- Phạm vi nghiên cứu: tập trung vào các hoạt động, hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động trong phạm vi tập đoàn Bưu chính Viễn thông - VNPT mà đặc biệt là ở hai công ty Vinaphone
Trang 1CAO XUÂN THỎA
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH
VIỄN THÔNG VIỆT NAM - VNPT
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS,TS HOÀNG VĂN CHÂU
HÀ NỘI- 2011
Trang 2Danh mục bảng biểu, hình vẽ
Hình 1.1 Mô hình tổng quan mạng thông tin di động 2
Hình 2.2 Biểu đồ tăng trưởng số lượng thuê bao của VNPT 42
Hình 3.2 Mong muốn sử dụng dịch vụ di động của khách hμng 67Hình 3.3 Xu hướng phát triển của thanh toán di động 69
Bảng 2.2 Tỷ lệ doanh thu di động trong cơ cấu doanh thu VNPT 33Bảng 2.3 Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu của hai công ty di động so
với tỷ lệ tăng trưởng chung VNPT
34
Bảng 2.5 Tỷ lệ tăng trưởng mạng lưới hμng năm 40Bảng 2.6 Tổng số thuê bao di động của VNPT 41Bảng 2.7 Tỷ lệ tăng trưởng thuê bao di động hμng năm 41Bảng 2.8 Doanh thu hμng năm của dịch vụ thông tin di động 43Bảng 2.9 Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu hμng năm 44Bảng 2.10 Thị phần dịch vụ tại thời điểm cuối năm 2005 46Bảng 2.11 Thị phần dịch vụ tại thời điểm 3/6/2008 46Bảng 2.12 Ngân sách quảng cáo truyền hình báo chí năm 2009 49
Trang 3Danh mục từ viết tắt
arpu Tiền cước phát sinh trên một thuê bao di động ATM Máy rút tiền tự động
AMR Bộ thích ứng đa luồng
imt ủy ban quản lý công nghệ
mms Tin nhắn đa phương tiện
Trang 4msc Trung tâm chuyển mạch dịch vụ di động
vnpt Tập đoμn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
wcdma Công nghệ đa truy nhập theo mã băng rộng
wto Tổ chức thương mại thế giới
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hội nhập như ngày nay, tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế nước ta đã và đang đối mặt với rất nhiều nguy cơ và thách thức mới Ngày càng nhiều doanh nghiệp nước ngoài với công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quả lý và tiềm lực tài chính mạnh xuất hiện làm cho quá trính cạnh tranh diễn ra ngày càng phức tạp hơn, quyết liệt hơn Viễn thông cũng không phải là một ngoại lệ, một số công ty liên doanh với nước ngoài đã có mặt trên thị trường, các doanh nghiệp trong nước cũng ngày càng lớn mạnh hơn, hoạt động hiệu quả hơn do đó sự cạnh tranh trong lĩnh vực này thể hiện rất rõ qua cước phí ngày càng giảm, tần suất xuất hiện trên các phương tiện thông tin quảng cáo luôn ở mức cao nhất
Trước hoàn cảnh đó, với xuất phát điểm là một doanh nghiệp độc quyền VNPT
đã thể hiện rõ những khó khăn khi bắt tay vào cuộc chơi bình đẳng trên thị trường Vẫn nếp suy nghĩ cũ, cách làm cũ đã cho thấy điều đó là không còn phù hợp, khi căn cứ theo kết quả kinh doanh trong mấy năm vừa qua Là những doanh nghiệp ra đời trước những đối thủ cạnh tranh hàng chục năm nhưng chỉ sau ba năm kể từ khi đối thủ cạnh tranh ra đời, cả hai doanh nghiệp của VNPT đã bị mất phần lớn thị phần và cũng mất luôn vị trí dẫn đầu về thị phần Khách hàng cũng có những suy nghĩ không tích cực, những ấn tượng không mấy tốt đẹp về một doanh nghiệp độc quyền trong khi các doanh nghiệp khác cùng ngành với cách làm khác đã đem lại cho khách hàng sự hài lòng nhất định Nếu những hạn chế đó không được sửa chữa, VNPT không đưa ra những cách làm mới thì các doanh nghiệp thuộc VNPT đều mất đi sức cạnh tranh trên
thị trường Nhận thức rõ điều này, thông qua công tác thực tế, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - VNPT” làm đề tài nghiên cứu
Trang 62 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động của Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông – VNPT
Về phát triển dịch vụ, phát triển khách hàng nhằm nâng cao doanh thu, nâng cao thị phần trong thị trường thông tin di động
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ thông tin
di động của tập đoàn Bưu chính Viễn thông - VNPT
- Phạm vi nghiên cứu: tập trung vào các hoạt động, hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động trong phạm vi tập đoàn Bưu chính Viễn thông - VNPT mà đặc biệt là
ở hai công ty Vinaphone và Mobifone
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định cho mình những nhiệm
vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dịch vụ thông tin di động, và hiệu quả kinh doanh
- Đánh giá hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông – VNPT
- Đề xuất một số giải pháp phát triển dịch vụ, phát triển khách hàng, sử dụng nguồn nhân lực, nâng cao công tác quản lý nhằm nâng cao thị phần, doanh thu và hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin của Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông – VNPT
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh và tổng hợp để nghiên cứu lý giải những vấn đề đặt ra Dùng các số liệu báo cáo kinh doanh của MobiFone và VinaPhone để chứng minh, đồng thời cho thấy vị trí của hai doanh nghiệp trên thị
Trang 7trường ở mức nào, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thu hút khách hàng, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
6 Giời hạn của đề tải
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động của VNPT trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
7 Cấu trúc luận văn
Để thực hiện mục đích của Luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; nội dung chính của Luận văn được chia thành 3 chương:
Chương I: Dịch vụ thông tin di động và hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động
Chương II: Thực trạng hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động ở Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)
Trong quá trình cứu đề tài, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của
GS, TS Hoàng Văn Châu, các đồng nghiệp công tác tại công ty Viễn thông Liên tỉnh (VTN) thuộc tập đoàn VNPT đã giúp tôi hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 8Mục lục
danh mục chữ viết tắt
danh mục bảng biểu, hình vẽ
Lời nói đầu
chương i: dịch vụ thông tin di động vμ hiệu quả
kinh doanh dịch vụ thông tin di động……… … 1
1.1 Tổng quan về dịch vụ thông tin di động……… ….………. 1
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ thông tin di động…… ……… ………… 1
1.1.2 Đặc tính kỹ thuật của dịch vụ thông tin di động…… ……… 1
1.1.3 Đặc tính kinh tế của dịch vụ thông tin di động………….……… 7
1.1.4 Các loại hình dịch vụ thông tin di động ……… ………….… 9
1.2 Hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động……… … 9
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh……… 9
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh ………… ………… 12
1.3 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động của một số công ty, tập đoàn viễn thông trên thế giới ……… ……… ………… 16
1.3.1 Kinh nghiệm của Docomo tại Nhật Bản ……… ………… 16
1.3.2 Kinh nghiệm của Korea Telecom tại Hμn Quốc ……… 17
1.3.3 Kinh nghiệm của China Telecom tại Trung Quốc……… 20
1.3.4 Kinh nghiệm của China Mobile Communication tại Trung Quốc 22 1.3.5 Những bμi học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số nhμ khai thác dịch vụ thông tin di động……… 23
Trang 9Chương ii: thực trạng hiệu quả kinh doanh dịch
vụ thông tin di động của tập đoμn bưu chính
viễn thông việt nam (vnpt) ……….………
25 2.1 Vài nét về Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam … 25
2.1.1 Giới thiệu chung về Tập đoμn Bưu chính Viễn thông Việt Nam 25 2.1.2 Ngμnh, nghề kinh doanh.……… 26
2.1.3 Cơ cấu tổ chức……… 27
2.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam ……… ………… 29
2.2.1 Hiệu quả về mặt chính trị xã hội.……… …… 29
2.2.2 Hiệu quả về mặt kinh tế.…… ……… 30
3.2.2.1 Doanh thu và lợi nhuận ……… 30
3.2.2.2 Cơ sở hạ tầng, mạng lưới, công nghệ và qui mô sản suất ……… 31
3.2.2.3 Nguồn nhân lực ……… 33
2.2.3 Hiệu quả đối với dịch thông tin di động của VNPT.………… … 36
