1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam thực trạng và giải pháp

107 782 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Tác giả Nguyễn Thị Hoài
Người hướng dẫn ThS. Vũ Huyền Phương
Trường học Trường đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế Đối Ngoại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 727,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó chính là việc xác định sản phẩm chủ lực và cơ cấu hàng hóa xuất khẩu hợp lý trong điều kiện phát triển cụ thể của đất nước và bối cảnh kinh tế quốc tế trong từng thời kì, bên cạnh đó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LỰA CHỌN SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 4

I Vai trò của việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu 4

1 Một số nhận định chung về nền kinh tế trong nước và thế giới trong những năm gần đây 4

1.1 Khoa học công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất nòng cốt và trực tiếp của xã hội 4

1.2 Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là xu thế chung của thế giới, đã và sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, lôi cuốn hầu hết các nước và mở rộng trên hầu khắp các lĩnh vực giao lưu kinh tế 5

1.3 Phân công lao động quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu do có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và hệ thống công ty đa quốc gia 6

1.4 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra vào những năm 2008, 2009 đã gây ra những tác động sâu sắc đến hầu hết mọi quốc gia 7

2 Vai trò của việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu 8

2.1 Sự cần thiết phải lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu 8

2.2 Vai trò của việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu 9

II Cơ sở cho việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu 12

1 Lợi thế cạnh tranh 12

1.1 Nguồn lực đầu vào 13

1.2 Điều kiện nhu cầu trong nước 14

Trang 3

1.3 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan 15

1.4 Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh (Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp) 15

1.5 Cơ chế tác động, điều chỉnh chiến lược của Nhà nước 16

1.6 Cơ hội 17

2 Nhu cầu trên thị trường thế giới 18

III Các chính sách lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu 18

1 Chính sách lựa chọn sản phẩm xuất khẩu 19

1.1 Chính sách vĩ mô 19

1.1.1 Đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu 19

1.1.2 Xây dựng mặt hàng xuất khẩu chủ lực 20

1.2 Chính sách vi mô 21

1.2.1 Chính sách mở rộng trực tiếp 21

1.2.2 Chính sách thích nghi sản phẩm 21

1.2.3 Chính sách chủng loại sản phẩm 22

2 Chính sách lựa chọn thị trường xuất khẩu 23

2.1 Chính sách vĩ mô 23

2.2 Chính sách vi mô 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRANG VIỆC LỰA CHỌN SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 25

I Cơ sở lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam 25

1 Điều kiện tự nhiên 25

2 Nguồn tài nguyên 26

3 Nguồn nhân lực 28

4 Cơ chế chính sách điều chỉnh việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Đảng và Nhà nước ta 29

5 Nhu cầu của thị trường thế giới 30

Trang 4

II Thực trạng của việc lựa chọn sản phẩm xuất khẩu 31

1 Quá trình lựa chọn sản phẩm xuất khẩu 31

1.1 Trước khi gia nhập WTO 31

1.1.1 Trước 1991 31

1.1.2 Giai đoạn 1991 – 1995 32

1.1.3 Giai đoạn 1996 – 2000 35

1.1.4 Giai đoạn 2001 – 2006 36

1.2 Giai đoạn sau khi gia nhập WTO – từ 2007 đến nay 38

2 Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2009 42

2.1 Gạo 42

2.2 Thủy sản 45

3 Một số đánh giá về thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trong những năm vừa qua 50

3.1 Những thành tựu đạt được 50

3.2 Những mặt còn tồn tại 52

III Thực trạng của việc lựa chọn thị trường xuất khẩu 53

1 Quá trình lựa chọn thị trường xuất khẩu 53

1.1 Trước khi gia nhập WTO 53

1.1.1 Giai đoạn 1986 - 2000 53

1.1.2 Giai đoạn 2001 - 2006 56

1.2 Sau khi gia nhập WTO (2007 đến nay) 59

2 Một số thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam 62

2.1 Thị trường Trung Quốc 62

2.2 Thị trường Hoa Kỳ 66

3 Một số đánh giá về thực trạng lựa chọn thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua 69

Trang 5

3.1 Thành tựu đạt được 69

3.2 Một số hạn chế 70

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆC LỰA CHỌN SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 71

I Định hướng lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu 71

1 Quan điểm mục tiêu 71

2 Định hướng lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam đến hết năm 2010, tầm nhìn tới 2020 72

2.1 Về mặt hàng xuất khẩu 72

2.1.1 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 73

2.1.2 Định hướng cho từng ngành hàng, từng nhóm hàng cụ thể 73

2.2 Về thị trường xuất khẩu 77

2.2.1 Cơ cấu thị trường 78

2.2.2 Định hướng cho từng thị trường cụ thể 78

II Một số giải pháp cho sự lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam 83

1 Những kiến nghị đối với nhà nước 83

1.1 Hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách 83

1.2 Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ hỗ trợ cho xuất khẩu bao gồm cung cấp thông tin, kết quả xử lý và phân tích thông tin và các loại hình dịch vụ khác 85

1.3 Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế 86

1.4 Hoàn thiện và đổi mới các chính sách đầu tư khuyến khích xuất khẩu 87

1.4.1 Khuyến khích đầu tư về vốn: 87

1.4.2 Cải thiện môi trường đầu tư : 88

Trang 6

1.4.3 Tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ 89

1.4.4 Thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ 89

1.5 Nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 90

1.6 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu xuất khẩu hợp lý 90

1.7 Chuyển dịch cơ cấu thị trường thích hợp 91

2 Những giải pháp đối với doanh nghiệp 92

2.1 Tăng cường tiếp cận, phân tích thông tin 92

2.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 93

2.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm 94

2.4 Đa dạng hóa chủng loại sản phẩm 94

2.5 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ 95

KẾT LUẬN 96

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

Hình 1: Mô hình khối kim cương của M.Porter 13

Bảng 1: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1991 – 1995 34

Bảng 2: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2000 36

Bảng 3: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006 38

Bảng 4: Kim ngạch và sản lượng xuất khẩu gạo của Việt nam giai đoạn 2000 – 2009 42

Bảng 5: Tỷ trọng xuất khẩu gạo vào các thị trường năm 2009 44

Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2000 – 2009 46

Bảng 7: Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ năm 2005-2009 48

Bảng8: Cơ cấu các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam năm 2008 – 2009 49

Bảng 9: Tỷ trọng của các thị trường xuất khẩu thời kỳ 1991-2000 55

Bảng 10: Cơ cấu thị trường xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006

Bảng 11: Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc 2000 – 2009 63

Bảng12: Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc năm 2009 64

Bảng 13: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ (2000 – 2009) 66

Bảng 14: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2009 68

Trang 8

ASEAN Free Trade Area

ASEAN – JAPAN Comprehensive

Foreign direct investment

Gross Domestic Product

The Generalized Systems

Preferential

Human Development Index

International Organization for

Standardization

Most Favoured Nation

Newly Industrialized Country

National Treatment

Official development assistance

(Viết tắt Tiếng Nga)

(Viết tắt Tiếng Nga)

Trade Related Investment

Measures

World Trade Organization

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Hàn Quốc

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam

Á Diễn đàn Hợp tác kinh

tế châu Á - Thái Bình Dương Hiệp định thuế quan có hiệu lực chung

Liên minh Châu Âu Đầu tư trực tiếp nước ngoài Tổng sản phẩm quốc nội Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập

Chỉ số phát triển con người

Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hoá

Tối huệ quốc Nước công nghiệp mới Đãi ngộ quốc gia Viện trợ phát triển chính thức Hội đồng tương trợ kinh tế Cộng đồng các quốc gia độc lập Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Từ 1986 đến nay, đất nước Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm đổi mới Cùng với những thành tựu về kinh tế - xã hội, thương mại quốc tế của Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc trên nhiều mặt: quy mô, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu nhóm, ngành hàng, thị trường…góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị và xã hội, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế

Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, Việt Nam đang nỗ lực hết mình trong việc hội nhập ngày càng sâu và toàn diện vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới, trong đó bước ngoặt quan trọng là sự kiện Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2006 Nhờ việc mở rộng hơn nữa các quan hệ thương mại song phương và đa phương, Việt Nam ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi lớn để phát huy tối đa những tiềm năng, thế mạnh của mình, phát triển kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa – hiện đại hóa Tuy nhiên, chúng ta cũng phải đối diện với những áp lực cạnh tranh khốc liệt

từ các quốc gia khác, cũng như những rào cản vô hình, hữu hình và sự bất bình đẳng trong quan hệ ngoại thương đặc biệt là với các nước kinh tế phát triển

Để tham gia rộng rãi vào phân công lao động quốc tế, mở rộng sự giao lưu giữa các thị trường trong nước và quốc tế, Việt Nam cần dựa chủ yếu vào các nguồn lực trong nước, kết hợp với xu thế phát triển của thế giới, trên cơ sở đó, mở rộng qui

mô và tăng xuất khẩu Điều cơ bản là làm thế nào khai thác được tối đa nguồn lực bên trong và những lợi thế so sánh có được trong phân công lao động quốc tế để đẩy mạnh xuất khẩu Đó chính là việc xác định sản phẩm chủ lực và cơ cấu hàng hóa xuất khẩu hợp lý trong điều kiện phát triển cụ thể của đất nước và bối cảnh kinh

tế quốc tế trong từng thời kì, bên cạnh đó xác định đối tác, thị trường trọng điểm và

cơ cấu thị trường phù hợp Những vấn đề này có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế quốc gia và quan hệ kinh tế quốc tế

Trang 10

Trong quá trình tìm tòi tài liệu cho khoá luận này, em đã quyết định chọn đề tài:

“Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam – Thực trạng và giải

pháp” cho khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là phân tích, làm rõ thực trạng lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian vừa qua dựa trên những lợi thế cạnh tranh của đất nước kết hợp với xu thế phát triển của thế giới; trên cơ sở

đó đưa ra một số giải pháp và định hướng cho việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu, góp phần đưa hoạt động xuất khẩu của Việt Nam phát triển mạnh và hiệu quả hơn nữa, xứng đáng với vai trò đầu tàu của nền kinh tế quốc dân trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề trong nước và thế giới liên quan đến việc xác định sản phẩm và cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, thị trường và cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam qua các thời kì

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung vào vấn đề sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam trên cơ sở phân tích chung và đi vào một số sản phẩm và thị trường cụ thể Thời gian nghiên cứu của đề tài là giai đoạn từ 1986 – 2009

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp khái quát

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp luận giải

5 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được chia làm 3 chương:

Trang 11

Chương 1: Một số vấn đề chung về việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

Chương 2: Thực trạng của việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp cho việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới

