MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Đinh Thị Hà Thu
Lớp : Anh 10
Khoá : 45
Giáo viên hướng dẫn : PGS, TS Đặng Thị Nhàn
Hà Nội, tháng 5/2010
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
I Những vấn đề chung về hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 3
1 Sự cần thiết của hoạt động thương mại quốc tế 3
2 Nhu cầu tài trợ cho hoạt động thương mại quốc tế 4
3 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế 5
4 Phân loại tài trợ thương mại quốc tế 5
4.1.Theo nguồn tài trợ 5
4.2 Theo mục đích tài trợ 6
5 Vai trò của tài trợ thương mại quốc tế 6
5.1 Đối với bên nhận tài trợ 6
5.2 Đối với bên tài trợ (ngân hàng thương mại) 6
5.3 Đối với nền kinh tế 7
6 Một số hình thức tài trợ thương mại quốc tế của các NHTM 8
6.1 Bảo lãnh 8
6.2 Chiết khấu bộ chứng từ 10
6.3 Bao thanh toán Factoring và Forfaiting 11
6.4 Biên lai tín thác 14
6.5 Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu 15
6.6 Mở thư tín dụng (L/C) thanh toán hàng NK 16
6.7 Tín dụng thuê mua 17
6.8 Đồng tài trợ 18
Trang 3II Những vấn đề chung về rủi ro và rủi ro trong hoạt động tài trợ
thương mại quốc tế 19
1 Rủi ro và rủi ro trong thương mại quốc tế 19
1.1 Rủi ro 19
1.2 Rủi ro trong thương mại quốc tế 20
2 Rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 21
2.1 Khái niệm 21
2.2 Đặc điểm của rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 22
2.3 Các loại rủi ro xảy ra trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 22
2.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 24
2.5 Nguyên nhân của rủi ro trong tài trợ hoạt động thương mại quốc tế 27
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 31
I Một số nét về Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) 31
1 Quá trình hình thành và phát triển 31
2 Mô hình tổ chức 34
3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Vietcombank trong năm 2009 34 II Thực trạng hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 40
1 Bảo lãnh 40
2 Chiết khấu bộ chứng từ 44
3 Phát hành L/C 46
4 Bao thanh toán 48
5 Cho vay vốn tài trợ XNK 50
Trang 4III Phân tích thực trạng rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại
quốc tế tại Vietcombank 53
1 Phân tích thực trạng rủi ro trong tài trợ thương mại quốc tế tại Vietcombank 53
1.1 Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tín dụng nói chung của Vietcombank 53
1.2 Phân tích thực trạng rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại Vietcombank 56
2 Ảnh hưởng của rủi ro tài trợ thương mại quốc tế tại VCB 61
3 Nguyên nhân của rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 61
3.1 Nguyên nhân khách quan 61
3.2 Nguyên nhân từ phía Vietcombank 62
3.3 Nguyên nhân từ phía người nhận tài trợ 63
4 Thực trạng công tác phòng ngừa và xử lý rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam 66
4.1 Thực trạng công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro 66
4.2 Thực trạng công tác xử lý nợ xấu 69
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 72
I Định hướng phòng ngừa và hạn chế rủi ro tài trợ thương mại quốc tế tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 72
1 Định hướng chung của Vietcombank 72
2 Định hướng hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của Vietcombank 74 3 Định hướng về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tài trợ thương mại quốc tế tại Vietcombank 77
Trang 5II Một số giải pháp cụ thể để phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt
động tài trợ thương mại quốc tế đối với Vietcombank 78
1 Các giải pháp phòng ngừa rủi ro 78
2 Các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro 84
III Một số kiến nghị với các bên có liên quan 86
1 Những kiến nghị với Chính phủ và các ngành 86
2 Những kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 87
3 Những kiến nghị với Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam 89
4 Những kiến nghị đối với các doanh nghiệp 92
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 6TMQT Thương mại quốc tế
VCB Vietcombank (Tên tiếng Anh của Ngân hàng Ngoại thương)
XNK Xuất nhập khẩu
Trang 7DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1:Tình hình huy động vốn của Vietcombank trong hai năm 2008-2009 35
Bảng 2.2: Số liệu dư nợ tín dụng năm 2008 và 2009 36
Bảng 2.3: Doanh số mua bán ngoại tệ tại Vietcombank năm 2009 37
Bảng 2.4: Tình hình kinh doanh thẻ tại Vietcombank 38
Bảng 2.5: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank 39
Bảng 2.6: Tình hình hoạt động bảo lãnh Vietcombank năm 2008 và 2009 43
Bảng 2.7: Tỷ trọng các loại bảo lãnh trong doanh số phát hành BL năm 2009 43
Bảng 2.8: Tình hình hoạt động chiết khấu bộ chứng từ tại VCB 46
Bảng 2.9: Tình hình mở L/C thanh toán tiền hàng nhập khẩu tại VCB 47
Bảng 2.10: Doanh số bao thanh toán quốc tế tại Vietcombank năm 2008-2009 50 Bảng 2.11: Dư nợ cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại Vietcombank 2009 53
Bảng 2.12: Tổng dư nợ tín dụng và nợ quá hạn tại Vietcombank từ năm 2006 đến nay 54
Bảng 2.13: Bảng tổng hợp phân loại nợ của Vietcombank 55
Bảng 2.14: Tình hình nợ quá hạn trong nghiệp vụ bảo lãnh của Vietcombank 57
Bảng 2.15: Tình hình nợ quá hạn trong nghiệp vụ thanh toán L/C của VCB 58
Bảng 2.16: Tình hình nợ quá hạn của Vietcombank từ năm 2006 đến nay 60
Bảng 2.17: Nguyên nhân rủi ro tín dụng từ phía khách hàng 64
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng 10
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ Factoring 12
Sơ đồ 1.3: Qui trình nghiệp vụ Forfaiting 13
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Vietcombank 34
Sơ đồ 2.2: Qui trình bao thanh toán xuất khẩu của Vietcombank 48
Sơ đồ 2.3: Qui trình bao thanh toán nhập khẩu của Vietcombank 49
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Hoạt động thương mại quốc tế đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Việt Nam Thực tiễn gần 25 năm đổi mới của nước ta đã minh chứng cho điều đó Thông qua thương mại quốc tế, Việt Nam không những phát huy được lợi thế so sánh của mình mà còn tận dụng được tiến bộ khoa học kỹ thuật cùng kinh nghiệm quản lý của các nước từ đó nâng cao năng suất lao động, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân
Để tham gia có hiệu quả vào hoạt động thương mại quốc tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam cần sự hỗ trợ tài chính từ bên ngoài để trang trải cho nhu cầu về vốn phát sinh trong suốt quá trình xuất nhập khẩu Nhận thức được nhu cầu của các doanh nghiệp, nhiều ngân hàng thương mại đã và đang triển khai hoạt động tài trợ thương mại quốc tế Trong số các ngân hàng này, ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) nổi lên như là ngân hàng
