Do CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp theo LDN 2005 nên ngoài mang các đặc điểm nói chung của một doanh nghiệp thì trên cơ sở các dấu hiệu đặc trưng về số lượng thành viên, cơ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
-o0o -
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN 4
I Giới thiệu chung về CTCP 4
1 Quá trình hình thành và phát triển của CTCP 4
2 Khái niệm và đặc điểm của CTCP 6
2.1 Khái niệm 6
2.2 Đặc điểm của CTCP 7
3 Những ưu thế của CTCP 9
II Tổng quan về quản lý CTCP theo quy định của Pháp Luật Việt Nam 13
1 Khái niệm quản lý CTCP 13
1.1 Định nghĩa 13
1.2 Đặc trưng của việc quản lý CTCP 14
1.3 Trọng tâm của quản lý CTCP 15
2 Nguồn luật điều chỉnh việc quản lý CTCP ở Việt Nam 15
2.1 Các văn bản luật và dưới luật do nước CHXHCN Việt Nam ban hành 15 2.2 Các Điều ước quốc tế 16
3 Khái quát chung về quản lý CTCP theo quy định của LDNVN 2005 16
3.1 Đại hội đồng cổ đông 17
3.2 Hội đồng quản trị 18
3.3 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc 21
3.4 Ban Kiểm soát 21
III Tham khảo mô hình quản lý CTCP theo quy định của một số nước trên thế giới 22
1 Mô hình quản lý CTCP của Nhật Bản 23
2 Mô hình quản lý CTCP của Đức 24
3 Mô hình quản lý CTCP ở Mỹ 26
4 Bình luận các mô hình quản lý CTCP trên thế giới và mối liên hệ của chúng tới mô hình quản lý CTCP ở Việt Nam 28
Trang 3CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 30
I Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cổ đông 30
1 Cổ đông sáng lập 32
2 Thực trạng điều chỉnh pháp luật về các quyền của cổ đông nói chung 36
2.1 Quyền dự họp ĐHĐCĐ 37
2.2 Quyền biểu quyết 37
2.3 Quyền bổ, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT và kiểm soát viên 39 2.4 Quyền tiếp cận thông tin 41
2.5 Quyền khởi kiện của cổ đông 42
3 Thực trạng bảo vệ các cổ đông thiểu số 44
4 Thực trạng điều chỉnh pháp luật về nghĩa vụ của các cổ đông 48
II Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cuộc họp ĐHĐCĐ 50
1 Về loại hình và thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ 50
2 Về việc triệu tập họp ĐHĐCĐ 51
3 Về chương trình và nội dung họp ĐHĐCĐ: 52
4 Về điều kiện tiến hành họp 53
5 Về việc thông qua quyết định của ĐHĐCĐ 54
III Thực trạng điều chỉnh pháp luật về HĐQT 55
1 Sự xác lập địa vị trung tâm của HĐQT trong cơ cấu quản lý CTCP 55
2 Tiêu chuẩn, số lượng thành viên HĐQT 56
3 Về quyền và nghĩa vụ của thành viên HĐQT 57
3.1 Về quyền của các thành viên HĐQT 57
3.2 Nghĩa vụ của các thành viên HĐQT 58
4 Trách nhiệm pháp lý của các thành viên HĐQT 59
5 Cuộc họp HĐQT 61
IV Thực trạng điều chỉnh pháp luật về GĐ/TGĐ 63
1 Khái niệm, địa vị và trách nhiệm pháp lý của GĐ/TGĐ trong CTCP 63
2 Quyền và nhiệm vụ của GĐ/TGĐ 64
Trang 4V Thực trạng điều chỉnh pháp luật về Ban Kiểm Soát 66
1 Địa vị pháp lý của BKS 66
2 Cơ chế bổ nhiệm thành viên BKS 66
3 Quyền và nhiệm vụ của BKS 68
VI Một số thực trạng khác trong quản lý CTCP hiện nay 70
1 Nhìn lại chế độ quản lý nội bộ của DNNN và ảnh hưởng của nó tới thực trạng quản lý các công ty cổ phần hóa từ DNNN 70
2 Thực trạng kiểm soát các giao dịch của công ty với các bên có liên quan 71
3 Thực trạng điều chỉnh các quy định pháp luật về thỏa thuận giữa các cổ đông với nhau và giữa cổ đông với công ty 72
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN 74
I Nhận xét chung về thực trạng quản lý CTCP tại Việt Nam hiện nay 74
1 Những thành công 74
2 Những khó khăn 74
II Những yêu cầu về việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý CTCP 75
III Một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý CTCP ở Việt Nam 76
1 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về cổ đông 76
1.1 Về quyền thành lập CTCP một cổ đông 76
1.2 Về quyền dự họp ĐHĐCĐ 77
1.3 Về quyền ưu đãi biểu quyết 78
1.4 Về quyền tiếp cận thông tin 78
1.5 Về quyền khởi kiện của cổ đông 79
1.6 Về cơ cấu cổ đông trong CTCP 80
1.7 Về việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số 80
2 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về cuộc họp ĐHĐCĐ 82
3 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về HĐQT 83
4 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về GĐ/TGĐ 83
Trang 55 Gải pháp hoàn thiện các quy định về việc minh bạch hóa các thỏa thuận giữa các cổ đông với nhau và giữa cổ đông với công ty 83
6 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về BKS 84
7 Giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý CTCP qua tham khảo mô hình quản lý CTCP của Nhật Bản 84
8 Một số giải pháp khác 86
KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 Công ty cổ phần : CTCP
2 Công ty Trách nhiệm hữu hạn : CTTNHH
3 Doanh nghiệp tư nhân : DNTN
4 Doanh nghiệp nhà nước : DNNN
5 Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 : LDN 2005
6 Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương : CIEM
7 Đảng Cộng sản Việt Nam : ĐCSVN
8 Đại hội đồng cổ đông : ĐHĐCĐ
9 Hội đồng quản trị : HĐQT
10 Giám đốc/Tổng giám đốc : GĐ/TGĐ
11 Ban Kiểm soát : BKS
12 Kiểm soát viên : KSV
13 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh : GCNĐKKD
14 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam : CHXHCNVN
15 Tổ chức Thương mại thế giới : WTO
16 Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế : OECD
17 Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc : UNDP
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức quản lý CTCP của Việt Nam
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức quản lý CTCP của Nhật Bản
Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức quản lý CTCP của Đức
Sơ đồ 4: Cơ cấu tổ chức quản lý CTCP của Mỹ
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Công ty cổ phần (CTCP) là một loại hình doanh nghiệp có nhiều ưu việt và vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng nhất là khi nước ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế
Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc quản lý CTCP còn là một vấn đề khá mới mẻ nếu
so với hàng trăm năm phát triển của nó ở các nước Châu Âu Là nước đi sau, mặc
dù có lợi thế lớn trong việc học tập kinh nghiệm của các nước đi trước nhưng việc quản lý CTCP ở nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập, chưa thể bứt ra khỏi những ảnh hưởng nặng nề của cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây Chẳng hạn như những khó khăn, bất cập xuất phát từ việc ban lãnh đạo công ty can thiệp vào quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông; một số cổ đông lớn (chủ yếu là
cổ đông nhà nước) nắm giữ quyền khống chế công ty, xâm hại vào quyền lợi của đa
số cổ đông thiểu số; Ban Kiểm soát mang tính hình thức, không phát huy được chức năng giám sát, v.v Có thể nói, những thực trạng nêu trên đã ảnh hưởng rất lớn tới
sự lành mạnh hóa việc quản lý CTCP ở nước ta trong thời gian qua, do đó, đòi hỏi phải có sự quan tâm, nghiên cứu thấu đáo việc quản lý CTCP về mặt lý luận cũng như thực tiễn đồng thời đưa ra các biện pháp về mặt pháp lý để giải quyết những thực trạng đó
2 Mục đích của đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục đích cụ thể như sau:
Thứ nhất, chỉ ra thực trạng pháp luật về quản lý CTCP tại Việt Nam, phân tích bình luận những quy định của pháp luật về quản lý CTCP và đánh giá tác động, ảnh hưởng của chúng trong thực tiễn quản lý CTCP
Thứ hai, trên cơ sở phân tích thực trạng, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý CTCP
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề pháp lý về quản lý CTCP, đặc biệt là quản lý các CTCP đã niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam Hiện nay, trong các CTCP không chỉ có việc quản lý mà có đến ba lĩnh vực liên quan đến việc điều hành công ty: (i) Một là, Quản lý CTCP: Đây là cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực của công ty và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan
đó (hay còn gọi là cơ cấu quản lý CTCP); (ii) Hai là, Cơ cấu tổ chức trong công ty – tức là cách thức sắp xếp các đơn vị khác nhau của công ty thành các phòng, ban, tổ, v.v; (iii) Ba là, Quản trị công ty (corporate governance): Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “Quản trị công ty là một hệ thống các cơ chế và hành vi quản lý Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa các cổ đông, hội đồng quản trị, các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó”1