2.3 Đánh giá về hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam………… ….……….… 39
2.3.1 Những thμnh tựu đã đạt được ……… … 39
2.3.2 Nguyên nhân vμ những tồn tại cần khắc phục ………….… 45
Chương 3: một số giảI pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động của tập đoμn bưu chính viễn thông việt nam (vnpt) …………
50 3.1 định hướng kinh doanh dịch vụ thông tin di động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam……….….…… 50
Trang 103.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin
di động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam… …….…… 52
3.2.1 Các giải pháp về phát triển sản phẩm………….…… ………… 52
3.2.2 Các giải pháp về giá cước vμ khuyến mại …… ……… 53
3.2.3 Giải pháp về nghiên cứu, dự báo thị trường, nâng cao hiệu quả quảng bá, xây dựng hình ảnh VNPT… ……… 55
3.2.3.1 Giải pháp về nghiên cứu, dự báo thị trường …… …… ….… 55
3.2.3.2 Xây dựng phương thức quảng bá và tiếp thị mới … … 57
3.2.3.3 Xây dựng đội ngũ quan hệ công chúng chuyên nghiệp … 59
3.2.3.4 Về hoạt động chăm sóc khách hàng ……… ………. 61
3.2.4 Kết hợp với ngân hμng, hãng thanh toán phát triển ngân hμng di động vμ thanh toán di động……… ……
61 3.2.4.1 Xu hướng về công nghệ ……… ………… 62
3.2.4.2 Xu hướng tiêu dùng dịch vụ của khách hàng …… … …….… 63
3.2.4.3 Khảo sát nhu cầu và mong muốn tiêu dùng của khách hàng ……….……… 65
3.2.4.4 Thương mại di động ……… ……….… 67
3.2.4.5 Tổ chức chuyển tiền di động ……….… …… 72
3.2.5 Tiếp tục phát triển các thuê bao di động tiềm năng……… 77
3.2.6 Giải pháp về sử dụng nguồn lực, nguồn vốn vμ bộ máy quản lý 81 3.3 Một số kiến nghị……… …….…… 81
Kết luận
Danh mục tμi liệu tham khảo
Trang 11CHƯƠNG I: DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ KINH
DOANH DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG
1.1 Tổng quan về dịch vụ thông tin di động
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ thông tin di động
Dịch vụ thông tin di động là dịch vụ thông tin vô tuyến hai chiều cung cấp cho người sử dụng môi trường và phương tiện kết nối với nhau để sử dụng nhiều loại hình dịch vụ (thoại và dịch vụ số liệu) trong phạm vi phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ Dịch vụ thông tin di động gọi một cách đơn giản là dịch vụ điện thoại trong
đó người sử dụng có thể kết nối, liên lạc với nhau ngay cả khi đang di chuyển trong vùng phục vụ
Dịch vụ thông tin di động có đặc trưng là sử dụng công nghệ không dây vì vậy người sử dụng có thể di chuyển trong khi đàm thoại và phạm vi di chuyển rất rộng bằng toàn bộ vùng phục vụ của mạng Phạm vi này có thể là quốc tế, quốc gia hay tối thiếu cũng là một vài tỉnh, thành phố lớn Chỉ với một máy điện thoại di động, thuê bao đông thời có thể sử dụng rất nhiều dịch vụ thông tin như thoại, số liệu…
1.1.2 Đặc tính kỹ thuật của dịch vụ thông tin di động
Dịch vụ thông tin di động được cung cấp trên một mạng liên kết của nhiều thiết bị kĩ thuật, gọi là mạng điện thoại di động Mạng điện thoại di động có cấu trúc
kỹ thuật rất phức tạp Tuy nhiên để có một khái niệm tổng quát về mạng trên cơ sở
đó quản lý và kinh doanh dịch vụ thông tin di động có hiệu quả Một mạng di động
có các thành phần cơ bản như sau:
Trang 12Hình 1.1: Mô hình tổng quan mạng thông tin di động
MS - Mobistation: Trạm di động
Khái niệm kỹ thuật trạm di động trong thực tế chính là máy điện thoại di động
mà khách hàng sử dụng Trong nhiều trường hợp người ta cũng gọi thiết bị này là thiết bị đầu cuối khách hàng (CPE) MS có thể là thiết bị đặt trong ô tô hay thiết bị xách tay hoặc thiết bị cầm tay Loại thiết bị nhỏ cẩm tay chính là trạm di động phổ biến nhất MS thực hiện chức năng giúp người sử dụng kết nối tới mạng điện thoại
di động (qua môi trường vô tuyến) Ngoài ra cũng cung cấp các giao diện với người
sử dụng (micro, loa, mà hiển thị, bàn phím…) hoặc giao diện với một số thiết bị khác (giao diện với máy tính cá nhân, FAX, camera…)
BTS - Base Transceiver Station: Trạm thu phát gốc
Trạm thu phát gốc trong thực tế thường được gọi tắt là trạm thu phát BTS, là trạm phát sóng vô tuyến cung cấp vùng phủ sóng cho dịch vụ thông tin di động Mỗi BTS sẽ được phủ sóng ở một vài ô tổ ong (cell) có bán kính tùy vào công suất phát tuy nhiên thường khoảng 1,5 - 2km Số lượng trạm BTS càng nhiều thì diện tích vùng phủ sóng càng lớn, vùng phục vụ của dịch vụ thông tin di động càng rộng
Trang 13BSC - Base Stations Controller: Bộ điều khiển trạm gốc
Mỗi BSC thực hiện chức năng điều khiển một nhóm các trạm BTS và kết nối BTS đến các trung tâm chuyển mạch MSC
MSC - Mobile Services Switching Center: Trung tâm chuyển mạch các dịch vụ
di động
MSC thực hiện chức năng chuyển mạch, kêt nối người gọi đến người được gọi
và quản lý cuộc gọi
Như vậy, về cơ bản mạng thông tin di động gồm có 4 thành phần chính Xét từ quan điểm khách hàng, điện thoại di động có đặc điểm nổi bật là có thể di chuyển khi đang liên lạc Điện thoại di động ngoài ra còn đảm bảo tính bảo mật cao hơn các hình thức liên lạc trước đó vì thông tin trước khi truyền và phát dưới dạng sóng điện từ đã được mã hóa nên hạn chế được tình trạng nghe lén cuộc gọi
Chất lượng dịch vụ thông tin di động phụ thuộc vào một số chỉ tiêu chính sau:
- Độ rộng của vùng phủ sóng và chất lượng vùng phủ sóng (tức là sóng phủ có phủ khắp hay không, và sóng có ổn định hay không) Vùng phủ sóng hẹp thì hạn chế phạm vi hoạt động của thuê bao, có những nơi không có sóng và khách hàng đi vào vùng này dịch vụ sẽ không được kích hoạt Chất lượng sóng ổn định sẽ hạn chế tối ta tình trạng “rớt” cuộc gọi hoặc “âm thanh” không ổn định
- “Dung lượng vô tuyến” lớn hay nhỏ Mỗi BTS đều có dung lượng “vô tuyến” nhất định cho phép một số lượng nhất định các thuê bao thực hiện cuộc gọi cùng một lúc Nếu có quá nhiều thuê bao trong cell dùng gọi đi hoặc cùng nhận cuộc gọi thì sẽ có một số thuê bao bị rớt mạng, không thể thực hiện cuộc gọi
- “Dung lượng chuyển mạch” của MSC càng lớn thì thực hiện được càng nhiều các đường xử lý về về BTS, tức là làm cho dung lượng tổng thể của mạng được nâng cao
Trên phương diện kỹ thuật, dịch vụ thông tin di động có thể được triển khai dựa trên nhiều công nghệ khác nhau như công nghệ AMPS (Advanced Mobile
Trang 14Protocol System - Hệ thống di động tương tự), công nghệ GSM (Global System for Mobile communication - Hệ thống di động toàn cầu) hoặc công nghệ CDMA (Code Division Multiple Access - Hệ thống đa truy nhập phân chia theo mã) Công nghệ AMPS hiện nay đã lỗi thời và đang được thay thế trên toàn thế giới Công nghệ GSM ra đời trước CDMA do đó được sử dụng rộng rãi trên thế giới
Tại Việt Nam, mạng thông tin di động tương tự (Analog) với tên gọi Calling của VNPT khai thác tại thành phố Hồ Chí Minh trong những năm 1994 - 2002 sử dụng công nghệ AMP (hiện đã ngừng kinh doanh) Hai mạng điện thoại di động toàn quốc của VNPT là Mobifone và VinaPhone đều sử dụng công nghệ GSM, hiện nay ở nước ta cũng có một số mạng nhỏ sử dụng công nghệ CDMA như là mạng di động S-Fone và EVN Telecom
Thế hệ thứ nhất (1G) – Hệ thống thông tin di động tế bào tương tự
- Hệ thống thông tin tế bào tương tự: ra đời tháng 12/1971 tại Mỹ, được đưa
vào hoạt động từ năm 1973 và triển khai dịch vụ thương mại bắt đầu từ năm 1983
Hệ thống này đã phát triển kỹ thuật thông tin tế bào và di động trên nhiều phương diện, đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, trở thành tiêu chuẩn quốc gia của hệ thống thông tin tương tự của Mỹ - AMPS, hệ thống truyền dẫn dựa trên công nghệ FDMA (Đa truy nhập phân chia theo tần số)
- Hệ thống thông tin di động Bắc Âu (NMT): chủ yếu được phát triển ở các
quốc gia Bắc Âu
- Hệ thống truyền thông truy nhập tổng thể (TACS): được giới thiệu ở Anh vào
năm 1985, dựa trên công nghệ AMPS
Thế hệ thứ ha (2G) – Hệ thống tế bào số