đi đầu trong lĩnh vực tài trợ Hiện nay, hoạt động tài trợ thương mại quốc tế đang là một trong những hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho Vietcombank Tuy nhiên, cũng giống như các hoạt động kinh doanh ngân hàng khác, hoạt động tài trợ thương mại quốc tế luôn tiềm ẩn những rủi ro Với mong muốn làm rõ những rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc
tế đối với Vietcombank và đề xuất một số giải pháp phòng ngừa cũng như hạn
chế những rủi ro đó, em đã quyết định lựa chọn đề tài: "Phân tích các rủi ro
trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế đối với Ngân hàng Thương mại
cổ phần Ngoại thương Việt Nam" làm đề tài khoá luận của mình
Trang 92 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản
về rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế; phân tích thực trạng và nguyên nhân rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế các rủi ro này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
- Về thời gian: Từ năm 2006 - 2009 Giải pháp đề xuất đến năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu: Người viết sử dụng phương pháp phân tích,
thống kê và so sánh nhằm làm rõ mục đích nghiên cứu của đề tài
5 Nội dung nghiên cứu:
Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động tài trợ thương mại quốc tế và rủi ro
trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế đối với các ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tài
trợ thương mại quốc tế tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I Những vấn đề chung về hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
1 Sự cần thiết của hoạt động thương mại quốc tế
Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển và phồn thịnh nếu không có sự giao lưu kinh tế với bên ngoài Trên thực tế, các quốc gia càng phát triển, nhu cầu của người dân càng tăng cao thì các quan hệ thương mại quốc tế càng được mở rộng
Thương mại quốc tế đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia Các quốc gia có thể tận dụng lợi thế so sánh của mình về tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực giá rẻ hay khoa học kỹ thuật hiện đại để tiến hành chuyên môn hóa sản xuất một vài loại hàng hóa và dịch vụ nhất định rồi đem trao đổi lấy những hàng hóa mà nước mình sản xuất kém hiệu quả hơn Nhờ vậy, mỗi nước có thể giảm chi phí sản xuất, tận dụng được tính kinh tế theo qui mô đồng thời vẫn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa
Thương mại quốc tế bao gồm hai hoạt động chính: xuất khẩu và nhập khẩu mà mỗi hoạt động đều có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Xuất khẩu (XK) đem lại nguồn thu về ngoại tệ, tạo điều kiện đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và tạo điều kiện cho nhập khẩu diễn ra thuận lợi hơn
Nhập khẩu (NK) giúp bù đắp lượng hàng hóa thiếu hụt do trong nước chưa sản xuất được hay sản xuất chưa có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng; đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ tạo tiền đề cho sản xuất Bên cạnh đó, NK còn có tác dụng hỗ trợ
Trang 11XK thông qua việc cung cấp các nguyên nhiên vật liệu, thiết bị đầu vào cho
XK
2 Nhu cầu tài trợ cho hoạt động thương mại quốc tế
Xuất nhập khẩu hàng hoá là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau Tuy nhiên, không phải nhà XK, NK nào cũng có đủ vốn để
tự tài trợ cho tất cả các giai đoạn đó Do vậy, họ phải tìm đến sự tài trợ từ bên ngoài
- Nhu cầu tài trợ của nhà nhập khẩu:
Giai đoạn trước khi ký kết hợp đồng: Nhà NK cần được tài trợ cho phần chi phí bỏ ra để nghiên cứu, phân tích thị trường, từ đó đưa ra quyết định về mặt hàng nhập khẩu và lựa chọn nhà XK
Giai đoạn sau khi ký kết hợp đồng: Nhà NK cần được tài trợ để đặt cọc cho nhà xuất khẩu
Giai đoạn nhận hàng: Đối với nhiều phương thức giao hàng, nhà NK phải gánh chịu chi phí vận chuyển và chi phí bảo hiểm
Giai đoạn bán lại hàng cho các đầu mối phân phối trong nước: Nếu nhà
NK chủ động bán lại hàng thì họ có nhu cầu được tài trợ cho giai đoạn từ khi nhập hàng cho đến khi hàng hoá được tiêu thụ
- Nhu cầu tài trợ của nhà xuất khẩu:
Giai đoạn trước khi ký kết hợp đồng: Nhà XK có nhu cầu được tài trợ cho quá trình tìm kiếm khách hàng, tổ chức các hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm ở nước ngoài và đàm phán
Giai đoạn sản xuất: Nhà XK cần được tài trợ vốn lưu động để thu mua nguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất hàng xuất khẩu
Giai đoạn giao hàng: Nếu nhà XK phải trả chi phí vận chuyển và bảo hiểm thì họ cũng cần tài trợ cho những chi phí này,
Giai đoạn sau khi giao hàng: Nhà XK có nhu cầu bù đắp các khoản phải thu, nhất là các khoản phải thu trả chậm
Trang 12Xuất phát từ những nhu cầu trên của các nhà XNK mà tài trợ thương mại quốc tế đã ra đời và phát triển
3 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế:
Tài trợ thương mại quốc tế là việc một bên (bên tài trợ) cung cấp những
phương tiện và hỗ trợ về mặt tài chính giúp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu (bên nhận tài trợ) hoàn thành nghĩa vụ của mình khi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế Nội dung của nó bao gồm việc tài trợ cho xuất khẩu
và tài trợ cho nhập khẩu, trên mọi phương diện từ ngắn hạn đến dài hạn
Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế trên thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa hai bên: một bên là bên tài trợ (bên đưa ra sự hỗ trợ tài chính), và một bên là các doanh nghiệp (bên nhận sự hỗ trợ) Về bản chất, tài trợ thương mại quốc tế cũng là hình thức tín dụng nhằm giải quyết nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp XNK dưới nhiều hình thức khác nhau
4 Phân loại tài trợ thương mại quốc tế:
4.1.Theo nguồn tài trợ
- Tài trợ của nhà nước: đây là hình thức tài trợ gián tiếp thông qua ngân hàng trung ương, các tổ chức tín dụng ngân hàng và phi ngân hàng, các cơ quan của chính phủ… dưới các hình thức bảo lãnh, tái chiết khấu,… hoặc thông qua việc ban hành các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa hay chính sách tiền tệ
- Tài trợ của ngân hàng trung ương: Ngân hàng trung ương tài trợ trực tiếp cho các trung gian tài chính thông các nghiệp vụ như tái chiết khấu, tái cấp vốn đồng thời tài trợ gián tiếp cho mọi chủ thể của nền kinh tế thông qua việc thực hiện các chính sách tài chính - tiền tệ
- Tài trợ của các tổ chức tín dụng (chủ yếu là các ngân hàng thương mại): Đây là hình thức tài trợ phổ biến nhất trên thế giới Đặc trưng của hình thức tài trợ này là tài trợ thông qua việc mua lại các chứng từ, hối phiếu, và các hình thức cho vay xuất nhập khẩu
Trang 13- Tài trợ của bản thân người mua/người bán: đây là nguồn tài trợ được thực hiện thông qua việc mua bán chịu hàng hóa và dịch vụ Các công cụ thường được sử dụng là hối phiếu trả chậm, thanh toán ghi sổ hoặc ứng trước…
