Trước tình hình trên, công ty cổ phần thương mại Nguyễn Kim đã có những chính sách Marketing vô cùng hợp lý, đã liên tục tăng trường qua các năm và là một trong 3 doanh nghiệp bán lẻ lớn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Hoàng Hương Giang
Giáo viên hướng dẫn : ThS Trần Hải Ly
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Trang 2Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nếu như cách đây 2 năm ít ai biết đến cụm từ “ngành công nghiệp bán lẻ” ở
Việt Nam, hoặc số người biết đến thì tỏ vẻ nghi ngờ về tính khả thi của ngành này
thì đến nay, ngành công nghiệp bán lẻ của Việt Nam đã phát triển cả về số lượng và
chất lượng Thị trường bán lẻ Việt Nam hiện nay được đánh giá là có rất nhiều yếu
tố thuận lợi để phát triển Việt Nam luôn duy trì được mức tăng trưởng kinh tế cao
so với các nước trong khu vực; chính sách thu hút đầu tư nước ngoài ngày một cởi
mở; nhu cầu tăng cao của người tiêu dùng với số dân 86 triệu người; tỷ lệ tiêu dùng
trên thu nhập rất cao, với nhiều nước thì mức độ chi tiêu trên tổng thu nhập của
người dân chỉ xấp xỉ dưới 50% thì người tiêu dùng Việt Nam dành ra 70% thu nhập
của mình cho chi tiêu Dự báo đến năm 2012, tổng doanh thu dịch vụ bán lẻ của
Việt Nam sẽ đạt 85 tỷ USD
Theo xu hướng chung của thế giới, thị trường bán lẻ Việt Nam cũng đang
chuyển dịch dần cơ cấu, kiểu phân phối hiện đại với các siêu thị, cửa hàng tiện
lợi… đã đem lại ngày càng nhiều doanh thu trong ngành, được dự báo chiếm tới
24% trong năm 2010, và được dự báo sẽ còn tiếp tục thay thế với kiểu phân phối
truyền thống trong quá khứ như chợ, các cửa hàng tạp hóa
Cùng với sự chuyển dịch từ kiểu phân phối truyền thống sang kiểu phân phối
hiện đại còn phải kể tới sự đổ bộ của rất nhiều các doanh nghiệp nước ngoài tới đầu
tư tại Việt Nam, đặc biệt từ sau khi Việt Nam mở cửa thị trường vào 1/1/2009, tạo
nên một cuộc cạnh tranh vô cùng khốc liệt giữa các doanh nghiệp bán lẻ trong và
ngoài nước
Trước tình hình trên, công ty cổ phần thương mại Nguyễn Kim đã có những
chính sách Marketing vô cùng hợp lý, đã liên tục tăng trường qua các năm và là một
trong 3 doanh nghiệp bán lẻ lớn nhất Việt Nam hiện nay với doanh thu trên mét
vuông kinh doanh lớn nhất trong ngành, trở thành một doanh nghiệp vô cùng uy tín
trong mắt người tiêu dùng Do vậy, việc nghiên cứu chiến lược Marketing của công
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Centered
Trang 3ty trong những năm vừa qua, kết hợp với việc phân tích điểm mạnh, điểm yếu nói
chung của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam hiện nay và rút ra bài học kinh
nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam để kiến nghị cho các doanh nghiệp học hỏi
và rút kinh nghiệm để phát triển và một việc làm cần thiết Đó cũng chính là lý do
để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài này
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua phân tích các điểm mạnh và yếu
trong chiến lược Marketing của công ty cổ phần thương mại Nguyễn Kim để rút ra
các bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp bán lẻ, mà chủ yếu là các kinh doanh
kinh doanh theo kênh phân phối hiện đại tại Việt Nam, đồng thời đề ra một số các
giải pháp nhằm cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận về chiến lược Marketing của công
ty cố phần thương mại Nguyễn Kim và những vấn để thực tế về phát triển bán lẻ,
đặc biệt là qua kênh phân phối hiện đại tại Việt Nam hiện nay
Phạm vị nghiên cứu:
Về không gian: Nghiên cứu hoạt động của Nguyễn Kim trên cả nước, nhưng
chủ yếu là hoạt động Marketing tại Hà Nội Về thực tế phát triển bán lẻ nói chung
sẽ nghiên cứu trên phạm vi cả nước
Về thời gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu chiến lược Marketing và thực tế
phát triển bán lẻ tại nước ta từ năm 2007 trở lại đây
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh
để nghiên cứu và trình bày những vấn đề đặt ra
Trang 4Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
Chương II: Phân tích chiến lược Marketing của công ty cổ phần
thương mại Nguyễn Kim
Chương III: Định hướng phát triển bán lẻ và bài học kinh nghiệm từ
Nguyễn Kim cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
Trang 5CHƯƠNG I :
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING VÀ CHIẾN LƯỢC
MARKETING TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH
DOANH DỊCH VỤ
1.1 Lý luận chung về Marketing
1.1.1 Khái niệm Marketing
Marketing là một khái niệm rộng lớn, vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau
về Marketing Tuy vậy, không có một định nghĩa nào được coi là duy nhất đúng, có
thể nêu ra một vài định nghĩa như sau:
Theo Hiệp hội Marketing Mỹ: “Marketing là tiến hành các hoạt đông kinh
doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận chuyển hàng hóa từ dịch vụ từ người sản
xuất đến người tiêu dùng”
Theo định nghĩa của học viện quản lý Malaisia: “Marketing là nghệ thuật kết
hợp, vận dụng các nguồn lực thiết yếu nhằm khám phá, sáng tạo, thỏa mãn và gợi
lên những nhu cầu của khách hàng để tạo ra lợi nhuận”
Theo Philip Kotler: “Marketing là hình thức hoạt động của con người hướng
vào việc đáp ứng những nhu cầu thông qua trao đổi”
Tóm lại, Marketing là tổng thể các hoạt động của doanh nghiệp hướng tới
thỏa mãn, gợi mở những nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường để đạt được
mục tiêu lợi nhuận
Như vậy, Marketing không chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh
doanh, nó là một triết lý dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc phát
hiện ra, đáp ứng và làm thoả mãn cho nhu cầu của khách hàng Doanh nghiệp cần
phải biết làm thế nào để xác định và phân khúc thị trường, xây dựng giải pháp hấp
dẫn để chào cho khách hàng, và xây dựng thương hiệu với định vị mạnh Họ phải
biết làm thế nào để làm giá cho giải pháp của mình một cách hấp dẫn và hợp lý, và
làm thế nào để chọn và quản trị kênh phân phối để đưa sản phẩm của mình đến
người tiêu dùng một cách có hiệu quả Họ cần phải biết làm thế nào để quảng cáo
Trang 6Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
phải biết áp dụng chiến lược thị trường và phương pháp quản trị phù hợp với thực tế
thị trường đầy kỹ thuật mới trong xu hướng toàn cầu hoá
1.1.2 Mục tiêu và chức năng của Marketing
1.1.2.1 Mục tiêu
Marketing hướng đến ba mục tiêu chủ yếu sau:
Thoả mãn khách hàng: Đây là vấn đề sống còn của công ty Các nỗ lực
Marketing nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, làm cho họ hài lòng, trung thành
với công ty, qua đó thuyết phục thêm khách hàng mới Thỏa mãn khách hàng cũng
chính là tiền đề tạo lợi nhuận lâu dài cho công ty: Marketing phải tạo ra mức lợi
nhuận cần thiết giúp công ty tích luỹ và phát triển
Tạo lợi thế cạnh tranh: Giải pháp Marketing giúp công ty đối phó tốt cách
thách thức cạnh tranh, bảo đảm vị thế cạnh tranh thuận lợi trên thị trường
An toàn trong kinh doanh: Dựa vào Marketing, doanh nghiệp có thể phân
tích, phán đoán những biến đổi trên thị trường, đề ra những bất trắc có thể có và hạn
chế đến mức tối thiểu hậu quả của những rủi ro kinh doanh trên thị trường luôn biến
động
Hìỡnh 1.1: Mục tiêờu của Marketing
(Nguồn : Fundamentals of Marketing, 1994, William J Stanton, Michael J
Etzel, Bruce J Walker)
Khái niệm Marketing
tổ chức
Sự thoả mãn của khách hàng
Formatted: Dutch (Netherlands)
Trang 71.1.2.2 Chức năng
Chức năng của Marketing được xác định tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất
kinh doanh các sản phẩm của doanh nghiệp Nhưng nhìn chung đều dựa trên những
chức năng chủ yếu sau:
- Nghiên cứu tổng hợp về thị trường để phát hiện ra nhu cầu hiện tại và
tiềm năng của thị trường, triển vọng phát triển của thị trường
- Hoạch định các chính sách kinh doanh của doanh nghiệp như: Chính
sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến và hỗ trợ
kinh doanh…
- Tổ chức việc thực hiện các chính sách nói trên như: Tổ chức hoạt
ddoogj nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra sản phẩm mới, tổ chức và hoàn thiện hệ
thống phân phối các sản phẩm
- Điều tiết và thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp như sản xuất, bao
gói, vận chuyển, bán hàng, quảng cáo… theo một chương trình thống nhất
- Thực hiện việc kiểm tra hoạt động kinh doanh theo kế hoạch
Hìỡnh 1.2.Chức năng của Marketing: pháỏt hiện và thoả mãón nhu cầu của kháỏch
hàng
Nguồn: Marketing, 1997, Berkowitz, Kerin, Hartley, Rudelius
Bộ phận của Marketing của công ty
Thoả mãn nhu cầu khách hàng bằng cách tìm đúng sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến
Khám phá nhu cầu khách hàng
Những ý niệm về nhu cầu
Sản phẩm
cụ thể
Thị trường tiềm năng
Formatted: Font: (Default) Times New Roman,
Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Font: (Default) Times New Roman,
Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Font: (Default) Times New Roman,
Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands)
Trang 8Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
1.2 Những vấn đề cơ bản về chiến lược Marketing
1.2.1 Khái niệ m chiế n lược Marketing
Thuật ngữ “chiến lược” từ lâu đã được sử dụng không chỉ trong kinh doanh
mà được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống như quân sự, chính trị…
Trong kinh doanh, do nhiều cách tiếp cận khác nhau, cũng có nhiều cách định nghĩa
chiến lược
Theo Alfred Chandler: Chiến lược là sự xác định các mục tiêu cơ bản, lâu dài
của doanh nghiệp, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ
các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó
Theo McKinsey (1978): "Chiến lược là một tập hợp của các chuỗi hoạt động
được thiết kế nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững."