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong việc quản lý CTCP với những vấn đề như: mô hình quản lý CTCP, cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực trong công ty và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan đó
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh để đánh giá các số liệu và thông tin thu thập được liên quan đến các vấn đề pháp lý về quản lý CTCP ở Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới Bên cạnh
đó trong phần thực trạng, khóa luận sử dụng chủ yếu số liệu từ cuộc Điều tra thực tế
về quản trị CTCP do Tiến sỹ Nguyễn Đình Cung – Trưởng Ban cứu Chính sách Kinh tế Vĩ mô, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương thực hiện vào cuối năm 2007 được trình bày trong cuốn sách “Công ty vốn, quản lý và tranh chấp”2
kết hợp với thông tin thu thập được qua các cuộc hội thảo tổng kết thực tiễn thi hành LDN vào các năm 2008-2009 liên quan đến quản lý CTCP Các
1
OECD (2004), OECD Principles of Corporate Governance
Trang 10phương pháp nghiên cứu trên sẽ giúp khóa luận làm sáng tỏ những luận cứ khoa học trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và tăng tính thuyết phục cho các đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý CTCP
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý Công ty cổ phần
Chương II: Thực trạng quản lý công ty cổ phần theo quy định của pháp luật
Việt Nam hiện nay
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý
Trang 11CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN
I Giới thiệu chung về CTCP
1 Quá trình hình thành và phát triển của CTCP
Trên thế giới, CTCP đã ra đời và phát triển từ rất sớm, góp phần quan trọng cho
sự nghiệp phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Một số học giả cho rằng, Công ty Đông Ấn Anh Quốc thành lập ngày 31/10/1600 và Công ty Đông Ấn Hà Lan là tổ tiên của CTCP hiện đại Theo khảo cứu, Pháp là quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận CTCP về mặt pháp lý Chế độ CTCP được quy định trong Bộ Luật Thương mại Pháp năm 1807 (Bộ Luật Napoleon), theo đó CTCP tồn tại dưới loại hình société en commandite par actions (Công ty giao vốn), cho phép những người không tham gia vào việc quản lý công ty được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn
Ở Mỹ, CTCP cũng ra đời từ sớm và phát triển rất mạnh Lúc đầu là để phục vụ cho việc xây dựng đường sắt, sau là để thiết lập mạng lưới phân phối và bán lẻ trên toàn lãnh thổ Mỹ Chính từ yêu cầu tài trợ cho các công ty xây dựng đường sắt mà thị trường chứng khoán ở New York đã phát triển Năm 1811, bang New York đã ban hành luật về tính trách nhiệm hữu hạn dành cho các công ty sản xuất Nhờ có luật này, tiền ùn ùn đổ về New York và tính hữu hạn đó trở thành phổ biến bởi vì bang nào không dùng đến nó thì không thu hút được vốn Từ sự phát triển kinh tế của
Mỹ, các nước Châu Âu thấy cần phải đuổi theo; vì vậy, họ đã giảm bớt sự kiểm soát đối với các công ty Tại Anh, Luật CTCP được ban hành vào năm 1844, theo đó các CTCP muốn được thành lập không phải xin phép mà chỉ cần đăng ký Quy định này
đã tạo động lực mạnh mẽ cho các CTCP ở Anh phát triển, góp phần đáng kể đưa nước Anh trong thời kỳ đó trở thành bá chủ về hàng hải và là một cường quốc trên thế giới
Trải qua hàng trăm năm phát triển, cho đến nay, cùng với quá trình toàn cầu hóa, hình thức CTCP đã có sức bật mới với sự xuất hiện của các loại hình CTCP “đa quốc gia”, “xuyên quốc gia” có tầm hoạt động rộng lớn và khả năng cạnh tranh cao
Ở Việt Nam, so với các nước trên thế giới, loại hình CTCP ra đời muộn và chậm
Trang 1221/12/1990 khi Quốc hội khóa VIII thông qua hai đạo luật quan trọng là: Luật công
ty và Luật doanh nghiệp tư nhân Việc ban hành hai đạo luật này đã đặt cơ sở pháp
lý cho việc hình thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam như: CTCP, CTTNHH, DNTN Tuy nhiên, sau gần mười năm thực hiện, nhiều nội dung của hai đạo luật trên đã tỏ ra bất cập, không đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh hoạt động của các loại hình doanh nghiệp nên rất cần phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới
Đáp ứng nhu cầu đó, trên cơ sở hợp nhất có sửa đổi, bổ sung Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh Nghiệp Việt Nam (LDNVN) năm 1999 đã
ra đời và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000 LDN năm 2000 là nền tảng quan trọng nhất cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đặc biệt là sự phát triển của CTCP tại Việt Nam Theo số liệu thống kê của Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), từ đầu năm 2000 đến hết năm 2006, số lượng các CTCP ở Việt Nam đã liên tục tăng lên, tăng từ khoảng 7% tổng số các doanh nghiệp thành lập năm 2000 lên trên 20% năm 2006
Vào năm 2005-2006 dưới áp lực và nhu cầu mạnh mẽ của việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, hàng loạt các luật có liên quan phải ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung; trong đó có các luật về đầu tư và doanh nghiệp LDN 2005 đã ra đời trong hoàn cảnh đó, nó thay thế cho LDN 2000, Luật DNNN năm 2003, các quy định về doanh nghiệp của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006 Kể từ khi LDN 2005 có hiệu lực, lần đầu tiên chúng ta có một LDN duy nhất, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt tính chất sở hữu, người trong nước cũng như người nước ngoài có quyền tự chủ lựa chọn bất kỳ loại hình nào trong bốn loại hình doanh nghiệp do luật quy định (bao gồm: DNTN, công ty hợp danh, CTTNHH và CTCP) Ngoài ra, LDN 2005 đã xác định thời hạn bốn năm kể
từ khi Luật này có hiệu lực để các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành CTTNHH hay CTCP nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 13Như vậy, cùng với các loại hình doanh nghiệp khác, CTCP ở Việt Nam ra đời khá muộn so với các nước trên thế giới, được hình thành và phát triển cùng với sự thừa nhận nền kinh tế thị trường có điều tiết, thể hiện sự thay đổi sâu sắc trong tư duy lãnh đạo kinh tế của Đảng và Nhà nước ta
2 Khái niệm và đặc điểm của CTCP
2.1 Khái niệm
CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay cho nên để tìm hiểu khái niệm CTCP trước tiên cần tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của một doanh nghiệp nói chung
Theo khoản 1 Điều 4 LDN 2005, Doanh nghiệp được định nghĩa là “tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Như vậy, một doanh nghiệp nói chung có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau đây:
Thứ nhất, là tổ chức kinh tế, có tư cách chủ thể pháp lý độc lập;
Thứ hai, được xác lập tư cách (thành lập và đăng ký kinh doanh) theo thủ tục
do pháp luật quy định;
Thứ ba, có nghề nghiệp kinh doanh
Do CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp theo LDN 2005 nên ngoài mang các đặc điểm nói chung của một doanh nghiệp thì trên cơ sở các dấu hiệu đặc trưng về số lượng thành viên, cơ cấu góp vốn, trách nhiệm pháp lý của cổ đông, tư cách pháp nhân của công ty, việc chuyển nhượng vốn và phát hành chứng khoán, CTCP theo điều 77 LDN 2005 còn được định nghĩa như sau:
“CTCP là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
Trang 14- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp đối với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác và hạn chế quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông trong thời hạn 3 năm kể từ ngày CTCP được cấp GCNĐKKD đối với các cổ đông sáng lập theo quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của LDN 2005;
- Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn”
2.2 Đặc điểm của CTCP
Thứ nhất, về số lượng thành viên: Hầu hết pháp luật các nước đều quy định số
lượng thành viên tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa đối với CTCP Ở nước
ta, Luật Công ty năm 1990 quy định số lượng thành viên tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động của CTCP là 7 và theo LDN năm 1999 và LDN năm 2005 thì số lượng này là 3 Đặc điểm này thể hiện đặc trưng cơ bản của CTCP là loại hình công
ty đối vốn nên có sự liên kết của nhiều thành viên tham gia góp vốn vào CTCP