Những nội dung đề cập trong luận văn này chắc chắn sẽ chưa đầy đủ và nhiều vấn đề còn cần tiếp tục bổ sung và hoàn chỉnh Mặc dù đã hết sức cố gắng và nỗ lực trong việc tìm tòi, nghiên cứu song do những hạn chế về thời gian, trình độ và kiến thức còn hạn chế, cũng như những vấn đề liên quan đến công tác xuất khẩu là rất rộng lớn nên khóa luận của em sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ phía các thầy cô để hoàn thiện hơn đề tài này

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn của em, Thạc sĩ Vũ Huyền Phương đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo giúp em hoàn thành khóa luận này

Sinh viên: Nguyễn Thị Hoài

Trang 12

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LỰA CHỌN SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

I Vai trò của việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

1 Một số nhận định chung về nền kinh tế trong nước và thế giới trong những năm gần đây

Trong những năm gần đây, tình hình thế giới và khu vực đang có những diễn biến hết sức phức tạp, có thể nói là có những thay đổi mang tính chất bước ngoặt Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã và đang gây những ảnh hưởng nặng nề đến thương mại thế giới cũng như có những tác động sâu sắc đến mọi quốc gia Siêu cường Mỹ đang dần suy yếu, trong khi đó Trung Quốc đang nỗ lực để đi nhanh hơn nữa trên con đường trở thành siêu cường Tuy nhiên, nhìn chung tình hình kinh tế thế giới trong những năm vừa qua, chúng ta thấy một số chiều hướng chính sau:

1.1 Khoa học công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất nòng cốt và trực tiếp của xã hội

Với cuộc cách mạng về khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm

vi toàn thế giới như hiện nay, trên nhiều lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là kinh tế tri thức, khoa học công nghệ đã trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”, trong đó tri thức và thông tin trở thành yếu tố quan trọng và nguồn tài nguyên đặc biệt, có giá trị cao Các thành phố khoa học, công viên khoa học, khu công nghệ cao chính là môi trường với những điều kiện thuận lợi để cho khoa học, công nghệ và sản xuất nhập làm một Trong các lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, phòng thí nghiệm cũng chính là nhà máy, nhà khoa học đồng thời là nhà sản xuất, kinh doanh Các loại dược phẩm mới, các vi mạch, các sản phẩm phần mềm tin học được sản xuất ra từ phòng thí nghiệm Cùng một nơi, người ta nghiên cứu thực nghiệm rồi sản xuất đại trà, xưởng sản xuất cũng là một phòng thí nghiệm Một phân xưởng sản xuất vi mạch điện tử có các trang thiết bị và điều kiện giống

Trang 13

Các ngành kinh tế giàu chất xám phát triển mạnh, chu kì đổi mới về công nghệ

và sản phẩm được rút ngắn, lợi thế so sánh của các quốc gia luôn thay đổi dẫn đến

sự dịch chuyển thường xuyên hơn về cơ cấu kinh tế

Bên cạnh đó, mức độ phổ cập mạnh mẽ của mạng Internet trong những năm gần đây đã khiến tỷ trọng của thương mại điện tử tăng nhanh và thông qua đó thay đổi một cách sâu sắc tư duy kinh doanh, chiến lược tiếp thị cũng như phương thức kinh doanh của mọi doanh nghiệp Sự phát triển các giao dịch thương mại điện tử được thực hiện thông qua mạng Internet cho phép hạ thấp các hàng rào chắn và chi phí đi vào thị trường Kết quả là từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến các công ty

xuyên quốc gia đều có thể tham gia thị trường toàn cầu

Như vậy, có thể nói, sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tạo ra sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất, rút ngắn thời gian, giảm dần ý nghĩa khoảng cách không gian, thúc đẩy phân công quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển nhanh chóng mậu dịch quốc tế, đầu tư và tích tụ tập trung tư bản trên toàn cầu dẫn đến hình thành nền kinh tế thế giới nhất thể hóa, toàn cầu hóa hiện nay Các quốc gia tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực khác Tình hình đó đã tạo nên thời cơ thuận lợi để các nước có điều kiện phát triển, sự hợp tác giữa các nước ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng trở nên gay gắt

1.2 Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là xu thế chung của thế giới, đã và sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, lôi cuốn hầu hết các nước và mở rộng trên hầu khắp các lĩnh vực giao lưu kinh tế

Toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế lớn của kinh tế thế giới và quan hệ kinh

tế quốc tế từ vài thập niên trở lại đây Nó là một xu thế khách quan, có những tác động sâu sắc và toàn diện tới các nước và toàn bộ quan hệ quốc tế Với việc xóa bỏ các rào cản đối với sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và nhân công giữa các nước, toàn cầu hóa đã giúp hình thành những thị trường khu vực chung và tiến tới hình thành một thị trường thống nhất trên toàn cầu

Trang 14

Toàn cầu hóa kinh tế tạo điều kiện cho các quốc gia tận dụng được lợi thế so sánh của mình, tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững hơn, nguồn lực được phân

bổ một cách hiệu quả hơn

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế là con đường đi phù hợp với xu thế toàn cầu hóa của tất cả các nước, cho phép các nước tận dụng được các cơ hội và điều kiện thuận lợi mà quá trình toàn cầu hóa tạo ra để phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, toàn cầu hóa cũng gây ra nhiều khó khăn, thách thức lớn cho tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển, đó chính

là sức ép cạnh tranh và sức ép chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian ngắn

Trong xu thế chung đó, Việt Nam cũng đã có những bước phát triển hội nhập rất mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của khối ASEAN năm 1995, APEC năm 1998 và gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO năm 2006, cũng như hàng loạt các sự kiện về tự do hóa thương mại khác đã tạo ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế nước ta nói chung cũng như hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng Điều đó đã tạo ra nhiều cơ hội lớn hơn cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập thị trường nước ngoài, tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có rất nhiều những thách thức mà chúng ta phải vượt qua

1.3 Phân công lao động quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu do có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và hệ thống công ty đa quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã làm cho phân công lao động quốc tế trở nên sâu sắc và rộng khắp toàn cầu Trong thời đại kinh tế tri thức, thay vì đất, đai, tài nguyên, vốn trước đây, tri thức ngày càng làm nên giá trị áp đảo trong mỗi sản phẩm Các nước có thế mạnh về khoa học, công nghệ ra sức đầu tư, phát triển những ngành kinh tế dựa trên tri thức Khác biệt về điều kiện tự nhiên không còn đóng vai trò quyết định trong phân công lao động quốc tế nữa, thay vào

đó khả năng về công nghệ đang dần trở thành yếu tố quan trọng

Bên cạnh xu thế trên của phân công lao động quốc tế, sự phân công chuyên sâu trong hợp tác quốc tế cũng được tăng cường theo hướng ngày càng xuất hiện nhiều hơn các công ty đa quốc gia Với tư cách là những thực thể chính trị và kinh

Trang 15

tế mạnh nhất toàn cầu ngày nay, các công ty đa quốc gia đã thiết lập hệ thống các chi nhánh trải rộng trên thế giới phụ thuộc vào công ty mẹ dẫn đến việc lôi cuốn các nước có chi nhánh phải tham gia vào vòng chu chuyển của tư bản xuyên quốc gia Hoạt động cùng một lúc trên phạm vi nhiều nước trên thế giới, các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Với mục tiêu đạt được lợi nhuận siêu ngạch, các công ty xuyên quốc gia luôn tập trung phát triển khoa học và công nghệ, tiếp tục mở rộng kinh doanh trên phạm vi toàn cầu

để triệt để khai thác các cơ hội đầu tư Dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI – Foreign Direct Investment) ngày càng đổ về những nước có nguồn nhân lực với lợi thế về trí tuệ và tay nghề cao Các công ty xuyên quốc gia đã có vai trò thúc đẩy sự phồn thịnh đến một mức độ nhất định ở các nước đang phát triển, nhưng sau đó bằng việc bòn rút lợi nhuận đã làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên và ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sinh thái ở những nước này

1.4 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra vào những năm 2008, 2009 đã gây ra những tác động sâu sắc đến hầu hết mọi quốc gia

Bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính ở Mỹ cuối năm 2007, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu này được đánh giá là trầm trọng nhất kể từ tám mươi năm qua Cuộc khủng hoảng này đã và đang có những tác động mạnh mẽ, lâu dài đến tình hình kinh tế, chính trị thế giới Viện quốc gia nghiên cứu kinh tế và

xã hội (NIESR - National Institute Economic Review) của Anh cho rằng với giao dịch buôn bán toàn cầu dự kiến giảm 8,2% trong năm 2009, kinh tế toàn cầu có thể

phải chứng kiến sự sụt giảm tồi tệ nhất trong hơn 60 năm qua (Nguyễn Thị Bình,

2009) Xu hướng sụt giảm kinh tế ở Mỹ, khu vực châu Âu và Nhật Bản có thể kéo

dài, thời gian có thể đến hàng năm Chưa có dấu hiệu nào cho thấy kinh tế thế giới sẽ sớm trở lại với tăng trưởng, và khi trở lại, tốc độ tăng trưởng của kinh tế toàn cầu chắc chắn trong một thời gian không ngắn sẽ thấp hơn so với trước khi khủng hoảng xảy ra Với cuộc khủng hoảng lần này, quá trình cơ cấu lại nền kinh tế toàn cầu có thể

sẽ phải diễn ra Ðó có thể là quá trình cơ cấu lại nền sản xuất theo hướng tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường do đi đôi với khủng hoảng kinh tế là khủng hoảng năng lượng và khủng hoảng khí hậu, môi trường Ðó là quá trình cơ cấu lại

Trang 16

hệ thống tài chính tiền tệ song song với quá trình cơ cấu lại cơ chế quản lý, giám sát trong từng quốc gia và trên toàn cầu Ðó là việc điều chỉnh lại mối tương quan giữa chính sách hướng mạnh ra xuất khẩu và chính sách coi trọng thị trường nội địa bởi

do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng vừa qua, những nước gắn quá sâu với xuất khẩu đều chịu tác động mạnh

Cuộc khủng hoảng cũng sẽ dẫn đến những điều chỉnh về cán cân quyền lực trên bàn cờ chính trị thế giới: Mỹ sẽ phải tính đến việc giảm bớt sự bành trướng về chính trị, điều chỉnh quan hệ đối ngoại theo hướng tăng tính đa phương, giảm đối đầu trực tiếp hơn; vai trò của Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi sẽ gia tăng Cuộc đấu tranh về lợi ích giữa các nước lớn sẽ dẫn đến một số điều chỉnh lợi ích nhất định tại các thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế Tuy nhiên, do sự ràng buộc về lợi ích, các nước lớn vẫn sẽ thỏa hiệp để tiếp tục duy trì cục diện chung với vai trò chính của Mỹ trên quy mô toàn cầu