Như vậy, nguồn vốn tài trợ thương mại quốc tế là rất đa dạng Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài khóa luận này, em chỉ tìm hiểu về các hình thức tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng thương mại (NHTM)
5 Vai trò của tài trợ thương mại quốc tế
5.1 Đối với bên nhận tài trợ
Tài trợ thương mại quốc tế giúp đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp về vốn để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị, vật dụng,… phục vụ sản xuất và tiêu dùng đồng thời xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài để thu ngoại tệ
Tài trợ thương mại quốc tế làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ đó giúp gia tăng uy tín của doanh nghiệp với bạn hàng quốc tế Cụ thể, đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp thu mua nguyên nhiên liệu đúng thời vụ, gia công chế biến và giao hàng đúng hẹn Còn đối với doanh nghiệp nhập khẩu, vốn tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp mua được những lô hàng giá trị lớn với mức giá vừa phải
5.2 Đối với bên tài trợ (ngân hàng thương mại)
Tài trợ thương mại quốc tế đem đến một nguồn thu đáng kể góp phần tăng lợi nhuận cho ngân hàng vì ngân hàng thu phí trên mỗi công đoạn dịch
Trang 14vụ thực hiện cho khách hàng Bên cạnh đó, ngân hàng cũng có thể tăng doanh thu thông qua lãi suất Trong tài trợ thương mại quốc tế, người ta thường áp dụng nhiều loại hình lãi suất khác nhau như lãi suất cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, lãi suất chiết khấu bộ chứng từ,… Tiền lãi thu được từ những hoạt động tài trợ thường rất cao vì giá trị của các đơn hàng xuất nhập khẩu thường ở mức vừa và lớn
Thông qua hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, các ngân hàng có cơ hội
mở rộng mối quan hệ làm ăn với các doanh nghiệp và các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế Bởi vì, để thực hiện được hoạt động tài trợ thương mại quốc tế thì cần phải có sự phối kết hợp của các ngân hàng Hợp tác giúp hiểu biết lẫn nhau, từ đó tạo niềm tin và tăng cường mối quan hệ làm ăn lâu dài
5.3 Đối với nền kinh tế
Tài trợ thương mại quốc tế thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra một cách nhanh chóng và hiệu quả, từ đó, góp phần đem lại nguồn thu ngoại
tệ, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng nội địa, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của nước ta
Thông qua tài trợ thương mại quốc tế của các NHTM, doanh nghiệp có điều kiện hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp, góp phần loại bỏ các tệ nạn xã hội, đồng thời hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước
Tài trợ thương mại quốc tế góp phần phục vụ các chương trình, mục tiêu phát triển của đất nước, góp phần mở rộng mối quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới; tăng cường sự hợp tác lẫn nhau trên cơ sở các bên cùng có lợi
Trang 156 Một số hình thức tài trợ thương mại quốc tế của các NHTM
6.1 Bảo lãnh
6.1.1 Khái niệm
"Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên
bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay".1
Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem là loại tài trợ ngoại thương, nhằm phòng ngừa những tổn thất cho bên nhận bảo lãnh khi có
sự vi phạm của bên đối tác
6.1.2 Các hình thức bảo lãnh
- Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh
Bảo lãnh trực tiếp: Loại bảo lãnh trong đó ngân hàng bảo lãnh cam kết bồi thường không hủy ngang trực tiếp cho người thụ hưởng Sau khi đã bồi thường cho người thụ hưởng, ngân hàng truy đòi bồi hoàn trực tiếp từ người được bảo lãnh
Bảo lãnh gián tiếp: Bảo lãnh gián tiếp là loại bảo lãnh trong đó người được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (gọi là ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng ở nước người thụ hưởng (gọi là ngân hàng bảo lãnh) phát hành thư bảo lãnh (gọi là bảo lãnh chính hay bảo lãnh gốc) và chuyển cho người thụ hưởng
- Đứng trên góc độ tài trợ thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được chia thành:
1
Khoản 1, Điều 2, Chương 1, Quyết định 26/2006/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế bảo lãnh ngân hàng
Trang 16 Bảo lãnh xuất khẩu: là hình thức bảo lãnh của ngân hàng cho người được bảo lãnh là người xuất khẩu Bảo lãnh xuất khẩu bao gồm một số loại: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh
Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm: là cam kết của của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh
Bảo lãnh bảo hành: là cam kết của của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về bảo hành theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh
Bảo lãnh nhập khẩu: là hình thức bảo lãnh của ngân hàng cho người được bảo lãnh là người nhập khẩu Hình thức bảo lãnh nhập khẩu cơ bản nhất
là bảo lãnh thanh toán Bảo lãnh thanh toán là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn
Trang 176.1.3 Quy trình của BLNH
(5) (2) (3) (4)
(1)
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng
(1) Khách hàng ký hợp đồng với bên thứ ba về thanh toán, vay vốn v.v… và bên thứ ba yêu cầu phải có BLNH
(2) Khách hàng làm đơn yêu cầu bảo lãnh gửi ngân hàng Ngân hàng thực hiện phân tích khách hàng để tìm hiểu về yêu cầu của bảo lãnh cũng như mức độ rủi ro Nếu đồng ý, ngân hàng và khách hàng ký hợp đồng bảo lãnh
và ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho khách hàng
(3) Ngân hàng thông báo về thư bảo lãnh cho bên thứ ba
(4) Theo như đã thỏa thuận với khách hàng và bên thứ ba, ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên thứ ba nếu nghĩa vụ đó xảy ra
(5) Theo như hợp đồng bảo lãnh đã ký với khách hàng, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng (trả
nợ gốc, lãi phí)
6.2 Chiết khấu bộ chứng từ
6.2.1 Khái niệm
Chiết khấu bộ chứng từ là hình thức ngân hàng tài trợ cho nhà xuất khẩu
thông qua việc mua lại bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo được người xuất khẩu xuất trình trong thời hạn quy định Giá mua bộ chứng từ sẽ thấp hơn trị giá bộ chứng từ sau khi đã trừ đi lãi suất phát sinh và các chi phí liên quan đến nghiệp vụ thu tiền từ ngân hàng mở L/C
Ngân hàng (người bảo lãnh)
Khách hàng (người được bảo lãnh) Người thứ 3 (người nhận bảo lãnh)
Trang 186.2.3 Lợi ích của chiết khấu bộ chứng từ đối với nhà xuất khẩu
Bất cứ một nhà xuất khẩu nào cũng muốn quay vòng vốn nhanh tuy nhiên vì nhiều lí do, không phải lúc nào nhà xuất khẩu cũng được thanh toán ngay sau khi giao hàng Do vậy nếu nhận được hình thức tài trợ này của ngân hàng, thì người xuất khẩu sẽ có ngay một nguồn vốn lưu động đảm bảo cho sản xuất kinh doanh liên tục, không bị gián đoạn trong thời gian chờ người nhập khẩu nước ngoài thanh toán tiền hàng Mặt khác, người XK có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của mình bằng cách cấp tín dụng cho người NK thông qua việc chấp nhận thanh toán trả chậm