Thứ hai, về hình thức góp vốn: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu, người mua cổ phiếu gọi là cổ đông, lợi nhuận có được hàng năm từ cổ phần gọi là
cổ tức Việc góp vốn vào CTCP được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu, mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu Đăc điểm này cũng thể hiện đặc trưng cơ bản của CTCP là loại hình công ty đối vốn, nghĩa là khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động, các thành viên công ty hoàn toàn không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp của họ Bởi vì đối với loại hình công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty được quyết định trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty mà người đó nắm giữ
Thứ ba, về huy động vốn: Trong quá trình hoạt động của mình, CTCP được
quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn theo qui định của pháp luật về phát hành chứng khoán Luật Công ty năm 1990, LDN năm 1999 và LDN năm 2005 đều qui định rõ: đối với CTTNHH khi muốn tăng vốn điều lệ của
Trang 15mình thì chỉ được thực hiện bằng cách hoặc tăng thêm phần vốn góp của các thành viên, hoặc kết nạp thêm thành viên mới Trong khi đó khả năng huy động vốn để tăng thêm vốn điều lệ của CTCP là rất lớn, bất cứ lúc nào khi hội đủ các điều kiện theo luật định thì CTCP cũng có quyền phát hành cổ phiếu mới để kêu gọi vốn đầu
tư từ các cổ đông mới Với tính chất này, CTCP là một hình thức tổ chức đặc biệt, năng động có thể sử dụng để huy động vốn thông qua các giao dịch trên thị trường chứng khoán
Thứ tư, về chuyển nhượng phần vốn góp: Trong CTCP, phần vốn góp của các cổ
đông được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các cổ phiếu do CTCP phát hành là
“hàng hóa” nên người sở hữu các “hàng hóa” này có thể tự do chuyển nhượng một cách dễ dàng mà không bị ràng buộc bất kỳ điều kiện nào Các cổ đông muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số cổ phiếu của mình trong CTCP cho các
cổ đông khác đều được thực hiện một cách dễ dàng theo quy định của điều lệ công
ty, trừ trường hợp đối với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác và hạn chế quyền tự do chuyển nhượng
cổ phần phổ thông trong thời hạn 3 năm kể từ ngày CTCP được cấp GCNĐKKD đối với các cổ đông sáng lập Đối với CTTNHH, việc chuyển nhượng phần vốn góp
bị hạn chế hơn, tức là nếu thành viên muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình thì trước tiên phải chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện
Như vậy, so sánh với các loại hình công ty khác thì CTCP có nhiều ưu điểm hơn, khắc phục được những hạn chế của loại hình công ty đối nhân và CTTNHH, phù hợp với nền kinh tế thị trường Với loại hình CTCP, công ty có thể huy động được nguồn vốn lớn thỏa mãn nhu cầu kinh doanh miễn là sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả, mức cổ tức đủ sức hấp dẫn những người có vốn, đồng thời chia
sẻ rủi ro cho các thành viên Tuy vậy, do CTCP thường có quy mô kinh doanh lớn,
số lượng thành viên đông nên việc quản lý, điều hành sẽ gặp nhiều phức tạp Kết quả hoạt động của công ty ảnh hưởng nhiều đến sự ổn định xã hội vì công ty được
Trang 16góp vốn có thể là người lao động Mặc dù công ty chịu trách nhiệm hữu hạn nhưng
để bảo đảm an toàn cho xã hội và hoạt động của công ty có hiệu quả nhà nước phải
có nhiều ràng buộc chặt chẽ về tổ chức, hoạt động của loại hình công ty này
3 Những ưu thế của CTCP
So với các loại hình doanh nghiệp khác ở nước ta hiện nay thì CTCP có nhiều
ưu thế hơn Những ưu thế này xuất phát từ chính đặc điểm của CTCP và được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, CTCP là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập: Tức là sự tồn tại của
công ty không phụ thuộc vào một người chủ sở hữu hay một số cổ đông nào Với tư cách chủ thể là pháp nhân độc lập, CTCP có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định, và thông qua người đại diện theo quy định của pháp luật, CTCP có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án Trong quá trình hoạt động, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng chính tài sản của mình Khi mua sắm các tài sản mới thì tài sản đó thuộc sở hữu của công ty còn các cổ đông chỉ được sở hữu cổ phần trong công ty mà không có bất kỳ quyền sở hữu nào đối với tài sản của công ty
Thứ hai, Các cổ đông trong CTCP chịu trách nhiệm hữu hạn: Khi một tổ chức
hay cá nhân mua cổ phiếu của CTCP tức là họ đã chuyển dịch vốn của mình theo những phương thức nhất định vào công ty và phần vốn đó trở thành tài sản thuộc sở hữu công ty, đồng thời cổ đông sẽ được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn Với tư cách là một pháp nhân độc lập, các quyền và nghĩa vụ của CTCP hoàn toàn tách biệt khỏi các quyền và nghĩa vụ của cổ đông Vốn thuộc sở hữu của CTCP chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tư vào CTCP nên trách nhiệm của những cổ đông đối với các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong phạm vi mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu Xét trên phương diện sự tách bạch về tài sản thì các cổ đông không có quyền đối với tài sản của CTCP nên họ không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của CTCP; CTCP chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình Cả CTCP lẫn chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi tài sản của cổ đông trừ trường hợp cổ đông nợ công ty do chưa đóng đủ tiền góp vốn hoặc chưa thanh toán đủ cho công ty số tiền mua cổ
Trang 17phiếu phát hành Đây là điểm khác nhau cơ bản về trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh giữa CTCP với các loại hình công ty đối nhân Đối với công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam và đối với công ty đối nhân hay doanh nghiệp một chủ theo quy định của hầu hết các nước thì các thành viên hợp danh và chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cá nhân vô hạn về các nghĩa vụ của công ty hay của doanh nghiệp bằng tài sản của mình bất kể tài sản đó
có liên quan đến hoạt động kinh doanh hay không
Như vậy, khi đầu tư vào CTCP nếu mức độ rủi ro chỉ giới hạn trong số lượng giá trị cổ phiếu mà các cổ đông đã đầu tư, thì ngược lại, khi đầu tư vào công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân mức độ rủi ro là vô hạn Với tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn như trên, CTCP thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác mà ở đó nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm vô hạn Chính nhờ lợi thế này nên các CTCP có khả năng huy động lớn các nguồn vốn đầu tư của
xã hội vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình
Thứ ba, Việc chuyển nhượng các phần vốn góp được thực hiện một cách tự do:
Hầu hết pháp luật về công ty của các nước trên thế giới đều quy định và cho phép chuyển nhượng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do CTCP phát hành từ
cổ đông sang chủ sở hữu mới Vì khác với các loại hình công ty khác, vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Việc góp vốn vào CTCP được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu nên cổ phiếu được xem là hình thức thể hiện phần vốn góp của các cổ đông Các cổ phiếu do CTCP phát hành là “hàng hóa” nên các cổ đông khi sở hữu
cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng; hơn thế nữa trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn trong phạm vi giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho người khác thì họ thực hiện rất dễ dàng Đó là lý do giải thích vì sao có rất nhiều người muốn đầu tư vào CTCP chứ không muốn đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác Đây cũng
là một trong những yếu tố cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị trường
chứng khoán
Trang 18Thứ tư, CTCP có cơ cấu vốn và tài chính linh hoạt, có thể huy động được vốn theo yêu cầu kinh doanh: CTCP không thể được thành lập và không thể hoạt động