Hệ thống này được phát triển từ cuối thập niên 80 không chỉ số hoá vô tuyến điều khiển mà còn số hoá ở tín hiệu thoại Mục đích của việc số hoá là đưa ra được các dịch vụ mới với chất lượng cao và tăng dung lượng thiết bị, giảm kích thước và giá thành thiết bị Trong thông tin số, trước khi truyền tín hiệu thoại và các thông tin
Trang 15phi thoại như fax, dữ liệu, hình ảnh sẽ được chuyển thành tín hiệu số Việc truyền thông tin số đảm bảo độ tin cậy cao hơn và mức quản lý quy hoạch tốt hơn rất nhiều
so với công nghệ FDMA
- Hệ thống thông tin di động toàn cầu (GSM): GSM là hệ thống tế bào só đầu
tiên GSM được phát triển ở Châu Âu vào năm 1985 GSM sử dụng công nghệ TDMA (Đa truy nhập phân chia theo thời gian) Công nghệ này được các nước Châu Âu và rất nhiều quốc gia trên thế giới triển khai
- TDMA IS-136: công nghệ này được Hiệp hội Công nghệ Viễn thông (ITA)
nghiên cứu vào năm 1988 Hệ thống TDMA IS-136 được phát triển để cải thiện chất lượng của hệ thống điện thoại di động thế hệ tương tự (AMPS) đang được triển khai tại Mỹ
- Hệ thống thông tin di động PDC: được RCR phát triển vào năm 1990, do đặc
tính tương thích với hệ thống điện thoại di động thế hệ tương tự đang được triển khai tại Nhật Bản nên nó nhanh chóng được chào đón và nay vẫn là hệ thống chính phát triển tại Nhật
- CDMA IS-95: vào những năm đầu của thập kỷ 90, khi nhu cầu thông tin di
động tế bào tăng cao (đặc biệt là ở Mỹ) đòi hỏi cần có một kỹ thuật mới để có thể cung cấp dung lượng cao hơn Hiệp hội công nghệ viễn thông TIA đã xây dựng một tiêu chuẩn khác áp dụng cho hệ thống thông tin di động tế bào dựa trên kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo mã (CDMA) và đưa ra chuẩn tế bào (800MHz) cho dịch
vụ băng rộng (chuẩn TIA- IS 95) hỗ trợ máy di động hoạt động cả ở hai chế độ: CDMA và tương tự Trong hệ thống này máy di động có thể chuyển từ mạng CDMA sang mạng tương tự nếu có lệnh chuyển vị từ trạm gốc đến máy di động Hiện nay CDMA được triển khai ở nhiều khu vực trên thế giới
Thế hệ 2,5G
GPRS là một trong những bước chuyển tiếp từ thế hệ thứ hai (2G) sang thế hệ thứ ba (3G), đây được coi là thế hệ 2,5G GPRS là giải pháp cho phép truyền tải và thực hiện các dịch vụ truyền số liệu tốc độ cao trên mạng thông tin di động GPRS
Trang 16thích hợp cho các dịch vụ truyền dữ liệu dạng gói như tải Web, truyền tải dữ liệu hoặc hình ảnh GPRS có đặc tính cho phép người sử dụng đặt chế độ kết nối liên tục, như người sử dụng dùng các dịch vụ e-mail hay Internet Theo các nhà chuyên môn, GPRS là bước chuyển tiếp thích hợp từ công nghệ GSM lên công nghệ 3G và phù hợp với điều kiện Việt Nam
Giai đoạn tiếp theo của GPRS là EDGE và tiến tới phát triển công nghệ 3G trong tương lại EDGE có thể coi là một lớp vật lý chung giữa hau thế hệ 2G và 3G
đã được đề xuất từ năm 1997 cho hệ thống GSM đang chiếm tuyệt đối tại Châu Âu
và nhiều nước trên thế giới
Thế hệ thứ ba (3G) – Công nghệ truyền thông không dây thế hệ thứ ba
Công nghệ 3G liên quan đến những cải tiến trong lĩnh vực truyền thông không dây cho điện thoại và dữ liệu thông qua bất kỳ chuẩn nào đang áp dụng hiện nay Công nghệ này sẽ nâng cao chất lượng thoại, và dịch vụ số liệu sẽ hỗ trợ việc gửi nội dung video và multimedia đến các thiết bị cầm tay và điện thoại thông minh Hai chuẩn chính của 3G là CDMA 2000 và WCDMA
- Hệ thống CDMA: hệ thống này ra đời đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của
dịch vụ thông tin di động tế bào Hệ thống CDMA có nhiều ưu điểm như chất lượng thoại cao hơn, dung lượng hệ thống tăng cao và tính bảo mật rất cao CDMA đưa ra các giải pháp kỹ thuật cải thiện được chất lượng dịch vụ, đặc biệt là khả năng kiểm soát chất lượng thông tin kênh truyền, giảm ảnh hưởng của can nhiều đến chất lượng thông tin
- WCDMA - Phương thức đa truy nhập phân chia theo mã băng rộng: hệ
thống này là một trong nhiều công nghệ chủ đạo của mạng thông tin di động Nó cũng được biết đến là một công nghệ truy nhập Giao diện vô tuyến WCDMA hình thành kết nối giữa thiết bị di động của người dùng với mạng lõi Công nghệ CDMA tạo nên mạng lưới có hiệu quả cao với công suất lớn, trong khi vẫn đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng thoại cao
Trang 171.1.3 Đặc tính kinh tế của dịch vụ thông tin di động
Dịch vụ thông tin di động ngoài việc là một dịch vụ thông thường nó còn là một dịch vụ gắn liền với viễn thông do đó nó có một số đặc điểm kinh tế riêng, khác với một loại sản phẩm hàng hoá thông thường
Nằm trong danh mục các dịch vụ viễn thông, hiện nay dịch vụ thông tin di động được coi là một dịch vụ thiết yếu Hàng ngày, trên thế giới có khoảng 5 tỷ người sử dụng điện thoại di động Hầu hết các tầng lớp xã hội đều có cơ hội sử dụng loại hình dịch vụ này Hơn nữa, dịch vụ thông tin di động là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc của xã hội nên dịch vụ này đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong xã hội, giống như điện, nước, giao thông
Xét về tính chất sử dụng, dịch vụ thông tin di động là sản phẩm tiêu dùng một lần Một phút đàm thoại đã trôi qua thì không thể “sử dụng” lại được Muốn tiếp tục
đàm thoại phải tiếp tục tiêu dùng các đơn vị dịch vụ mới
Xét trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, dịch vụ thông tin di động có tính tức thời và tính tại chỗ Tính tức thời thể hiện ở quá trình tiêu dùng diễn ra đồng thời
với quá trình sản xuất ra dịch vụ Dịch vụ có tính tại chỗ là vì dịch vụ được tạo ra ở đâu thì được bán ngay tại đó
Trong thực tế quá trình bán hàng dịch vụ thông tin di động được chia thành nhiều giai đoạn Thông thường gồm hai giai đoạn chính là thuê bao dịch vụ và sử dụng dịch vụ Thuê bao là khách hàng mua dịch vụ ở giai đoạn thứ nhất, trả cước để hoà mạng và duy trì thuê bao tháng Về bản chất có thể nói ở giai đoạn bán hàng thứ nhất khách hàng đã mua một nửa dịch vụ vì đã có thể thụ động nhận các cuộc gọi đến để trao đổi thông tin với những người khác Giai đoạn này thường chỉ diễn ra một lần và liên quan nhiều nhất đến kênh bán hàng và chăm sóc khách hàng và cũng
là giai đoạn khó khăn nhất, gắn bó chặt chẽ với hoạt động phát triển dịch vụ Giai đoạn này có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người mua và người bán và là điều kiện tiên quyết để tiếp tục giai đoạn hai Giai đoạn bán hàng thứ hai là lúc khách hàng thực hiện cuộc gọi đi nghĩa là chủ động gọi cho người xung quanh để đàm thoại Khi này
Trang 18khách hàng đã mua các đơn vị dịch vụ và chấp nhận trả tiền cho việc tiêu dùng các đơn vị dịch vụ này Giai đoạn hai diễn ra tự động, không có sự tiếp xúc giữa người bán và người mua Giai đoạn này chủ yếu liên quan nhiều đến các vấn đề về chất lượng dịch vụ (chất lượng mạng lưới, chất lượng tính cước ) Đối với dịch vụ thông tin di động trả tiền trước, ngoài hai giai đoạn bán hàng nói trên còn có hoạt động mua bán thẻ trả trước Hoạt động bán thẻ trả trước lặp đi lặp lại nhiều lần (suốt đời thuê bao trả trước), có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người mua và người bán và có tính cạnh tranh cao nhất
Dịch vụ thông tin di động có hệ số co giãn cầu theo giá dạng bậc thang giống như đa số các dịch vụ viễn thông khác: Hệ số co giãn của cầu theo giá của dịch vụ
thông tin di động có đặc điểm là một sự giảm giá nhỏ sẻ không có ảnh hưởng đến sự thay đổi về cầu Hay nói theo ngôn ngữ kinh doanh dịch vụ di động là “mức giảm giá nhỏ sẽ không làm tăng tốc độ phát triển thuê bao cũng như lưu lượng đàm thoại của các thuê bao” Khi thực hiện một mức giảm giá đủ lớn (mức ngưỡng) thì cầu dịch vụ thông tin di động đột ngột tăng hay còn gọi là bùng nổ Trong thực tế, mỗi đợt giảm giá của nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động đều kéo theo số lượng thuê bao tăng ồ ạt Để duy trí số lượng thuê bao, trước mỗi đợt giảm giá, nhà cung cấp phải đầu tư mở rộng mạng lưới, phát triển hệ thống phân phối để chiếm lĩnh thị trường Một công việc quan trọng khác đó là các dịch vụ sau bán hàng (nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hoá sản phẩm, phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng )
để thu hút và giữ khách hàng sử dụng dịch vụ của mình, tránh trường hợp khách hàng sẽ rời mạng khi có nhà cung cấp dịch vụ khác tung ra các đợt giảm giá mới với mức giảm giá hay khuyến mại cao hơn
Ngoài ra, dịch vụ thông tin di động còn mang một tính chất nữa của dịch vụ viễn thông đó là tính chất kinh tế mạng Kinh doanh dịch vụ thông tin di động gắn
liền với quá trình thông tin liên lạc giữa các thuê bao với nhau Mỗi thuê bao có thể được coi là một nút trong một mạng liên kết gồm nhiều thuê bao khác nhau Khi có nhiều “nút” thì mối liên hệ giữa các nút tăng lên và cơ hội để xuất hiện một cuộc liên lạc giữa các nút trong mạng tăng lên Nói cách khác, càng nhiều thuê bao thì
Trang 19mỗi thuê bao sử dụng càng nhiều, lưu lượng đàm thoại tăng nhanh hơn cấp số cộng Thêm một thuê bao sẽ bán được không phải một mà nhiều đơn vị sản phẩm Đây là hiệu ứng “ càng đông càng vui” hay “ hiệu ứng câu lạc bộ” hay “ hiệu ứng ngoại sai” của kinh tế mạng Hiệu ứng này càng được gia tăng nhà vào tính chất hai chiều của dịch vụ thông tin di động, nghĩa là có nhận cuộc gọi và phát sinh cuộc gọi Một thuê bao trên mạng dù không gọi đi thì vẫn có ý nghĩa là phát sinh lưu lượng vì các thuê bao khác sẽ gọi đến thuê bao này Do tính hai chiều và tính kinh tế mạng nói trên, phát triển thuê bao là yếu tố quan trọng bậc nhất trong kinh doanh dịch vụ
1.1.4 Các loại hình dịch vụ thông tin di động
Về cơ bản, các loại hình dịch vụ thông tin di động được chia làm hai loại: dịch
vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng
Dịch vụ cơ bản: đây là nhóm dịch vụ làm lên sự ra đời và phát triển của dịch
vụ thông tin di động Các dịch vụ lại này gồm: dịch vụ thoại và dịch vụ truyền số liệu
Dịch vụ giá trị gia tăng: ra đời sau sự ra đời của nhóm dịch vụ cơ bản, nhóm
dịch vụ này nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng tăng của khách hàng
Trong cơ cấu doanh thu hiện nay, đang có sự chuyển dịch dần doanh thu từ dịch vụ cơ bản sang dịch vụ giá trị gia tăng Đây là điều hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển chung của loại hình dịch vụ này theo xu hướng xã hội và xu hướng phát triển di động chung trên thế giới
1.2 Hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
Cho đến nay khi đề cập đến hiệu quả thì chúng ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất Mỗi một lĩnh vực khác nhau lại có cách nhìn nhận khác nhau về hiệu quả Vì vậy cần xét về hiệu quả ở các mặt như hiệu quả kinh tế, hiệu quả về chính trị xã hội
Trang 20Xét về hiệu quả kinh tế: thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu
quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh Bản chất đó là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm,
Như vậy theo cách hiểu thông thường, hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối
tương quan giữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra của một quá trình Nếu gọi H là hiệu quả kinh doanh:
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra / Chi phí đầu vào
Điều này thể hiện hiệu quả của việc bỏ ra một số vốn để thu được kết quả cao hơn tức là đã có một sự xuất hiện của giá trị gia tăng với điều kiện H>1, H càng lớn càng chứng tỏ quá trình đạt hiệu quả càng cao Để tăng hiệu quả (H), chúng ta có thể sử dụng những biện pháp như: giảm đầu vào, đầu ra không đổi; hoặc giữ đầu vào không đổi, tăng đầu ra; hoặc giảm đầu vào, tăng đầu ra,
Chúng ta có thể cải tiến quản lý điều hành nhằm sử dụng hợp lý hơn các nguồn lực, giảm tổn thất, để tăng cường giá trị đầu ra Nhưng nếu quá trình sản xuất, kinh doanh đã hợp lý thì việc áp dụng các biện pháp trên sẽ bất hợp lý Bởi ta
Trang 21không thể giảm đầu vào mà không làm giảm giá trị đầu ra và ngược lại Thậm chí trong thực tế, ngay cả khi quá trình sản xuất, kinh doanh của chúng ta là còn bất hợp
lý nhưng khi chúng ta áp dụng những biện pháp trên có thể làm cho hiệu quả giảm xuống Chính vì vậy, để có được một hiệu quả không ngừng tăng lên đòi hỏi chúng
ta chẳng những không giảm mà còn phải tăng chất lượng đầu vào lên Với nguyên vật liệu tốt hơn, lao động có tay nghề cao hơn, máy móc công nghệ hiện đại hơn, ta
sẽ giảm đi lượng hao phí nguyên vật liệu, hao phí lao động, hao phí năng lượng, thiết bị trên từng đơn vị sản phẩm, phế phẩm giảm đó là điều kiện để có những sản phẩm với số lượng, chất lượng cao, giá thành hạ Như vậy để tăng hiệu quả kinh doanh chỉ có con đường duy nhất là không ngừng đầu tư vào công nghệ, nguồn nhân lực, quản lý,… Qua đó giá trị đầu ra ngày càng tăng, đồng thời càng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, của DN trên thương trường
Như vậy, từ sự phân tích trên thì hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế,
nó phán ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của DN để hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất Hiệu quả phải gắn liền với việc thực hiện những mục tiêu của DN và được thể hiện qua công thức sau:
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra / Nguồn lực sử dụng một cách thông minh
Với quan niệm trên, hiệu quả kinh doanh không chỉ là sự so sánh giữa chi phí cho đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra; hiệu quả kinh doanh được hiểu trước tiên là việc hoàn thành mục tiêu, nếu không đạt được mục tiêu thì không thể có hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu ta cần phải sử dụng nguồn lực như thế nào? Điều này thể hiện một quan điểm mới là không phải lúc nào để đạt hiệu quả cũng là giảm chi phí mà là sử dụng những chi phí như thế nào, có những chi phí không cần thiết ta phải giảm đi, nhưng lại có những chi phí ta cần phải tăng lên vì chính việc tăng chi phí này sẽ giúp cho DN hoàn thành mục tiêu tốt hơn, giúp cho DN ngày càng giữ được vị trí trên thương trường
Trang 22Muốn đạt hiệu quả kinh doanh, DN không những chỉ có những biện pháp sử dụng nguồn lực bên trong hiệu quả mà còn phải thường xuyên phân tích sự biến động của môi trường kinh doanh của DN, qua đó phát hiện và tìm kiếm các cơ hội trong kinh doanh của mình
Xét về mặt hiệu quả chính trị xã hội: là một phạm trù phản ánh trình độ lợi
dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định Đứng trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội thì hiệu quả chính trị xã hội
là chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện bằng các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật, xác định trên cơ sở so sánh chỉ tiêu đầu ra và đầu vào của doanh nghiệp Nó phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu kinh tế xã hội Sau đây là một số nhóm chỉ tiêu bản đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doan nghiệp:
a, Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực
- Chỉ tiêu năng suất lao đông:
Chỉ tiêu năng suất lao đông = (Doanh thu tiêu thụ SP trong kỳ / Tổng số lao động trong kỳ) x 100%
- Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân cho một lao đông:
Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân cho một lao đông = (Lợi nhuận trong kỳ / Tổng số lao động bình quân trong kỳ) x 100%
Chỉ tiêu này cho thấy với mỗi lao động trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ Dựa vào chỉ tiêu này để so sánh mức tăng hiệu quả của mỗi lao động trong kỳ
b, Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sự dụng vốn
Trang 23c, Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Sức sản xuất của vốn lưu đông:
Sức sản xuất của vốn lưu đông = (Doanh thu tiêu thụ SP trong kỳ / Vốn lưu động bình quân trong kỳ) x 100%
Chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ Nếu chỉ tiêu này tăng qua các kỳ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động = (Lợi nhuận trong kỳ / Vốn lưu động bình quân trong kỳ) x 100%
Chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn lưu động sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ Chỉ số này càng cao chứng tỏ hiệu quả cao trong việc sử dụng vốn lưu động
- Tốc độ luân chuyển vốn:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nguồn vốn lưu động thường xuyên vận động không ngừng, nó tồn tại các dạng khác nhau Có khi là tiền, có khi là hàng hóa, vật tư, bán thành phẩm, … đảm bảo cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục
Trang 24Do đó việc đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vố lưu động sẽ góp phần giải quyết việc ách tắc, đình trệ của vốn, giải quyết nhanh nhu cầu về vốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh của toàn bộ doanh nghiệp Thông thường người ta sử dụng đánh giá tốc độ luân chuyển vốn luân chuyển vốn qua số vòng quay vốn lưu đông
Số vòng quay vốn lưu động = (Doanh thu trong kỳ / Vốn lưu động bình quân trong kỳ) x 100%
Chỉ tiêu này cho biết vòng quay của vốn lưu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ vòng quay của vốn tăng nhanh, điều này thể hiện việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả và ngược lại
c, Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được dùng để phản ánh chính xác hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và được dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau và so sánh giữa các doanh nghiệp qua các thời kỳ để xem xét các thời kỳ doanh nghiệp hoạt động có đạt hiệu quả cao hay không
- Doanh lợi của doanh thu bán hàng:
Doanh lợi của doanh thu bán hàng = (Lợi nhuận trong kỳ / Doanh thu trong kỳ) x 100%
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả của doanh nghiệp đã tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một đồng doanh thu bán hàng Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng doanh thu giảm chi phí Nhưng để có hiệu quả thì tốc
độ tăng doanh thu phải nhỏ hơn tốc độ tăng lợi nhuận
- Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh:
Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh = (Lợi nhuận trong kỳ / Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ) x 100%
Trang 25Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Một đồng vốn kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận, nó phản ánh trình độ lợi dụng vào các yếu tố vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt, điều này chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn của doanh nghiệp
- Tỷ suất nhuận theo chi phí:
Tỷ suất nhuận theo chi phí = (Lợi nhuận trong kỳ / Tổng chi phí SX và tiêu thụ trong kỳ) x 100%
Chỉ tiêu này phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố chi phí trong sản xuất Nó cho thấy với một đồng chi phí tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này có hieụe quả nếu tốc độ tăng lợi nhuận tăng nhanh hơn tốc độ tăng chi phí
- Hiệu quả kinh doanh theo chi phí:
Hiệu quả kinhdoanh theo chi phí = (Doanh thu tiêu thụ SP trong kỳ / Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ) x 100%
Chỉ tiêu này cho thấy với một đồng chi phí tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
- Doanh thu trên một đồng vốn:
Doanh thu trên một đồng vốn = (Doanh thu tiêu thụ SP trong kỳ / Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ) x 100%
Chỉ tiêu này cho thấy với một đồng vốn kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Nhóm chỉ tiêu xét về mặt hiệu quả kinh tế xã hội:
Để đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế Các doanh nghiệp ngoài việc hoạt động kinh doanh phải đạt hiệu quả để tồn tại và phát triển còn phải đạt được về hiệu qủa về kinh tế xã hội Bao gồm các chỉ tiêu như: tăng thu ngân sách,
Trang 26tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống người lao động, tái phân phối lợi tức xã hội
1.3 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh vụ thông tin di động của một
số công ty, tập đoàn viễn thông trên thế giới
1.3.1 Kinh nghiệm của Docomo tại Nhật Bản
Ở Mỹ và châu Âu, người sử dụng chủ yếu dùng điện thoại di động để gọi điện
và nhắn tin dưới dạng văn bản ký tự Những nỗ lực đưa các nội dung với hình ảnh trên Internet vào máy di động chưa thực sự có những thành công vượt trội
Tại Nhật, mọi việc diễn ra hoàn toàn khác Hơn 50 triệu người Nhật hiện hàng ngày đang sử dụng các dịch vụ truyền gửi số liệu qua di động, 60% số đó sử dụng dịch vụ I-Mode của nhà khai thác hàng đầu Docomo (30 trong số 40 triệu thuê bao
di động của Docomo ở Nhật là I-mode) Những thành công trên về thị trường của người Nhật bắt đầu từ một chiến lược mang tính cách mạng đó là “Di động Internet” Mục tiêu của chiến lược này là gắn di động với Internet, cũng có nghĩa là tập trung vào các ứng dụng và các nội dung thông tin có thể cung cấp cho người sử dụng hơn là dịch vụ điện thoại cổ điển Để làm việc này, người Nhật đã phát triển một công nghệ di động riêng, gọi là PDC, cho phép truyền số liệu với tốc độ cao đủ
để cung cấp các ứng dụng cho phép truyền không chỉ các ký tự văn bản mà còn cả hình ảnh màu sắc sống động, bao gồm các ứng dụng như: nhắn tin bằng hình ảnh (Picture Messaging), trò chơi qua mạng trên máy di động, dịch vụ tài chính trực tuyến, dịch vụ định vị qua máy di động, thư điện từ…Bên cạnh đó người Nhật cũng phát triển một mô hình thanh toán mở cho phép các doanh nghiệp thứ 3 - các nhà cung cấp ứng dụng và nội dung thông tin dễ dàng tham gia thị trường và tự động nhận được phần doanh thu của mình từ phần cước chung được khách hàng trả theo hóa đơn hàng tháng Điều đó đảm bảo tất cả cùng hài lòng: người sử dụng biết rõ mức chi phí của mình cho dịch vụ, các nhà cung cấp ứng dụng và nội dung thông tin nhận được phần thanh toán cho dịch vụ của mình, còn nhà khai thác di động Docomo thì đảm bảo tốc độ phát triển thuê bao và lưu lượng sử dụng, cũng có nghĩa
Trang 27doanh thu ngày càng tăng Docomo đã quyết định du nhập công nghệ này của mình
để chinh phục người sử dụng ở châu Âu, bắt đầu từ nước Đức (dịch vụ E-plus) và
Hà Lan (KPN)
1.3.2 Kinh nghiệm của Korea Telecom tại Hàn Quốc
Dịch vụ thông tin di động sử dụng công nghệ CDMA bắt đầu được đưa vào sử dụng năm 1996 Thị trường dịch vụ thông tin di động đã có nhưng bước tăng trưởng đột biến, số thuê bao di động vượt qua cả số thuê bao cố định, tỷ lệ thuê bao di động
và cố định trên thị trường Hàn Quốc là 58% và 42% Tỷ lệ sử dụng điện thoại di động trong dân số chiếm 78%, trong đó độ tuổi từ 10 dến 80 chiếm 79%
Từ cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990, dịch vụ vô tuyến tại Hàn Quốc chỉ tập trung vào dịch vụ nhắn tin giá rẻ và dịch vụ điện thoại giá cao trên xe hơi Trong khi đó dịch vụ nhắn tin khai trường vào năm 1982 và tồn tại tới năm
1993 với hơn 1 triệu thuê bao Dịch vụ này trở thành phổ biến sau khi chính phủ cho phép cạnh tranh Số thuê bao trên thị trường này lên tới 15 triệu trong năm
1997 Còn dịch vụ điện thoại trên ôtô được đưa vào sử dụng năm 1984 với việc cung cấp công nghệ dịch vụ AMPS và có tới 1 triệu khách hàng trong 10 năm đến
1995
Tại thị trường viễn thông Hàn Quốc, dịch vụ thông tin di động bao gồm các dịch vụ sau: dịch vụ di động tế bào, PCS, dịch vụ nhắn tin mất đi và thay thế bằng các dịch vụ thông tin di động với hơn 32 triệu thuê bao trong năm 2002 sử dụng công nghệ tiên tiến là IS-95AB và CDMA 2000-1x thông qua nền tảng của CDMA 2000-1xEV-DO Số lượng thuê bao di động trong năm 2003 là 36,4 triệu (tăng thêm 10,6%), qua đó thấy được tỉ lệ tăng trưởng so với dân số Hàn Quốc chiếm hơn 76%
Do đâu mà Hàn Quốc có tốc độ tăng trưởng như vậy? Mặc dù tiềm ẩn nguy cơ
về sự bão hòa thuê bao trên thị trường nhưng số lượng thuê bao vẫn tăng với tốc độ 10%/năm (tổng số 30 triệu thuê bao/2002; 33 triệu thuê bao/2003 và 40,8 triệu thuê bao vào thời điểm cuối năm 2005) Thị trường thông tin di động tại Hàn Quốc đã trải qua 3 giai đoạn lịch sử phát triển