6.3 Bao thanh toán Factoring và Forfaiting
6.3.1 Bao thanh toán Factoring
- Khái niệm
Theo Công ước UNIDROIT về Bao thanh toán, Hợp đồng Bao thanh
toán Factoring là hợp đồng giữa đơn vị bán và đơn vị bao thanh toán, theo đó
người bán có thể hoặc chuyển nhượng cho các đơn vị bao thanh toán các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa/dịch vụ giữa người bán và người mua hàng Đơn vị bao thanh toán phải thực hiện ít nhất hai trong
4 chức năng sau: i) tài trợ cho bên bán, ii) quản lý các tài khoản liên quan đến
Trang 19khoản phải thu, iii) thu hộ các khoản phải thu, iv) bảo hiểm các khoản phải thu không thanh toán của con nợ2
- Phân loại Bao thanh toán Factoring
Theo phạm vi hoạt động địa lý
Factoring nội địa: là Factoring chỉ giới hạn trong biên giới một quốc gia
Factoring quốc tế: là Factoring liên quan đến ít nhất hai quốc gia khác nhau dựa trên hợp đồng xuất nhập khẩu
Theo phạm vi trách nhiệm đối với rủi ro
Factoring có truy đòi: nếu nhà factor không đòi được các khoản phải thu đến hạn từ người mua, họ có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho người bán
Factoring miễn truy đòi: Factor không có quyền đòi lại số tiền ứng trước cho người bán và còn phải thanh toán tiếp phần còn lại của hóa đơn
- Quy trình thực hiện nghiệp vụ Factoring
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ Factoring
(1) Bên bán lập hóa đơn, cùng với chỉ thị là bên mua trực tiếp trả tiền cho nhà factor, rồi gửi cho bên mua
(2) Bên bán gửi một bản sao hóa đơn cho nhà factor
(3) Nhà factor trả một tỷ lệ nhất định giá trị hóa đơn theo như thỏa thuận cho bên bán
Trang 20(4) Nhà factor tiến hành các thủ tục kiểm soát tín dụng bao gồm duy trì
sổ cái bán hàng, thư từ và các cuộc nói chuyện điện thoại với bên mua, nếu cần thiết
(5) Bên mua thanh toán toàn bộ giá trị hóa đơn cho nhà factor theo thời hạn thỏa thuận
6.3.2 Bao thanh toán Forfaiting
- Khái niệm
Bao thanh toán Forfaiting là dịch vụ tài trợ xuất khẩu thông qua việc
chiết khấu các khoản phải thu xuất khẩu bằng hối phiếu, kỳ phiếu và các công
cụ chuyển nhượng khác với điều kiện miễn truy đòi người bán tại một mức lãi suất cố định
- Qui trình Forfaiting
Sơ đồ 1.3: Qui trình nghiệp vụ Forfaiting
(1) Forfaiter cam kết mua lại các chứng từ (ký hợp đồng Forfaiting) (2) Hợp đồng thương mại
(3) Nhà XK giao hàng cho nhà NK
(4) Ngân hàng của nhà NK tiến hành bảo lãnh thanh toán
(5) Nhà NK giao hối phiếu, kỳ phiếu (đã có bảo lãnh thanh toán của ngân hàng) cho nhà XK
(6) Nhà XK giao các tài liệu chứng từ theo như thỏa thuận cho nhà Forfaiter
Trang 21(7) Nhà Forfaiter chiết khấu cho nhà XK
(8) Forfaiter xuất trình chứng từ đòi tiền ngân hàng từ ngân hàng bảo lãnh của nhà NK
(9) Nhà NK thanh toán tiền cho ngân hàng của mình khi đến hạn
6.4 Biên lai tín thác
6.4.1 Khái niệm
Biên lai tín thác là sự thỏa thuận giữa ngân hàng và người NK, trong đó
qui định: ngân hàng là chủ sở hữu hàng hóa, còn người NK giờ chỉ là người thay mặt, là đại lý bán hàng cho ngân hàng Khi đó ngân hàng có trách nhiệm thay người NK thực hiện thanh toán cho người XK nước ngoài, theo các điều kiện và điều khoản qui định trong Biên lai tín thác Người NK phải sử dụng doanh thu từ việc bán hàng của mình để hoàn trả vốn vay cộng với khoản lãi cho ngân hàng khi biên lai tín thác hết hạn
6.4.2 Các loại hình biên lai tín thác
Có hai loại hình biên lai tín thác
- Trong loại hình thứ nhất, người NK được giao bộ chứng từ vận tải để nhận hàng, làm thủ tục hải quan, mua bảo hiểm cho hàng hóa, lưu kho hàng hóa với mọi chi phí và rủi ro người NK phải gánh chịu và phải có sự xác nhận của ngân hàng
- Trong loại hình thứ hai, người NK vẫn được giao bộ chứng từ vận tải
để nhận hàng, thông quan hải quan, làm các thủ tục mua bảo hiểm cho hàng hóa, lưu kho hàng hóa với mọi chi phí và rủi ro người NK phải gánh chịu nhưng chứng từ lưu kho phải có sự xác nhận của ngân hàng và chứng từ lưu kho bản gốc do ngân hàng nắm giữ như là vật thế chấp Tất cả các đơn đặt hàng của người mua thì đều phải được ngân hàng ký đối chứng
6.4.3 Lợi ích của biên lai tín thác
Biên lai tín thác cho phép người nhập khẩu nhận hàng mà không nhất thiết phải có vốn ngay lúc bấy giờ Người NK có thể sử dụng hàng hóa NK
Trang 22chẳng hạn như dùng nguyên liệu NK để tiến hành sản xuất hay phân phối hàng hóa sau đó mới phải thanh toán khoản nợ đó cho ngân hàng
Biên lai tín thác giúp củng cố dòng lưu chuyển tiền tệ bởi người NK sẽ
có thêm thời gian để chuyển đổi từ hàng ra tiền
Biên lai tín thác cũng tạo nên sự linh hoạt trong thanh toán, chẳng hạn người NK có thể thanh toán từng phần hay thanh toán sớm hơn để giảm khoản lãi phải trả cho ngân hàng
6.5 Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
6.5.1 Định nghĩa: Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu là hình thức tài trợ theo đó ngân hàng sẽ cho nhà XK, NK vay nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn để thực hiện đơn đặt hàng hay để tiến hành thanh toán cho bên đối tác
6.5.2 Phân loại
Cho vay tài trợ xuất khẩu bao gồm các hình thức chủ yếu:
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất đình
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm ngân hàng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các ngân hàng khác
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định Ngân hàng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng
dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng
Trang 23- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng
6.6 Mở thư tín dụng (L/C) thanh toán hàng NK
Theo Điều 2 UCP 600, phương thức tín dụng chứng từ là "sự thỏa thuận
bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của Ngân hàng phát hành (NHPH) về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp"3
So với các phương thức khác, thanh toán bằng L/C có ưu điểm:
- Đối với nhà XK: Được NHPH đảm bảo thanh toán chắc chắn nếu xuất trình bộ chứng từ phù hợp
- Đối với nhà NK: Được NHPH đảm bảo không phải trả tiền nếu chưa nhận được bộ chứng từ phù hợp
Ngoài ra, đối với nhà NK, việc mở L/C cũng được xem là hình thức tài trợ của ngân hàng giành cho họ Bởi xét về bản chất, L/C cũng là một loại bảo lãnh thanh toán có điều kiện Khi ngân hàng chấp nhận yêu cầu mở L/C của nhà NK nghĩa là ngân hàng đã cam kết thanh toán cho nhà XK nước ngoài nếu người XK xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với qui định trong L/C Đồng thời, ngân hàng sẽ gánh chịu rủi ro nếu như nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán
Các bên tham gia phương thức tín dụng chứng từ:
- Người yêu cầu mở L/C: là bên mà L/C được phát hành theo yêu cầu của họ Trong thương mại quốc tế, người yêu cầu thường là người NK
- Người hưởng lợi: là bên được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C