Là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta đã hội nhập khá sâu với nền kinh tế toàn cầu, chính vì vậy, khủng hoảng kinh tế thế giới cũng đã gây những ảnh hưởng trực tiếp và sâu rộng đến Việt Nam Tác động của cuộc khủng hoảng đối với Việt Nam, tuy có chậm hơn một số nước do một số lý do nêu trên, nhưng cũng rất lớn và khá rộng, ảnh hưởng trước hết đến xuất khẩu, thương mại, các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment), viện trợ phát triển chính thức (ODA - Official development assistance), vấn đề thất nghiệp

Tóm lại, thương mại thế giới đã phải chịu những ảnh hưởng hết sức nặng nền

trước cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Kinh tế thế giới có

thể sẽ phục hồi tuy nhiên thương mại thế giới nói chung và xuất khẩu của nước ta

nói riêng sẽ khó lấy lại được sự phát triền năng động như thời kì trước đó

2 Vai trò của việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

2.1 Sự cần thiết phải lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

Trước bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến bất lợi như hiện nay, lợi thế so sánh của các nước có những thay đổi cơ bản Trên phạm vi toàn cầu, lợi thế phát triển chủ yếu của thế giới là trí tuệ và hàm lượng công nghệ cao chứ không phải là lao

Trang 17

động rẻ, tài nguyên phong phú và nguồn vốn dồi dào Điều này đặt ra sự phân chia các nhóm nước và khẳng định vai trò của từng nhóm nước với những lợi thế so sánh tương ứng để bổ sung cho nhau trong sự hợp tác và phát triển Bằng lợi thế bên trong của mình về thị trường, lao động tài nguyên, các nước đang phát triển vẫn có thể tham gia vào nấc thấp hơn của sự chuyển dịch cơ cấu toàn cầu Tuy nhiên để có thể tận dụng được tối đa những lợi thế đó, các nước cần xác định một cơ chế xuất khẩu phù hợp dựa trên tiềm năng, nội lực của mình Các nước sẽ tạo ra được hiệu quả xuất khẩu như mong muốn, khai thác tối đa tiềm năng khi nước đó tạo được cơ cấu sản phẩm xuất khẩu tối ưu, một hệ thống thị trường xuất khẩu đảm bảo khả năng phát triển dài hạn

Kinh nghiệm của Nhật Bản và các nền kinh tế mới cho thấy, những thành tựu kinh tế nói chung và ngoại thương nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hoá có sự đóng góp quan trọng của chính sách lựa chọn sản phẩm chủ lực và thị trường ưu tiên Nhờ chính sách này mà các nguồn tài nguyên, vật lực đã được tập trung cao cho các sản phẩm có lợi thế so sánh, phát triển sản xuất các sản phẩm có ưu thế về quy mô, khai thác được tiềm năng tăng trưởng cao và hiệu quả

2.2 Vai trò của việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

Trong bối cảnh biến động nền kinh tế thế giới như vậy, các nước đang trong

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế không còn con đường nào khác

là phải lựa chọn chiến lược xuất khẩu phù hợp Điều đó có nghĩa là, cần xác định sản phẩm và thị trường xuất khẩu sao cho có thể phát huy tối đa lợi thế của mình Thực chất của chiến lược này là phát huy lợi thế của sản xuất trong nước, đặt nền kinh tế quốc gia trong quan hệ cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới Để đẩy nhanh phát triển ngoại thương, chúng ta cần phải thực hiện phương châm đa dạng hóa sản phẩm và đa phương hóa thị trường, đi cùng với việc đó là phát triển sản phẩm chủ lực và thị trường trọng điểm Chính vì vậy, vấn đề lựa chọn sản phẩm

và thị trường xuất khẩu được coi là vấn đề cốt lõi Lựa chọn đúng sản phẩm và thị trường xuất khẩu nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh, tận dụng lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu và thu được hiệu quả cao, từ đó thúc đẩy ngoại thương phát triển, góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội

Trang 18

Cùng với sự ra đời và phát triển của kinh tế đối ngoại, xuất khẩu đã luôn được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản và hết sức quan trọng, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển nói chung, phương tiện chính để tăng thu nhập ngoại

tệ cho tài chính và nhu cầu nhập khẩu hàng hóa thiết bị phục vụ sản xuất tiêu dùng nói riêng, góp phần thanh toán dần nợ nước ngoài Việc lựa chọn sản phẩm xuất khẩu phù hợp sẽ tạo ra các mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia Đó sẽ là nguồn quan trọng sẽ thúc đẩy sự gia tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đó Chính vì vậy, đất nước nào có một cơ cấu mặt hàng xuất khẩu phù hợp nhất với năng lực sản xuất và xu thế phát triển trong từng giai đoạn thì hoạt động xuất khẩu của nước đó

sẽ đạt được hiệu quả kinh tế cao, có nghĩa là thu được nhiều ngoại tệ, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu và từ đó dẫn tới góp phần làm tăng ngân sách và cũng tạo điều kiện cải thiện đáng kể cán cân thương mại

Sản phẩm phù hợp sẽ không thể mang lại hiệu quả kinh tế cao nếu như không

có thị trường phù hợp với sản phẩm đó Chính vì vậy, song song với việc lựa chọn sản phẩm, lựa chọn thị trường xuất khẩu cũng vô cùng quan trọng trong chính sách ngoại thương của một nước Nền kinh tế thế giới phát triển, ngoại thương không còn mang ý nghĩa đơn thuần là các hoạt động mua bán thông qua xuất nhập khẩu hàng hóa dịch vụ nữa mà còn là sự phụ thuộc tất yếu lẫn nhau giữa các nước trong phân công lao động quốc tế Chiến lược về điều tra nghiên cứu thị trường để đưa ra các quyết định lựa chọn thị trường cho sản phẩm của một công ty hay một quốc gia được coi là chính sách đầu tiên và quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định trong chính sách ngoại thương

Thị trường là một hiện tượng động, nhất là thị trường quốc tế Nó luôn vận động và biến đổi theo quy luật riêng dưới sự tác động của các nhân tố như môi trường kinh tế quốc tế, thời gian, tình hình kinh tế - xã hội của từng quốc gia, của khu vực cũng như của nền kinh tế toàn cầu Chính vì lẽ đó, việc điều tra nghiên cứu

để lựa chọn thị trường cho hoạt động xuất khẩu của một nước là hết sức khó khăn

và phức tạp, đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề liên quan như môi trường kinh tế

Trang 19

vĩ mô, môi trường luật pháp, văn hóa, chính trị - xã hội và quan trọng hơn là việc xem xét, phân tích, đánh giá cơ cấu tiêu dùng của một quốc gia để xác định thị trường có tiềm năng hay không Các quốc gia khác nhau lại có cơ cấu tiêu dùng khác nhau Các nước giàu thường nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất, trong khi các nước nghèo lại chú trọng vào nhập khẩu hàng tiêu dùng Trong giai đoạn chuyển tiếp giữa thay thế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu, điều tra lựa chọn thị trường một cách hợp lý có tính chất quyết định trong việc đảm bảo mục tiêu phát triển sản xuất, thực hiện công nghiệp hóa, tăng trưởng và phát triển kinh tế trong điều kiện tiềm lực còn yếu kém ở các nước phát triển Trong thời kì này, về căn bản các nước đang phát triển thường lựa chọn thị trường có dung lượng lớn, sức tiêu thụ cao, nhằm tranh thủ các lợi thế cạnh tranh về chi phí nguyên vật liệu và công lao động rẻ Sự tăng trưởng kinh tế ngày càng cao ở rất nhiều nước trong vài thập kỉ qua kể từ khi thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu, một phần là nhờ vào yếu tố biết phân tích và lựa chọn hợp lý này

Vào những năm 60, chiến lược của Nhật Bản trong thời kì này là mở rộng xuất khẩu sang các thị trường Châu Á nhằm độc chiếm các thị trường này Chính chiến lược thị trường hợp lý đó cùng việc thi hành các chính sách ngoại thương khác đã tạo ra sự bùng nổ xuất khẩu Kể từ cuối những năm 70 trở đi, các sản phẩm của Nhật Bản không còn phụ thuộc phần lớn vào các thị trường Châu Á nữa do các thị trường này chỉ chấp nhận những sản phẩm chế tạo có hàm lượng giá trị không cao Chính vì lý do đó, cộng với sự cạnh tranh về thị trường của các quốc gia đang phát triển ngày càng gia tăng, chiến lược lựa chọn thị trường của Nhật Bản đã chuyển sang các nước phát triển đặc biệt là Mỹ và Tây Âu Với sự lựa chọn thị trường và sản phẩm cho thị trường đó hợp lý, Nhật Bản đã tạo ra những ảnh hưởng có tính chất quyết định đối với sản xuất trong nước cũng như chiến lược đầu tư ra nước

ngoài (Nguyễn Trần Quế, 1998)

Thị trường thế giới luôn là yếu tố động và hết sức nhạy cảm Chính nó sẽ quyết

định chính sách sản phẩm Chiến lược thị trường và sản phẩm hợp lý chính là điều

kiện tiên quyết để có được một chính sách ngoại thương hiệu quả trong xu hướng

mở cửa nền kinh tế trên toàn cầu

Trang 20

II Cơ sở cho việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

Sự lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu dựa trên nhiều yếu tố và điều

kiện khác nhau Sự lựa chọn đó hình thành chiến lược quốc gia cũng như của các doanh nghiệp về sản phẩm và thị trường xuất khẩu Đối với các nền kinh tế đang

phát triển cơ sở chủ yếu để họ có thể lựa chọn sản phẩm xuất khẩu chính là lợi thế

cạnh tranh có thể tạo ra được trên cơ sở điều kiện nguồn lực quốc gia trong từng giai đoạn phát triển, nhu cầu và xu hướng biến đổi nhu cầu trên thị trường thế giới

Trong đó lợi thế cạnh tranh không chỉ đơn thuần dựa vào các nguồn lực quốc gia sẵn có mà còn phải chủ động tạo ra, muốn như vậy thì phải có những định hướng và đầu tư dài hạn

1 Lợi thế cạnh tranh

Đây chính là yếu tố tổng hợp nhất có tính quyết định ảnh hưởng đến chính sách

lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu Cần phải sử dụng lợi thế này để tạo ra các sản phẩm đồng thời tìm kiếm các thị trường xuất khẩu sao cho đạt hiệu quả kinh

tế cao nhất

Lợi thế cạnh tranh được đánh giá trên ba cấp độ: Lợi thế cạnh tranh quốc gia,

lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và lợi thế cạnh tranh của ngành, sản phẩm

Trong đó, lợi thế cạnh tranh quốc gia được xem là yếu tố bao trùm lên tất cả

Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia được Michael Porter nghiên cứu và đưa ra vào những năm 1990 Mục đích của lý thuyết này là giải thích tại sao một số quốc gia lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm, hay nói cách khác đi tại sao những quốc gia có lợi thế cạnh tranh về một số sản phẩm Lý thuyết này được xây dựng trên cơ sở lập luận rằng khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp được thể hiện tập trung ở khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó Điều này được khái quát cho một thực thể lớn hơn – một quốc gia