Trong khi đó, theo Rudolf Grunig và Richard Kuhn (2003): “Chiến lược là
dài hạn, định hướng quản lý và nhằm đảm bảo hoàn thành lâu dài các mục tiêu, mục
đích chủ yếu của công ty”
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng tóm lại, dù được định nghĩa
theo cách nào, chiến lược trong kinh doanh, mà cụ thể là chiến lược Marketing cũng
bao hàm các nội dung chính sau:
- Xác định các mục tiêu cơ bản, dài hạn của tổ chức
- Thu thập thông tin, phân tích, đưa ra các chương trình hành động tổng quát
- Lựa chọn các phương án hành động, triển khai và phân bổ các nguồn tài
nguyên để thực hiện mục tiêu đó
Hoạch định chiến lược Marketing là cơ sở để xây dựng chương trình
Marketing của công ty Chiến lược Marketing đúng đắn là chiến lược Marketing
giúp phân bổ được hiệu quả nhất các nguồn lực trong doanh nghiệp để thực hiện tốt
nhất các mục tiêu trong kinh doanh
1.2.2 Vai trò của chiế n lược Marketing trong hoạ t động kinh doanh
Vai trò của chiến lược Marketing trong nền kinh tế thị trường, khi mà các
doanh nghiệp luôn phải tự vận động trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi là
Trang 9vô cùng to lớn, nếu không có chiến lược Marketing đúng đắn theo đúng tình hình
biến đổi của môi trường, doanh nghiệp rất khó có thể tồn tại và phát triển Nói cách
khác, hoạch định chiến lược Marketing là một trong những nhiệm vụ hàng đầu và
trước nhất của mỗi doanh nghiệp, bởi nó quyết định trực tiếp tới sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp Chiến lược Marketing của doanh nghiệp có những vai trò
chủ yếu sau:
- Phát hiện cơ hội và hiểm họa trong kinh doanh: Với việc nghiên cứu tổng
hợp về thị trường để phát hiện ra nhu cầu hiện tại và tiềm năng của thị trường, triển
vọng phát triển của thị trường, doanh nghiệp có thể nhận biết nhanh chóng và tận
dụng các cơ hội kinh doanh, giảm thiểu những thay đổi và tác động bất lợi của môi
trường Chiến lược Marketing còn giúp doanh nghiệp không những không bị động
trước các tác động bất ngờ của tình hình thị trường, mà còn thấy rõ hoặc dự báo
được cơ may và hiểm họa đến từ môi trường, từ đó chủ động đưa ra các quyết định
kịp thời, làm tăng khả năng thành công trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt
trên thị trường
- Phân bổ hiệu quả các nguồn lực để đạt được mục tiêu: Việc hoạch định cụ
thể các chính sách kinh doanh của doanh nghiệp như chính sách giá, chính sách sản
phẩm, chính sách xúc tiến và hỗ trợ, chính sách phân phối… giúp các doanh nghiệp
có thể phân bổ hiệu quả các nguồn lực (thời gian, tài chính, nhân lực…) cho các
mục tiêu đã xác định và hoạt động trong các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp
được phối hợp một cách thống nhất, đồng bộ và linh hoạt để gây ảnh hưởng tốt nhất
lên thị trường
- Là công cụ điều chỉnh hoạt động kinh doanh: Việc nghiên cứu hoạch định
chiến lược và thực hiện việc kiểm tra kiểm soát việc thực hiện các kế hoạch cho
phép doanh nghiệp có những điều chỉnh kịp thời về mặt chiến lược lâu dài, khắc
phục những điểm chưa được và phát huy những điểm mạnh, nhờ đó có những thay
đổi kịp thời nhằm tăng khả năng cạnh tranh
Trang 10Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
1.2.3 Một số chiế n lược Marketing điể n hình
Chiến lược Marketing của mỗi công ty rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộc
vào tình huống kinh doanh thực tế và ngành nghề kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp Tuy vậy, trên tổng quát, có thể tổng hợp và phân loại chiến lược Marketing
theo một số những chiến lược nhất định Có nhiều cách tiếp cận và phân loại khác
nhau, sau đây là một số chiến lược điển hình
1.2.3.1 Chiến lược Marketing theo vị thế cạnh tranh
Phân loại chiến lược Marketing theo vị thế cạnh tranh là một trong những
cách phân loại hay được áp dụng Theo đó, các doanh nghiệp được sắp xếp và phân
loại theo thị phần và vị thế cạnh tranh trong ngành
Trên thị trường trong một giai đoạn nhất định với trình độ nhất định hình
thàh một số hãng nắm vai trò là: người đứng đầu thị trường, hãng thách thức thị
trường, các hãng đi theo và các hãng nép góc Đối với mỗi một loại hãng có thể
hình thành một số chiến lược riêng biệt như sau:
Với các hãng dẫn đầu thị trường, họ phải bảo vệ thị phần hiện tại của mình
hoặc làm tăng thị phần của mình, phải phòng thủ tích cực trước những tấn công của
các hãng khác, đặc biệt là những hãng thách thức thị trường Các chiến lược phòng
thủ được sử dụng như:
- Phòng thủ vị thế: đây là chiến lược hay được sử dụng nhằm duy trì vị trí
của mình bằng tất cả nỗ lực Marketing – Mix và bằng các nguồn lực bên trong của
hãng
- Phòng thủ mạn sườn: là một kiểu chiến lược khác mà hãng dẫn đầu thị
trường có thể lựa chọn khi tập trung vào việc bảo vệ những điểm yếu có thể có ví dụ
như hệ thống phân phối hay mức giá cao…
- Ngoài ra hãng có thể sử dụng một số chiến lược khác tùy thuộc vào điều
kiện của mình cũng như mức độ cạnh tranh trên thị trường như chiến lược hạ thủ
trước, chiến lược phòng thủ bằng phản công, chiến lược phòng thủ cơ động, chiến
lược co cụm…
Trang 11Với các hãng thách thức thị trường, họ là những hãng có những ưu thế nhất
định về khả năng tài chính, kỹ thuật Vì vậy, các hãng này thường áp dụng những
chiến lược Marketing thể hiện tư thế tấn công các đối thủ cạnh tranh Các chiến
lược thường được lựa chọn là:
- Chiến lược tấn công trực diện: đây là kiểu chiến lược mạnh mẽ nhất
nhưng đòi hỏi chi phí cao nhất Theo chiến lược này các hãng thách thức thị trường
triển khai tất cả các hoạt động Marketing có thể để tấn công đối thủ
- Chiến lược tấn công mạn sườn: đòi hỏi hãng phải tìm ra điểm yếu của đối
thủ cạnh tranh
- Chiến lược tấn công đường vòng: là chiến lược cạnh tranh gián tiếp tránh
được sự đối đầu giữa các hãng với đối thủ cạnh tranh Cách thức thể hiện của chiến
lược này là đa dạng hóa sản phẩm, tham gia vào nhiều đoạn thị trường hoặc sự đầu
tư nhảy vọt về công nghệ
Với các hãng đi theo, họ phải tránh sự đối đầu trực tiếp của các đối thủ cạnh
tranh là các hãng dẫn đầu thị trường Các chiến lược áp dụng phổ biến là:
- Chiến lược theo sát: theo chiến lược này, các hãng đi theo cố gắng bám sát
các hãng dẫn đầu càng nhiều càng tốt nhưng không tạo ra sự nghi ngờ, để ý từ các
hãng dẫn đầu
- Chiến lược theo sau có chọn lọc: chiến lược này tập trung vào một số đoạn
thị trường có khả năng thu lợi nhuận cao
Với các hãng nép góc Các hãng nép góc là các hãng nhỏ có vai trò lấp chỗ
trống trên thị trường Hãng theo đuổi chiến lược này phải xác định những khoảng
trống có thể thỏa mãn với các yêu cầu như quy mô đủ lớn và có thể đem lại lợi
nhuận, tiềm năng tăng trưởng đáng kể; các hãng cạnh tranh không biết hoặc bỏ rơi
và phù hợp với khả năng của hãng
1.2.3.2 Chiến lược Marketing theo các chiến lược phát triển
Theo quan điểm của Fred R David (2003), chiến lược kinh doanh được chia
làm bốn nhóm chiến lược sau:
Trang 12Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
+ Chiến lược kết hợp về phía trước: tăng quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối
với các nhà phân phối và bán lẻ
+ Chiến lược kết hợp về phía sau: Tìm kiếm quyền sở hữu hoặc quyền kiểm
soát của các nhà cung cấp
+ Chiến lược kết hợp theo chiều nang: Tìm ra quyền sở hữu hoặc sự kiểm
soát đối với các đối thủ cạnh tranh
- Nhóm chiến lược chuyên sâu:
+ Chiến lược thâm nhập thị trường: Tìm kiếm thị trường tăng lên cho các sản
phẩm hiện tại và các dịch vụ trong các thị trường hiện có qua những nỗ lực tiếp thị
nhiều hơn
+ Chiến lược phát triển thị trường: Đưa các sản phẩm và dịch vụ hiện có vào
các khu vực mới
+ Chiến lược phát triển sản phẩm: Tăng doanh số bằng việc cải tiến hoặc sửa
đổi các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có
- Nhóm chiến lược mở rộng hoạt động:
+ Chiến lược đa dạng hóa hoạt động đồng tâm: Thêm vào các sản phẩm hoặc
dịch vụ mới nhưng có liên hệ với nhau
+ Chiến lược đa dạng hóa hoạt động kiểu hỗn hợp: Thêm vào những sản
phẩm hoặc dịch vụ mới không có sự liên hệ với nhau
+ Chiến lược đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang: Thêm vào những sản
phẩm hoặc dịch vụ liên hệ theo khách hàng hiện có
- Nhóm chiến lược khác:
+ Chiến lược liên doanh: Hai hay nhiều hơn các công ty hình thành một cong