nếu không có vốn Vốn quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như quan hệ với các đối tác bên ngoài Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồn của quyền lực Với đặc trưng là loại hình công ty đối vốn, quyền lực trong CTCP sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn trong công ty Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của CTCP là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính của công ty Tuy nhiên, khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong CTCP là yếu tố năng động nhất Các quy luật kinh tế thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu thông hàng hóa là sự lưu thông tiền tệ, tức là sự chu chuyển các nguồn vốn Sự phát triển của CTCP tỷ lệ thuận với sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế Sự vận động của vốn trong CTCP vừa chịu sự chi phối khách quan của các qui luật kinh tế, vừa bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người Điều này đặt ra một đòi hỏi là con người phải tạo ra cách góp vốn, cách tổ chức và quản lý vốn để có thể đáp ứng được sự vận động linh hoạt của vốn Sự linh hoạt trong vận động của vốn vừa phải thích ứng với yêu cầu đòi hỏi đa dạng của nhà đầu tư, vừa không mất đi bản chất vốn có của CTCP Điều đó có nghĩa là phải tạo cho bản thân CTCP khả năng chuyển nhượng các phần vốn góp một cách dễ dàng song tư cách pháp nhân của
công ty không vì sự chuyển nhượng đó mà bị thay đổi
LDNVN 2005 quy định một CTCP có thể qui định và phát hành nhiều loại cổ phiếu khác nhau như: cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi (trong cổ phiếu ưu đãi có: cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phiếu ưu đãi khác) và các loại trái phiếu Đây sẽ là những loại chứng khoán được phát hành rộng rãi ra công chúng nhằm tăng khả năng thu hút vốn đầu
tư cho kinh doanh của CTCP Ngoài ra, với việc xác lập mệnh giá của cổ phiếu thấp
đã tạo điều kiện thuận lợi cho những nhà đầu tư dù cho khả năng tài chính không nhiều nhưng vẫn có khả năng tham gia đầu tư vốn vào CTCP
Thứ năm, Tính ổn định trong hoạt động kinh doanh và không hạn chế về thời gian tồn tại: Đối với các loại hình doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh, sự
tồn tại của các doanh nghiệp này luôn luôn gắn liền với tư cách của chủ sở hữu
Trang 19doanh nghiệp hay các thành viên hợp danh bởi vì hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này có thể sẽ bị kết thúc cùng với cái chết hay sự rút lui của chủ doanh nghiệp tư nhân hay của một trong các thành viên hợp danh công ty Khác với các loại hình doanh nghiệp trên, hoạt động kinh doanh của CTCP hoàn toàn không phụ thuộc vào bất kỳ điều gì có thể xảy ra đối với các cổ đông trong CTCP; bởi vì CTCP có tư cách pháp nhân độc lập nên nếu có bất kỳ sự rút lui, sự phá sản hoặc thậm chí cái chết nào có thể xảy ra đối với các cổ đông thì CTCP vẫn tiếp tục tồn tại
và phát triển mà hoàn toàn không bị ảnh hưởng gì cả Đây chính là một ưu điểm bảo đảm cho việc kinh doanh của CTCP diễn ra một cách liên tục và ổn định Mặt khác, pháp luật công ty của một số nước đều không hạn chế về thời gian tồn tại của CTCP trừ những trường hợp như: công ty phá sản hoặc các cổ đông cùng thỏa thuận chấm dứt hoạt động hay vì một lý do nào khác mà điều lệ công ty quy định Chính sự ổn định trong kinh doanh và thời gian hoạt động lâu dài đã khiến CTCP được ưa
chuộng hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác
Thứ sáu, CTCP có cơ chế quản lý tập trung cao và minh bạch: Với tư cách là
một pháp nhân độc lập, ở CTCP có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý công ty Trong CTCP, việc quản lý các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công
ty được giao cho ban giám đốc mà không trải đều cho tất cả các cổ đông Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý còn được thể hiện ở chỗ Luật Công ty hiện đại của một số nước còn qui định cho phép giám đốc quản lý công ty có thể không phải là cổ đông của công ty Giám đốc có thể là người đại diện theo pháp luật của công ty và là người điều hành các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty Rõ ràng việc quy định như vậy một mặt thu hút được những người quản lý chuyên nghiệp được CTCP thuê làm công tác quản lý, mặt khác việc tách biệt vai trò chủ sở hữu với chức năng quản lý đã tạo cho CTCP có được sự quản lý tập trung cao thông qua cơ chế quản lý hiện đại, lành nghề nên rất phù hợp với điều kiện quản lý trong các doanh nghiệp có quy mô lớn
Trang 20II Tổng quan về quản lý CTCP theo quy định của Pháp Luật Việt Nam
1 Khái niệm quản lý CTCP
Định nghĩa
Khi nói đến quản lý CTCP là nói đến các trung tâm hay cơ cấu quyền lực ở đó Theo quan niệm của luật học, quản lý CTCP là phương thức tổ chức các cơ quan quyền lực trong công ty và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan đó Chính vì có liên quan đến việc bố trí và tổ chức quyền lực, nên quản lý CTCP còn được gọi là
“Cơ cấu quản lý CTCP” (Corporate Governance Structure)1
Nhìn chung, trong các CTCP thông thường thiết lập ba cơ quan có quyền lực chủ yếu là Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
Theo nghĩa hẹp, quản lý CTCP có nghĩa là cách thức tổ chức và phân chia quyền lực giữa ba cơ quan nêu trên và mối quan hệ giữa chúng Luật Công ty Anh Quốc (năm 1985) xác định quản lý công ty là một thiết chế pháp lý về mối quan hệ giữa
cổ đông, thành viên HĐQT và kiểm soát viên Theo đó, các thành viên HĐQT là người quản lý điều hành và lãnh đạo công ty thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận; các cổ đông bảo đảm các thành viên HĐQT làm việc đúng hướng và đúng luật pháp; và các kiểm soát viên thực hiện quyền và nhiệm vụ giám sát hoạt động quản lý kinh doanh của HĐQT để bảo đảm công ty không có sai phạm về tài chính
và bảo đảm HĐQT được đề xuất báo cáo tài chính một cách chân thực và công bằng
Tại Việt Nam, khái niệm quản lý CTCP cũng tương tự như ở các nước khác Theo Tiến sỹ Phạm Ngọc Côn: “Cơ cấu quản lý doanh nghiệp là sự thiết lập, vận hành của các cơ quan quyền lực trong doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực đó Một cơ cấu quản lý doanh nghiệp có hiệu quả được thể hiện ở
sự hợp tác lâu dài giữa những người có quan hệ lợi ích trên cơ sở cân đối trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích”2 Ở đây, “doanh nghiệp” có thể được hiểu là CTCP
Trang 21Trên cơ sở tham khảo các khái niệm nêu trên và nghiên cứu các quy định của LDNVN 2005 về cơ cấu tổ chức quản lý CTCP, Quản lý CTCP được trình bày trong phạm vi khóa luận được định nghĩa là cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực của công ty bao gồm ĐHĐCĐ, HĐQT, GĐ/TGĐ, BKS và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan đó
1.2 Đặc trưng của việc quản lý CTCP
Sự khác biệt mang tính bản chất giữa CTCP và các doanh nghiệp cổ điển chính
là việc quyền sở hữu tách biệt với quyền quản lý điều hành, hay nói cách khác tức là chủ sở hữu công ty xa rời với việc quản lý điều hành Chính vì thế, vấn đề làm sao tạo ra sự tự do không quá lớn, sự giám sát không quá yếu để khuyến khích những người quản lý điều hành (thường là thành viên ban giám đốc, HĐQT) hành động một cách năng động, sáng tạo, linh hoạt vì lợi ích của chủ sở hữu công ty đã trở thành một bài toán khó từ hàng trăm năm nay đối với vấn đề quản lý CTCP Đi theo vấn đề trên chính là sự phân chia quyền lực giữa các cơ quan quản lý trong công ty
để tạo ra một cơ chế vừa bảo đảm cổ đông được thực hiện quyền sở hữu công ty vừa bảo đảm cho nhóm người quản lý điều hành có quyền thiết thực để quản lý kinh doanh có hiệu quả Trong cơ cấu tổ chức quản lý CTCP, toàn thể các cổ đông hợp thành một cơ quan để hình thành ý chí và thể hiện lợi ích của toàn thể các cổ đông,
đó là ĐHĐCĐ - cơ quan quyết định cao nhất Cơ quan này xây dựng và thông qua một quy chế quản lý chung được gọi là Điều lệ Theo Điều lệ công ty, ĐHĐCĐ bầu
ra và ủy quyền một số người để hình thành cơ quan chấp hành là HĐQT để thực hiện ý chí của cơ quan quyết định Bên cạnh cơ quan chấp hành, ĐHĐCĐ lại bầu ra
và ủy quyền cho một nhóm người để hình thành cơ quan giám sát là BKS để thường xuyên kiểm soát hoạt động quản lý điều hành của cơ quan chấp hành Cơ cấu quản
lý như vậy đã thể hiện sự tách biệt giữa quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh
và sự cân bằng giữa các cơ quan quyền lực trong nội bộ công ty
Như vậy, có thể nói rằng, cơ sở của chế độ quản lý CTCP chính là cơ chế phân quyền và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan quyền lực trong công ty trên cơ
sở tách biệt quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh của công ty
Trang 221.3 Trọng tâm của quản lý CTCP