3
Điều 2 UCP 600 2007 ICC - Uniform Custom and Practice for Documentary Credits, 2007 Revision, ICC Publication No 600
Trang 24- Ngân hàng phát hành (NHPH): là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo đơn của người yêu cầu
- Ngân hàng thông báo: là ngân hàng thực hiện việc thông báo L/C cho người hưởng lợi theo yêu cầu của NHPH
- Ngân hàng xác nhận: là ngân hàng bổ sung sự xác nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH
- Ngân hàng được chỉ định: là ngân hàng mà tại đó L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu
6.7 Tín dụng thuê mua
6.7.1 Khái niệm:
"Tín dụng thuê mua là hoạt động cho thuê máy móc thiết bị và các động
sản khác phục vụ cho sản xuất kinh doanh được các ngân hàng mua theo yêu cầu của bên thuê Bên thuê thanh toán tiền thuê cho ngân hàng trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền sở hữu tài sản thuê, hoặc được mua lại tài sản thuê, hay tiếp tục thuê tài sản thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng thuê mua"4
6.7.2 Đặc điểm của tín dụng thuê mua
- Phù hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập
- Tài sản thuê mua hầu hết là tài sản mới
- Bên cung cấp tín dụng thuê mua không cung cấp dịch vụ bảo trì và các dịch vụ khác
- Bên cung cấp tín dụng thuê mua nhận được các khoản thanh toán tiền thuê định kỳ đầy đủ gần bằng giá trị đầu tư ban đầu của tài sản
- Doanh nghiệp hoàn toàn chủ động lựa chọn máy móc thiết bị, nhà cung cấp, mẫu mã chủng loại phù hợp
4
Điều 1, chương I, Quyết định số 149/QĐ-NH5 ngày 27 tháng 5 năm 1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành thể lệ tín dụng thuê mua
Trang 25- Doanh nghiệp thường có quyền ưu tiên tiếp tục thuê lại tài sản khi hợp đồng hết hạn
6.8 Đồng tài trợ
6.8.1 Khái niệm
"Đồng tài trợ là quá trình tổ chức thực hiện việc cấp tín dụng của bên
đồng tài trợ với sự tham gia của hai hay nhiều ngân hàng do một ngân hàng làm đầu mối cho một hoặc một phần dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống"5
Ngân hàng đầu mối đồng tài trợ là một trong số ngân hàng thành viên được các thành viên khác thống nhất lựa chọn và giao trách nhiệm đầu mối việc tổ chức đồng tài trợ trên cơ sở năng lực của ngân hàng đó Ngân hàng đầu mối thường là ngân hàng có uy tín nhất trong tổ hợp các ngân hàng đồng tài trợ
6.8.2 Các hình thức đồng tài trợ
- Đồng bảo lãnh
- Cho vay hợp vốn
- Kết hợp hai hình thức
6.8.3 Lợi ích đối với các bên
- Đối với bên nhận tài trợ
Lượng vốn vay được lớn
Chỉ cần liên hệ với một đầu mối
Có cơ hội mở rộng quan hệ tín dụng với nhiều tổ chức khác nhau
- Đối với bên tài trợ
Giúp các ngân hàng củng cố mối quan hệ với các khách hàng và tạo lập quan hệ với khách hàng mới
5
Khoản 1, điều 2, chương I Quyết định 286/2002/QĐ-NHNN của Thống đốc ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng
Trang 26 Có thêm nhiều cơ hội đầu tư vào các dự án vốn lớn mà độ rủi ro lại giảm bớt do có nhiều ngân hàng cùng tham gia đồng tài trợ
Đối với ngân hàng đầu mối thì có thể thu phí trung gian và các khoản khác mà chưa cần sử dụng đến vốn
II Những vấn đề chung về rủi ro và rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
1 Rủi ro và rủi ro trong thương mại quốc tế
1.1 Rủi ro
Các nhà kinh tế học định nghĩa rủi ro theo nhiều cách khác nhau:
Frank Knight, một học giả người Mỹ đầu thế kỉ 20 cho rằng: Rủi ro là sự
bất trắc có thể đo lường được Trong cuốn The Failure of Risk Management:
Why It's Broken and How to Fix It, Doug Hubbard định nghĩa rủi ro là: "Tình
trạng không chắc chắn mà khi xảy ra gây nên tổn thất, thiệt hại hoặc những hậu quả không mong đợi khác"6
Trong hệ thống tiêu chuẩn quốc tế OHSAS 18001:2007 về an toàn sức khỏe nghề nghiệp, rủi ro được khái quát là: tập hợp khả năng xảy ra những sự kiện nguy hiểm có thể gây tổn hại đến cuộc sống con người Nhà kinh tế học người Anh Marilic Hurt Carty thì quan niệm: Rủi ro là tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được Ông cho rằng kinh nghiệm hoạt động của các doanh nghiệp có thể cung cấp chứng cứ của tần số các biến cố riêng biệt trong quá khứ và cho phép các nhà quản trị doanh nghiệp xác định được phân bố xác suất xuất hiện của các biến cố trong tương lai Như vậy, các định nghĩa tuy khác nhau nhưng đều thống nhất ở một số đặc điểm chung của rủi ro, đó là sự bất trắc không mong đợi, gây thiệt hại và có thể đo lường được
Rủi ro là những biến cố không mong đợi tuy nhiên nó là một hiện tượng tất yếu trong cơ chế thị trường, trong quá trình cạnh tranh Nó tạo điều kiện
66
Douglas Hubbard "The Failure of Risk Management: Why It's Broken and How to Fix It, trang 96, John Wiley & Sons, 2009
Trang 27cho quá trình đào thải tự nhiên các thực thể kinh tế yếu kém, thúc đẩy sự thích nghi của các thực thể, tạo xu hướng phát triển ổn định và có hiệu quả cho nền kinh tế
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cũng không nằm ngoài sự tác động của rủi ro Không có loại nghiệp vụ nào, không có loại dịch vụ nào của ngân hàng lại không tiềm ẩn nhiều rủi ro
Do vậy, các ngân hàng cần nắm vững tính chất của rủi ro là có thể đo lường được để đề ra các giải pháp phòng ngừa và hạn chế các rủi ro đó
1.2 Rủi ro trong thương mại quốc tế
Hoạt động thương mại quốc tế có nhiều nét khác biệt so với thương mại nội địa vì thương mại quốc tế là thương mại có yếu tố nước ngoài, nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi biên giới, lãnh thổ của một quốc gia Do đó, có thể khẳng định rằng, thương mại quốc tế tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn so với mua bán nội thương Những rủi ro mà mua bán nội thương gặp phải, như là đối tác mất khả năng thanh toán, lừa đảo,… cũng xuất hiện trong mua bán ngoại thương nhưng với qui mô và mức độ nguy hiểm hơn
Nguyên nhân làm cho thương mại quốc tế nhiều rủi ro hơn so với thương mại nội địa:
- Khoảng cách địa lý giữa các bên tham gia hợp đồng xa hơn (trừ trường hợp mua bán với khu chế xuất) làm hạn chế sự hiểu biết lẫn nhau, hiểu biết về thị trường đồng thời nảy sinh rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa
- Luật điều chỉnh thương mại quốc tế nói chung rất đa dạng, phức tạp có thể là các điều ước quốc tế, luật nước ngoài, tập quán quốc tế thậm chí là các
án lệ Phán quyết của tòa án, trọng tài trong nước khó thực thi ở nước ngoài
và dù có thực thi được thì cũng với chi phí rất cao
- Tập quán mua bán, kinh doanh của các quốc gia, các vùng lãnh thổ rất khác nhau đòi hỏi nhà xuất khẩu, nhập khẩu phải am hiểu về nghệ thuật đàm phán, ký kết hợp đồng
Trang 28- Bất đồng về ngôn ngữ làm tăng rủi ro không hiểu biết lẫn nhau, mỗi bên hiểu hợp đồng theo cách riêng của mình dẫn đến hậu quả khôn lường Do vậy, những người làm xuất nhập khẩu cần nắm rõ các thuật ngữ thương mại chuyên ngành để tránh những hiểu lầm đáng tiếc