ty độc lập vì mục đích hợp tác
+ Chiến lược thu hẹp hoạt động: Củng cố lại thông qua cắt giảm chi phí và
tài sản để cứu vãn doanh thu và lợi nhuận đang sụt giảm
+ Chiến lược cắt bỏ bớt hoạt động: Bán đi một chi nhánh hoặc một phần
công ty
+ Chiến lược thanh lý: Bán tất cả tài sản hữu hình và vô hình
+ Chiến lược tổng hợp: Theo đuổi hai hay nhiều chiến lược cùng lúc
Trang 131.3 Nội dung và quy trình xây dựng chiến lƣợc Marketing
trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
1.3.1 Phân tích môi trường kinh doanh
Đây là hoạt động cần làm đầu tiên của mỗi doanh nghiệp khi hoạch định
chiến lược Marketing Hoạt động này bao gồm phân tích môi trường vĩ mô và
nghiên cứu thị trường Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giúp
doanh nghiệp nhận thức được những cơ hội cũng như hiểm họa từ thị trường, từ đó
có những chính sách Marketing hợp lý và kịp thời nhằm tận dụng những cơ hội hay
như đối phó với các hiểm họa
1.3.1.1 Phân tích môi trường vĩ mô
Mô hình được nghiên cứu rộng rãi nhất trong việc nghiên cứu môi trường vĩ
mô là mô hình PEST, dùng để nghiên cứu các tác động của các yếu tố trong môi
trường vĩ mô tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bốn yếu tố đó là:
Thể chế- luật pháp (Political), Kinh tế (Economics), Văn hóa- Xã Hội
(Sociocultrural) và Công nghệ (Technological)
Đây là bốn yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế, các yếu tố
này là các yếu tố bên ngoài của của doanh nghiệp và ngành, và ngành phải chịu các
tác động của nó đem lại như một yếu tố khách quan Ngoài các yếu tố cơ bản trên,
hiện nay khi nghiên cứu thị trường, các doanh nghiệp phải đưa yếu tố toàn cầu hóa
trở thành một yếu tố vĩ mô tác động đến ngành
a Thể chế - luật pháp
Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một
lãnh thổ, các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát
triển của bất cứ ngành nào Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh
nghiệp sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó Một
số yếu tố được quan tâm nhất là:
Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands)
Trang 14Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
+ Sự bình ổn: bao gồm các yếu tố xung đột chính trị, ngoại giao của thể chế
luật pháp Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt
động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy ra xung đột sẽ tác
động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó
+ Chính sách thuế: Chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ,
thuế thu nhập sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp
+ Các đạo luật và chính sách liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp,luật
lao động, luật chống độc quyền, chống bán phá giá ; chính sách thương mại, chính
sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chính sách điều tiết cạnh tranh,
bảo vệ người tiêu dùng
b Kinh tế
Sự tác động của môi trường này có tính chất trực tiếp và năng động hơn so
với một số yếu tố khác của môi trường vĩ mô Những diễn biến của môi trường kinh
tế vĩ mô bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe dọa khác nhau đối với từng
doanh nghiệp trong các ngành khác nhau, có ảnh hưởng tiềm năng tới các chiến
lược của doanh nghiệp Một số yếu tố cơ bản được quan tâm nhất: xu hướng tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP); lãi suất và xu hướng
lãi suất; cán cân thanh toán quốc tế; mức độ lạm phát; hệ thống thuế và mức thuế…
c Văn hóa - xã hội
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã
hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực
đó Yếu tố văn hóa thường có ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại và phát triển của một
doanh nghiệp, ví dụ như tập quán mua hàng ở chợ ở các nước đang phát triển và
thói quen mua hàng trong các siêu thị và trung tâm thương mại ở các nước phát
triển Tuy vậy ngày nay đã xuất hiện những giao thoa văn hóa của các nền văn hóa
khác vào các quốc gia Sự giao thoa này sẽ thay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống, và
tạo ra triển vọng phát triển với các ngành
Trang 15Bên cạnh văn hóa, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quan
tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các
nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập khác nhau:
- Tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, ăn uống
- Thu nhập trung bình, phân phối thu nhập
- Lối sống, học thức,các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống
- Điều kiện sống
Cả hai yếu tố văn hóa và xã hội đều đòi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư
nghiên cứu rất kĩ càng để có thể tìm ra cơ hội và hiểm họa trong kinh doanh
d Yếu tố công nghệ
Các ảnh hưởng công nghệ tạo ra cơ hội cũng như nguy cơ trong quá trình
quản lý chiến lược cho doanh nghiệp Tiến bộ kỹ thuật có thể tạo ra những thị
trường mới, kết quả là tạo ra những sản phẩm mới và khiến những sản phẩm và dịch
vụ hiện có trở nên lỗi thời Yếu tố này đặc biệt ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà sản
xuất liên quan đến các lĩnh vực như viễn thông, tin học, thông tin… Do đó, các nhà
kinh doanh kim khí điện máy cũng cần chú ý đến các yếu tố này trong quá trình
đàm phán với các nhà cung cấp hàng hóa nhằm tạo ra những cơ hội cho chính mình
e Yếu tố hội nhập
Yếu tố hội nhập là yếu cố mới được các doanh nghiệp đưa vào phân tích
trong những năm gần đây, khi quá trình hội nhập kinh tế diễn ra ngày càng mạnh
mẽ, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, các quốc gia trong việc phát triển sản xuất,
kinh doanh Toàn cầu hóa tạo ra các sức ép cạnh tranh, các đối thủ đến từ mọi khu
vực Quá trình hội nhập sẽ khiến các doanh nghiệp phải điều chỉnh phù hợp với các
lợi thế so sánh, phân công lao động của khu vực và của thế giới Bên cạnh đó, các
rào cản về thương mại sẽ dần dần được gỡ bỏ, các doanh nghiệp có cơ hội buôn bán
với các đối tác ở cách xa khu vực địa lý, khách hàng của các doanh nghiệp lúc này
không chỉ là thị trường nội địa nơi doanh nghiệp đang kinh doanh mà còn các khách
Trang 16Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
1.3.1.2 Nghiên cứu thị trường
Theo định nghĩa của Wikipedia, việc nghiên cứu thị trường trong Marketing
rất rộng, nghiên cứu thị trường bao gồm nghiên cứu những vấn đề sau:
- Nghiên cứu khách hàng và hành vi mua sắm của khách hàng
- Nghiên cứu hàng hóa
- Xác định quy mô và các đặc tính của thị trường
- Phân tích thị trường theo mô hình Năm áp lực của Michael Porter
a Nghiên cứu khách hàng và hành vi mua sắm của khách hàng
Đây là nội dung đầu tiên của việc nghiên cứu thị trường đối với doanh
nghiệp, bởi khách hàng chính là người quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trên
thị trường Nghiên cứu khách hàng bao gồm những nội dung chủ yếu sau: xác định
khách hàng của doanh nghiệp, xác định những yếu tố quyết định việc mua hàng, tập
tính mua hàng hay những thói quen mua hàng của khách hàng
- Xác định khách hàng: khách hàng có thể là người tiêu dùng cuối cùng,
những nhà bán buôn bán lẻ trên thị trường hay các cơ quan
- Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng: bao gồm mức thu nhập
của cá nhân và gia đình, kết cấu tiêu dùng trong thu nhập và các yếu tố khác như
trình độ văn hóa, tuổi tác, nghề nghiệp, môi trường địa lý…
- Phân tích các thói quen mua hàng của khách hàng: là việc xem xét quá
trình mà người mua hàng trải qua để đi đến quyết định mua hàng, gồm các giai đoạn
xuất hiện nhu cầu, tìm kiếm thông tin, so sánh đánh giá các phương án, quyết định
mua và cuối cùng là phản ứng với hàng đã mua
b Nghiên cứu hàng hóa
Bước này nhằm đáp ứng một trong những yêu cầu rất quan trọng của
Marketing là chỉ sản xuất những hàng hóa mà thị trường cần chứ không phải sản
xuất những gì doanh nghiệp có thể sản xuất được
Trang 17Nghiên cứu hàng hóa gồm những việc nghiên cứu chất lượng hàng hóa và
năng lực cạnh tranh của hàng hóa
- Chất lượng hàng hóa: là việc nghiên cứu chất lượng tương quan của hàng
hóa trong sự gắn kết với những yêu cầu từ người tiêu dùng Ví dụ như doanh nghiệp
có bản hàng đảm bảo nguồn gốc xuất xứ hay không