Khi công việc quản lý kinh doanh ngày càng phức tạp và chuyên nghiệp thì quyền chi phối công ty của nhóm người quản trị ngày càng lớn, trong khi đó đông đảo các nhà đầu tư (các cổ đông), do đã chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho công ty, đã từ chủ sở hữu tài sản trở thành người chỉ thu nhận khoản tiền lợi tức theo định kỳ Nhưng về mặt pháp lý, cổ đông vẫn là chủ sở hữu của công ty Cổ đông có quyền yêu cầu có một cơ chế hữu hiệu để bảo vệ các quyền lợi của mình cũng như để công ty được đứng vững và phát triển mạnh mẽ Cho nên, vấn đề làm sao để xây dựng một cơ chế hợp lý để các cổ đông có thể kiểm soát và khống chế hoạt động của HĐQT và đội ngũ giám đốc đã trở thành một vấn đề được quan tâm rộng rãi Đó chính là trọng tâm của việc quản lý CTCP
2 Nguồn luật điều chỉnh việc quản lý CTCP ở Việt Nam
2.1 Các văn bản luật và dưới luật do nước CHXHCN Việt Nam ban hành
- Luật Doanh Nghiệp Việt Nam năm 2005: là nguồn luật chủ yếu điều chỉnh việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của CTCP LDNVN 2005 có 172 điều khoản, trong đó có 54 điều khoản quy định riêng về CTCP
- Các văn bản luật chuyên ngành: Chẳng hạn như Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Dầu khí, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Chứng khoán, Luật Kinh doanh bảo hiểm, v.v Ngoài ra, các Luật sửa đổi, bổ sung các luật trên và các luật chuyên ngành khác được Quốc hội thông qua sau khi Nghị định 139/2007/NĐ-CP
có hiệu lực thi hành cũng là nguồn luật điều chỉnh việc quản lý CTCP Các luật chuyên ngành này được áp dụng khi có sự khác nhau giữa các quy định của LDN
2005 với các luật này về việc quản lý CTCP;
- Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/09/2007 về việc hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp;
- Quyết định 12/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 13/03/2007 về việc ban hành Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán;
- Quyết định 15/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 19/03/2007 về việc ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán
Trang 23- Nghị Quyết 71/2006/QH11 của Quốc Hội ngày 29 tháng 11 năm 2006 về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập WTO của nước CHXHCNVN
- Các văn bản dưới luật khác của các luật chuyên ngành đã kể ở trên;
- Các văn bản dưới luật sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản dưới luật kể trên được Quốc hội thông qua sau khi Nghị định 139/2007/NĐ-CP có hiệu lực thi hành
2.2 Các Điều ước quốc tế
Trường hợp Điều ước quốc tế mà nước CHXHCNVN là thành viên có quy định khác với quy định của LDN 2005 về vấn đề quản lý CTCP thì áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế đó
Trong trường hợp này, nếu các cam kết song phương có nội dung khác với cam kết đa phương thì áp dụng theo nội dung cam kết thuận lợi hơn đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư (Khoản 2 điều 3 Nghị định 139/2007/NĐ-CP)
3 Khái quát chung về quản lý CTCP theo quy định của LDNVN 2005
Điều 95 LDN 2005 quy định: CTCP có ĐHĐCĐ, HĐQT, GĐ/TGĐ; đối với CTCP có trên 11 thành viên (n >11) là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có BKS
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần của Việt Nam
Trang 24Như vậy, theo LDNVN 2005, trong CTCP có bốn cơ quan quyền lực là: ĐHĐCĐ, HĐQT, GĐ/TGĐ và BKS BKS chỉ bị buộc phải lập nếu CTCP có trên 11
cổ đông là cá nhân, hoặc có một tổ chức nắm trên 50% tổng số cổ phần của công ty
3.1 Đại hội đồng cổ đông
Thành phần ĐHĐCĐ:
ĐHĐCĐ gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP (khoản 1 điều 96) Cổ đông là tổ chức có quyền cử một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền tham gia vào ĐHĐCĐ để thực hiện các quyền cổ đông của mình theo quy định của pháp luật (khoản 3 điều 96)
Cổ đông có quyền biểu quyết là cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông (được gọi là
cổ đông phổ thông) và cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết Cổ đông không
có quyền biểu quyết là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định
Quyền và nhiệm vụ của ĐHĐCĐ:
Khoản 2 điều 96 LDN 2005 quy định quyền và nhiệm vụ của ĐHĐCĐ gồm:
Quyết định số phận của công ty: Bao gồm (i) Quyết định thông qua định
hướng phát triển của công ty; (ii) Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ; (iii) Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty
Quyết định tài chính của công ty: Bao gồm (i) Quyết định loại cổ phần và
tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán, quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần, trừ trường hợp Điều lệ có quy định khác; (ii) Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, nếu Điều lệ không quy định một tỷ lệ khác; (iii) Thông qua báo cáo tài chính hàng năm; (iv) Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại
Quyết định người lãnh đạo công ty: (i) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành
viên HĐQT, thành viên BKS, xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT, BKS gây thiệt hại cho công chúng và cổ đông công ty; (ii) Xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT, BKS gây thiệt hại cho công ty và cổ đông của công ty
Trang 25 Cuộc họp ĐHĐCĐ:
ĐHĐCĐ phải tổ chức họp thường niên hoặc bất thường, ít nhất mỗi năm họp một lần Các cuộc họp bất thường có thể được triệu tập bởi HĐQT trong các trường hợp quy định sau: (i) HĐQT xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty; (ii) Số thành viên HĐQT còn lại ít hơn số thành viên theo quy định của pháp luật; (iii) Theo yêu cầu của một cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm giữ trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, và (iv) Theo yêu cầu của Ban Kiểm soát (khoản 1 và khoản 3 điều 97, LDN 2005)
Điều kiện tỷ lệ triệu tập cuộc họp: ĐHĐCĐ được tiến hành khi có (i) số cổ đông
đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết đối với triệu tập lần đầu; (ii) số cổ đông đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết đối với triệu tập lần 2; hoặc (iii) các cổ đông có mặt tại cuộc họp (không phụ thuộc số cổ đông dự họp) đối với triệu tập lần 3 (Điều 102)
Thông qua quyết định của ĐHĐCĐ: Quyết định của ĐHĐCĐ sẽ được thông qua
tại cuộc họp trong các trường hợp sau đây: (a) Được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận đối với các quyết định – về: (i) loại cổ phần và tổng số cổ phần; (ii) sửa đổi, bổ sung điều lệ CTCP, hoặc (iv) đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản (trừ khi điều lệ CTCP có quy định một tỷ lệ khác); (b) Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp chấp nhận đối với các quyết định ngoài quyết định nêu tại điểm (a) nêu trên
Trường hợp thông qua quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận (khoản 3 và khoản 5 điều 104 LDN 2005)
3.2 Hội đồng quản trị
HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ (khoản 1điều 108)
Trang 26 Nhiệm kỳ và số lượng thành viên HĐQT
HĐQT có không ít hơn 3 thành viên, không quá 11 thành viên, được ĐHĐCĐ
bổ nhiệm và bãi nhiệm Thành viên HĐQT không nhất thiết phải là cổ đông của CTCP (điều 109)
Nhiệm kỳ của HĐQT không quá 5 năm Thành viên HĐQT có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
Quyền hạn và nhiệm vụ của HĐQT
Quyền kiến nghị: Bao gồm: (i) Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được
quyền chào bán của từng loại; (ii) Trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên ĐHĐCĐ; (iii) Kiến nghị mức cổ tức được trả, quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh; (iv) Kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty; (v) Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp ĐHĐCĐ, triệu tập họp ĐHĐCĐ hoặc lấy ý kiến để ĐHĐCĐ thông qua quyết định
Quyền quyết định: Bao gồm các quyết định: (i) Chiến lược, kế hoạch phát triển
trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty; (ii) Chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; huy động thêm vốn theo hình thức khác; (iii) Giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty; (iv) Mua lại cổ phần; (v) Phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo luật hoặc Điều lệ công ty; (vi) Giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của