Trang 28Từ năm 1984 tới 1994, trên thị trường thông tin di động Hàn Quốc chỉ có công
ty Korea Mobile Telecom Inc cung cấp dịch vụ AMPS, giai đoạn từ 1994 đến 2001
có thêm 5 nhà cung cấp là SK Telecom, Shinsegi Telecom, KT Freetel, Hansol PCS
và LG Telecom, trong đó chủ yếu cạnh tranh giữa 3 nhà cung cấp là SKT (dịch vụ
di động tế bào), KTF (dịch vụ PCS) và LGT (dịch vụ PCS) Mặt khác dịch vụ Internet di động đã bắt đầu với SMS và SMS tăng cường vào cuối năm 1990 và đến năm 2000 được nâng cấp hoàn thiện như các dịch vụ “NTop”, “N016” và
“EZWeb” Các dịch vụ này cho phép tải xuống máy điện thoại âm thanh, hình ảnh với tốc độ từ 9,6Kbps tới 64Kbps, trong khi đó có sự cạnh tranh nhằm nâng cao dịch vụ như WAP (SKT và LGT) và ME(KTF) vào đầu năm 2000 Đến cuối năm
2002, các thiết bị cá nhân như PDA và điện thoại di động hỗ trợ WAP (chiếm 66% thị phần) và ME (34% thị phần) đối với Internet di động
Nhờ nâng cấp cơ sở hạ tầng và tăng cường cung cấp dịch vụ di động, việc kinh doanh di động (M-business) có thể đáp ứng cho chính phủ và các ngành công nghiệp Từ năm 2002 dịch vụ M-business đưa vào nhiều ứng dụng như: hệ thống định vị toàn cầu GPS (Global Positioning System) áp dụng cho các ngành vận tải, bưu chính; hệ thống bán hàng tự động SFA (Sale Force Automation)/ FFA (Field Force Automation) áp dụng cho tài chính, sản xuất
Dịch vụ thương mại di động đã được tích hợp vào các ứng dụng dịch vụ thông qua việc tích hợp dịch vụ tài chính có áp dụng công nghệ thông tin Với một vài dịch vụ: dịch vụ thẻ di động cho việc thanh toán mua bán, dịch vụ ngân hàng di động cho việc chuyển tiền và thanh toán séc, dịch vụ thông tin tài chính về giá cố phiếu, dịch vụ e-shopping cho cả thông tin vô tuyến và cố định, đặt chỗ xe du lịch, kết quả sổ số điện tử, xem phim trực tuyến Đầu năm 2002, MONETA và K-merce
đã chính thức đưa vào sử dụng dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động Đây sẽ là hình thức kinh doanh thương mại nhiều tiềm năng
Ngành thông tin di động của Hàn Quốc đã phát triển một cách vượt bậc do chính sách giá cước hợp lý và có sự khuyến khích cạnh tranh của chính phủ Đây
Trang 29chính là động lực thúc đẩy phát triển thuê bao khiến số thuê bao phát triển không ngừng Ngoài ra, do cơ sở hạ tầng mạng viễn thông khá hiện đại mà việc áp dụng các hình thức kinh doanh thương mại, cũng như dịch vụ mạng rất phát triển khiến người sử dụng không thể thiếu được điện thoại di động
Korea Telecom - Doanh nghiệp chủ đạo về viễn thông của Hàn Quốc, giữ độc
quyền Nhà nước trong lĩnh vực điện thoại nội hạt; đối với dịch vụ điện thoại đường dài, Korea Telecom vẫn chiếm thị phần lớn là 91,3% Song trong lĩnh vực dịch vụ điện thoại quốc tế và điện thoại di động, Korea Telecom bị chia sẻ thị trường và chịu áp lực cạnh tranh
Korea Telecom đã và đang thực hiện một số chính sách để duy trì được vị trí dẫn đầu ngành viễn thông Hàn Quốc như sau:
Hướng tới khách hàng: bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn phát triển đều phải
quan tâm đến khách hàng, Cũng như vậy, Korea Telecom đã thực hiện một chương trình năm 1999 là “Năm của Khách hàng” và thực hiện các hoạt động Marketing phù hợp để đem lại hiệu quả tối ưu hơn cho khách hàng
Các trung tâm chăm sóc khách hàng của Korea Telecom đều được kết nối thống nhất với nhau Vì vậy, chỉ với một cuộc gọi, các thắc mắc, yêu cầu của khách hàng sẽ được giải đáp Tuy nhiên, nếu một thắc mắc hay yêu cầu nào của khách hàng không giải quyết được trong ngày hôm đó thì khách hàng sẽ được bồi thường
Mở rộng thị trường: để hợp tác trên toàn thế giới trong xu hướng toàn cầu hóa,
Korea Telecom đang hết sức nỗ lực nhằm xây dung thành một công ty viễn thông phù hợp toàn cầu Trước mắt, Korea Telecom sẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng như các khu vực khác có tiềm năng phát triển cao Korea Telecom thực hiện chiến lược liên minh với các công ty viễn thông khác trên thế giới và tham gia hoạt động với các tổ chức thông tin quốc
tế như ITU và APT
Mặt khác, Korea Telecom cũng mở rộng thị trường của mình bằng cách mua lại các công ty viễn thông khác Tháng 6/2000, Korea Telecom mua lại hãng Hansol
Trang 30M.com Korea Telecom hợp nhất hoạt động của Hansol với Korea Telecom Freetel
- công ty khai thác dịch vụ thông tin di động trực thuộc Korea Telecom, với hi vọng tạo ra một nhà khai thác dịch vụ thông tin di đọng lớn thứ nhì Hàn Quốc với 25% thị phần (sau SK Telecom khi SK Telecom mua lại Shinsegi Telecom khiến cho SK Telecom trở thành nhà khai thác điện thoại di động lớn nhất Hàn Quốc với 60% thị phần) Vụ mua bán này của Korea Telecom được coi là sẽ chấm dứt việc sắp nhập các mạng di động tại Hàn Quốc
Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D): đầu tư vào nghiên cứu và phát
triển của Korea Telecom đã tăng nhanh tới mức 2 con số trong tổng chi phí hàng năm Bằng việc phát triển một loạt hệ thống các tổng đài TDX, tổng đài ATM, các dịch vụ đa phương tiện và thiết bị truyền dẫn F/O, phát triển hệ thống IMT-2000 và bản đồ hệ thống thông tin DBMS, Korea Telecom đã năng cấp công nghệ viễn thông của Hàn Quốc Korea Telecom sẽ liên tục thực hiện và quan tâm đến nghiên cứu và phát triển để duy trì vị trí của mình trong việc phát triển công nghệ thông tin
1.3.3 Kinh nghiệm của China Telecom tại Trung Quốc
China Telecom hiện là nhà khai thác thông tin di động đứng thứ 3 trên thế giới
sau NTT DoMoCo của Nhật và Vadafone Air Touch của Anh Năm 1999 China Telecom khởi động cung cấp dịch vụ ra các tỉnh ngoài Quảng Đông, Triết Giang và Giang Tô, mua lại các mạng di động thuộc sở hữa Nhà nước ở các tỉnh Hải Nam,
Hà Nam và Phúc Kiến Qua các năm từ 2000-2005, China Telecom đã đạt mức tăng trưởng cao cả về số thuê bao, mức độ sử dụng mạng và duy trì được vị trí dẫn đầu trong thị trường thông tin di động ở Trung Quốc lục địa Tính đến hết năm 2005, tổng thuê bao của China Telecom đạt: 97,2 triệu, chiếm 47,3 % thị phần thuê bao di động tại Trung Quốc lục địa, tốc độ tăng trưởng thuê bao hàng năm giai đoạn 2000-
2005 đạt mức cao (từ 18%-23%) Tuy nhiên tổng lưu lượng sử dụng chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng thuê bao
Từ năm 2005 và những năm sau đó ngành thông tin di động ở Trung Quốc đã
có sự phát triển nhanh và có sự chuyển hướng sang dịch vụ băng rộng, do đó mục
Trang 31tiêu chủ yếu của China Telecom là tận dụng vị thế chi phối của mình ở Quảng Đông
và Triết Giang để củng cố lợi thế cạnh tranh, phát triển thuê bao và mức sử dụng của thuê bao, nâng cao lợi nhuận Để đạt được mục tiêu này, China Telecom đã tập trung vào các biện pháp sau:
Mở rộng dung lượng mạng lưới và quy mô phủ sóng: dự tính trước mức tăng
thuê bao, tập trung mở rộng mức độ phủ sóng và tăng dung lượng mạng, tập trung phát triển nhanh các GSM Xây dựng cơ sở hạ tầng truyền dẫn riêng của mình ở một số vùng mà các bưu điện tỉnh chưa lắp đặt các thiết bị truyền dẫn
Tăng cường chất lượng mạng lưới và các chức năng hoạt động: không ngừng
hoàn thiện các hệ thống mạng bằng cách áp dụng các hệ thống quản lý mạng tiên tiến và hợp tác chặt chẽ với các nhà cung cấp thiết bị di động hàng đầu trên thế giới
để phát triển một cơ sở công nghệ vững chắc, cho phép tận dụng những thành tựu công nghệ trên thế giới Để tăng cường hiệu năng tổng thể của mạng, tập đoàn đã phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng, bao gồm thư thoại, bản tin ngắn và các khả năng truyền dẫn tiên tiến mà tập đoàn cho rằng sẽ tăng mức sử dụng của thuê bao và tạo thêm các nguồn doanh thu mới cho tập đoàn
Tăng cường tập trung vào thiết bị và phân phối để phát triển thuê bao: việc