2 Rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
2.1 Khái niệm: Rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế là
những biến cố không mong đợi, xảy ra khi ngân hàng tiến hành hỗ trợ về mặt tài chính cho các doanh nghiệp XNK Những rủi ro này có thể dẫn đến những tổn thất về mặt tài sản, làm giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến của ngân hàng hay làm giảm uy tín của ngân hàng đối với khách hàng hoặc bên thứ ba Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế thường có sự tham gia của rất nhiều bên, cả bên Việt Nam và bên nước ngoài; các bên khó có đầy đủ thông tin về tình hình tài chính và sự thiện chí của nhau vì vậy nên đây là một trong những hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất của ngân hàng
Rủi ro tài trợ thương mại quốc tế khi xảy ra không chỉ ảnh hưởng tới các ngân hàng thương mại nói riêng mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế nói chung vì các ngân hàng thương mại có thể coi là những trung tâm tài chính thu nhỏ của cả nền kinh tế Do đó, khi ngân hàng gặp rủi ro thì tất yếu sẽ gây
ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội Các ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, khi một ngân hàng gặp rủi ro thì có thể kéo theo một hệ thống ngân hàng bị khủng hoảng Điều này kéo theo tình trạng mất ổn định trên thị trường tiền tệ, làm giảm giá trị của đồng nội tệ, đẩy tỷ giá hối đoái lên cao, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá Lúc đó nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng như: Mức sống giảm, thất nghiệp tăng, các vấn đề xã hội trở nên trầm trọng Chính vì những lý do trên mà công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế là vô cùng cấp thiết
Trang 292.2 Đặc điểm của rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
- Rủi ro mang tính gián tiếp: Rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế phụ thuộc vào tình hình tài chính, sự thiện chí trả nợ của khách hàng và môi trường kinh tế khách quan
- Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp: Hoạt động thương mại quốc tế hết sức đa dạng và phức tạp do đó khi tiến hành tài trợ thương mại quốc tế, các ngân hàng thương mại cũng phải đối phó với các rủi ro có nguyên nhân, hình thức và hậu quả rất đa dạng, phức tạp Do vậy, khi phòng ngừa và hạn chế rủi ro, các ngân hàng cần phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, phải xuất phát từ nguyên nhân, bản chất, hậu quả của rủi ro để có những biện pháp xử
lý thích hợp
- Rủi ro mang tính tất yếu khách quan, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tài trợ của ngân hàng: Tình trạng thông tin bất cân xứng khiến cho ngân hàng không thể nắm bắt và lường trước được các rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho hoạt động tài trợ luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro
2.3 Các loại rủi ro xảy ra trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
2.3.1 Rủi ro không thanh toán (Rủi ro mất vốn)
Rủi ro này xảy ra khi khách hàng hoặc bên thứ ba không thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho ngân hàng
Cụ thể:
- Đối với nghiệp vụ mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu: Rủi ro nhà nhập khẩu không nhận bộ chứng từ và thanh toán cho ngân hàng phát hành sau khi ngân hàng đã thanh toán cho nhà xuất khẩu
- Đối với hoạt động bảo lãnh: Rủi ro sau khi ngân hàng thực hiện thay nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh, bên này không tiến hành hoàn trả cho ngân hàng
- Đối với nghiệp vụ chiết khấu chứng từ: Rủi ro người nhập khẩu hoặc ngân hàng phát hành L/C không đồng ý thanh toán bộ chứng từ
Trang 30- Đối với nghiệp vụ bao thanh toán: Rủi ro bên thứ ba không đồng ý thanh toán các khoản phải thu hoặc thanh toán các hối phiếu, kỳ phiếu, …
- Đối với nghiệp vụ đồng tài trợ: Rủi ro bên được nhận tài trợ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với các ngân hàng tham gia đồng tài trợ
- Đối với nghiệp vụ cho vay tài trợ XNK: Rủi ro bên đi vay không thanh toán tiền khi đến hạn
- Đối với nghiệp vụ thuê mua tài chính: Rủi ro bên đi thuê chiếm dụng tài sản và không trả tiền thuê cho ngân hàng
- Đối với hình thức biên lai tín thác: Rủi ro người nhập khẩu không hoàn trả vốn vay và lãi cho ngân hàng khi biên lai tín thác hết hạn
2.3.2 Rủi ro nợ quá hạn
Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ tiêu chuẩn gia hạn nợ Rủi ro nợ quá hạn xảy ra khi khách hàng cố tình trì hoãn thanh toán hoặc tạm thời mất khả năng thanh toán cho ngân hàng khi đến hạn Đây là loại rủi ro phổ biến trong hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tài trợ thương mại quốc tế nói riêng Ví dụ, đối với hình thức cho vay tài trợ xuất khẩu, ngân hàng cho khách hàng vay để mua nguyên liệu, vật tư sản xuất hàng xuất khẩu nhưng sau khi sản xuất xong, bên xuất khẩu không tìm được người mua hoặc người mua từ chối nhận hàng Điều này sẽ khiến cho người xuất khẩu không thể thanh toán tiền vay đúng hạn và làm phát sinh nợ quá hạn đối với ngân hàng Nếu không thể thu hồi được khoản nợ quá hạn này, thì ngân hàng có thể sẽ đứng trước nguy cơ mất vốn
2.3.3 Rủi ro liên quan đến tài sản bảo đảm:
Khi tiếp nhận tài sản bảo đảm, ngân hàng luôn đứng trước nguy cơ rủi ro giá trị của tài sản cầm cố, thế chấp khi tiến hành phát mại không đủ bù đắp thiệt hại hoặc do biến động của thị trường, những tài sản này bị mất giá so với khi ngân hàng nhận bảo đảm Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, khi ngân
Trang 31hàng tiến hành phát mại tài sản cầm cố, thế chấp thì gặp rắc rối do thiếu những giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu những tài sản này
2.3.4 Rủi ro mất uy tín
Trong kinh doanh ngân hàng, chữ tín là hết sức quan trọng Khi tiến hành tài trợ thương mại quốc tế, ngân hàng đứng trước rủi ro mất uy tín đối với bản thân khách hàng hoặc với bên thứ ba trong quan hệ tài trợ Ví dụ đối với hình thức bảo lãnh, khi tiến hành bảo lãnh, ngân hàng đã đứng ra bảo đảm rằng nếu khách hàng không thực hiện nghĩa vụ với người thụ hưởng thì ngân hàng sẽ thực hiện thay Nếu trường hợp này xảy ra mà ngân hàng cố tình không thực hiện lời hứa của mình thì ngân hàng sẽ bị mất uy tín với bên thụ hưởng Đối với trường hợp thanh toán bằng L/C, nếu ngân hàng tiếp nhận một
bộ chứng từ có sai biệt nhưng không phát hiện ra và vẫn thanh toán cho bên xuất khẩu thì không những ngân hàng không nhận được thanh toán từ phía bên nhập khẩu mà còn mất uy tín với khách hàng của mình
2.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Bản chất của hoạt động tài trợ thương mại quốc tế là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Do vậy, khi
đo lường rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, các ngân hàng cũng sử dụng các chỉ tiêu giống như rủi ro tín dụng nói chung