Trang 27công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ; trừ một số hợp đồng và giao dịch bị hạn chế; (vii) Cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác
Quyền quyết định về nhân sự: Bao gồm: (i) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức,
ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với TGĐ và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ quy định; quyết định mức lương và lợi ích khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo ủy quyền thực hiện quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp ở công ty khác, quyết định mức thù lao và lợi ích khác của những người đó; (ii) Giám sát, chỉ đạo TGĐ và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty
Cuộc họp HĐQT
HĐQT có thể họp định kỳ hoặc bất thường, tại trụ sở chính của công ty hoặc ở một nơi khác Cuộc họp định kỳ của HĐQT do Chủ tịch triệu tập bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết, nhưng mỗi quý phải họp ít nhất một lần Chủ tịch HĐQT phải triệu tập họp HĐQT bất thường theo yêu cầu của (i) Ban kiểm soát, (ii) TGĐ hoặc ít nhất 5 người quản lý khác, (iii) ít nhất 2 thành viên HĐQT, hoặc (iv) các trường hợp khác quy định trong điều lệ Chủ tịch HĐQT phải triệu tập họp bất thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị đã nêu, đồng thời phải gửi thông báo mời họp chậm nhất 5 ngày làm việc trước ngày họp cùng với tài liệu kèm theo cho các thành viên BKS và TGĐ cũng như cho thành viên HĐQT
Điều kiện tiến hành cuộc họp HĐQT: Cuộc họp HĐQT được tiến hành khi có từ 75% tổng số thành viên HĐQT trở lên tham dự
Thông qua quyết định HĐQT: HĐQT thông qua quyết định bằng biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ quy định Mỗi thành viên có một phiếu biểu quyết, tức là – khác với ĐHĐCĐ – HĐQT quyết định theo đầu người Quyết định của HĐQT được thông qua nếu được đa số thành viên
dự họp chấp thuận; trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định cuối cùng thuộc
về phía có ý kiến của Chủ tịch HĐQT
Trang 283.3 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
GĐ/TGĐ được HĐQT bổ nhiệm/bãi nhiệm hoặc cách chức, họ có thể là thành viên của HĐQT hoặc là một người khác do HĐQT thuê GĐ/TGĐ là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước HĐQT
và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Nhiệm kỳ của GĐ/TGĐ không quá năm năm và có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế GĐ/TGĐ không được đồng thời làm GĐ/TGĐ của doanh nghiệp khác (điều 116, LDN 2005)
Quyền và nhiệm vụ của GĐ/TGĐ bao gồm:
Quyền kiến nghị lên HĐQT: Gồm kiến nghị (i) Phương án trả cổ tức hoặc xử lý
lỗ trong kinh doanh, và (ii) Phương án tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty
Quyền quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hàng ngày của công ty mà không cần phải có quyết định của HĐQT: Gồm (i) Tổ chức thực hiện
các quyết định của HĐQT; (ii) Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương
án đầu tư của công ty; (iii) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của HĐQT; (iv) Quyết định mức lương và phụ cấp (nếu có) đối với người lao động trong công ty, kể cả người quản
lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của GĐ/TGĐ; (v) Tuyển dụng lao động; (vi) Các quyền và nhiệm vụ khác theo quyết định của HĐQT
3.4 Ban Kiểm soát
Thành phần:
BKS do ĐHĐCĐ bầu ra, có từ 3 đến 5 thành viên, nhiệm kỳ không quá 5 năm
và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
Các thành viên BKS bầu một người trong số họ làm Trưởng ban Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban này do Điều lệ công ty quy định BKS phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam và phải có ít nhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên (điều 121 LDN 2005)
Quyền và nhiệm vụ của BKS:
Quyền và nhiệm vụ chính của BKS là: (i) giám sát HĐQT, GĐ/TGĐ trong việc quản lý và điều hành công ty; chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong việc thực hiện
Trang 29các nhiệm vụ được giao; (ii) Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức
độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác
kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính; (iii) Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hàng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của HĐQT; trình báo cáo thẩm định của mình về các việc trên và báo cáo đánh giá công tác quản lý của HĐQT lên ĐHĐCĐ tại cuộc họp thường niên; (iv) Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của công ty, bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết, hoặc theo quyết định của ĐHĐCĐ hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một
tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty; (v) Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, BKS
đi kiểm tra trong 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu Trong vòng 15 ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, BKS phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến HĐQT và cổ đông hoặc nhóm cổ đông có yêu cầu; (vi) Kiến nghị HĐQT hoặc ĐHĐCĐ các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty; (vii) Khi phát hiện có thành viên HĐQT, GĐ hoặc TGĐ vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty theo LDN thì phải thông báo ngay bằng văn bản cho HĐQT, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm đó và có giải pháp khắc phục hậu quả; (viii) BKS
có quyền sử dụng tư vấn độc lập để thực hiện các nhiệm vụ được giao BKS cũng
có thể tham khảo ý kiến của HĐQT trước khi trình báo cáo, kết luận và kiến nghị lên ĐHĐCĐ
III Tham khảo mô hình quản lý CTCP theo quy định của một số nước trên thế giới
Trong việc quản lý CTCP, mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định và đặc điểm riêng Tuy nhiên, nếu xem xét và phân loại chúng thành một số mô hình thì có thể đưa ra ba mô hình quản lý CTCP điển hình là mô hình quản lý CTCP của Hoa Kỳ, của Đức và của Nhật Bản Để phục vụ cho việc tham khảo và so sánh việc
Trang 30quản lý CTCP ở Việt Nam với các nước điển hình trên thế giới, dưới đây khóa luận
sẽ trình bày sơ lược các đặc điểm căn bản về mô hình quản lý CTCP của ba nước trên
1 Mô hình quản lý CTCP của Nhật Bản
Trong các CTCP của Nhật, ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định cao nhất Cơ quan này bầu ra các thành viên HĐQT và các kiểm soát viên để hình thành hai cơ quan chức năng thường trực là HĐQT (hay còn gọi là Hội đồng đổng sự) và BKS (còn gọi là Hội đồng Giám sự) HĐQT trong nội bộ bầu ra một số thành viên và ủy quyền cho họ đại diện công ty, những người này được gọi là “Đổng sự đại diện” Các đổng sự đại diện có quyền đại diện công ty quản lý điều hành các mặt mà mình đảm nhiệm HĐQT còn bổ nhiệm một số chuyên gia làm cán bộ quản lý cao cấp để trợ giúp công việc quản lý kinh doanh BKS giữ quyền và nhiệm vụ giám sát, kiểm toán các hoạt động kinh doanh của HĐQT, điều tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hoặc các hành vi không hợp lý gây hậu quả nghiêm trọng Ngoài ra, ĐHĐCĐ còn thuê công ty kiểm toán độc lập làm “Người giám sát kế toán”để thẩm tra tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh của HĐQT trong phạm vi tài chính Ngoài ra, khi tiến hành điều tra một vụ việc nghiêm trọng, ĐHĐCĐ sẽ trực tiếp bổ nhiệm một “người điều tra” nhằm giám sát HĐQT cũng như BKS một cách thiết thực Năm 1950 khi Nhật Bản sửa đổi lại Luật Thương mại, quyền lực của các giám
sự đã bị cắt giảm, họ chỉ thực hiện quyền kiểm soát tài chính còn quyền kiểm soát nghiệp vụ thuộc về HĐQT Nhưng sau một thời gian thi hành HĐQT đã không thực
sự làm tốt nhiệm vụ kiểm soát các đổng sự đại diện Vì vậy, Luật Thương mại Nhật Bản sửa đổi năm 1974 đã lại tăng cường quyền lực cho các kiểm soát viên và khôi phục quyền giám sát nghiệp vụ công ty cho họ Ngoài ra, nhằm tăng cường giám sát
tài chính trong các CTCP, Nhật Bản đã ban hành Luật thương mại đặc biệt về việc
giám sát CTCP, trong đó quy định bắt buộc những CTCP lớn phải thiết lập cơ chế
kiểm soát viên song trùng, tức là, ngoài có kiểm soát viên theo Luật Thương mại, các công ty có quy mô lớn còn phải thiết lập Kiểm soát viên về tài chính Năm
1993, Luật thương mại Nhật Bản sửa đổi quy định các CTCP có quy mô lớn phải thành lập BKS có ít nhất 3 kiểm soát viên, trong số đó có ít nhất một kiểm soát viên