Trang 21

Hình 1: Mô hình khối kim cương của M.Porter

(Giáo trình Kinh tế Ngoại Thương, 2006)

Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của 4 nhóm yếu tố Mối liên kết của 4 nhóm này tạo thành một mô hình kim cương Các yếu tố đó bao gồm:

- Điều kiện các yếu tố sản xuất

- Điều kiện về cầu

- Các ngành công nghiệp hỗ trợ có liên quan

- Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành

Bốn yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh

tranh quốc gia Ngoài ra còn có hai yếu tố khác là chính sách của Chính phủ và cơ

hội Đây là hai yếu tố có thể tác động đến 4 yếu tố cơ bản kể trên

Dựa trên việc phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia theo mô hình kim cương của M.Porter, cơ sở để lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của một quốc gia

sẽ dựa trên lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó, được thế hiện ở các yếu tố sau:

1.1 Nguồn lực đầu vào

Lợi thế cạnh tranh quốc gia thể hiện ở điều kiện các yếu tố sản xuất chính là

nguồn lực đầu vào Đây là ưu thế giữa các quốc gia về lao động, vốn, tài nguyên

Chiến lược, cơ cấu và môi trường

Trang 22

phẩm có chi phí thấp Một nước đông dân, ít vốn, lao động rẻ thì trước hết phải định hướng sản xuất ra các mặt hàng sử dụng nhiều lao động (thí dụ như sự lựa chọn của các nước Đông Á trong thời kì đầu của quá trình công nghiệp hóa là khai thác tài nguyên và phát triển các mặt hàng sử dụng nhiều lao động để xuất khẩu)

Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh của bất kì nước nào cũng chỉ có tính chất tương đối, luôn luôn trong quá trình biến động và phát triển Vì vậy cơ cấu xuất khẩu theo mặt hàng cũng phải thay đổi Tính quy luật của sự thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu là chuyển dần từ sản phẩm sử dụng nhiều lao động rẻ, không cần tay nghề cao như sản phẩm dệt may, da giày…sang các sản phẩm nhiều lao động có tay nghề cao như ngành hóa chất, điện tử, sắt thép…và cuối cùng chuyển sang các sản phẩm cần nhiều vốn và công nghệ cao như cơ khí chính xác, tự động hóa…Nguồn lực đầu vào

là một cơ sở vững chắc giúp các nước này xây dựng cơ cấu xuất khẩu phù hợp nhất với thực lực của mình, bởi rõ ràng là các nước dù muốn phát triển đến đâu cũng không thể không tính đến thực lực của mình Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật và công nghệ, các nước cần phải chuẩn bị cho mình một hướng đi thích hợp để một mặt vẫn tranh thủ được những tiến bộ khoa học kĩ thuật, những cơ hội giành cho nước đi sau, mặt khác vẫn có thể khai thác được tối

đa lợi thế của mình, trên cơ sở đó đi xây dựng một cơ cấu xuất khẩu hoàn thiện, đem lại lợi ích tối đa cho sự phát triển kinh tế trong môi trường kinh tế toàn cầu cạnh tranh

1.2 Điều kiện nhu cầu trong nước

Như trên đã nói, lợi thế cạnh tranh của quốc gia là yếu tố bao trùm lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Hay nói cách khác, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ làm nên lợi thế cạnh tranh của quốc gia Nhu cầu trong nước chính là yếu tố ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Bản chất của nhu cầu trong nước sẽ xác định cách thức doanh nghiệp nhận thức, lý giải và phản ứng trước nhu cầu của người mua Người mua đòi hỏi cao sẽ tạo áp lực giúp doanh nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn cao về chất lượng, đặc tính kĩ thuật và dịch vụ, từ đó nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Không những thế, nhu cầu trong nước tăng nghĩa là

Trang 23

quy mô thị trường được mở rộng, điều này sẽ có tác dụng tạo ra lợi thế cạnh tranh trong những ngành có hiệu quả kinh tế nhờ quy mô Như vậy có thể nói sự gia tăng nhu cầu trong nước không chỉ tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn cả cho sản phẩm và ngành, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia, là cơ sở để lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

1.3 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan

Đối với mỗi doanh nghiệp, các ngành sản xuất hỗ trợ là những ngành sản xuất cung ứng đầu vào cho chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Mỗi quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong nhiều ngành hỗ trợ và nhiều ngành liên quan sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, cung cấp trong thời gian ngắn với chi phí thấp, duy trì quan hệ hợp tác liên tục, giúp doanh nghiệp nhận thức được các phương pháp và cơ hội mới để áp dụng công nghệ mới Như vậy các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan cũng tác động đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp,

và từ đó cũng tạo cơ sở để doanh nghiệp có thể xây dựng mặt hàng và tìm kiếm thị trường xuất khẩu

1.4 Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh (Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp)

Việc đưa ra chiến lược, cơ cấu để cạnh tranh của các doanh nghiệp không chỉ nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp đó mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh về ngành, từ đó tạo nên lợi thế cạnh tranh của quốc gia

Những khác biệt về trình độ quản lý và kĩ năng tổ chức như trình độ học vấn

và hướng đích của cán bộ quản lý, sức mạnh động cơ cá nhân, các công cụ ra quyết định, quan hệ với khách hàng, thái độ đối với hoạt động quốc tế sẽ tạo ra lợi thế hoặc bất lợi thế cho doanh nghiệp Chính vì vậy, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

sẽ tạo ra sức ép phải cải tiến đổi mới đối với các đối thủ cạnh tranh từ đó sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời cũng là để doanh nghiệp chuẩn bị tốt khi phải chịu áp lực cạnh tranh nước ngoài

Bên cạnh đó, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp còn tạo ra sức ép làm thay đổi cách thức cải tiến lợi thế cạnh tranh: lợi thế cạnh tranh dựa nhiều hơn vào tính chất

Trang 24

độc đáo của sản phẩm và hàm lượng công nghệ hơn là lợi thế về tài nguyên và chi phí lao động Như vậy, toàn bộ ngành sẽ tiến bộ nhanh hơn, những ý tưởng mới được phổ biến và ứng dụng nhanh hơn, điều đó sẽ tạo ra sức cạnh tranh cho ngành

và sản phẩm

Như vậy, chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh cũng có tác động không nhỏ đến lợi thế cạnh tranh quốc gia, để từ đó có thể tạo cơ sở lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

1.5 Cơ chế tác động, điều chỉnh chiến lược của Nhà nước

Trong xu thế tự do hóa thương mại và khu vực hóa nền kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay thì cơ chế tác động, điều chỉnh chiến lược của nhà nước là một yếu tố vô cùng quan trọng và ảnh hưởng to lớn đến việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

Nhà nước có tác động rất lớn đến lợi thế cạnh tranh quốc gia thông qua việc tác động tới 4 nhóm yếu tố trên và đồng thời cũng trực tiếp định hướng cho việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

Trước hết, Nhà nước thể hiện vai trò điều hành của mình nhằm tác động đến các nhân tố tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia dựa trên các mặt sau:

- Thứ nhất là định hướng phát triển thông qua chiến lược, quy hoạch, kế

hoạch, chính sách phát triển kinh tế

- Thứ hai là tạo môi trường pháp lý và kinh tế cho các chủ thể kinh tế hoạt

động và cạnh tranh lành mạnh

- Thứ ba là điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng thông

qua các công cụ ngân sách, thuế khóa, tín dụng…

- Thứ tư là kiếm soát các hoạt động kinh tế theo đúng pháp luật và chính

Trang 25

nước trong giai đoạn phát triển và bối cảnh quốc tế, đồng thời xây dựng các hệ thống chính sách, biện pháp phục vụ sản phẩm xuất khẩu và mở rộng thị trường ngoài nước

Đến lượt mình, các doanh nghiệp sẽ thực hiện cụ thể và chi tiết, hiện thực hóa

sự lựa chọn sản phẩm và thị trường Sự ganh đua, cạnh tranh, tìm tòi, sáng tạo để phát triển và thâm nhập thị trường sẽ đem lại lợi nhuận cho công ty và nâng cao năng lực xuất khẩu của đất nước

Tuy nhiên, sự định hướng của chính phủ chỉ mang tính hướng dẫn, vạch đường chỉ lối, hỗ trợ cho các doanh nghiệp, giảm bớt rủi ro trong kinh doanh chứ không mang tính bắt buộc, mệnh lệnh Sản xuất cái gì, cho ai và số lượng bao nhiêu là những vấn để của doanh nghiệp Định hướng của nhà nước là chỉ để giúp đỡ, hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình giải quyết các vấn đề đó

1.6 Cơ hội

Cơ hội cũng được xem là một yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đặc biệt đến lợi thế cạnh tranh cũng như việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp Cơ hội có thể là sự thay đổi bất ngờ về công nghệ (như công nghệ sinh học, công nghệ vi điện tử); thay đổi về tỷ giá hối đoái; tăng mạnh cầu thế giới hay khu vực; quyết định chính trị của các Chính phủ nước ngoài; tham gia vào các

tổ chức kinh tế quốc tế lớn như WTO, kí kết các hiệp định song phương và đa

phương khác…

Các cơ hội rất quan trọng bởi lẽ chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch chuyển vị thế cạnh tranh Chúng có thể tạo ra tiềm năng để các doanh nghiệp có thể khai thác để có được những lợi thế đáp ứng những điều kiện mới và khác biết Cần tận dụng mọi cơ hội để để có thể hoạch định những chính sách sản phẩm và thị trường xuất khẩu thích hợp

Lợi thế cạnh tranh quốc gia cũng như lợi cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạch định các chính sách về sản phẩm và

thị trường xuất khẩu Cần tập trung vào việc tạo ra, duy trì, phát triển lợi thế cạnh

tranh phù hợp với đặc điểm riêng, trình độ phát triển của thị trường và trình độ của

Trang 26

nền kinh tế, của từng ngành kinh tế đồng thời thích ứng với từng giai đoạn phát triển của đất nước

2 Nhu cầu trên thị trường thế giới

Bên cạnh lợi thế cạnh tranh, yếu tố chi phối và cũng có tính quyết định đối với

việc lựa chọn sản phẩm xuất khẩu đó là yếu tố thị trường, bởi vì hàng hóa và thị trường là hai yếu tố cơ bản không thể tách rời nhau, và như Mác nói: “ Cuối cùng

thì nhu cầu của tiêu dùng quyết định sản xuất” (C.Mác và Ph.Angghen toàn tập,

1993) Không hiểu được nhu cầu của thị trường thế giới, của từng nước, của từng

khu vực cũng như không hiểu được khả năng cung cầu của họ về từng loại hàng hóa thì không thể có phương hướng đúng đắn về chiến lược xuất khẩu nói chung và sản phẩm xuất khẩu nói riêng Các nước không thể không tính đến nhu cầu của thị trường khi xây dựng cơ cấu xuất khẩu dựa trên lợi thế so sánh của mình Thị trường

là một yếu tố động, nếu một nước không nắm bắt được những thay đổi đó của thị trường thì sẽ chỉ sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng đã bão hòa, những mặt hàng lỗi thời không còn được ưa chuộng trên thì trường, và tất nhiên, không còn phù hợp với nhu cầu hiện tại thì thất bại là một yếu tố khó có thể tránh khỏi Chính nhu cầu thị trường mới có tính chất quyết định đến quy mô sản xuất, cơ cấu sản xuất hay nói khác đi, cầu về sản phẩm đó trên thị trường mới giúp doanh nghiệp trả lời các vấn

đề cơ bản: sản xuất cho ai, sản xuất cái gì và sản xuất như thế nào?