đưa cạnh tranh vào thị trường thông tin di động ở Trung Quốc sẽ mở rộng các kênh phân phối của các hoạt động khai thác mạng di động Tập đoàn phát triển thuê bao bằng cách phát triển hình ảnh của mình như là một nhà cung cấp dịch vụ có chất lượng thông qua việc xúc tiến các hoạt động quảng cáo mạnh mẽ, phát triển mạng phân phối rộng rãi đến các cửa hàng bán lẻ, các bưu cục và tiếp tục mở rộng các của hàng bán lẻ của riêng mình, khai thác các cơ hội để đa dạng hóa kênh phân phối
Tiếp tục chú ý đến các dịch vụ hậu mãi và củng cố lòng trung thành của khách hàng: tập đoàn tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của các Trung tâm chăm sóc
khách hàng và tập trung vào việc hướng dẫn cho khách hàng về công nghệ di động, các đặc tính về mạng cũng như dịch vụ của tập đoàn Tập đoàn cung cấp một loạt các dịch vụ khách hàng từ điểm bán hàng trở đi, bao gồm các đường dây trợ giúp
Trang 32khách hàng, các Trung tâm chăm sóc khách hàng, trợ giúp trực tuyến cho khách hàng có các câu hỏi về thanh toán, kỹ thuật và các khía cạnh khác về khai thác và dịch vụ; hoàn thiện các khía cạnh mang tính chiến lược với các nhà cung cấp dịch
vụ viễn thông khác Tập đoàn dự định tận dụng vị trí độc tôn của mình để tiếp cận với các thị trường vốn quốc tế nhằm khai thác các cơ hội để giành được các hợp đồng kinh doanh về thông tin di động ở Trung Quốc
Năm 2009, tiếp tục chứng kiến sự giảm sút về số lượng thuê bao thoại đơn thuần, China Telecom mất 19,8 triệu thuê bao ứng với lượng giảm hàng năm là 10% Tuy nhiên lại có sự phát triển nhảy vọt về số lượng thuê bao 3G, phát triển thêm 20% so với 2008, khoảng 9,2 triệu thuê bao Số thuê bao Wireless bắt đầu có
sự tăng trưởng lên 7,7% so với mức 4,5% trong năm 2008
1.3.4 Kinh nghiệm của China Mobile Communication tại Trung Quốc
Công nghệ điện thoại di động đã trả qua hai thế thệ: thế hệ điện thoại tương tự (AMP) và thế hệ điện thoại di động số (GSM/CDMA) Tuy nhiên hiện nay quá trình chuyển đổi lên thế hệ cao hơn là các thế hệ 2,5G (GPRS) và di động thế hệ 3 (3G) đang được xúc tiến trên toàn thế giới Công nghệ GPRS cho phép liên thông giữa các dịch vụ multimedia và Internet và người sử dụng máy tính, đặc biệt là dịch vụ nhắn tin multimedia (dịch vụ đa phương tiện), mở ra khả năng mới để thỏa mãn những người sử dụng Internet có nhu cầu di động cao Ví dụ sau đây cho thấy sự thành công của Công ty China Mobile Communication khi sử dụng công nghệ GPRS để phát triển dịch vụ thông tin di động ở Trung Quốc
Trước tháng 5 năm 2002, tại Trung quốc, nhà khai thác di động chiếm thị phần lớn nhất là China Unicom (CU) cung cấp dịch vụ trên 12 tỉnh và đặc khu, tiếp theo
là China Mobile Communication (CMC) Hai nhà khai thác này cạnh tranh quyết liệt trong việc phát triển thuê bao di động Mục tiêu chiến lược của CMC là vươn lên trở thành nhà khai thác dẫn đầu, vượt qua CU Trong rất nhiều khả năng khác nhau, CMC đã chọn hướng GPRS Ngày 17/5/2002, CMC chính thức đưa ra thị trường dịch vụ di động thế hệ 2,5G – GPRS Sau hai tháng CMC đạt số lượng
Trang 33khách hàng đăng ký dịch vụ kỷ lục (1,3 triệu thuê bao) Chỉ riêng các dịch vụ về Data qua GPRS đã chiếm 3% tổng doanh thu CMC và đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng CMC cũng cho biết có trên 350 nhà cung cấp dịch vụ liên quan đã bị thu hút bởi thị trường mới GPRS này của công ty CMC cũng dự kiến sẽ đưa ra các ứng dụng nhắn tin multimedia và mạng di động ảo trên cơ sở GPRS để thu hút thêm thuê bao và tạo ra các thị trường mới, cộng sinh trên GPRS Đến năm 2005, số thuê bao GPRS trên toàn thế giới đạt 112,52 triệu, với doanh thu từ các dịch vụ Data là 5,68 tỷ USD Năm 2006, công ty có sự tăng trưởng nhảy vọt về số thuê bao, đạt 301,232 triệu thuê ba, năm 2007 đạt 369,399 triệu Về chất lượng, dung lượng thoại và truyền số liều hàng năm tăng khoảng 40%, năm 2006 đạt 1252,16 tỷ phút, tăng lên 1818,89 tỷ phút trong năm 2007 Dung lượng truyền số liệu đạt 69,309 triệu RMB, tăng lên 91,909 triệu RMB trong năm 2007
1.3.5 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số nhà khai thác dịch vụ thông tin di động
Các doanh nghiệp muốn phat triển dịch vụ để tăng số lượng thuê bao và mức
sử dụng của thuê bao, nâng cao lợi nhuận, có thể thực hiện một số biện pháp sau:
- Tăng cường cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng giá trị nhằm tăng mức sử dụng của thuê bao: dịch vụ định vị toàn cầu áp dụng cho các ngành vận tải, bưu chính, bán hàng tự động áp dụng cho các ngành tài chính và sản xuất, dịch vụ thẻ di động cho việc thanh toán mua bán, dịch vụ ngân hàng di động cho việc chuyển tiền, thanh toán séc, dịch vụ thông tin tài chính, đặt chỗ du lịch, xem phim trực tuyến…
- Mở rộng kênh phân phối, phát triển mạng lưới phân phối rộng rãi đến các cửa hàng bản lẻ, các bưu cục, điểm giao dịch…đa dạng hóa các kênh phân phối
- Có những cam kết nhất định về trách nhiệm của nhà cung cấp đối với khách hàng về dịch vụ cung cấp và chính sách hậu mãi: nếu những thắc mắc, yêu cầu của khách hàng không được giải đáp thỏa đáng hoặc giải quyết lâu thì khách hàng phải được bồi thường
- Có chính sách giá cược hợp lý
Trang 34- Chú ý đến dịch vụ hậu mãi và củng cố lòng trung thành của khách hàng:
+ Nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm chăm sóc khách hàng Kết nối các trung tâm chăm sóc khách hàng với nhau để giải quyết thỏa đáng những thắc mắc, yêu cầu của khách hàng
+ Hướng dẫn khách hàng về công nghệ, đặc tính mạng cũng như dịch
vụ của doanh nghiệp để khách hàng tiện sử dụng
+ Cung cấp các thông tin về điểm bán hàng, đường dây trợ giúp khách hàng
- Mở rộng thị trường bằng cách mua lại các công ty viễn thông khác nhằm củng cố lợi thế cạnh tranh của mình trên thị trường
- Củng cố hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường thông qua việc xúc tiến các hoạt động quảng cáo mạnh mẽ
- Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ thông tin, đi đầu trong đổi mới công nghệ
- Tập trung phát triển thuê bao trả sau để đạt mục tiêu phát triển thị phần về thuê bao
Trang 35CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
(VNPT)
2.1 Vài nét về Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu chung về Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam tiền thân là Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông việt Nam tên giao dịch quốc tế là Vietnam Posts and Telecommunication Corporation (VNPT) được thành lập theo quyết định số 249/TTg ngày 29/04/1995 của Thủ tướng Chính phủ VNPT là doanh nghiệp thuộc
sở hữu Nhà nước, thành lập theo hướng tập đoàn kinh doanh mạnh theo mô hình của các tổng công ty Nhà nước tại quyết định 91/TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ Trụ sở chính của VNPT đặt tại 57A Huỳnh Thúc Kháng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội VNPT hoạt động theo Điều lệ tổ chức hoạt động được Chính phủ phê duyệt tại Nghị định số 51/CP ngày 01/07/1995 VNPT khi đó là Tổng Công ty Nhà nước hoạt động kinh doanh có tư cách pháp nhân, có các quyền
và nghĩa phụ dân sự theo luật định, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vị số vốn do Tổng Công ty quản lý Tổng Công ty bao gồm các thành viên là các đơn vị hoạch toán độc lập, đơn vị hoạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp có quan hệ mất thiết về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị hoạt động trong ngành Bưu chính Viễn thông
Trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và xu hướng hội tụ cộng nghệ, mạng lưới trong việc phát triển các dịch vụ viễn thông công nghệ thông tin; đáp ứng trước những thay đổi của môi trường kinh doanh trong nước trước bối cảnh cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và xem xét các yêu cầu của thực tiễn, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã xây dựng các nội dung tổ chức và hoạt động của Công ty mẹ -