- Năng lực cạnh tranh của hàng hóa: gồm các giá trị cộng thêm cho hàng hóa
dịch vụ như giá cả hợp lý, dịch vụ sau bán hàng chu đáo, bảo hành nhanh…
c Xác định quy mô và đặc tính của thị trường
Xác định quy mô thị trường là việc xác định lượng cầu của thị trường về loại
hàng hóa nào đó, trong đó lượng cầu của thị trường là khối lượng hàng hóa có thể
bán được trên một phạm vi thị trường và trong một thời kì nhất định, thường tính là
một năm, được thể hiện bằng hiện vật hoặc bằng giá trị Ví dụ: dung lượng thị
trường ô tô ở Hoa Kỳ là 10 triệu chiếc hay 50 tỷ đô la Xác định lượng cầu của thị
trường là cơ sở cho việc đánh giá khả năng bán hàng của doanh nghiệp
Dung lượng thị trường có thể tính cho toàn bộ thị trường hay từng đoạn thị
trường, chịu ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố như: nhân khẩu, kinh tế, công nghệ,
văn hóa và nỗ lực Marketing, bởi vậy các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kĩ càng
đầy đủ các yếu tố để xác định dung lượng thị trường tại thời điểm hiện tại và xu
hướng trong tương lai
Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cũng cần xác định rõ
đặc diểm của từng thị trường, thị trường người tiêu dùng và thị trường doanh nghiệp
dưới nhiều góc độ như cơ cấu, chủng loại hàng hóa, cạnh tranh, quyết định mua
hàng, yêu cầu về dịch vụ, kênh phân phối… để có thể hoạch định chiến lược một
cách đúng đắn, phục vụ từng đối tượng khách hàng hiệu quả hơn
d Phân tích thị trường theo mô hình Năm áp lực của Michael Porter
Michael Porter nhà quản trị chiến lược nổi tiếng của trường đại học Harvard
trong cuốn sách " Competitive Strategy: Techniques Analyzing Industries and
Trang 18Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
xuất kinh doanh Theo đó, áp lực cạnh tranh sẽ đến từ các nhà cung cấp, khách
hàng, đối thủ tiềm ẩn, sản phẩm thay thế và từ trong chính nội bộ ngành Nghiên
cứu năm yếu tố trong mô hình Năm áp lực, kết hợp với việc nghiên cứu xu hướng
thị trường, năng lực cạnh tranh của hàng hóa như đã đề cập đến sẽ giúp doanh
nghiệp xác định cụ thể những thách thức và cơ hội để có thể hoạch định chiến lược
hiệu quả sau này
Hìỡnh 1.3 Môụ hìỡnh 5 áỏp lực của Philip Kotler
- Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp
Áp lực này phụ thuộc vào số lượng và quy mô nhà cung cấp: Số lượng nhà
cung cấp sẽ quyết định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với
ngành, doanh nghiệp Nếu trên thị trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô
lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh
của ngành
Ngoài ra, khả năng đàm phán của nhà cung cấp cũng phụ thuộc vào khả năng
thay thế sản phẩm của nhà cung cấp - đó là khả năng thay thế những nguyên liệu
đầu vào do các nhà cung cấp và chi phí chuyển đổi nhà cung cấp (Switching Cost)
cũng như thông tin về các nhà cung cấp
Formatted: Font: (Default) Times New Roman,
Trang 19Một ví dụ điển hình về áp lực nhà cung cấp là thị trường chip máy tính Hiện
nay trên thị trường chỉ có 2 nhà cung cấp chip ( Bộ vi xử lý -CPU) cho máy tính là
AMD và Intel Tất cả các máy tính bán ra trên thế giới đều sử dụng bộ vi xử lý của
hai hãng này chính vì quyền lực đàm phán của Intel và AMD với các doanh nghiệp
sản xuất máy tính là rất lớn
- Áp lực cạnh tranh từ khách hàng
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành
Khách hàng được phân làm 2 nhóm: khách hàng lẻ và khách hàng doanh
nghiệp Cả hai nhóm đều gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản
phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh trong ngành thông
qua quyết định mua hàng
Tương tự như áp lực từ phía nhà cung cấp, các tác động đến áp lực cạnh
tranh từ khách hàng đối với ngành phụ thuộc vào quy mô, tầm quan trọng, chi phí
chuyển đổi khách hàng và thông tin khách hàng
Ví dụ như với Wal- Mart là nhà phân phối lớn có tầm ảnh hưởng toàn thế
giới, chính vì vậy, hệ thống phân phối của Wal mart có thể ảnh hưởng tới nhiều
ngành hàng như thực phẩm, hàng điện tử, các hàng hàng hóa tiêu dùng hàng ngày
Wal Mart có đủ quyển lực để đàm phán với các nhà cung cấp về giá cả, chất lượng
sản phẩm cũng như các chính sách Marketing khi đưa hàng vào trong hệ thống của
mình Tại Việt Nam có rất ít doanh nghiệp đủ mạnh để gây được áp lực rõ rệt và
thực sự khác biệt lên các nhà cung cấp, có thể kể tên Metro và Coop Mart
- Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn:
Theo M-Porter, đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trong
ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay
ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỉ
suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành
Trang 20Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
+Những rào cản gia nhập ngành : là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào
một ngành khó khăn và tốn kém hơn như kỹ thuật, vốn, các nguồn lực đặc thù như
bằng phát minh sáng chế, sự bảo hộ của chính phủ…
- Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế
Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn
nhu cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành Áp lực cạnh tranh chủ
yếu của sản phẩm thay thế là khả năng đáp ứng nhu cầu so với các sản phẩm trong
ngành, thêm vào nữa là các nhân tố về giá, chất lượng, các yếu tố khác của môi
trường như văn hóa, chính trị, công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng tới sự đe dọa của sản
phẩm thay thế
Đặc điểm của các sản phẩm thay thế là tính bất ngờ, khó dự đoán của sản
phẩm thay thế : Điều này có thể tạo ra khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc dự
đoán, đôi khi dẫn tới trở tay không kịp trước sự tiến bộ của những sản phẩm thay
thế Chi phí chuyển đổi cũng là một yếu tố ảnh hưởng lớn tới áp lực này Một ví dụ
rõ nét đó là việc các phần mềm mã nguồn mở như Linux hay như ở Việt Nam là
Viet Key Linux giá thành rất rẻ thậm chí là miễn phí nhưng rất ít người sử dụng Lý
do cho thực trạng này chính là vì chi phí chuyển đổi từ hệ điều hành Window và các
ứng dụng trong nó sang một hệ điều hành khác là rất cao và có thể ảnh hưởng đến
hoạt động, các công việc trên máy tính
- Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành
Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với
nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh Trong một
ngành các yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh trên các đối thủ:
- Tình trạng ngành : Nhu cầu, độ tốc độ tăng trưởng ,số lượng đối thủ cạnh
tranh
- Cấu trúc của ngành : Ngành tập trung hay phân tán
+ Ngành phân tán là ngành có rất nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau
nhưng không có doanh nghiệp nào có đủ khả năng chi phối các doanh nghiệp còn
lại
Trang 21+ Ngành tập trung: Ngành chỉ có một hoặc một vài doanh nghiệp nắm giữ
vai trò chi phối ( Điều khiển cạnh tranh- Có thể coi là độc quyền)
Một ví dụ minh họa sinh động đó là trên thị trường cung cấp dịch vụ viễn
thông di động Việt Nam Trước đây, khi chỉ có 2 đại gia cung cấp dịch vụ viễn
thông là Mobiphone và Vinaphone, giá sử dụng các dịch vụ viễn thông rất cao, ít
dịch vụ giá trị gia tăng, và hầu như không có chương trình khuyến mại nào dành
cho khách hàng Sau khi có thêm nhiều hãng khai thác dịch vụ viễn thông gia nhập
thị trường, đặc biệt là Viettel, sự cạnh tranh trong ngành đã tăng lên rõ rệt Các nhà
khai thác mạng hiện vẫn đang chạy đua quyết liệt trong cuộc chiến tranh giành thị
phần khiến giá dịch vụ viễn thông giảm xuống rất rẻ, kèm theo rất nhiều các chương
trình khuyến mại hấp dẫn, các dịch vụ giá trị gia tăng cũng phát triển không ngừng
Với thế hệ mạng di động mới 3G, dự báo sức cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ ngày
càng gia tăng và lúc đó người tiêu dùng sẽ ngày càng được tôn trọng hơn
1.3.2 Phân tích môi trường nội bộ doanh nghiệ p
Môi trường bên trong là bối cảnh thuộc nội bộ doanh nghiệp, gồm những yếu
tố có thể kiểm soát được của doanh nghiệp Phân tích môi trường nội bộ của doanh
nghiệp là cơ sở giúp doanh nghiệp biết rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình so với đối
thủ cạnh tranh, đồng thời giúp các nhà quản trị biết được khả năng nắm bắt lợi thế
cạnh tranh trong từng thời kỳ, nhờ đó có những quyết định phù hợp và kịp thời