Thế nhưng, việc nắm chắc được nhu cầu của thị trường về sản phẩm là một điều không đơn giản, đặc biệt với các nước đang phát triển Hiện nay, để có được thông tin về thị trường thế giới, về nhu cầu cụ thể về một sản phẩm nào đó vẫn là một thách thức đối với các nước này Vấn đề đặt ra đó là làm sao để các nước đang phát triển này đó là làm thế nào để có thể bám sát được thị trường thế giới, nắm bắt được những thay đổi cũng như những xu hướng thay đổi của thị trường để từ đó có những định hướng phù hợp mang lại hiệu quả cao

III Các chính sách lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

Trong quá trình công nghiệp hóa ở các nước, việc đổi mới cơ cấu ngoại thương

được thực hiện thông qua chính sách “đa dạng hóa ngoại thương” Nội dung chủ

Trang 27

yếu của chính sách này là mở rộng diện mặt hàng và thị trường trên cơ sở tập trung

ưu tiên có trọng điểm một số mặt hàng và một số thị trường chủ lực Chính sách đa

dạng hóa ngoại thương được triển khai trên hai hướng là đa dạng hóa sản phẩm và

đa dạng hóa thị trường

1 Chính sách lựa chọn sản phẩm xuất khẩu

1.1 Chính sách vĩ mô

1.1.1 Đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu

Đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu được thực hiện theo hướng củng cố và phát triển từ các ngành truyền thống Sự thay đổi cơ cấu hàng hóa xuất khẩu gắn liền với

sự thay đổi cơ cấu kinh tế trong quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang kinh

tế công nghiệp Thời kì đầu những năm 50 và 60, khi nông nghiệp còn chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế, các cơ sở còn yếu kém, kĩ thuật lạc hậu thì sản phẩm thô

và sơ chế chiếm gần như toàn bộ hàng xuất khẩu của các nước này Đến những năm

70, với sự phát triển tương đối khá của công nghiệp chế biến và chế tạo, trong cơ cấu xuất khẩu của các nước, sản phẩm thô và sơ chế dần nhường chỗ cho sự tăng lên của các sản phẩm công nghiệp chế biến và chế tạo như hàng dệt may, máy móc, thiết bị vận tải và các sản phẩm chế tạo khác Từ những năm 80 đến nay, nhiều nước đang phát triển ở Châu Á đã đạt được một trình độ phát triển công nghiệp khá cao như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore được xếp vào hàng các nước công nghiệp mới (NICs) Các nước này ngày càng coi trọng khả năng xuất khẩu

máy móc, thiết bị công nghiệp đặc biệt là thiết bị điện tử (Nguyễn Trần Quế, 1998)

Cơ cấu xuất khẩu của hầu hết các nước đó đã và đang thay đổi theo hướng giảm dần xuất khẩu thuần túy các loại tài nguyên thiên nhiên thô, sơ khai sang tăng dần xuất khẩu các hàng hóa có hàm lượng tài nguyên cao kết hợp hàm lượng lao động cao như các sản phẩm chế biến, gia công, lắp ráp, và khi nền công nghiệp đạt được một trình độ phát triển khá, họ tiến tới tăng dần sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng kĩ thuật cao như máy móc, thiết bị và các sản phẩm kĩ thuật tinh vi, hiện đại

Tóm lại, có thể khẳng định đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu là xu thế phổ biến

và tất yếu của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng

Trang 28

1.1.2 Xây dựng mặt hàng xuất khẩu chủ lực

Trước hết, Mặt hàng xuất khẩu chủ lực được hiểu là những hàng hóa có điều kiện sản xuất ở trong nước với hiệu quả kinh tế cao hơn những hàng hóa khác, có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định, chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia (Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải, 2006)

Một yếu tố then chốt của đa dạng hóa hàng hóa xuất khẩu là ưu tiên phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực Điều này không có gì mâu thuẫn với xu hướng mở rộng diện mặt hàng, mà ngược lại chính trên cơ sở mở rộng diện mặt hàng, việc lựa chọn và phát triển mặt hàng xuất khẩu chủ lực càng được thực hiện tốt hơn Sự đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thể góp phần khắc phục một số bất lợi trong lĩnh vực xuất khẩu của các nước đang phát triển, đó là:

- Đối với những nước thu nhập từ xuất khẩu dựa gần như toàn bộ vào một hoặc hai mặt hàng, thì việc tăng thêm số lượng mặt hàng chủ lực có thể giúp những nước đó tránh được những thiệt hại to lớn do những biến động cung cầu, giá cả bất lợi trên thị trường thế giới có thể xảy ra cho hàng hóa đó

- Đối với những nước hàng hóa xuất khẩu ở vào tình trạng phân tán, manh mún chưa có hàng chủ lực, thì việc tập trung ưu tiên xây dựng và phát triển một số mặt hàng chủ lực là tất yếu Những mặt hàng xuất khẩu chủ lực góp một phần vô cùng quan trọng trong việc phát triển xuất khẩu cũng như đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế cho các nước đó Đó là một nhu cầu bức thiết vừa cho trước mắt, vừa cho lâu dài

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: vậy mỗi nước cần bao nhiêu mặt hàng xuất khẩu chủ lực? Kinh nghiệm của các nước đang phát triển Châu Á trong mấy năm gần đây cho thấy, mỗi nước nên tập trung ưu tiên cao cho việc phát triển từ 5 đến 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực Số lượng mặt hàng xuất khẩu chủ lực tuy không nhiều, thế nhưng khối lượng và giá trị xuất khẩu lớn Điều này có ý nghĩa chiến lược lâu dài

và quyết định đối với sự thành bại của hoạt động xuất khẩu của một số nước Số lượng từ 5 đến 10 mặt hàng như vậy cho phép khắc phục tình trạng thị trường bất lợi cho mặt hàng này hay cho mặt hàng kia, không những thế, khi điều kiện thuận

Trang 29

lợi có thể lựa chọn một vài trong số mặt hàng đó để tập trung phát triển quy mô lớn, kịp thời chớp lấy những thời cơ tốt của thị trường thế giới

1.2 Chính sách vi mô

1.2.1 Chính sách mở rộng trực tiếp

Chính sách mở rộng trực tiếp là việc giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp tới một thị trường nước ngoài mà không cần bất kì sự thay đổi nào của sản phẩm đó

(Lê Thanh Hà, Nguyễn Trung Tính, 2005)

Thực chất đây là chiến lược dựa trên quan điểm toàn cầu hóa sản phẩm Trong trường hợp này, chủ trương của doanh nghiệp là giữ nguyên sản phẩm như nó được bán trên thị trường nội địa, đồng thời tìm kiếm khách hàng nước ngoài quan tâm Chính sách này tuy tiết kiệm được chi phí nhưng chỉ thích hợp với một số sản phẩm nhất định như nguyên liệu thô, nguyên liệu chế biến dùng trong sản xuất công nghiệp có khả năng toàn cầu hóa cao đối với các thị trường khác hoặc khi trên thị trường nước ngoài có những phần thị trường tương tự như thị trường nội địa

1.2.2 Chính sách thích nghi sản phẩm

Chính sách thích nghi sản phẩm là việc thay đổi sản phẩm nhằm thỏa mãn yêu

cầu và thị hiếu của thị trường nước ngoài Sự thích nghi này được tiến hành từng phần hoặc toàn bộ đối với thành phần chất lượng của sản phẩm (thay đổi tính năng

kĩ thuật, tạo ra những công dụng mới cho sản phẩm, thay đổi bao bì sản phẩm, cải tiến các dịch vụ hỗ trợ sản phẩm…) (Lê Thanh Hà, Nguyễn Trung Tính, 2005)

Để thực hiện được chính sách này, doanh nghiệp cần tiến hành các bước:

- Nghiên cứu chu kì sống quốc tế của sản phẩm: nói đến chu kì sống của sản

phẩm thì phải gắn sản phẩm đó với một thị trường nhất định Khi xác định khả năng tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp phải biết được sản phẩm của mình đang ở gia đoạn nào thuộc chu kì sống của nó trên thị trường nghiên cứu Việc nghiên cứu và phân tích chu kì sống của một sản phẩm trên thị trường nước ngoài nhằm xác định chính sách marketing thích hợp cho từng giai đoạn của chu kì sống, kéo dài thời gian cho những giai đoạn có tỷ suất lợi nhuận cao và rút ngắn những giai đoạn thua lỗ

- Tạo ra những công dụng mới cho sản phẩm: mục đích của chính sách này

là làm cho sản phẩm thích ứng với thị trường nước ngoài và kéo dài chu kì sống

Trang 30

của nó Đây là vấn đề hết sức khó khăn vì ở mỗi thị trường lại có thị hiếu tiêu dùng khác nhau Cần tập trung và thiết kế nhãn mác hàng hóa để tiêu chuẩn hóa kĩ thuật sản phẩm

Ý định về một sản phẩm mới cần xuất phát từ giác độ của cả người tiêu dùng Đối với người tiêu dùng thì việc sản phẩm đó có đáp ứng yêu cầu của họ không, có

rẻ hơn không, có dễ sử dụng hơn không, chất lượng có tốt hơn không là những điều

mà họ quan tâm Còn về phía doanh nghiệp vấn đề được đưa ra là sản phẩm sẽ mang về bao nhiêu lợi nhuận, lượng bán và doanh số có đảm bảo không, khả năng tài chính có đủ không, có phải đầu tư thêm phương tiện sản xuất mới không, có phải thiết kế các kênh phân phối mới không Trước khi tung sản phẩm mới ra thị trường cần nghiên cứu kĩ các thông tin trên thị trường và khi giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường cần phải dựa và các chính sách chung về marketing