Trang 36Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam Theo quyết định số 06/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, từ ngày 09/01/2006 , Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam đổi tên, cơ cấu tổ chức và thành lập lại với tên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 và Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn, chịu trách nhiệm kế thừa các quyền, nghĩa vụ pháp lý hợp pháp của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Theo quyết định số 06/2006/QĐ-TTg, việc thay đổi tên gọi và cơ cấu tổ chức của VNPT không ảnh hưởng tới hoạt động khai thác, kinh doanh và phát triển các dịch vụ thông tin di động của 2 Công ty trực thuộc VNPT là Công ty dịch vụ viễn thông - GPC (mạng VinaPhone) và Công ty thông tin di động - VMS (mạng MobiFone)
Ngày 24/06/2010 theo quyết định 995/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Công ty mẹ - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam thành công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu
2.1.2 Ngành, nghề kinh doanh
Sau khi chuyển đổi, VNPT chuyển sang loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam có tư cách pháp nhân tuân theo pháp luật Việt Nam; có con dấu riêng; được mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định của pháp luật; tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các quy định pháp luật có liên quan và Điều lệ tổ chức và hoạt động
do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Trang 37- Khảo sát, tư vấn, thiết kế, lắp đặt, bảo dưỡng các công trình viễn thông, công nghệ thông tin và truyền thông;
- Sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu, cung ứng vật tư, thiết bị viễn thông, công nghệ thông tin và truyền thông;
- Dịch vụ tài chính, tín dụng, ngân hàng;
- Dịch vụ quảng cáo, tổ chức sự kiện;
- Kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng
2.1.3 Cơ cấu tổ chức
Theo điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty được phê duyệt tại Nghị định 51/CP ngày 01/08/1995 của Chính phủ, cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam gồm có:
- Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm về sự phát triển của Tập đoàn theo nhiệm vụ Nhà nước giao; có Ban kiểm soát giúp Hội đồng quản trị thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật và Nghị quyết của Hội đồng quản trị
- Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của Tập đoàn và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Chính phủ và trước pháp luật về điều hành hoạt động của Tập đoàn Bộ máy giúp việc gồm:
+ Văn phòng Tập đoàn là cơ quan tổng hợp, đầu mối giúp việc, phục vụ sự quản lý của Hội đồng quản trị và điều hành của Tổng giám đốc đối với mọi mặt hoạt động của Tập đoàn
+ Các Ban chức năng là các cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúp Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc quản lý, điều hành và thừa lệnh Tổng giám đốc điều hành trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ theo chức năng, nhiệm vụ được giao, thuộc them quyền của Tổng giám đốc
Trang 38- Các đơn vị thành viên gồm các đơn vị: hoạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập, liên doanh, các đơn vị sự nghiệp thuộc VNPT triển khai các nội dung theo chức năng, nhiệm vụ của VNPT Tính đến 12/2009, VNPT có 147 đầu mối gồm 76 đơn
vị hạch toán phụ thuộc, 4 đơn vị hạch toán độc lập, 10 đơn vị sự nghiệp, 57 Công ty
cổ phần, Công ty liên doanh và doanh nghiệp có vốn góp của Tập đoàn với tổng số hơn 9 vạn lao động
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của VNPT
Khối sự nghiệp:
Học viện CNBCVT, Bệnh viện Bưu điện…
60 Viễn thông tỉnh/Tp;
Công ty VTN, VinaPhone, VTI
Các công ty do VNPT liên doanh, liên kết: các đơn vị xây lắp, các công
ty tài chính…
Trang 392.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
2.2.1 Hiệu quả về mặt chính trị xã hội
Ngay từ những ngày đầu thành lập, VNPT đã xác định việc mở rộng mạng lưới bưu chính viễn thông sâu rộng đến khắp mọi miền không đơn thuần là phát
triển kinh doanh mà còn là ý nghĩa chính trị xã hội lớn đó là “Tích cực chung tay xây dựng cộng đồng” Với các Bưu điện văn hóa xã từ những năm 1998, VNPT đã
góp phần quan trọng trong việc mang đến cơ hội tiếp cận các dịch vụ văn minh, các điểm sinh hoạt văn hóa cho người dân ở các khu vực vùng sâu, vùng xa Ngoài ra VNPT còn được biết đến là nhà tài trợ lớn cho các sự kiện lớn của quốc gia như Seagame, APEC, …
Với vai trò là tập đoàn chủ lực quốc gia, từ nhiều năm qua luôn đồng hành với các hoạt động đào tạo nhân lực, tìm kiếm nhân tài trong lĩnh vực công nghệ thông tin – truyền thông nói riêng cũng như xã hội nói chung bằng các hoạt động: tổ chức cuộc thi “Nhân tài đất Việt”; tài trợ cuộc thi “Thần đồng đất Việt”, Olympic Tin học của học sinh, sinh viên; trao học bổng “VNPT chắp cánh tài năng trẻ” cho học sinh nghèo vượt khó… VNPT cũng là doanh nghiệp khởi xướng, thực hiện các hoạt động mang ý nghĩa xã hội như “Hành trình nhân ái” mang lại tết ấm cho người nghèo, “Tặng xe lăn cho người khuyết tật”, “Xây nhà tình nghĩa cho mẹ Việt Nam anh hùng”, …
Bắt đầu từ năm 2009, VNPT cũng đã khởi động một hành trình dài hơn 10 năm hỗ trợ 2 huyện nghèo của tỉnh Lai Châu là Sỉn Hồ và Mường Tè góp phần giúp người dân giảm nghèo với số tiền 200 tỷ đồng VNPT và ngành Y tế thỏa thuận hợp tác chiến lược với mục tiêu là góp phần chung sức cùng ngành Y tế mang đến cho người dân dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng tốt hơn VNPT luôn cam kết cùng
cộng đồng chia sẻ những giá trị “Cuộc sống đích thực”
Hiện nay, VNPT đã triển khai trên thị trường hàng loạt các dịch vụ Bưu chính, Viễn thông, Internet trên nền công nghệ mới như: chuyển vùng quốc tế cho các
Trang 40mạng di động, Internet không dây, Internet tốc độ cao, điện thoại qua giao thức IP, điện thoại Internet, các dịch vụ bằng rộng (truyền hình hội nghị, khám chữa bệnh từ
xa, đào tạo từ xa…), các dịch vụ trên nền mạng thế hệ mới NGN (miễn cước người gọi 1800, thông tin giải trí thương mại 1900, MegaWAN…), các dịch vụ truyền thông (báo điện tử, website, tạp chí, bản tin), tiết kiệm bưu điện, các loại hình chuyển phát nhanh, bưu chính lai ghép dịch vụ tin học Datapost, COD Thực hiện tốt và giữ vững vai trò doanh nghiệp chủ lực trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông: duy trì, đảm bảo mạng lưới và các dịch vụ bưu chính viễn thông, Internet phục vụ
sự chỉ đạo, điều hành của Đảng, Chính phủ, chính quyền các cấp; đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giảm nhẹ, khắc phục thiên tai, dịch bệnh; thông tin phục vụ biên giới, hải đảo, các cửa khẩu…Chủ động hỗ trợ các doanh nghiệp mới trong việc kết nối mạng lưới, cung cấp kênh, cổng kết nối, sử dụng chung vị trí điểm kết nối, sử dụng chung cơ sở
hạ tầng (cột Anten, mặt bằng để thiết bị, hầm cống cáp, cột treo cáp…), thu hồi cước phí nhà thuê bao…
Đến hết tháng 12/2005, số lượng điểm phục vụ trên toàn quốc của VNPT đạt 17.118 điểm, trong đó có: 2.978 bưu cục, 7.534 điểm bưu điện - văn hóa xã, 6.549 đại lý bưu điện và 57 ki-ốt Bán kính phục vụ 4.806 người/điểm, đạt tỷ lệ bình quân cao nhất so với các nước trong khu vực Hoàn thành chương trình đưa điện thoại tới 100% số xã, với mạng lưới điểm phục vụ rộng khắp, VNPT có lợi thế lớn so với các doanh nghiệp viễn thông khác trong việc kinh doanh các dịch vụ Bưu chính viễn thông nói chung, dịch vụ thông tin di động nói riêng
2.2.2 Hiệu quả về mặt kinh tế
2.2.2.1 Doanh thu và lợi nhuận
Năm 2009, tổng doanh thu phát sinh toàn VNPT đạt mức 78.600 tỷ, bằng 100,19% kế hoạch và tăng 29,7% so với 2008; phát triển mới 20.439 nghìn máy điện thoại đạt 105,48% kế hoạch; nộp ngân sách 8100 tỷ đạt 105,88% kế hoạch, bằng 102,35% so với năm 2008; năng suất lao động tính trên doanh thu đạt 873