2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn
Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ tiêu chuẩn gia hạn nợ Nợ quá hạn là không tránh khỏi trong hoạt động tín dụng, nhưng nếu nợ quá hạn vượt quá tỷ lệ cho phép
sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán của ngân hàng Nợ quá hạn có nhiều mức
độ khác nhau, căn cứ vào tính chất rủi ro, người ta có các chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn như sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn
Trang 32Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạnTổng dư nợ x 100%
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng vốn dư nợ hiện tại có bao nhiêu đồng đã quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp và ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao Tỷ lệ nợ quá hạn chỉ phản ánh những số dư nợ thực sự đã quá hạn mà không cho biết toàn bộ dư nợ có nguy cơ quá hạn Để khắc phục điều này, người ta sử dụng chỉ tiêu “Tỷ lệ tổng dư nợ có nợ quá hạn”
Khả năng thu hồi nợ quá hạn:
Tỷ lệ NQH có khả năng thu hồi = NQH có khả năng thu hồi
Nợ quá hạn x 100%
Nợ quá hạn theo thời gian:
Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các ngân hàng thương mại thường chia nợ quá hạn thành các nhóm sau:
- Nợ quá hạn đến 180 ngày, có khả năng thu hồi
- Nợ quá hạn từ 181-360 ngày, khả năng thu hồi giảm bớt
- Nợ quá hạn từ 360 ngày trở lên, nợ khó đòi
2.4.2 Chỉ tiêu phản ảnh nợ xấu:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
Trang 33- Các khoản nợ trong hạn và ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì ngân hàng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
Trang 34- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4,5 và có các đặc trưng sau:
+ Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã đến hạn
+ Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến
có khả năng ngân hàng không thu được cả vốn và lãi
+ Tài sản đảm bảo được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải gốc và lãi
+ Thông thường là những khoản nợ đã được gia hạn nợ
Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu dưới mức 5% được coi là nằm trong giới hạn cho phép Khi tỷ lệ nợ xấu vượt quá 5% thì tổ chức đó cần xem xét, rà soát lại danh mục đầu tư một cách đầy đủ, chi tiết và thận trọng
2.5 Nguyên nhân của rủi ro trong tài trợ hoạt động thương mại quốc tế
2.5.1 Nguyên nhân khách quan:
- Sự biến động của nền kinh tế vĩ mô (Khủng hoảng, lạm phát, tăng giảm
tỷ giá, lãi suất…)
Nền kinh tế Việt Nam cũng như thế giới luôn luôn biến động Sự biến động này ảnh hưởng lớn đến công việc kinh doanh của các doanh nghiệp XNK, khiến cho họ không thể thực hiện nghĩa vụ cam kết với ngân hàng Điển hình như cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong năm 2009 vừa qua Cuộc khủng hoảng này đã đẩy nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu của nước ta Năm
2009, theo số liệu của Tổng cục thống kê, kim ngạch xuất khẩu của nước ta chỉ đạt 56,6 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm 2008 Một khi các doanh nghiệp xuất khẩu không tìm được đầu ra cho hàng hoá của mình thì khả năng trả nợ của họ cho ngân hàng tất yếu cũng bị giảm sút
Trang 35- Các thủ tục pháp lý rườm rà
Sự chậm trễ, rườm rà trong các thủ tục cấp giấy phép, các thủ tục hải quan… cũng ảnh hưởng lớn đến cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp Đôi khi, sự chậm trễ này khiến các doanh nghiệp mất đi những đơn hàng quan trọng với đối tác nước ngoài Nếu các doanh nghiệp đi vay vốn tài trợ của ngân hàng để tiến hành kinh doanh thì điều này có thể khiến cho họ không thể trả nợ ngân hàng khi đến hạn
Ví dụ: Một doanh nghiệp X tiến hành thủ tục xuất khẩu một lô hàng hóa sang nước Y Doanh nghiệp này vay tiền ngân hàng để mua nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu Theo hợp đồng thì ngày 20 - 10 - 2009, lô hàng sẽ phải được chuyển tới tay doanh nghiệp nước ngoài Ngày 18 - 10 - 2009, lô hàng hóa được vận chuyển tới cảng biển Song do chậm trễ từ các thủ tục hải quan,
lô hàng bị đình lại để tiến hành kiểm tra Sự chậm trễ này khiến doanh nghiệp
X chậm trễ trong việc thực hiện hợp đồng Khi đó, đối tác của họ có thể từ chối việc thực hiện hợp đồng và tiến hành phạt bồi thường hợp đồng Doanh nghiệp X không những mất đi cơ hội làm ăn mà còn đứng trước nguy cơ không thể trả nợ cho ngân hàng
- Hàng hóa nhập lậu tràn vào trong nước
Hàng hóa nhập lậu tràn vào Việt Nam qua các con đường vùng biên là mối đe dọa lớn đối với các doanh nghiệp nhập khẩu hàng có xuất xứ rõ ràng, khiến cho các doanh nghiệp này khó tìm được người mua trong nước vì giá hàng nhập khẩu bao giờ cũng cao hơn giá hàng nhập lậu trốn thuế
- Ngoài ra, các nguyên nhân bất khả kháng như: thiên tai, dịch bệnh, đình công, chiến tranh, tại nước người xuất khẩu, nhập khẩu hoặc trên đường vận chuyển một khi xảy ra cũng làm ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết của doanh nghiệp với ngân hàng
Các nguyên nhân khách quan trên có thể ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Một khi các đồng vốn mà doanh
Trang 36nghiệp đi xin tài trợ đổ vào sản xuất kinh doanh mà không thu lại được, tất yếu sẽ đẩy doanh nghiệp tới việc mất dần khả năng trả nợ Ngân hàng cũng đứng trước nguy cơ khó thu hồi lại khoản tài trợ này
2.5.2 Nguyên nhân từ phía người nhận tài trợ (các nhà xuất khẩu, nhập khẩu): Việc người nhận tài trợ mất khả năng thanh toán là một trong những
nguyên nhân chính gây ra rủi ro Nguyên nhân từ phía người nhận tài trợ bao gồm:
- Trình độ và năng lực quản lý kinh doanh của doanh nghiệp XNK còn thấp: Nền kinh tế thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro đòi hỏi bộ máy quản lý doanh nghiệp phải năng động, nhạy bén và nắm vững kiến thức kinh doanh Tuy nhiên, hiện nay, rất nhiều chủ doanh nghiệp ở Việt Nam còn yếu kém trong khâu quản trị Sự yếu kém này đã khiến doanh nghiệp của họ rơi vào tình trạng làm ăn thất bát, phá sản và không thể hoàn thành nghĩa vụ với ngân hàng
- Sự lừa đảo của một số khách hàng trong việc xin tài trợ của Ngân hàng: Nhiều khách hàng lập ra những dự án giả, những chứng từ giả để xin tài trợ của ngân hàng, khi nhận được tài trợ, họ “cuỗm” luôn số tiền đó và trốn đi gây thiệt hại cho ngân hàng
2.5.3 Nguyên nhân từ phía người tài trợ (Ngân hàng):
- Ngân hàng thiếu một chính sách tài trợ rõ ràng, hay chính sách tài trợ không phù hợp với đặc điểm thực trạng nền kinh tế Chính sách tài trợ của ngân hàng không đồng bộ, thống nhất, đầy đủ và đúng đắn sẽ tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, dẫn đến việc tài trợ không đúng đối tượng, tạo kẽ hở cho người sử dụng vốn không có hiệu quả,
từ đó cũng dẫn đến rủi ro