1.2.3 Chính sách chủng loại sản phẩm

Chính sách chủng loại sản phẩm là một bộ phận chính sách quốc tế chung về sản phẩm Nó liên quan đến các tuyến sản phẩm mà doanh nghiệp định đưa ra bán tại thị trường nước ngoài Chính sách chủng loại sản phẩm bị chi phối bởi các yếu

tố trên thị trường nước ngoài cũng như năng lực tài chính và sản xuất của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần xác định rõ mục tiêu của mình trong việc mở rộng ra thị trường nước ngoài là tăng lợi nhuận, doanh số hay mở rộng thị phần, là việc hạn chế rủi ro hay tận dụng năng lực sản xuất thừa, cần xác định rõ tuyến sản phẩm hiện tại

đã tận dụng hết các nguồn lực của mình hay chưa

Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng tới quyết định chính sách sản phẩm của doanh nghiệp là: sự khác biệt về đặc điểm nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng tại thị trường khác nhau; các giá trị văn hoá và xã hội ảnh hưởng lớn đến hành vi và những định kiến của người tiêu dùng về sản phẩm; các yếu tố cạnh tranh trên thị trường như loại sản phẩm và khả năng cạnh tranh của chúng, mức độ thoã mãn nhu cầu thị trường của các sản phẩm cạnh tranh đó; mức độ cạnh tranh lớn và chi phí thâm nhập thị trường cao thì doanh nghiệp có thể phải bằng lòng với tuyến sản phẩm hẹp phục vụ cho những phần thị trường chọn lọc; hệ thống phân phối đang tồn tại

Trang 31

trên thị trường; các quy định về sản phẩm và bao gói, quy định về nhập khẩu, các điều kiện về tự nhiên, khí hậu, địa lý, trình độ phát triển kinh tế của thị trường đó

2 Chính sách lựa chọn thị trường xuất khẩu

2.1 Chính sách vĩ mô

Lựa chọn một cách hợp lý, đề xuất và thực thi chiến lược thị trường xuất khẩu đúng đắn là một trong những khâu quan trọng làm tăng mức xuất khẩu của các nước Ở hầu hết các quốc gia, quá trình đẩy mạnh xuất khẩu trên thực tế là quá trình

khai thác thị trường theo hai hướng: tìm kiếm thị trường mới và tăng mức xuất khẩu

trên các thị trường hiện có Có nghĩa là các quốc gia đều cố gắng tăng xuất khẩu

bằng mọi cách, tránh sự tập trung quá mức vào một thị trường nào đó, tức là phải đa dạng hoá thị trường xuất khẩu để đảm bảo xuất khẩu tăng nhanh và ổn định

Trong hoàn cảnh phát triển có nhiều bất lợi, diễn biến kinh tế thế giới biến động các nước đang phát triển luôn phải thay đổi, điều chỉnh linh hoạt các chính sách để có một chiến lược có hiệu quả Các nước muốn đa dạng hoá thị trường xuất khẩu cần tăng cường các hoạt động mở mang thị trường theo nhiều phương vị, nhiều tầng nấc, nhiều phương thức mà trọng tâm là đa dạng hoá thị trường Nếu các nước không thể xây dựng cho mình một mạng lưới thị trường xuất khẩu thì thất bại

là điều chắc chắn Tuy nhiên, bên cạnh đó các nước cần tập trung vào một số thị trường trọng điểm mà mình có khả năng xuất khẩu để làm bàn đạp cho chiến lược

đa dạng hoá thị trường xuất khẩu

Do vậy, một chính sách đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá bạn hàng sẽ

giúp cho các nước cân bằng trong chiến lược hội nhập kinh tế thế giới, giảm được tổn thất xảy ra khi có những biến động bất thường, góp phần ổn định nền kinh tế trong nước cũng như nền kinh tế toàn cầu Các nước cần tăng cường hợp tác chiều sâu, giảm sự phụ thuộc vào từng nước riêng lẻ để phân tán các nhân tố rủi ro

2.2 Chính sách vi mô

Song song với chiến lược, chính sách đa dạng hoá thị trường xuất khẩu các

nước cần xây dựng cho mình các thị trường xuất khẩu trọng điểm Chính những thị

trường này sẽ giúp các nước củng cố vị thế của mình nhanh chóng, đẩy mạnh được

Trang 32

xuất khẩu Các nước chủ yếu nhằm vào các thị trường có dung lượng lớn, có khả năng thanh toán cao, có nhu cầu đa dạng có như vậy như thị trường Mỹ, thị trường

EU, thị trường Nhật Bản Khi thâm nhập vào các thị trường này, các nước sẽ gặp phải các rào cản thuế quan và phi thuế quan, tuy nhiên với những chiến lược đã hoạch định sẵn, các thị trường này sẽ đem lại cho các nước xuất khẩu sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nhanh chóng Các thị trường này thường là các thị trường khó tính, đòi hỏi các tiêu chuẩn chất lượng cũng như kỹ thuật cao, do đó cần

có bước chuẩn bị tốt trước khi bắt đầu thâm nhập, sự thành công của lần thâm nhập đầu tiên sẽ quyết định tất cả

Các thị trường trọng điểm này sẽ là bước đệm vững chắc để thâm nhập vào thị trường thế giới nếu được xác định thích hợp với khả năng cạnh tranh, khả năng cung cấp Thành công tại thị trường này sẽ tạo uy tín do đó các nước sẽ dễ dàng thâm nhập vào các thị trường khác Tuy nhiên đầu tư ban đầu cho các thị trường này tương đối cao và đòi hỏi các nước xuất khẩu phải có chiến lược cụ thể, có sự nghiên cứu sâu sát thị trường cần thâm nhập đó

Trang 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRANG VIỆC LỰA CHỌN SẢN PHẨM

VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

I Cơ sở lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam

Khai thác một cách có hiệu quả những lợi thế của đất nước, cùng với chính sách

của Đảng và nhà nước, nhu cầu cũng như xu hướng chung của thị trường thế giới

chính là những cơ sở để Việt Nam có thể dựa vào đó xây dựng nên danh mục hàng hóa xuất khẩu cũng như tìm kiếm các thị trường xuất khẩu nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

Tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu quốc tế, nguồn lao động rẻ và dồi dào…chính là những lợi thế mà Việt Nam

hiện có

Như vậy, so với các nước trong khu vực, Việt Nam có các lợi thế chủ yếu, đó

là điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực

1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: đất nước Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, thuộc Châu Á

– Thái Bình Dương, phía Tây gắn liền với lục địa Châu Á, phía Đông thông ra Thái Bình Dương, được coi là khu vực “năng động” có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng về cả chính trị lẫn kinh tế Việt Nam nằm trên con đường huyết mạch tuyến đường giao lưu hàng hải từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc sang các nước Nam

Á, Trung Đông và Châu Phi Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia vào phân công lao động quốc tế và giao lưu buôn bán với các nước trong khối ASEAN và trong khu vực cũng như trên thế giới một cách dễ dàng, đồng thời Mặt khác, đây cũng là tiền đề để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa

cũng như lựa chọn mặt hàng và thị trường sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất

- Điều kiện khí hậu: khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm

mưa nhiều, là điều kiện rất thuận lợi cho việc sinh trưởng các loại thực vật, đồng thời cũng là điều kiện tốt để tiến hành xen canh, gối vụ, tăng nhanh vòng quay

Trang 34

vùng, miền tạo điều kiện phát triển một nền nông nghiệp đa canh, và có thể phân bố

nhiều loại cây trồng, gia súc

- Địa hình: địa hình Việt Nam tương đối đa dạng, ¾ diện tích nước ta là đồi

núi với các dạng địa hình chính đó là đồng bằng, trung du và miền núi Độ cao trung bình là 500m so với mực nước biển Hướng địa hình này chi phối sự phân bổ các dòng sông, các nguồn nước và có ảnh hưởng tới phân bố dân cư, kinh tế, cấu trúc hạ tầng

Miền núi và trung du Bắc Bộ có độ cao trung bình từ 200 m chiếm 31,5% diện tích tự nhiên cả nước thích hợp cho việc sản xuất và phát triển các sản phẩm lâm nghiệp, nông ngư nghiệp và còn rất nhiều diện tích đất còn chưa sử dụng Phía Tây Trung Bộ là địa hình núi và cao nguyên chiếm khoảng 25% diện tích cả nước, thích hợp cho việc sản xuất các sản phẩm lâm nghiệp Miền đồng bằng, ven biển Đông chiếm 30% diện tích cả nước bao gồm: Đồng bằng sông Hồng( 3,8% diện tích

cả nước), duyên hải Trung Bộ (13,6%), đồng bằng sông Cửu Long( 11,9%) Các đồng bằng này chiếm 53% đất nông nghiệp của cả nước, 43% đất chuyên dùng và đất

dân cư của cả nước, cũng là vùng kinh tế mạnh với nhiều sản phẩm công, nông nghiệp

2 Nguồn tài nguyên

- Tài nguyên khoáng sản: nước ta tuy không lớn nhưng khoáng sản tương đối

phong phú về chủng loại Cho đến nay chúng ta đã phát hiện được hơn 3500 mỏ và điểm quặng của hơn 80 loại khoáng sản Tuy nhiên mới chỉ có 300 mỏ của 30 loại khoáng sản được đưa vào khai thác

Dầu khí là nguồn nhiên liệu có giá trị hàng đầu ở Việt Nam hiện nay Trữ

lượng ước tính: trên 5 tỷ tấn dầu qui đổi; trữ lượng khí đồng hành: 250 - 300 tỷ tấn; trữ lượng khai thác công nghiệp xác định: trên 150 triệu tấn

Than đá đứng hàng thứ hai trong các nguồn nhiên liệu ở Việt Nam Vùng than

lớn nhất là Quảng Ninh, chiếm 98% tổng trữ lượng các loại than của Việt Nam

(dưới 7 tỉ tấn)

Các mỏ sắt lớn của Việt Nam gồm nhóm mỏ sắt Thái Nguyên (Trại Cau, Linh

Nham); nhóm mỏ sắt nằm ở Thạch Khê có trữ lượng 700 triệu tấn Tổng trữ lượng

Trang 35

quặng sắt của Việt Nam không quá 1 tỷ tấn, có thể sản xuất 10 triệu tấn gang thép mỗi năm

Quặng thiếc có ở một số vùng như: Tĩnh Túc (Cao Bằng),Tam Đảo (Vĩnh

Phúc), Lâm Đồng, Tuyên Quang, Nghệ An Tổng trữ lượng quặng thiếc ở Việt Nam dưới 100.000 tấn, khả năng khai thác tối đa 3-5.000 tấn/năm

Quặng nhôm có ở Cao Bằng, Lạng Sơn (200 triệu tấn), đặc biệt vùng quặng

bôxít nam Tây Nguyên có trữ lượng lớn (5-6 tỷ tấn), nằm gần các nguồn thuỷ điện lớn Các loại quặng khác nằm rải rác ở các vùng nhưng trữ lượng không lớn