Phân tích môi trường bên trong bao gồm ba nội dung chính: xác định các
nguồn lực và xác định vị trí và sự khác biệt của tổ chức
1.3.2.1 Xác đị nh các nguồn lực
Việc xác định nguồn lực thường tuân theo quy tắc 5M trong quản lý, bao
gồm: Tài chính (Money), Nhân lực (Man), Máy móc (Machine), Nguyên liệu
(material), Quản lý (Management)
Trang 22Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
a Tài chính (Money)
Điều kiện tài chính thường được xem là phương pháp đánh giá vị thế cạnh
tranh tốt nhất của công ty và là điều kiện thu hút nhất đối với các nhà đầu tư Để
hình thành hiệu quả các chiến lược cần xác định rõ nguồn tài chính của doanh
nghiệp, nhờ đó có cách phân bổ hợp lý để phát huy được tối đa hiệu quả Phân tích
tài chính bao gồm phân tích một số chỉ tiêu tài chính cơ bản như khả năng thanh
toán, cơ cấu tài sản, cơ cấu vốn, tỉ suất sinh lời…
b Nhân lực (Man)
Trong môi trường kinh doanh luôn biến động như hiện nay, nhân lực của
doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong quá trình thực hiện các chiến lược,
quyết định sự thành bại của doanh nghiệp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp ngành
dịch vụ Những hoạt động chính trong quản trị nguồn nhân lực bao gồm tuyển dụng,
huấn luyện, sử dụng, đãi ngộ, đánh giá, khuyến khích động viên và sa thải
c Máy móc (Machine)
Yếu tố này hàm ý toàn bộ cơ sở vật chất và trình độ công nghệ của doanh
nghiệp Đối với doanh nghiệp sản xuất, yếu tố này bao gồm hệ thống máy móc sản
xuất, bao gói, vận chuyển… Đối với các doanh nghiệp dịch vụ, yếu tố này có thể
được nghiên cứu dưới góc độ các thiết bị phục vụ cho quá trình kinh doanh, ví dụ
như hệ thống thanh toán hiện đại, hệ thống vận chuyển tự động…
d Nguyên liệu (Material)
Yếu tố nguyên liệu bao gồm các yếu tố: xác định tiêu chuẩn nguyên vật liệu,
tiêu chuẩn nhà cung ứng, xác định phương pháp giao hàng, thời hạn giao hàng…
Trang 23e Quản lý (Management)
Trình độ tổ chức quản lý là sự hoàn hảo của cấu trúc tổ chức, tính hiệu quả
của hệ thống quản lý và công nghệ quản lý Mỗi doanh nghiệp là một hệ thống với
những mối liên hệ chặt chẽ với nhau cùng hướng tới mục tiêu
Ngoài ra tiềm lực của doanh nghiệp còn có nhiều yếu tố khác cấu thành, tùy
theo mỗi doanh nghiệp có những điều kiện khác nhau mà tiềm lực này được coi
trọng, tiềm lực kia là thứ yếu Vấn đề là ở chỗ doanh nghiệp phải biết rõ tiềm lực
của mình để từ đó nắm bắt tốt hơn những cơ hội kinh doanh hấp dẫn, phù hợp với
năng lực của mình
1.3.2.2 Xác đị nh vị trí và sự khác biệt của doanh nghiệp
Bất kỳ doanh nghiệp nào tồn tại trên thị rường đều có vị trí nhất định, doanh
nghiệp có thể là doanh nghiệp dẫn đầu thị trường, có thể là doanh nghiệp thách thức
thị trường nhưng cũng có thể là doanh nghiệp nép góc đi theo Nhưng các doanh
nghiệp luôn cố gắng tạo cho mình sự khác biệt, chính sự khác biệt này sẽ giúp
doanh nghiệp thu hút khách hàng và tạo cho mình một chỗ đứng nhất định trong thị
trường Hơn nữa, vị trí của các doanh nghiệp trên các thị trường khác nhau là khác
nhau, doanh nghiệp này có thể đứng đầu một thị trường này nhưng lại là doanh
nghiệp nép góc ở thị trường khác Vì vậy, khi xác định vị trí của một doanh nghiệp
cần quan tâm đâu là thị trường trọng điểm của doanh nghiệp đó và doanh nghiệp đó
có sự khác biệt gì so với các đối thủ cạnh tranh mà nhờ đó mà vị trí của họ sẽ được
cải thiện
Xác định vị trí và sự khác biệt của một doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng
trong việc hình thành chiến lược, tùy theo vị trí và sự khác biệt của doanh nghiệp đó
mà có những chiến lược Marketing khác nhau Nếu không xác định được các yếu tố
này thì nỗ lực Marketing sẽ không đem lại hiệu quả, thậm chí còn dẫn đến sai lệch
trong định hướng kinh doanh
Trang 24Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
1.3.3 Phân tích điể m mạ nh, điể m yế u, cơ hội, nguy cơ (phân
tích SWOT)
Trong các kỹ thuật phân tích chiến lược kinh doanh, một trong những mô
hình hay sử dụng là mô hình ma trận phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy
cơ (viết tắt là SWOT) Phương pháp này giúp ta có thể tổng hợp các kết quả nghiên
cứu môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp và đề ra chiến lược một cách
khoa học Các bước xây dựng ma trận SWOT gồm các bước sau:
- Xác định điểm mạnh điểm yếu chính của công ty và những cơ hội và
nguy cơ mà công ty gặp phải từ môi trường bên ngoài
- Đưa ra các kết hợp từng cặp logic
1.3.3.1 Điểm mạnh (Strengths)
Điểm mạnh là tất cả những đặc điểm, việc làm đúng tạo nên năng lực cho
công ty Điểm mạnh có thể là sự khéo léo, thành thạo của nhân viên, là nguồn lực
của tổ chức hoặc khả năng cạnh tranh (như sản phẩm mới tốt hơn, sức mạnh của
nhãn hiệu, công nghệ kỹ thuật cao hoặc là dịch vụ khách hàng tốt hơn)
Trong thực tế kinh doanh, có nhiều doanh nghiệp không biết tận dụng triệt để
mọi sức mạnh của mình, phân tích điểm mạnh của công ty nhằm xác định xem
doanh nghiệp có lợi thế gì hơn so với đối thủ cạnh tranh, sử dụng có hiệu quả lợi thế
đó để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
1.3.3.2 Điểm yếu (Weaknesses)
Điểm yếu là tất cả những gì công ty thiếu hoặc thực hiện không tốt bằng các
đối thủ khác hay công ty bị đặt vào vị trí bất lợi Điểm yếu có thể có hoặc có thể
không làm giảm khả năng cạnh tranh của công ty, tùy thuộc vào từng điểm yếu
Phân tích điểm yếu của doanh nghiệp để thấy được những điểm chưa tốt
trong doanh nghiệp, cần có những thay đổi kịp thời hoặc có kế hoạch thay đổi và cải
thiện trong tương lai Tuy nhiên, cũng có những điểm yếu mà doanh nghiệp không
thể khắc phục hoặc chưa đủ khả năng để khắc phục Vấn đề quan trọng của phân
Trang 25tích điểm yếu là doanh nghiệp phải nhận biết rõ được những điểm yếu của mình để
hoạch định chiến lược sao cho phù hợp
1.3.3.3 Cơ hội (Opportunities)
Cơ hội hấp dẫn trong thương mại là những khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của
khách hàng đã và sẽ xuất hiện trên thị trường được xem là phù hợp với mục tiêu và
nguồn lực của doanh nghiệp, do vậy doanh nghiệp có đủ điều kiện thuận lợi để khai
thác tốt và vượt qua nó để thu lợi nhuận Phân tích cơ hội là nhằm xác định đâu là
cơ hội tốt, cơ hội hấp dẫn để từ đó có những hướng triển khai nhằm khai thác nhanh
và có hiệu quả hơn những doanh nghiệp khác
1.3.3.4 Phân tích nguy cơ (Threats)
Nguy cơ xuất hiện song song với cơ hội của doanh nghiệp, chi phối mạnh mẽ
mọi hoạt động của doanh nghiệp Những nguy cơ có thể kể đến gồm: những đối thủ
có giá thấp hơn, hàng hóa dễ có những sản phẩm thay thế, thay đổi nhu cầu của
người mua và sở thích của họ… Các nguy cơ xuất hiện ngoài khả năng kiểm soát
của doanh nghiệp, tổ chức Họ chỉ có thể tránh những nguy cơ có thể xảy đến với
mình và nếu phải đối mặt với nó thì cố gắng giảm thiệt hại đến mức thấp nhất Phân
tích nguy cơ giúp doanh nghiệp thực hiện những thay đổi, điều chỉnh cần thiết đối
với những thay đổi, biến động có ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình
1.3.3.5 Các kết hợp chiế n lược của S-W-O-T
Sau khi phân tích đầy đủ các yếu tố điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ,
doanh nghiệp sẽ xây dựng các kết hợp chiến lược Đầu tiên là sự kết hợp giữa điểm
mạnh và cơ hội (S-O) Mục tiêu của kết hợp này là sử dụng điểm mạnh của tổ chức
để khai thác có hiệu quả nhất cơ hội đang có trên thị trường Sự kết hợp thứ hai là
sự kết hợp giữa điểm yếu và cơ hội (W-O), đây là kết hợp nhằm tận dụng cơ hội để
khắc phục điểm yếu Thứ ba, sử dụng điểm mạnh để khắc phục hoặc hạn chế tổn
Trang 26Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
hợp giữa điểm yếu và nguy cơ (W-T), đây là kết hợp nhằm nâng cao sức mạnh của
doanh nghiệp ở những khâu, những bộ phận còn yếu kém và cố gắng khắc phục,
hạn chế tổn thất do nguy cơ gây ra
1.3.4 Xác đị nh mục tiêu của doanh nghiệ p
Mục tiêu của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng làm nền tảng cho mọi hoạt
động cũng như chiến lược phát triển của doanh nghiệp Các mục tiêu Marketing
thường được định hướng từ các mục tiêu của kế hoạch chiến lược cùa tổ chức
Trong trường hợp công ty được định hướng Marketing hoàn toàn, hai nhóm mục