- Ngân hàng đánh giá chưa đúng mức về khoản tài trợ, về người nhận tài trợ hoặc do chủ quan tin tưởng vào khách hàng quen của mình mà coi nhẹ
Trang 37khâu kiểm tra, không nỗ lực kiểm tra về tình hình tài chính, phi tài chính, khả năng thanh toán hiện tại và tương lai, nguồn trả nợ từ đâu
- Cán bộ tín dụng được đào tạo chưa đầy đủ, không am hiểu về ngành kinh doanh mà mình đang tài trợ, trong khi ngân hàng không có đủ các số liệu thống kê, các chỉ tiêu để phân tích, so sánh, đánh giá vai trò vị trí của doanh nghiệp trong ngành, khả năng thị trường hiện tại và tương lai, chu kỳ, vòng đời sản phẩm
- Ngân hàng quá quan tâm, tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay
mà coi nhẹ công tác phòng ngừa rủi ro, việc kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực thi dự án xin vay, không nắm vững tình hình sử dụng tiền vay của khách hàng, không có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời khi có dấu hiệu xấu của khoản vay có thể dẫn tới nợ quá hạn
- Ngân hàng thiếu thông tin tín dụng, hoặc thông tin tín dụng không chính xác, kịp thời, chưa có danh sách “phân loại doanh nghiệp”’, chưa có sự phân tích đánh giá doanh nghiệp một cách khách quan, đúng đắn
- Ngân hàng thiếu một cơ cấu theo dõi, quản lý rủi ro, thiếu các biện pháp để phân tán rủi ro, chưa đủ các tiêu thức đo lường rủi ro, độ rủi ro tối đa cho phép chấp nhận đối với từng khách hàng, nhóm khách hàng thuộc các ngành khác nhau
Trang 38CHƯƠNG II THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG TMCP
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
I Một số nét về Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank)
1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 01 tháng 04 năm 1963, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (tên viết tắt tiếng Anh là Vietcombank) chính thức được thành lập theo Quyết định
số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 10 năm 1962 trên
cơ sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương (nay là Ngân hàng Nhà nước) Theo Quyết định nói trên, Vietcombank đóng vai trò là ngân hàng chuyên doanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm tài trợ tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ kinh tế đối ngoại khác (vận tải, bảo hiểm ), thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho Chính phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ) Ngoài ra, Vietcombank còn tham mưu cho Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ với Ngân hàng Trung ương các nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế Thành lập trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, với tư cách là ngân hàng
có nhiệm vụ kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế, tín dụng quốc tế, cho vay ngoại thương và tham gia quản lý ngoại hối, Ngân hàng Ngoại thương cùng lúc đã làm tròn nhiệm vụ công tác chuyên môn, điều hoà và sử dụng tốt nguồn ngoại tệ viện trợ, vay nợ mà các nước bạn bè giúp đỡ để phát triển kinh
tế ở miền Bắc; đồng thời hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyển ngoại tệ vào chi viện cho chiến trường miền Nam Bằng nhiều hình thức bí mật và an toàn
Trang 39cao nhất, cộng với việc sử dụng linh hoạt các biện pháp vận chuyển (qua đường hậu cần quân đội ở trên bộ và trên biển, qua đường ngoại giao), nghiệp
vụ chuyển tiền đặc biệt (FM), Ngân hàng Ngoại thương Việt nam đã góp công chuyển hàng trăm triệu USD trong Quỹ ngoại tệ đặc biệt B29 vào chiến trường miền Nam Những hoạt động thầm lặng mà vinh quang đó đã góp sức cho cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Ngay sau ngày đất nước thống nhất, Ngân hàng Ngoại thương lại tiếp tục thực hiện nhiềm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó trong công tác tiếp quản một số ngân hàng ở miền Nam (trong đó có Ngân hàng Sài gòn Thương tín), tiếp nhận viện trợ, tìm kiếm các nguồn ngoại tệ phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, trong tình hình bị bao vây cấm vận Thời kỳ từ 1976 đến 1990, kim ngạch vay nợ viện trợ nước ngoài của Việt nam lên tới nhiều tỷ USD và hàng viện trợ tiếp nhận được từ một số nước lên tới hàng trăm triệu USD Nhưng cho dù phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn như vậy, Ngân hàng Ngoại thương vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ với một đội ngũ cán bộ lãnh đạo và nhân viên chưa phải là đông song có năng lực, đầy trách nhiệm và nhiệt tình Đất nước đã hoà bình song đối với thế hệ cán bộ công nhân viên Ngân hàng Ngoại thương lúc đó cuộc chiến trên bàn đàm phán giành lại cho đất nước những quyền lợi về tài chính tại một số tổ chức quốc tế và ngân hàng quốc tế mới chỉ bắt đầu Và chính bằng kinh nghiệm từ những thắng lợi trong các cuộc đàm phán này, Ngân hàng Ngoại thương đã phối hợp tốt với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước đàm phán giảm, hoãn nợ thành công với các tổ chức tài chính quốc tế trong những năm 90, tạo điều kiện cho nền kinh tế đất nước kịp ổn định, vững mạnh và tiến tới có thể hoàn thành trách nhiệm trả nợ nước ngoài
Bước sang thời kỳ đổi mới, với tư cách là một Tổng công ty Nhà nước hạng đặc biệt hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, Ngân hàng
Trang 40Ngoại thương Việt Nam đã luôn nỗ lực phấn đấu đi đầu trong hoạt động kinh doanh, đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng trên cơ sở phát triển ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại hoá các hệ thống dịch vụ theo chuẩn mực quốc tế Năm 2005, thực hiện Quyết định số 230/2005/QD-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương, Vietcombank đã tiến hành các thủ tục chuyển đổi từ ngân hàng 100% vốn nhà nước thành ngân hàng thương mại cổ phần theo qui định của pháp luật Ngày 2/6/2008, Vietcombank được cấp giấy chứng nhận kinh doanh và kể từ đó Vietcombank chính thức trở thành ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam Trải qua 46 năm xây dựng và trưởng thành, tính đến thời điểm cuối năm
2009, Vietcombank đã phát triển lớn mạnh trở thành một ngân hàng đa năng với mạng lưới 1 Hội sở chính, 1 Sở Giao dịch, 60 Chi nhánh, 209 Phòng Giao dịch, 1 Trung tâm đào tạo, 3 công ty con tại Việt Nam, 1 công ty con tại Hồng Kông, 4 Công ty liên doanh và một văn phòng đại diện tại Singapore với đội ngũ cán bộ gần 7.500 người Ngoài ra, Vietcombank còn tham gia góp vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như kinh doanh bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư Hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có quan hệ đại lý với hơn
1000 ngân hàng ở 85 quốc gia trên thế giới và là thành viên Hiệp hội ngân hàng Châu Á cùng nhiều tổ chức thẻ hàng đầu của thế giới Tổng tài sản của NHNT tại thời điểm cuối năm 2009 lên tới xấp xỉ 256 nghìn tỷ VND (tương đương 13,5 tỷ USD), vốn chủ sở hữu đạt hơn 17.051 tỷ VND