Trang 31độc lập Những CTCP nhỏ chỉ cần một kiểm soát viên, với trách nhiệm chủ yếu là giám sát tài chính công ty Sơ đồ minh họa:
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức quản lý CTCP của Nhật Bản
Năm 2002, mô hình công ty có thiết lập ủy ban được du nhập vào Nhật Bản Khác với CTCP có thiết lập BKS, mô hình CTCP có thiết lập ủy ban bao gồm ĐHĐCĐ, HĐQT, các ủy ban, bên cạnh đó có người điều hành, giám sát viên kế toán Việc du nhập mô hình công ty có thiết lập ủy ban trong hoàn cảnh HĐQT, BKS trong mô hình truyền thống bị hình thức hóa, không phát huy được vai trò giám sát phát hiện ra những gian lận tài chính trong công ty
2 Mô hình quản lý CTCP của Đức
Cơ cấu quản lý CTCP của Đức được giới luật học khái quát là “Song lớp” tier board) với hai cơ quan chức năng và thường trực là BKS và HĐQT Luật CTCP của Đức năm 1998 quy định HĐQT là cơ quan quản lý điều hành và đại diện đối ngoại của công ty, nhưng xét về địa vị pháp lý nó đứng dưới BKS Các thành viên HĐQT và chủ tịch HĐQT do BKS bổ nhiệm HĐQT có nghĩa vụ báo cáo công tác
(two-và chịu trách nhiệm trước BKS BKS giám sát hoạt động điều hành nghiệp vụ của HĐQT, bao gồm kiểm tra sổ sách tài chính, văn kiện và vật tư tài sản của công ty
Trang 32BKS có thể triệu tập họp ĐHĐCĐ để giải quyết việc thực hiện nghiệp vụ của HĐQT Trong điều lệ công ty có thể quy định và BKS có thể ra quyết định rằng, việc HĐQT tiến hành một số nghiệp vụ nhất định cần phải có sự đồng ý của BKS; trường hợp BKS không đồng ý, thì HĐQT mới được tiến hành nghiệp vụ đó sau khi được 3/4 số phiếu biểu quyết của ĐHĐCĐ tán thành Cho dù HĐQT có quyền đại diện công ty trong mọi hoạt động đối ngoại, nhưng BKS có quyền đại diện công ty đối với HĐQT Các kiểm soát viên và BKS do ĐHĐCĐ bầu và bổ nhiệm, trừ một
số kiểm soát viên là đại biểu của công nhân viên tùy theo quy mô công ty ĐHĐCĐ còn có thể bổ nhiệm Kiểm toán viên đặc biệt để kiểm soát các nghiệp vụ của công ty
Ở Đức, quyền lực của ĐHĐCĐ bị giới hạn trong một phạm vi do luật định Điều
119 Luật CTCP Đức quy định quyền hạn của ĐHĐCĐ bao gồm: Bổ nhiệm các kiểm soát viên; quyết định việc sử dụng khoản tiền lợi nhuận; quyết định việc giảm hay miễn trừ trách nhiệm của Kiểm soát viên và các thành viên HĐQT; bổ nhiệm kiểm toán viên độc lập; sửa đổi điều lệ công ty; quyết định huy động vốn hoặc cắt giảm vốn; quyết định giải thể công ty Ngoài các quyền hạn nêu trên, mọi thẩm quyền khác về cơ bản thuộc về HĐQT, nếu điều lệ công ty không quy định khác, HĐQT thực hiện việc quản lý kinh doanh theo phương thức tập thể
Ban kiểm soát là cơ quan giám sát đồng thời là cơ quan lãnh đạo của HĐQT Dưới cơ chế này BKS có quyền lực rất lớn, nó không những thực hiện quyền giám sát, mà còn bổ miễn nhiệm các thành viên HĐQT, quyết định mức lương của họ đồng thời phê chuẩn hay hủy bỏ những nghiệp vụ trọng đại của công ty Với cơ chế giám sát như vậy, hoạt động giám sát của BKS ở Đức có hiệu quả cao hơn ở Việt Nam Có thể minh họa mô hình quản lý CTCP của Đức thông qua sơ đồ sau:
Trang 33Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức quản lý CTCP của Đức
3 Mô hình quản lý CTCP ở Mỹ
CTCP của Mỹ thực hiện cơ chế quản lý “đơn lớp” (one - tier board), tức là cơ quan chức năng thường trực của công ty chỉ có HĐQT (board of directors) Quyền lực của ĐHĐCĐ được pháp luật quy định rõ ràng, các quyền lực không thuộc ĐHĐCĐ là thuộc phạm vi quyền hạn của HĐQT HĐQT có quyền lớn, tập trung toàn bộ các chức năng quản lý kinh doanh Nói cụ thể hơn, HĐQT là cơ quan tập trung các chức năng như quyết sách, điều hành, kiểm soát và đại diện đối ngoại Để phân công các chức năng một cách rõ ràng, HĐQT trong nội bộ phải thành lập các
ủy ban chuyên trách, ví dụ như ủy ban chấp hành (the executive committee of the board of directors), ủy ban kiểm toán (the audit committee of the board of directors), ủy ban tiền lương (the compensation committee of the board of directors), ủy ban đề bạt (the nomination commiettee of the board of directors), v.v
Ủy ban chấp hành có quyền và nhiệm vụ thực hiện các nghị quyết của ĐHĐCĐ
và HĐQT, thực hiện quản lý điều hành nghiệp vụ thường nhật, bao gồm các thành viên là các đổng sự độc lập, có quyền và nhiệm vụ giám sát các đổng sự điều hành
và cán bộ quản lý cao cấp khác của công ty từ góc độ và phương diện khác nhau tương ứng với chức năng của ủy ban mình Đại đa số thành viên (trên 80%) của ủy ban kiểm toán là các đổng sự độc lập, họ có nhiệm vụ thực hiện giám sát hoạt động
Trang 34kiểm toán viên độc lập, xác định phạm vi kiểm toán và đánh giá kết quả kiểm toán, kiểm toán tài chính của công ty, v.v
Chức quyền của ủy ban đề bạt là tìm kiếm những nhà kinh doanh có đôi mắt chiến lược, giàu kinh nghiệm quản trị và uy tín, sau đó giới thiệu cho HĐQT và ĐHĐCĐ để xem xét và lựa chọn làm đổng sự điều hành và cán bộ quản lý cao cấp của công ty
Ủy ban tiền lương có quyền và nhiệm vụ khảo sát và đánh giá công việc của các đổng sự điều hành và các cán bộ quản lý cao cấp khác, lập phương án mức tiền lương và thù lao của họ, kể cả các biện pháp kích thích dài hạn
HĐQT triệu tập họp theo định kỳ với sự tham gia của toàn thể các đổng sự, tại cuộc họp các đổng sự thẩm định báo cáo của các ủy ban, thảo luận các vấn đề liên quan đến mọi công việc quản lý kinh doanh, biểu quyết thông qua các nghị quyết với đa số các thành viên tán thành Có thể minh họa mô hình quản lý CTCP của Mỹ thông qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 4: Cơ cấu tổ chức quản lý CTCP của Mỹ
Trang 354 Bình luận các mô hình quản lý CTCP trên thế giới và mối liên hệ của chúng tới mô hình quản lý CTCP ở Việt Nam
Qua tổng kết các mô hình nêu trên, có thể thấy rằng, hiện nay trên thế giới cơ bản tồn tại hai chế độ pháp luật khác nhau, một là chế độ tổ chức quản lý CTCP theo kiểu đơn lớp (One-tier Board), hai là chế độ tổ chức quản lý CTCP theo kiểu song lớp (two-tier Board) Nói riêng về chế độ thứ hai, ngoài việc thiết lập một cơ quan chuyên trách thực hiện các hoạt động quản lý điều hành, các CTCP còn phải thiết lập một cơ quan khác chuyên trách thực hiện chức năng kiểm soát Trong thực tiễn, các công ty theo kiểu đơn lớp cũng thực hiện sự tách biệt chức năng quản lý điều hành với chức năng kiểm soát, tức là, các thành viên điều hành chuyên trách công việc quản lý kinh doanh, trong khi các thành viên không điều hành thì có quyền và nhiệm vụ giám sát hoạt động quản lý kinh doanh Đối với hai chế độ tổ chức quản lý này, điều quan trọng nhất là phải phân định rõ ràng chức trách của hai nhóm người của từng loại Việc hoàn thiện sự phân định này có thể sẽ khuyến khích các nhà đầu tư từ các nước khác nhau cùng nhau thành lập công ty, và hơn nữa, sẽ đẩy mạnh tiến trình hòa hợp giữa các công ty ở các nước khác nhau trên thế giới
So sánh với ba mô hình quản lý CTCP điển hình nêu trên thì mô hình quản lý CTCP ở Việt Nam có nhiều điểm tương đồng nhất với mô hình quản lý CTCP theo Luật Công ty của Nhật Bản Theo đó, Luật Công ty của Nhật và LDNVN 2005 đều quy định cơ cấu quản lý CTCP bao gồm (i) ĐHĐCĐ – cơ quan quyết định cao nhất của công ty; (ii) HĐQT – cơ quan chấp hành nghiệp vụ và đại diện công ty; (iii) BKS – cơ quan giám sát HĐQT và BKS do ĐHĐCĐ bầu ra, có nghĩa vụ báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ HĐQT và BKS là hai cơ quan chức năng và thường trực có địa vị pháp lý ngang nhau CTCP ở Việt Nam có sự tham gia của cổ đông nhà nước trong cơ cấu cổ đông, mặc dù đạt được mục đích duy trì quyền chi phối trong công ty nhưng trong nhiều công ty, vị thế của cổ đông nhà nước bị lạm dụng dẫn tới làm thiệt hại cho cổ đông nói chung Ở Nhật Bản nhằm khắc phục tình trạng hình thức hóa của HĐQT, BKS đã xây dựng mô hình tổ chức nội bộ mới trong đó thiết lập các Ủy ban trực thuộc HĐQT trong đó có Ủy ban giám
Trang 36sát làm nhiệm vụ giám sát thường xuyên hoạt động quản lý điều hành công ty thay cho BKS của mô hình cũ
Từ việc nghiên cứu các mô hình quản lý CTCP khác nhau trên thế giới cũng như tìm ra mối liên hệ của chúng tới mô hình quản lý CTCP ở Việt Nam, có thể kết luận rằng, việc lựa chọn mô hình tổ chức quản lý nào không phải là điều quan trọng nhất Thực ra, điều quan trọng nhất khi lựa chọn bất kỳ một mô hình quản lý nào là pháp luật của mỗi quốc gia cần có quy định cho phép cơ quan quản lý điều hành có đầy
