong lịch sử tư
tưởng Trung Quốc
Trang 8Học thuyết ngũ hành là học thuyết âm dương liên hệ cụ thể hơn trong việc quan sát, quy nạp và
sự liên quan của các sự vật trong thiên nhiên Học thuyết Ngũ hành là một học thuyết về mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng Đó là một mối quan hệ “động” (vì vậy mà gọi là Hành) Có hai kiểu quan hệ: đó là Tương sinh và Tương khắc Do có 5 vị trí (vì vậy mà gọi là Ngũ)
+ Ngũ: năm; Hành: hoạt động, tạo tác
Sơ đồ: Mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng: 5 vị trí và 2 mối quan hệ
Trang 9giống nhau thì không thể kết hợp thành vật mới, chỉ có những yếu tố có tính chất vật chất khác nhau kết hợp với nhau mới có thể sinh ra sự vật mới
+ Trong ngũ hành thì mỗi hành có một đặc tính riêng về khí như sau:
- M ộc: tượng trưng cho thực vật có tính sinh trưởng nên chủ và hành mạnh ở phương đông, mùa xuân, màu xanh…(Sinh)
- Hỏa: có tính chất nóng, phát triển nên chủ và hành mạnh ở phương nam, mùa hè, màu đỏ…(Trưởng)
- Thổ: có tính chất nuôi dưỡng, sinh sản giúp cho các hành khác và bốn mùa nên được coi
là vị trí trung tâm của bốn mùa, thổ hành mạnh vào khoảng giữa mùa hè và mùa thu…(Hóa)
- Kim: có tính chất thu lại, cứng và khô khan nên chủ và hành mạnh ở phương tây, mùa thu, màu trắng…(Thu)
- Thủy: có tính chất tàng chứa, ẩm ướt và chảy xuống dưới nên chủ và hành mạnh ở phương bắc, mùa đông, màu đen…(Tàng)
+ Có thể tóm tắt việc qui loại các sự vật hiện tượng trong tự nhiên lẫn trong cơ thể con người vào bảng sau:
Trang 10M ùa Xuân Hạ Trưởng hạ Thu Đông
Tam tiêu
Vị Đại trường Bàng
quang
Trang 11Hành Thủy_tàng chứa: Lúc bạn hướng ánh nhìn, ướm lời nói đến đối tượng là bạn đang vào hành Thủy Bạn tản đến đối tượng tình cảm của mình Đôi khi bạn còn làm mẽ, để gây sự chú ý ở đối tượng Những hành động tán tỉnh đó, hoặc ào ạt bằng những lời có cánh, hoặc âm thầm kín đáo từ vài cánh hoa cau gói trong cái khăn tay, đều thuộc về hành Thủy Bạn đang tản tình cảm ra, hướng tới đối tượng
Trang 12Hành M ộc_sinh: Khi đối tượng ăn ý với bạn, nhận tín hiệu của bạn thì giữa hai người đã nẩy sinh hành Mộc M ột cái gì đó mới toanh đã hình thành Nếu cái đó lớn dần lên thì gọi là tình yêu Tình yêu đến độ chín thì quá trình đã chuyển sang giai đoạn M ộc vượng, không còn là một mầm tình non nữa Lúc đó những lời gièm pha bên ngoài, thậm chí sự can ngăn của phụ huynh cũng ít giá trị
Trang 13gia đình mới Họ mua sắm đồ đạc, bếp núc, rồi sinh con, nuôi con, và đầu tắt mặt tối để duy trì kinh tế gia đình Tất tật những giai đoạn xây dựng gia đình đó đều thuộc Hỏa Những việc đó giống như duy trì ngọn lửa cháy ổn định để hành Hỏa luôn đạt trạng thái cháy đượm, không bị tắt
Hành Thổ_hóa: Tình yêu có thể về Thổ ngay ở tuổi còn trẻ Hai người sống với nhau một hồi, những khó khăn trong cuộc sống thực có thể làm chùng, dãn, thậm chí đứt phăng những sợi dây tình cảm Hai cá thể vốn quấn quít vì tình thời gian trước đây bây giờ chia lìa Ai mà duy trì được những sợi dây tình đến ngoài sáu mươi tuổi, thì là được trời ban cho hạnh phúc nhiều lắm đấy
Chắc các cụ kiếp trước đã tu hành đến độ cao siêu
Trang 14Tất nhiên trong Thổ lại tích Kim Người ta lại bắt đầu một vòng Ngũ hành tình cảm mới Các cụ ông cụ bà được trời ban chữ Phúc thì tích Kim tình cảm nơi con cháu Các vị trẻ tuổi mà tình đã
về Thổ, thì lại tích Kim nơi các ánh mắt u buồn tập hai, tập ba
3/ Nội dung quy luật ngũ hành:
Các yếu tố của ngũ hành không tồn tại một cách tĩnh biệt, biệt lập, thụ động mà chúng là những yếu tố hoạt động, liên hệ tương tác lẫn nhau, nên còn gọi là 5 tác nhân hay 5 hành chất Âm dương gia gọi sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố cuả ngũ hành là quá trình “Ngũ hành tương sinh” và “ Ngũ hành tương khắc” “Sinh” có nghĩa là sinh ra, là sống là dựa vào nhau
mà tồn tại “Khắc” có nghĩa là đối lập, chế ước lẫn nhau
Sự tương tác sinh - khắc được diễn đạt bằng biểu tượng đường tròn ngoại tiếp bằng ngôi sao năm cánh với các đỉnh lần lượt theo chiều kim đồng hồ là : Thổ, Kim, Thủy, M ộc, Hỏa