tiêu này trùng nhau Trong các trường hợp khác, các mục tiêu cần được phân loại đo
lường việc thực hiện chúng Các mục tiêu Marketing phổ biến là:
- Lợi nhuận thể hiện ở % doanh số hoặc một lượng tuyệt đối doanh nghiệp
dự định sẽ đạt được sau một thời gian thực hiện chiến lược Marketing
- Lượng bán, thể hiện ở thị phần doanh nghiệp dự định đạt được hoặc lượng
bán tuyệt đối
- Số lượng các trung gian thương mại có tham gia tiêu thụ sản phẩm
- Nhận biết của người tiêu dùng và uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp trên
thị trường
Tùy từng giai đoạn trong quá trình kinh doanh mà hoạt động Marketing tập
trung vào những mục tiêu quan trọng cụ thể Các mục tiêu này cung cấp khuôn khổ
cho kế hoạch Marketing
1.3.5 Xây dựng chính sách Marketing – Mix hướng tới thị
trường trọng điể m
Marketing hỗn hợp (Marketing - Mix) là sự phối hợp hay sắp xếp các công
cụ tiếp thị sao cho phù hợp với hoàn cảnh kinh doanh thực tế của mỗi doanh nghiệp
nhằm đạt được mục tiêu tiếp thị trong thị trường mục tiêu Thuật ngữ này lần đầu
tiên được sử dụng vào năm 1953 bởi Neil Borden, là chủ tịch của hiệp hội
Marketing Hoa Kỳ, sau đó tiếp tục được phát triển bởi E Jerome McCarthy vào
Trang 27năm 1960 và Boom - Bitner vào năm 1981, trở thành Marketing hỗn hợp mở rộng
hay còn gọi là 7P, dành cho các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ
Marketing hỗn hợp là kết quả của quá trình hoạch định chiến lược của mỗi
doanh nghiệp, sau khi đã nghiên cứu kĩ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
của doanh nghiệp Hỗn hợp này bao gồm những yếu tố sau:
- Sản phẩm (Product)
- Giá cả (Price)
- Phân phối (Place)
- Xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh (Promotion)
- Con người (People)
- Quy trình (Process)
- Yếu tố hữu hình (Physical evidence)
1.3.5.1 Sản phẩm (Product)
Sản phẩm là tất cả những cái gì có thể đưa ra thị trường để tạo ra sự chú ý ,
mua sắm, sử dụng hay tiêu thụ nhằm thoả mãn một chu cầu hay mong muốn Sản
phẩm có thể là những vật thể hữu hình, những dịch vụ mang tính vô hình , những
địa điểm (cho thuê địa điểm, thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh), phát minh, sáng
chế Chiến lược sản phẩm có vị trí quan trọng, là nền tảng, xương sống của 7P,
giúp doanh nghiệp xác định phương hướng đầu tư, thiết kế sản phẩm phù hợp thị
hiếu, hạn chế rủi ro, thất bại; chỉ đạo thực hiện hiệu quả các P còn lại trong
marketing hỗn hợp
1.3.5.2 Giá cả (Price)
Giá cả là giá bán là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy sản phẩm hay
dịch vụ của nhà cung cấp Nó được xác định bởi một số yếu tố trong đó có thị phần,
cạnh tranh, chi phí nguyên liệu, nhận dạng sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách
hàng với sản phẩm Việc định giá trong một môi trường cạnh tranh không những vô
cùng quan trọng mà còn mang tính thách thức Nếu đặt giá quá thấp, nhà cung cấp
Trang 28Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
đặt giá quá cao, khách hàng sẽ dần chuyển sang đối thủ cạnh tranh Quyết định về
giá bao gồm điểm giá, giá niêm yết, chiết khấu, thời kỳ thanh toán
1.3.5.3 Phân phối (Place)
Đại diện cho các địa điểm mà một sản phẩm có thể được mua Nó thường
được gọi là các kênh phân phối Nó có thể bao gồm bất kỳ cửa hàng vật lý cũng như
các cửa hàng ảo trên Internet Việc cung cấp sản phẩm đến nơi và vào thời điểm mà
khách hàng yêu cầu là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của bất kỳ kế
hoạch Marketing nào
1.3.5.4 Xúc tiến và hỗ trợ bán hàng (Promotion)
Hỗ trợ bán hàng là tất cả các hoạt động nhằm đảm bảo rằng khách hàng nhận
biết về sản phẩm hay dịch vụ của bạn, có ấn tượng tốt về chúng và thực hiện giao
dịch mua bán thật sự Những hoạt động này bao gồm quảng cáo, catalog, quan hệ
công chúng và bán lẻ, cụ thể là quảng cáo trên truyền hình, đài phát thanh, báo chí,
các bảng thông báo, đưa sản phẩm vào phim ảnh, tài trợ cho các chương trình
truyền hình và các kênh phát thanh được đông đảo công chúng theo dõi, tài trợ cho
các chương trình dành cho khách hàng thân thiết, bán hàng qua điện thoại, bán hàng
qua thư trực tiếp, giới thiệu sản phẩm tận nhà, gởi catalog cho khách hàng, quan hệ
công chúng
1.3.5.5 Con người (People)
Bao gồm tất cả những người trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng tới giá trị
nhận được của sản phẩm hay dịch vụ, bao gồm nhân viên, quản lý và khách hàng
Đối với hầu hết các ngành dịch vụ thì yếu tố con người là yếu tố quyết định, đặc
biệt là những nhân viên tuyến đầu hàng ngày hàng giờ tiếp xúc trực tiếp với khách
hàng, họ vừa là người tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ vừa là người bán hàng
Hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ… của họ đều ảnh hưởng lớn đến tâm lý khách hàng
Do vậy, yếu tố con người, quản lý con người cần phải được đặc biệt chú trọng Con
người ở đây còn là phía khách hàng tiếp nhận dịch vụ Sự tham gia của khách hàng
Trang 29vào quá trình cung cấp dịch vụ, mối quan hệ giữa khách hàng với nhau cũng được
quan tâm trong Marketing dịch vụ
1.3.5.6 Quy trình (Process)
Thủ tục, quy trình phục vụ khách hàng và chuỗi các hoạt động để tiến hành
giao dịch Để gia tăng khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể tiến tới áp
dụng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO nhằm chuẩn hoá qui trình và tăng hiệu quả,
cải tiến, rút ngắn qui trình nhằm tạo ra tiện lợi hơn cho khách hàng như qui trình đặt
hàng, qui trình thu tiền, qui trình nhận hàng, qui trình bảo hành Đầu tư thiết bị,
công nghệ mới, thải hồi thiết bị, công nghệ cũ lạc hậu
1.3.5.7 Các yếu tố hữu hình (Physical evidence)
Là những mặt có thể nhìn thấy được của dịch vụ mà qua đó khách hàng có
thể đánh giá được chất lượng của dịch vụ Bao gồm các cơ sở hạ tầng như trụ sở,
văn phòng giao dịch, trung tâm dịch vụ khách hàng, trung tâm bảo hành, điểm phục
vụ, trang phục nhân viên, cách bài trí, trưng bày, thái độ nhân viên, thời gian phải
chờ đợi khi mua hàng, giao diện trang web…
Marketing 7P là được xem như khung cốt để vận dụng hiệu quả toàn bộ
nguồn lực của công ty nhằm đạt được mục tiêu Nếu sự phối hợp hoạt động những
thành phần marketing được nhịp nhàng và đồng bộ thích ứng với tình huống của thị
trường đang diễn tiến thì doanh nghiệp sẽ có thể thỏa mãn được nhu cầu khách
hàng, gia tăng khả năng cạnh tranh và đạt được mục tiêu kinh doanh
Trang 30Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC MARKETING CỦA CÔễNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG
MẠI NGUYỄN KIM
2.1 Giới thiệu chung về công ty cổ phần thương mại
Nguyễn Kim
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triể n
2.1.1.1 Quá trình hình thành
Trung tâm mua sắm Sài Gòn - Nguyễn Kim có tiền thân là một cửa hàng
chuyên bán sỉ và lẻ các sản phẩm điện tử và điện lạnh được chính thức hoạt động
vào năm 1992
Năm 1996, doanh nghiệp Nguyễn Kim đã mạnh dạn đầu tư hợp tác với Công
ty Cổ phần Chế tạo máy SINCO, đồng thời, chức năng của công ty được mở rộng
sang các lĩnh vực khác như: thương mại, dịch vụ, kinh doanh bất động sản và lắp
ráp các sản phẩm điện tử Cũng trong thời điểm này, Cửa hàng điện máy được phát
triển, chuyển mình và hoàn thiện hơn dưới tên giao dịch mới là Trung Tâm Mua
Sắm Sài Gòn – Nguyễn Kim, chính thức đi vào hoạt động vào ngày 19 tháng 11
năm 2001
Đây được xem là một bước đột phá trong lĩnh vực phân phối chuyên nghiệp
khi lần đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh đã xuất hiện một trung tâm đầu tiên chuyên
phân phối sỉ và lẻ các sản phẩm điện máy, điện lạnh, điện gia dụng, kỹ thuật số và
điện thoại di động
- Tên công ty: Công ty Cổ phần Thương mại Nguyễn Kim
- Tên giao dịch: Trung Tâm Mua Sắm Sài Gòn – Nguyễn Kim
- Trụ sở chính: 63 - 65 - 67 Trần Hưng Đạo, Quận 1, TP Hồ Chí Minh
Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands)
Trang 31- Website: www.nguyenkim.com
Trải qua gần 20 năm hoạt động trong lĩnh vực điện máy, Nguyễn Kim đã
khẳng định được vị thể của mình trong lòng người tiêu dùng, trở thành doanh
nghiệp hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực bán lẻ điện tử điện máy
2.1.1.2 Hệ thống trung tâõm
Với định hướng phát triển trở thành trung tâm điện máy lớn nhất cả nước,