đủ thẩm quyền để nó có thể thực hiện chức trách một cách năng động, tích cực và cũng phải luôn chú trọng đến việc thiết lập một cơ chế kiểm soát đắc lực để thực hiện chức năng giám sát mọi hoạt động của cơ quan quản lý điều hành đó
Trang 37CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN
Như đã phân tích trong Chương I, Quản lý CTCP trên cơ sở nghiên cứu LDNVN 2005 là phương thức tổ chức các cơ quan quyền lực trong công ty bao gồm ĐHĐCĐ, HĐQT, TGĐ/GĐ, BKS và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan này ĐHĐCĐ bao gồm tất cả các cổ đông – chủ sở hữu của công ty và cuộc họp ĐHĐCĐ chính là nơi các cổ đông thực hiện quyền lực của mình nên các quy định của LDN để bảo vệ quyền lợi của cổ đông, cuộc họp ĐHĐCĐ đóng vai trò hết sức quan trọng trong quản lý CTCP Bên cạnh đó, các quy định về quyền và nghĩa vụ của HĐQT, GĐ/TGĐ, BKS và cơ chế kiểm soát các giao dịch của công ty với các bên có liên quan cũng là những cơ sở pháp lý quan trọng và cụ thể nhất cho hoạt động quản lý CTCP hiện nay Do vậy, khi xem xét thực trạng quản lý CTCP theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, khóa luận chủ yếu tập trung vào sáu vấn
đề chủ yếu là: (i) Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cổ đông; (ii) Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cuộc họp ĐHĐCĐ; (iii) Thực trạng điều chỉnh pháp luật về HĐQT; (iv) Thực trạng điều chỉnh pháp luật về TGĐ/GĐ; (v) Thực trạng điều chỉnh pháp luật về BKS; (vi) Một số thực trạng khác trong quản lý CTCP hiện nay như vấn đề kiểm soát các giao dịch của công ty với các bên có liên quan, ảnh hưởng của chế độ quản lý nội bộ DNNN tới vấn đề quản lý CTCP hiện nay, thực trạng điều chỉnh các thỏa thuận giữa các cổ đông với nhau và giữa cổ đông với công ty
I Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cổ đông
Khoản 11 điều 4 LDN 2005 quy định: “Cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của CTCP” Cổ đông có các quyền và nghĩa vụ đối với công ty tương ứng với số cổ phần của mình Khái niệm cổ đông có các nội hàm như sau:
Những số liệu thực tế trình bày trong toàn bộ phần thực trạng chủ yếu dựa vào số liệu từ cuộc điều tra thực tế về quản trị CTCP do Tiến sỹ Nguyễn Đình Cung - Trưởng ban Kinh tế Vĩ mô, Phó Viện trưởng CIEM thực hiện vào cuối năm 2007, kết hợp với thông tin thu thập được qua các cuộc hội thảo và tổng kết thực tiễn triển khai thi hành, Luật Doanh Nghiệp liên quan đến quản lý CTCP vào 2 năm 2008 -2009 và các cuộc họp về dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 139 hướng dẫn thi
Trang 38 Cổ đông là thành viên của công ty, là một trong những yếu tố cấu thành tư cách pháp nhân của công ty;
Sự nắm giữ cổ phần là cơ sở và điều kiện tất yếu để tư cách pháp nhân của
cổ đông được duy trì và tồn tại;
Cổ đông được hưởng quyền cổ đông xuất phát từ sự góp vốn, và từ đó phát sinh mối quan hệ quyền và nghĩa vụ đối với công ty;
Cổ đông là chủ sở hữu tài sản cổ phần, hình thức bề ngoài của cổ phần là cổ phiếu Cần lưu ý rằng, cổ đông là chủ sở hữu của công ty, song công ty sở hữu tài sản của công ty Không thể suy luận rằng cổ đông là chủ sở hữu tài sản của công ty bởi
vì công ty là một chủ thể độc lập, có tư cách pháp nhân, có tài sản của chính mình, tách biệt với tài sản của bất kỳ một cổ đông nào Cổ đông sở hữu công ty thông qua thực hiện quyền cổ đông Đặc điểm của quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty được thể hiện như sau:
(i) Một khi cổ đông đã đóng góp tài sản vào công ty, thì họ mất quyền sở hữu phần tài sản đó Họ không được chi phối cũng như rút lại phần tài sản đó Thay vào
đó, họ sẽ được nhận và sở hữu số cổ phần tương ứng với giá trị tài sản mà họ đã bỏ vào công ty, mà hình thức tiêu biểu là cổ phiếu Tức là, cổ đông đã từ chủ sở hữu tài sản riêng biệt trở thành chủ sở hữu cổ phần
(ii) Cổ phiếu là loại chứng khoán có giá trị, cũng như là một loại tài sản, nói cách khác, nó là một loại giấy tờ để thiết lập và chứng minh những quyền lợi về tài sản Cổ phiếu gắn bó chặt chẽ với những quyền lợi về tài sản, biểu hiện bằng việc chủ sở hữu cổ phiếu (cổ đông) có quyền chiếm hữu, sử dụng (cầm cố hoặc thế chấp
cổ phiếu để vay tiền ngân hàng, v.v.), thu lợi tức (cổ tức), định đoạt (chuyển nhương, tặng cho, thừa kế, v.v.) đối với số cổ phiếu của mình
(iii) Chủ sở hữu cổ phiếu (cổ đông) có những quyền như thu nhận cổ tức, dự họp ĐHĐCĐ để quyết định những quyết sách trọng đại của công ty, bầu cử những người quản trị công ty, v.v
Như vậy, quyền của cổ đông được thể hiện bằng hình thức giá trị là cổ phần, được thể hiện bề ngoài là số cổ phiếu Quyền cổ đông là nội dung của cổ phiếu, cổ phiếu là hình thức bề ngoài của quyền cổ đông
Trang 39kể từ ngày công ty được cấp GCNĐKKD cũng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty (Khoản 5 điều 84)
Thực trạng điều chính pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cổ đông sáng lập so
với các cổ đông khác:
Cổ đông sáng lập Cổ đông khác
1
Được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi
biểu quyết trong vòng 3 năm đầu kể
từ ngày được cấp giấy CNĐKKD;
không được chuyển nhượng cổ phần
ưu đãi biểu quyết
Không được nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết (trừ cổ đông nhà nước trong một số ngành nghề do chính phủ quy định)
2
Bị hạn chế quyền tự do chuyển nhượng
cổ phần phổ thông trong thời hạn 3 năm
kể từ ngày được cấp GCN ĐKKD (chỉ
được tự do chuyển nhượng giữa các cổ
đông sáng lập, chuyển nhượng cho đối
tượng khác phải được ĐHĐCĐ chấp
thuận và người nhận chuyển nhượng
đương nhiên trở thành cổ đông sáng
lập)
Không bị bất kỳ hạn chế nào về chuyển nhượng cổ phần phổ thông
3
Phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20%
tổng số cổ phần phổ thông được quyền
chào bán và phải thanh toán đủ số cổ
phần đã đăng ký mua trong vòng 90
ngày kể từ ngày được cấp GCNĐKKD
Không phải thực hiện nghĩa vụ này
Trang 40Việc quy định cổ đông sáng lập được hưởng quyền ưu đãi biểu quyết trong vòng
3 năm đầu kể từ khi CTCP được cấp GCNĐKKD có thể coi như là một loại thù lao giành cho cổ đông sáng lập vì sự cống hiến của họ trong việc thành lập công ty Còn quy định hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu kể từ ngày CTCP được cấp GCNĐKKD nhằm mục đích quy định các cổ đông đã có ý tưởng sáng lập ra công ty không được tùy ý từ bỏ công ty, phải
có trách nhiệm đối với công ty Việc một cổ đông sáng lập rời khỏi công ty phải được ĐHĐCĐ chấp thuận, tức là phải được sự đồng ý của các cổ đông khác
Về nghĩa vụ của cổ đông sáng lập, trong thực tế việc cổ đông sáng lập không góp đủ và đúng số cổ phần đăng ký mua là khá phổ biến Khoản 6 điều 4 LDN 2005 quy định: “Vốn điều lệ là số vốn do các cổ đông đã góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ công ty” Quy định này chưa làm rõ khái niệm vốn điều lệ dẫn đến sự nhầm lẫn phổ biến giữa vốn điều lệ (số cổ phần tạo nên vốn điều lệ) và vốn được quyền phát hành (tổng giá trị số cổ phần được quyền phát hành) trong thực tế hiện nay Vốn điều lệ là giá trị danh nghĩa của tổng số cổ phần được quyền phát hành của công ty (như là một pháp nhân) và là một trong những nội dung đăng ký kinh doanh của công ty Tuy vậy, trên thực tế ở một số lớn các CTCP hiện nay, vốn điều lệ khai báo và đăng ký là giá trị danh nghĩa của tất cả số
cổ phần đã bán và số cổ phần được quyền chào bán (nhưng chưa bán, hay tung ra bán – tức là chưa phát hành) Thậm chí ở một số công ty, số cổ phần đã phát hành chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 1/20) trong tổng số cổ phần đăng ký là vốn điều
lệ của công ty1
Vi phạm nói trên đã tạo ra ba hệ quả không tốt đối với công ty, cổ đông của
công ty và cả các bên có liên quan Một là, nó tạo ra một sự nhầm lẫn về sở hữu và
cơ cấu sở hữu công ty; có thể có sự chênh lệch lớn giữa cơ cấu sở hữu theo cổ phần
đã góp và cơ cấu sở hữu theo số cổ phần đăng ký góp Và đó là nguyên nhân của
không ít các tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ cổ đông của công ty Hai là, về bản
chất, có thể coi số cổ phần đã đăng ký nhưng chưa góp tiền là số cổ phần mà cổ
1
Số liệu theo Điều tra thực tế về quản trị CTCP do Tiến sỹ Nguyễn Đình Cung thực hiện cuối năm 2007,