Với tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú như vậy, chúng ta đã khai thác và xuất khẩu rất nhiều sản phẩm mang lại giá trị kinh tế cao như dầu thô, than

đá, thép…đồng thời các sản phẩm từ thiếc, quặng nhôm cũng là các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn và sẽ được tiếp tục đẩy mạnh khai thác nhằm đem lại hiệu quả xuất khẩu cao trong tương lai

- Tài nguyên nông lâm sản: toàn bộ quỹ đất đai của Việt Nam là 33,1 triệu ha

đứng thứ 58 trên thế giới, bình quân đất tự nhiên theo đầu người thấp đứng thứ 128

trên 200 nước trên thế giới Đất nông nghiệp Việt Nam chiếm một tỷ lệ lớn trên

diện tích cả nước (1/3) và có nhiều loại thổ nhưỡng có giá trị kinh tế cao, thích hợp

cho việc phát triển cây lương thực và cây công nghiệp nhiệt đới có giá trị Nhóm đất

đồng bằng, trong đó đất phù sa là chủ yếu với diện tích trên 3,2 triệu ha chiếm 9,5%

diện tích cả nước tập trung nhất ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long (trong đó Nam Bộ chiếm 1/2) là cơ sở cho các vùng cây lương thực và cây

công nghiệp ngắn ngày Các miền đất núi cao và cao nguyên, chủ yếu là đất feralit,

chiếm tới 1/2 diện tích tự nhiên của cả nước với hơn 16,5 triệu ha, có độ phì nhiêu không cao nhưng do phát triển trên mẫu ba-dan nên là cơ sở tốt cho việc phát triển

và phân bố cây công nghiệp nhiệt đới có giá trị như cao su, cà phê chè

Rừng Việt Nam chiếm một diện tích rộng lớn 9,6 triệu chiếm trên 1/3 diện tích

cả nước, trong đó có 8,6 triệu ha là rừng tự nhiên Rừng Việt Nam có khả năng cung cấp nguyên liệu liên tục và lâu dài với chất lượng cao cho công nghiệp, nếu khai thác và bảo vệ rừng đúng đắn và phát triển trồng rừng Trữ lượng gỗ trung bình của rừng Việt Nam là 53 m3/ha, có nhiều loại có giá trị quốc tế lớn như lim, sến, lát hoa,

Trang 36

gụ, mỡ, chò chỉ, săng lẻ, tếch, bồ đề Bên cạnh nguồn gỗ lớn, rừng Việt Nam có nhiều tre, trúc, giang, nứa, song, mây là nguồn nguyên liệu lớn cho ngành công nghiệp giấy và mỹ nghệ phẩm

- Tài nguyên thủy hải sản: Việt Nam có trên 1,2 triệu ha sông suối, hồ ao,

kênh nuôi tôm, nuôi cá nước ngọt Cả nước có 500.000 ha diện tích mặt nước nuôi

trồng thuỷ sản trong đó có 300.000 ha đầm nước mặn

Bờ biển Việt Nam dài 3200 với diện tích vùng biển khoảng 1 triệu km2

, nhiệt

độ vùng biển tương đối ấm, ổn định quanh năm, thích hợp cho sự sinh trưởng của các loại thuỷ sản nước lợ, nước mặn Biển Việt Nam có mật độ cá vào loại trung bình trên thế giới nhưng có đủ các loại hải sản của biển nhiệt đới khác thậm chí mật

độ cao hơn Tổng trữ lượng hải sản khoảng 3-3,5 triệu tấn cho phép khai thác hàng năm từ 1,2 - 1,4 triệu tấn Tài nguyên sinh vật biển phân bố chủ yếu tại 4 ngư trường lớn: Minh Hải - Kiên Giang; Ninh Thuận - Bình Thuận - Bà Rịa - Vũng Tàu; Hải Phòng - Quảng Ninh; Hoàng Sa - Trường Sa

(Bộ Tài nguyên và môi trường Việt Nam)

3 Nguồn nhân lực

Theo kết quả tổng điều tra dân số tính đến thời điểm tháng 4/2009 nước ta có 85.789.573 người, đứng thứ ba ASEAN và thứ 13 trên thế giới Kết quả cũng cho thấy, Việt Nam hiện đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” - thời kì mà nhóm dân

số trong độ tuổi lao động cao gần gấp đôi nhóm dân số phụ thuộc Đến thời điểm 0 giờ ngày 1/4/2009, cả nước có 43,8 triệu người trong độ tuổi lao động đang làm việc (chiếm 51,1% dân số)

Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm Điều này, phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển

(Thông tấn xã Việt Nam, 2009)

Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề Đến nay, nguồn nhân lực nông dân có gần 62 triệu người, bằng hơn 70 % dân số của cả nước Nguồn nhân lực công nhân là 9,5 triệu người, bằng gần 10% dân số của cả nước Nguồn

Trang 37

nhân lực trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, bằng

2,15% dân số của cả nước (Đức Vượng, 2010)

Có thể nói, nguồn lao động dồi dào, giá lao động rẻ là một lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn chuyển tiếp

Theo báo cáo mới nhất năm 2009 của tổ chức liên hợp quốc chỉ số phát triển

con người HDI (Human Development Index) của Việt Nam xếp thứ 116/182 nước

Nhìn chung, chỉ số HDI của Việt Nam có tăng đều qua các năm (trong giai đoạn

1985 -2007, mỗi năm HDI của Việt Nam tăng thêm 1,16%, bất kể có lúc kinh tế tăng trưởng chậm lại) thế nhưng có thể thấy sự chênh lệch về cuộc sống của người dân ở các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng với các nước phát triển

vẫn ở mức khó chấp nhận (Viện khoa học nghiên cứu nhân tài, nhân lực, 2009)

Người lao động Việt Nam thông minh, cần cù có truyền thống sản xuất, khéo léo và có khả năng tiếp thu nhanh về khoa học - kỹ thuật Tuy nhiên, nguồn nhân lực hiện nay của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế, xã hội

và hội nhập quốc tế, chưa có những đóng góp lớn để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm Chất lượng lao động còn rất thấp, yếu kém, bất hợp lý về cơ cấu ngành, nghề Chính vì vậy, việc tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đang là vấn đề mà chúng ta đang đặt ra hiện nay

4 Cơ chế chính sách điều chỉnh việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Đảng và Nhà nước ta

Hiện nay dưới chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, quan hệ kinh tế quốc tế ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi căn bản Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước ta luôn nêu cao phương châm mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế, khuyến khích mọi nhà sản xuất kinh doanh nước ngoài đầu tư vào nước ta Đáp ứng yêu cầu đó, chính phủ đã ban hành các chính sách thương mại và các biện pháp cụ thể nhằm thực hiện các chính sách này Hiện

đa số các chính sách của chính phủ đều tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu Điều này đã tác động không nhỏ tới việc chuyển dịch cơ cấu trong toàn bộ nền kinh tế hoạt động xuất nhập khẩu

Trang 38

Từ tháng 12/1987, Chính phủ đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt

Nam, đã tạo ra những điều kiện hấp dẫn thu hút nguồn vốn từ nước ngoài với nhiều hình thức, tập trung cho việc khai thác các nguồn lực trong nước nhằm đẩy mạnh việc hình thành các mặt hàng xuất khẩu Điều này đã tạo nên những bước ngoặt lớn trong hoạt động kinh tế của nước ta, bước đầu tạo nên một nguồn lực quan trọng để

mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hội nhập với thị trường thế giới, và tất cả các thành phần kinh tế được khuyến khích tham gia vào sản xuất hàng xuất khẩu Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, Luật Đầu tư nước ngoài mới nhất được ban hành vào năm 2005 Việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong suốt 20 năm qua

Tiếp theo đó là hàng loạt các luật như: Luật Khuyến khích đầu tư trong nước

1994 (sửa đổi 1998); Luật Thương mại 1997 (sửa đổi 2005) ra đời cũng đã có

những tác động không nhỏ đến kinh tế nước ta nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng

Bên cạnh các luật, và các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu, chính phủ cũng đã có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thông qua các hội chợ triển lãm, thông qua các bộ máy thương vụ tại các nước Ngoài ra các nghị định, quyết định, thông tư đã có tác dụng hỗ trợ đầu tư và tạo nguồn hàng, chuyển dịch cơ cấu sản xuất hướng về xuất khẩu, xúc tiến tiến thương mại, thực hiện các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài…

Có thể nói, với các cơ chế chính sách được nhà nước ban đã mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế, khuyến khích mọi nhà sản xuất kinh doanh nước ngoài đầu tư vào nước ta trong những năm vừa qua đã tạo điều kiện rất tốt và quyết định trong việc hình thành phát triển các mặt hàng và thị trường xuất khẩu

5 Nhu cầu của thị trường thế giới

Hiện nay, nhu cầu của thị trường thế giới thay đổi cực kì nhanh chóng Người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi cao hơn những khâu dịch vụ đi kèm và đây là lĩnh vực luôn thay đổi và gây nhiều xáo trộn Nhu cầu với các sản phẩm của các quốc gia

Trang 39

không ngừng thay đổi mà yếu tố đầu tiên là tính hữu dụng của sản phẩm đó Người sản xuất không chỉ bán được hàng mà còn phải thoả mãn những yêu cầu ngày càng khắt khe hơn của thị trường Nhu cầu thay đổi đòi hỏi phải có nhiều mặt hàng mới Hàng ngoại nhập với ưu thế giá rẻ hay mẫu mã phong phú, đa dạng, đặc biệt là tính khác biệt của sản phẩm luôn là một yếu tố lôi cuốn người tiêu dùng khi đã quá nhàm chán với những sản phẩm sản xuất trong nước Đây chính là yếu tố có tác dụng kích thích phát triển sản xuất và mở rộng mặt hàng xuất khẩu xét từ phía

“cầu” của thị trường thế giới

Một xu hướng khác là ngày càng có nhiều người tiêu dùng ưa sử dụng những sản phẩm có nhãn mác rõ ràng Do có quá nhiều sản phẩm mới xuất hiện trên thị trường nên người tiêu dùng thường có tâm lý thận trọng khi mua sản phẩm mới chưa có thông tin rõ ràng Người tiêu dùng hiện nay có xu hướng lựa chọn cho mình một nhãn mác quen thuộc đối với từng loại sản phẩm Các xu hướng trên tác động rất mạnh đến việc định hướng lựa chọn và phát triển các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam

II Thực trạng của việc lựa chọn sản phẩm xuất khẩu

1 Quá trình lựa chọn sản phẩm xuất khẩu

1.1 Trước khi gia nhập WTO

1.1.1 Trước 1991

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã

mở đầu cho thời kì đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước ta Với mục tiêu đổi mới toàn diện trên cơ sở nhấn mạnh mục tiêu đổi

mới kinh tế, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cụ thể là: thực hiện bằng được ba chương

trình kinh tế lớn đó là Lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

Về xuất khẩu, mục tiêu của chúng ta là tạo được một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch cao và tăng trưởng nhanh để đáp ứng được phần lớn nhu cầu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc, phụ tùng và những hàng hóa cần thiết