Trung tâm mua sắm Sài Gòn – Nguyễn Kim đã nhanh chóng phát triển hệ thống các
trung tâm sau khi thành lập Tính đến nay, hệ thống siêu thị của trung tâm bao gồm
3 trung tâm và đã phủ sóng được tới hai thành phố lớn nhất cả nước là TP Hồ Chí
Minh và Hà Nội
- Trung tâm mua sắm Sài Gòn – Nguyễn Kim Quận 1
Địa chỉ : Số 63 - 65 - 67 Trần Hưng Đạo, Q.1, TP.HCM; được cải tạo từ
trung tâm Nguyễn Kim từ những ngày đầu thành lập và khai trương lại vào ngày
16/9/2006, rộng 4000 m2
với 5 tầng phục vụ kinh doanh Đây đồng thời cũng là trụ
sở chính của công ty
- Trung tâm mua sắm Sài Gòn – Nguyễn Kim Tân Bình
Địa chỉ: Số 79B Lý Thường Kiệt – Quận Tân Bình – TP.HCM ; gồm 2 tầng
mua sắm với tổng diện tích 4000 m2; được khai trương vào tháng 7/2007
- Trung tâm mua sắm Sài Gòn – Nguyễn Kim Tràng Thi
Địa chỉ: Số 10B – Tràng Thi – Hoàn Kiếm – Hà Nội; gồm 3 tầng kinh
doanh với tổng diện tích 4000 m2; được khai trương tháng 12/2007
Các trung tâm trên đều được xây dựng tại các tuyến phố lớn thuận lợi cho
việc mua sắm của người dân
2.1.1.3 Lĩnh vực kinh doanh
Từ một cửa hàng chuyên bán sỉ và lẻ các sản phẩm điện tử, điện lạnh, hiện
nay Trung tâm Mua sắm Sài Gòn – Nguyễn Kim đã phát triển nhanh và mạnh, trở
thành hệ thống các trung tâm bán lẻ chuyên ngành điện máy cung cấp trên 50.000
sản phẩm, gồm hầu như đầy đủ các sản phẩm điện máy, điện tử, điện lạnh phục vụ
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands)
Trang 32Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
cho nhu cầu của gia đình và tổ chức Hiện nay, các sản phẩm của trung tâm được
chia thành 6 nhóm mặt hàng chính:
- Điện lạnh: Bao gồm các sản phẩm điện lạnh như máy lạnh, tủ lạnh…
- Điện máy: Bao gồm các sản phẩm Tivi, dàn Hifi, loa, dàn Karaoke… chính
hãng của các thương hiệu hàng đầu
- Gia dụng: Bao gồm các sản phẩm như máy hút bụi, lò Viba, máy xay sinh
tố, máy hút khói, máy rửa chén bát, máy ép trái cây, nồi cơm điện…
- Thiết bị giải trí: Bao gồm những sản phẩm giải trí mới nhất như máy quay
phim, chụp hình kỹ thuật số, Ipod, MP3, PM4, Playstation…
- Thiết bị viễn thông: Bao gồm các thiết bị viễn thông như điện thoại bàn,
điện thoại di động và các thiết bị viễn thông khác
- Thiết bị tin học: Bao gồm các thiết bị tin học đa dạng từ máy tính xách tay
nhập khẩu, máy vi tính bàn nguyên bộ đến máy in các loại và nhiều phụ kiện khác
Ngoài việc cung cấp các sản phẩm chính hãng, Nguyễn Kim cũng có các
dịch vụ tư vấn mua sắm, tư vấn sử dụng rất chu đáo và các dịch vụ hậu mãi theo
đẳng cấp quốc tế, gồm các dịch vụ vận chuyển, lắp đặt, bảo hành… được chuẩn hóa
tại toàn bộ các trung tâm thuộc hệ thống
2.1.1.4 Các giải thưởng, chứng nhận chất lượng, danh hiệu
Nguyễn Kim là trung tâm điện máy đầu tiên đạt được chứng nhận hệ thống
quản lý chất lượng quốc tế trên cả nước Tháng 11 năm 2001, Trung tâm mua sắm
Sài Gòn – Nguyễn Kim chính thức lần đầu tiên được tổ chức VBQI cấp chứng nhận
ISO 9001 và Nguyễn Kim được nhìn nhận là Trung tâm điện máy đầu tiên được
thành lập với qui mô lớn và tính chuyên nghiệp cao Sau đó, trung tâm đã đạt được
chứng nhận ISO 9001:2000 vào ngày 19 tháng 01 năm 2003
Trong 2 năm 2007, 2008, Nguyễn Kim là nhà bán lẻ hàng điện máy điện tử
duy nhất tại Việt Nam được xếp trong top 500 nhà bán lẻ hàng đầu Châu Á – Thái
Bình Dương và top 3 nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam Nguyễn Kim tiếp tục là một
trong 10 doanh nghiệp Việt Nam lọt vào Top 500 nhà bán lẻ hàng đầu châu Á-Thái
Bình Dương năm 2009, đứng thứ tư trong các doanh nghiệp Việt Nam về doanh thu
sau thuế với 3.240 tỷ đồng và đứng đầu về doanh thu bình quân trên mét vuông kinh
Trang 33doanh với 311,5 triệu đồng/m2/năm trong năm 2008 (Xem Phụ lục 1: Doanh thu
năm 2008 của 10 nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam)
Nguyễn Kim cũng là trung tâm bán lẻ điện máy duy nhất được lọt vào top 10
doanh nghiệp dịch vụ Tin & Dùng 2009 do người tiêu dùng bình chọn – giải thưởng
do Thời báo kinh tế Việt Nam tổ chức
2.1.2 Cơ cấ u tổ chức và bộ máy công ty
Hìỡnh 2.1: Sơ đồ tổ chức của côụng ty cổ phần thương mại Nguyễn Kim
Nguồn: Phòng nhân sự, công ty cổ phần thương mại Nguyễn Kim
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
KHỐI MARKETING
KHỐI TÀI CHÍNH KẾ HOÀN
KHỐI TỔ CHỨC NHÂN
SỰ
BẢO HÀNH GIAO NHẬN KHO VẬN
TIN HỌC VIỄN THÔNG
ĐIỆN LẠNH
GIẢI TRÍ GIA DỤNG
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands)
Trang 34Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
2.1.3 Sứ mệ nh và tiêu chí phục vụ của công ty
Với tinh thần được đề ra cho toàn công ty là tiên phong vượt thử thách,
Trung tâm Mua sắm Sài Gòn - Nguyễn Kim phấn đấu sẽ trở thành trung tâm thực
hiện phục vụ tốt nhất cả nước với các phương châm: Tất cả cho khách hàng –
Khách hàng cho tất cả (trước đó là “Tất cả vì khách hàng – Tất cả cho khách
hàng”, xem Phụ lục 2: Chính sách chất lượng tại Nguyễn Kim) với tiêu chí hoạt
động là hướng về khách hàng
Nguyễn Kim đã đi tiên phong và thành công trong việc hình thành một mô
hình bán lẻ riêng phù hợp với văn hóa, tập quán của người dân Việt Nơi mà khách
hàng mua sắm yên tâm:
- Hàng chính hãng: Với định hướng chỉ kinh doanh hàng chính hãng,
Nguyễn Kim chỉ phục vụ những sản phẩm chất lượng từ các thương hiệu nổi tiếng
hàng đầu thế giới như Sony, Toshiba, LG, Sanyo, Panasonic, Samsung, Philips…
với chế độ bảo hành chính hãng
- Giá tốt nhất: Với sự hỗ trợ và cam kết của các tập đoàn điện tử hàng đầu,
Nguyễn Kim cũng có chủ trương mang lại cho khách hàng mức giá tốt nhất khi mua
các sản phẩm tại đây
- Đa dạng hoá sản phẩm: Với vị thế là hệ thống chuỗi trung tâm mua sắm
chuyên ngành hàng điện tử lớn nhất hiện nay, sản phẩm bày bán tại hệ thống
Nguyễn Kim vô cùng đa dạng với hơn 50.000 mặt hàng, trong đó có nhiều mặt hàng
độc đáo, như TV LCD lớn nhất thế giới, tủ lạnh Sidebyside, các model máy tính,
máy chụp ảnh kỹ thuật số mới nhất…
- Phong cách phục vụ và tư vấn chuyên nghiệp
Nguyễn Kim nổi bật với phong cách phục vụ tận tình, hiếu khách và tinh tế
ngay từ giai đoạn giữ xe miễn phí cho khách hàng Khi tham quan các gian hàng,
mỗi khách hàng đều được đảm bảo được nhân viên bán hàng tư vấn, giải thích tận
tình mọi thắc mắc để có được quyết định nhanh chóng và đúng đắn nhất
- Miễn phí lắp đặt và vận chuyển: Toàn bộ các dịch vụ chi phí lắp ráp và vận
chuyển được Nguyễn Kim cung cấp hoàn toàn miễn phí cho khách hàng
Trang 35- Hậu mãi chu đáo: Thực hiện các chính sách hậu mãi từ chính hãng, đảm
bảo các thông tin trung trực cho nhu cầu khách hành như tư vấn mua sắm, tư vấn sử
dụng, bảo trì, bảo hành Đặc biệt với ưu đãi dùng thử sản phẩm trong 05 ngày
- Khuyến mãi hấp dẫn: Nguyễn Kim thường xuyên tổ chức các chương trình
trợ giá hấp dẫn dành cho khách hàng, đặc biệt là các mùa cao điểm mua sắm như
dịp cuối năm
2.1.4 Tình hình kinh doanh của Nguyễ n Kim giai đoạ n 2004- 2009
2.1.4.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Nguyễn Kim từ năm 2005 –
2009
Nguyễn Kim là doanh nghiệp luôn đứng đầu về doanh thu trong ngành điện
máy với mức tăng trưởng nhanh qua các năm Điều này được thể hiện rõ nét qua
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Bảng 2.2 Doanh thu của Sài Gòũn - Nguyễn Kim từ năm 2005 – 2009
Đơn vị: tỷ đồng
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của Nguyễn Kim từ 2005 – 2009
Có thể thấy, chỉ trong vòng 4 năm từ năm 2005 – 2009, doanh thu của
Nguyễn Kim đã tăng hơn 6 lần từ 650 tỷ đồng vào năm 2005 lên 4.050 tỷ đồng vào
Formatted: Font: (Default) Times New Roman,
Trang 36Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
năm 2009 Quá trình tăng trưởng mạnh mẽ bắt đầu từ năm 2007 với doanh thu
1.490 tỷ đồng, gần gấp đôi năm 2006 Con số này sau đó tiếp tục tăng lên hơn hai
lần, trở thành 3.240 tỷ đồng vào năm 2008 Có được sự tăng trưởng này là do sự ra
đời của Trung tâm Mua sắm Nguyễn Kim Tân Bình vào 20/07/2007 và Trung tâm
Mua sắm Nguyễn Kim Tràng thi vào 15/12/2007, chỉ 5 tháng sau đó
Những năm còn lại, khi công ty không có sự biến động lớn về quy mô, mức
tăng trưởng vẫn luôn đạt mức từ 25% - 30%, điều này chứng tỏ Ban giám đốc
Nguyễn Kim đã có những bước đi đúng hướng trong tình hình kinh doanh ngày
càng biến động với sự gia tăng mạnh mẽ về cả số lượng và chất lượng phục vụ của