Trong thời kì này, trong chính sách của Đảng và Nhà nước, vai trò của xuất khẩu đã được đề cập đến và được đưa lên thành một trong ba chương trình kinh tế

Trang 40

lớn của cả nước Theo chủ trương và đường lối của Đảng, chúng ta đã đạt được một

số thành tựu bước đầu Kim ngạch xuất khẩu đã tăng gấp ba lần từ năm 1986 đến

1990, đồng thời từ năm 1989, sản xuất của ta đã tăng thêm các mặt hàng có giá trị

xuất khẩu lớn như gạo, dầu thô và một số mặt hàng mới khác Tuy nhiên, tình trạng

xuất khẩu của Việt Nam còn khá manh mún, công tác tổ chức nguồn hàng bằng cách thu gom là chính Vì thế, trong giai đoạn này, chỉ có một số mặt hàng xuất

khẩu chính với kim ngạch cao trên 100 triệu USD đó là dầu thô, gạo, thủy sản và

than đá (Tổng cục thống kê, 2006)

Như vậy, có thể nói, mặc dù đang giai đoạn đầu của thời kì đổi mới, thực hiện chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước, khi xuất khẩu còn chưa thật sự phát triển thì dựa trên cơ sở tận dụng những lợi thế về điều kiện tự nhiên, truyền thống lâu đời Và cũng do lực lượng sản xuất nông nghiệp đang đóng vai trò chủ đạo, mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất và được hình thành đầu tiên chính là gạo Bên cạnh đó, dầu thô, thủy sản và than đá là những mặt hàng xuất khẩu cũng từng bước được hình thành dựa trên nguồn tài nguyên dồi dào về khoáng sản và thủy hải sản của nước ta

1.1.2 Giai đoạn 1991 – 1995

Công cuộc đổi mới được đề ra từ Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI

đã đạt được những thắng lợi đáng kể Trong đó, hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam cũng đã có những chuyển biến rõ rệt, tốc độ tăng xuất khẩu cao, đạt bình quân khoảng 20%/năm Trên thế giới, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên

Xô và các nước Đông Âu đã gây ra cho chúng ta nhiều đảo lộn lớn và đột ngột tình hình xuất khẩu Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII đã diễn ra nhằm đề ra những chủ trương, nhiệm vụ mới nhằm đưa đất nước đi lên Đến giai đoạn này, Đảng và Nhà nước ta đã bắt đầu có sự quan tâm thích đáng hơn đến việc xây dựng chiến lược phát triển cho các mặt hàng xuất khẩu Điều đó được thể

hiện trong nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VII “Cải tiến cơ cấu xuất khẩu theo

hướng tăng tỉ trọng các mặt hàng chế biến, giảm tỉ trọng xuất khẩu nguyên liệu, tạo

Ngày đăng: 09/05/2014, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. C. Mác và Ph, Angghen toàn tập (1993), trang 876 , NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph, Angghen toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph, Angghen toàn tập
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1993
4. THS Lê Thanh Hà; THS Nguyễn Trung Tính (2005), Giáo trình Marketing quốc tế - Trường Đại học Kinh tế quốc dân – NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Marketing quốc tế
Tác giả: THS Lê Thanh Hà; THS Nguyễn Trung Tính
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
5. Nguyễn Diệu Hương (2005) – Thực trạng lựa chọn và phát triển mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam – Khóa luận K40 - Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế - Trường Đại học Ngoại Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lựa chọn và phát triển mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
6. GS – TS Bùi Xuân Lưu; PGS – TS Nguyễn Hữu Khải (2006), Giáo trình Kinh Tế Ngoại Thương, trang 66 – 76, trang 400, Nhà xuất bản lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh Tế Ngoại Thương
Tác giả: GS – TS Bùi Xuân Lưu; PGS – TS Nguyễn Hữu Khải
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động – xã hội
Năm: 2006
9. Nguyễn Trần Quế (1998), Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu trong ngoại thương thời kì công nghiệp hóa của các nền kinh tế Đông Á – NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu trong ngoại thương thời kì công nghiệp hóa của các nền kinh tế Đông Á
Tác giả: Nguyễn Trần Quế
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
11. Tập thể tác giả trường Đại học Ngoại thương (2000). “Giáo trình Marketing lý thuyết”. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Marketing lý thuyết
Tác giả: Tập thể tác giả trường Đại học Ngoại thương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
12. PGS – TS Vũ Thanh Thu (2008) – Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế - NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế quốc tế
Nhà XB: NXB Thống kê
13. Tổng cục Thống kê (2005), Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 20 năm đổi mới (1986 – 2005) – NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 20 năm đổi mới (1986 – 2005) –
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
15. Nguyễn Thị Bình (2009), Về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay và tác động đến Việt Nam, Báo Nhân Dân truy cập ngày 20/3/2010http://www.nhandan.org.vn/tinbai/?top=38&sub=60&article=147689 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay và tác động đến Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Báo Nhân Dân
Năm: 2009
16. Bộ Công Thương (2010), Cổng thông tin về WTO và tiếp cận thị trường, Xuất khẩu gạo – Một năm nhìn lại và những thách thức mới.http://wto.nciec.gov.vn/Lists/Nghin%20cu%20phn%20tch%20tnh%20hnh%20kinh%20t%20Vit%20Nam/Attachments/DispForm.aspx?ID=164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Công Thương (2010), Cổng thông tin về WTO và tiếp cận thị trường, "Xuất khẩu gạo – Một năm nhìn lại và những thách thức mới
Tác giả: Bộ Công Thương
Năm: 2010
17. Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2010), Chiến lược phát triển ngành điều đến năm 2020: Giữ vững vị trí xuất khẩu số 1, truy cập ngày 20/4/2010.http://xttm.agroviet.gov.vn/Site/vi-VN/64/95/35367/Default.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển ngành điều đến năm 2020: Giữ vững vị trí xuất khẩu số 1
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
Năm: 2010
18. Bộ Tài nguyên và môi trường Việt Nam, Thông tin chuyên ngành, ngày truy cập 8/3/2010.http://www.monre.gov.vn/monreNet/Default.aspx?tabid=197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin chuyên ngành
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường Việt Nam
Năm: 2010
19. Cổng thông tin điện tử của chính phủ nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, truy cập ngày 20/4/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Cổng thông tin điện tử của chính phủ nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007
21. Kim Hiền (2010), Xuất khẩu gạo 2009: Đạt con số kỷ lục, Báo điện tử Công Thương, truy cập ngày 15/4/2010http://www.baocongthuong.com.vn/Details/chuyen-dong-cong-thuong/xuat-khau-gao-2009-dat-con-so-ky-luc/32/0/27074.star Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu gạo 2009: Đạt con số kỷ lục
Tác giả: Kim Hiền
Nhà XB: Báo điện tử Công Thương
Năm: 2010
22. Doãn Công Khánh (2007), Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam giai đoạn 2000-2006: thực tiễn và những vấn đề đặt ra, Tạp chí công sản số 20 năm 2007, truy cập ngày 15/04/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam giai đoạn 2000-2006: "thực tiễn và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Doãn Công Khánh
Năm: 2007
23. Nguyễn Thị Nhiễu (2007), Xuất khẩu của nước ta khi là thành viên của WTO, Tạp chí cộng sản số 18/2007, truy cập ngày 25/04/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu của nước ta khi là thành viên của WTO
Tác giả: Nguyễn Thị Nhiễu
Năm: 2007
25. Thông tấn xã Việt Nam (2009), Việt Nam là nước đông dân thứ 13 trên thế giới, truy cập ngày 28/3/2010http://www.vietnamplus.vn/Home/Viet-Nam-la-nuoc-dong-dan-thu-13-tren-the-gioi/20098/13972.vnplus Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam là nước đông dân thứ 13 trên thế giới
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2009
26. Tổng cục hải quan (2009), Hệ thống bảng biểu thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.http://www.customs.gov.vn/DocLib/Forms/AllItems.aspx?RootFolder=%2fDocLib%2fCac%20Bieu%20Thong%20Ke%2fNam2009&FolderCTID=&View={B92039C6-9E23-4567-8E69-7B0C33F599D7} Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục hải quan (2009), "Hệ thống bảng biểu thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Tác giả: Tổng cục hải quan
Năm: 2009
27. Tổng cục hải quan (2010), Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam – Hoa Kì trên đà phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục hải quan (2010)
Tác giả: Tổng cục hải quan
Năm: 2010
29. Viện khoa học nghiên cứu nhân tài, nhân lực, số liệu 522 (2009), truy cập ngày 28/3/2010.http://nhantainhanluc.com/vn/399/2930/contents.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: số liệu 522 (2009
Tác giả: Viện khoa học nghiên cứu nhân tài, nhân lực, số liệu 522
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình khối kim cương của M.Porter - Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam   thực trạng và giải pháp
Hình 1 Mô hình khối kim cương của M.Porter (Trang 21)
Bảng 1: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1991 – 1995 - Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam   thực trạng và giải pháp
Bảng 1 Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1991 – 1995 (Trang 42)
Bảng 3: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ giai đoạn  2001 – 2006 - Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam   thực trạng và giải pháp
Bảng 3 Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ giai đoạn 2001 – 2006 (Trang 46)
Bảng 5: Tỷ trọng xuất khẩu gạo vào các thị trường năm 2009 - Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam   thực trạng và giải pháp
Bảng 5 Tỷ trọng xuất khẩu gạo vào các thị trường năm 2009 (Trang 52)
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2000 – 2009 - Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam   thực trạng và giải pháp
Bảng 6 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2000 – 2009 (Trang 54)
Bảng 7: Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ năm 2005-2009 - Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam   thực trạng và giải pháp
Bảng 7 Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ năm 2005-2009 (Trang 56)
Bảng 8: Cơ cấu các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam năm - Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam   thực trạng và giải pháp
Bảng 8 Cơ cấu các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam năm (Trang 57)
Bảng 9: Tỷ trọng của các thị trường xuất khẩu thời kỳ 1991-2000 - Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam   thực trạng và giải pháp
Bảng 9 Tỷ trọng của các thị trường xuất khẩu thời kỳ 1991-2000 (Trang 63)
Bảng 10: Cơ cấu thị trường xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006 - Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam   thực trạng và giải pháp
Bảng 10 Cơ cấu thị trường xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006 (Trang 65)
Bảng 11: Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc 2000 – 2009 - Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam   thực trạng và giải pháp
Bảng 11 Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc 2000 – 2009 (Trang 71)
Bảng 14: Các mặt hàng xuất khẩu chính  của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2009 - Đề tài : Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của việt nam   thực trạng và giải pháp
Bảng 14 Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2009 (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w