các đối thủ cạnh tranh
Sự mở rộng về quy mô, đồng thời với sự đa dạng và phong phú về sản phẩm,
kết hợp với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và nhu cầu mua sắm của
người dân là tiền đề cho sự phát triển của công ty
2.1.4.2 Tỷ trọng doanh số từng ngành hàng tại Nguyễ n Kim từ năm
Formatted: Dutch (Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands)
Trang 37Tin học 134,100 9% 324,000 10% 405,000 10% 10%
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tình hình kinh doanh của Nguyễn Kim, 2007-2009
Qua bảng trên, có thể thấy tỷ trọng doanh số bình quân từ 2007-2009 tại
Nguyễn Kim tập trung nhiều nhất là ngành điện máy với trung bình 25%, kế đến là
điện lạnh (chiến 23% doanh số), các ngành gia dụng, viễn thông, giải trí và tin học
có tỷ lệ doanh số khá gần nhau với lần lượt là 13%, 11%, 10% và 10% Tổng doanh
số chủ yếu đến từ bán lẻ với 92%, trong khi đó ngành kinh doanh tổng hợp với
nhóm khách hàng chính là các cơ quan, tổ chức chỉ đem lại trung bình 8% doanh số
cho Nguyễn Kim trong 3 năm
2.1.5 Đị nh hướng phát triể n trong những năm tới
Trong thời gian tới, Nguyễn Kim sẽ chú trọng đến những nội dung sau: mở
rộng quy mô; tiếp tục xây dựng và phát triển thương hiệu với độ chuyên nghiệp cao
hơn; nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng và tăng cường hợp tác với các đối tác
lớn nhằm gia tăng lợi ích và sự tiện lợi cho khách hàng, đồng thời nâng cao khả
năng cạnh tranh trên thị trường Mục tiêu của Nguyễn Kim là chinh phục và giữ
vững vị thế tại Việt Nam cũng như tiềm năng vươn ra khu vực và quốc tế
2.1.5.1 Mở rộng về quy mô
Nằm trong chiến lược phát triển đến năm 2014, Nguyễn Kim đã hoạch định
chiến lược phát triển chuỗi trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm trên toàn
quốc Trước hết là định hướng trong tương lai gần Nguyễn Kim sẽ mở rộng quy mô
bằng việc phát triển, xây dựng các trung tâm ở cả 3 khu vực Bắc, Trung, Nam, phát
triển thành hệ thống chuỗi trung tâm bán lẻ Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hà Nôi, Đà
Nẵng…, sau đó sẽ phát triển tại các thành phố, tỉnh thành có tiềm năng kinh tế
Sự chuẩn bị này không ngoài mục tiêu là phục vụ cho nhu cầu mua sắm ngày
càng tăng của khách hàng, đặc biệt với sự chuyển dịch của thói quen mua sắm từ
kênh truyền thống sang kênh hiện đại trong vài năm gần đây, khi mà sức tiêu thụ
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands)
Trang 38Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
hàng hóa qua kênh hiện đại (chuỗi trung tâm bán lẻ chuyên ngành) đặc biệt tăng
mạnh
Minh chứng cho việc phát triển không ngừng này là việc khởi công công
trình “Cao ốc phức hợp Nguyễn Kim Cần Thơ” trên địa bàn thành phố Cần Thơ vào
ngày 26/3/2010 Công trình cao 18 tầng được xây dựng trên diện tích gần 1.980 m2,
tổng diện tích sàn xây dựng gần 26.000m2 Đây là công trình phức hợp bao gồm:
Trung tâm thương mại, dịch vụ, văn phòng, khách sạn, trong đó 6 tầng là trung tâm
thương mại dịch vụ giải trí với phần lớn diện tích dành để kinh doanh các sản phẩm
điện tử tiêu dùng Đây là công trình có quy mô lớn nhất từ trước đến nay tại TP
Cần Thơ với tổng mức đầu tư trên 220 tỷ đồng, dự kiến đi vào hoạt động ngay đầu
năm 2012, sau khi hoàn thành
2.1.5.2 Tạo dựng thương hiệu chuyên nghiệp
Ngoài việc phát triển hệ thống trung tâm mua sắm Nguyễn Kim theo chiều
rộng, Nguyễn Kim định hướng sẽ giữ vững và cải tiến quy trình phục vụ, chất lượng
phục vụ theo đúng quy trình và tiêu chuẩn mà Nguyễn Kim đang áp dụng, từ nguồn
gốc sản phẩm, cách thức bán hàng, dịch vụ hậu mãi, không gian bài trí, phát triển
nguồn nhân lực
2.1.5.3 Tăng cường hợp tác
Nhằm hỗ trợ chiến lược phát triển thành hệ thống chuỗi siêu thị điện máy lớn
nhất, hiện đại nhất tại Việt Nam, Nguyễn Kim đã ký kết các văn bản hợp tác chiến
lược với các tập đoàn điện tử hàng đầu và các đối tác trong lĩnh vực tài chính, ngân
hàng, đầu tư, phát triển và truyền thông Cụ thể, trong những năm qua, Nguyễn Kim
đã có những chương trình khuyến mãi lớn với các đối tác như HP, BKAV, VNPT,
Eximbank, Tiền Phong Bank…
Trang 392.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của công ty cổ phần thương mại Nguyễn Kim
Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp là một trong những bước đầu tiên của doanh nghiệp khi hoạch định chiến
lược kinh doanh Phần này của bài viết sẽ nghiên cứu về môi trường kinh doanh và
môi trường nội bộ của công ty Nguyễn Kim, trong đó nghiên cứu môi trường kinh
doanh bao gồm phân tích môi trường vĩ mô và nghiên cứu thị trường ngành kinh
doanh các sản phẩm điện máy mà doanh nghiệp đang hoạt động
2.2.1 Môi trường kinh doanh
2.2.1.1 Môi trường vĩ mô
a Thể chế - luật pháp
Việt Nam được thế giới đánh giá là một nước có tình hình chính trị ổn định
tương đối cao Mặt khác, việc mức thuế nhập khẩu các mặt hàng điện - điện tử -
điện lạnh trong thời gian gần đây đã làm cho giá của các sản phẩm trong nhóm hàng
này rẻ hơn, dễ tiếp cận tới khách hàng hơn, làm cho ngành hàng này càng trở nên
hấp dẫn Đặc biệt, trong năm 2009, Việt Nam cũng vừa kí kết Hiệp định đối tác
kinh tế Việt - Nhật (EPA) Theo đó, các sản phẩm nghe nhìn điện tử của Nhật Bản
nhập vào Việt Nam sẽ được miễn, giảm thuế theo lộ trình 5 đến 10 năm tùy chủng
loại Mức thuế giảm chia đều bình quân theo từng năm, dựa trên mức thuế cơ bản
được quy định trong EPA Do đó, theo lộ trình các năm tới, các sản phẩm điện điện
tử điện lạnh nhập khẩu từ Nhật Bản sẽ còn được giảm giá hơn nữa
Về ngành bán lẻ nói chung, Việt Nam cũng đã có những biện pháp bảo hộ
nhất định cho các nhà bán lẻ trong nước Theo đó, mặc dù theo quy định, Việt Nam
gia nhập WTO thì các nhà bán lẻ quốc tế khi được cấp phép, có quyền mở điểm bán
lẻ đầu tiên, nhưng, từ điểm bán lẻ thứ hai trở đi, các doanh nghiệp phải tuân thủ việc
kiểm tra nhu cầu kinh tế, đó là phải tuân thủ ba tiêu chí về: Quy mô địa lý, số lượng
nhà cung cấp dịch vụ đang hiện diện trên địa bàn, và sự ổn định của thị trường đối
Trang 40Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
(Netherlands)
ngoài mở chuỗi siêu thị, giành thị trường với doanh nghiệp trong nước, Bộ Công
thương cũng đã ban hành thêm hai tiêu chí để xem xét cấp phép các cơ sở hoạt động
bán buôn của nhà bán lẻ nước ngoài là: Mật độ dân cư trên địa bàn tỉnh, thành phố
và sự phù hợp của dự án đầu tư với quy hoạch của địa phương
Tuy nhiên, có một hạn chế là cho đến bây giờ vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể
về nhu cầu kinh tế và cụ thể hóa các tiêu chí kể trên, cũng như chưa xác định được
thế nào là điểm bán lẻ Vì chưa có sự xác định rõ ràng, cụ thể về tiêu chí lẫn khái
niệm nên không chỉ các doanh nghiệp gặp khó trong các quyết định làm ăn mà cả
bản thân nhiều cơ quan, chính quyền các địa phương cũng rất khó trong việc quản
lý, hoạch định kế hoạch Do việc tuân thủ các quy định không được kiểm soát chặt
chẽ nên đã có không ít trường hợp doanh nghiệp nước ngoài lách luật để phát triển
hệ thống bán lẻ vượt quy định bằng việc lập nhiều công ty mang một thương hiệu
hoặc thông qua mua bán doanh nghiệp, từ đó mở thêm điểm bán lẻ Với các tiềm
lực mạnh về kinh tế, công nghệ, việc không quản lý được việc mở rộng của các
doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài sẽ ảnh hưởng tới sự tồn tại của các doanh nghiệp
bán lẻ Việt Nam
b Kinh tế
Mặc dù phải chịu nhiều tác động từ suy thoái kinh tế thế giới như thu hẹp thị
trường xuất khẩu, thị trường vốn, lao động… cộng thêm thiên tai, dịch bệnh trong
nước nhưng trong năm 2009, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng 5,32%, đứng vào
hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao Trong đó, khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khu
vực dịch vụ tăng 6,63%
Đây là mức tăng trưởng khá ấn tượng trong bối cảnh nhiều chỉ số kinh tế vĩ
mô sụt giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, kinh tế thế giới, đồng thời
cũng phản ánh hiệu quả việc triển khai các gói kích cầu của Chính phủ, tác động
tích cực từ các chương trình Xúc tiến thương mại nội địa và quan trọng hơn là niềm
tin của người tiêu dùng vào sự phục hồi kinh tế trước các giải pháp quyết liệt và kịp