+ Góp phần tạo tiền đề để phát triển kinh tế, thương mại, du lịch, đặc biệt là ngành sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm Với mục tiêu tìm những giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
TRƯƠNG THỊ THANH HƯƠNG
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA MẠNG LƯỚI KINH DOANH RAU, THỰC PHẨM AN TOÀN HAPROFOOD
CỦA TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
- -
TRƯƠNG THỊ THANH HƯƠNG
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA MẠNG LƯỚI
KINH DOANH RAU, THỰC PHẨM AN TOÀN HAPROFOOD
CỦA TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
HÀ NỘI - 2011
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CỦA MẠNG LƯỚI KINH DOANH 5
1.1 Khái niệm và đặc điểm mạng lưới kinh doanh 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Đặc điểm của mạng lưới kinh doanh 8
1.2 Mô hình tổ chức hoạt động 9
1.2.1 Cấu trúc sở hữu và hoạt động 9
1.2.2 Các nội dung của mô hình mạng lưới kinh doanh 11
1.3 Hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp bán lẻ 14
1.3.1 Các quan niệm về hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp 14
1.3.2 Các nhân tố chi phối hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp bán lẻ 16 1.3.3 Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp bán lẻ. 27
1.4 Kinh nghiệm hoạt động hiệu quả của một số tập đoàn bán lẻ Quốc tế và trong nước 31
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CỦA MẠNG LƯỚI KINH DOANH RAU, THỰC PHẨM AN TOÀN HAPROFOOD CỦA TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI HÀ NỘI 41
2.1 Tổng quan về Tổng công ty Thương mại Hà Nội 41
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 41
2.1.2 Sự ra đời của mạng lưới kinh doanh Rau, thực phẩm an toàn HaproFood 44
2.2 Mô hình tổ chức hoạt động mạng lưới kinh doanh Rau, thực phẩm an toàn HaproFood 46
2.2.1 Cấu trúc sở hữu và hoạt động 46
2.2.2 Các nội dung của mạng lưới kinh doanh Rau, thực phẩm an toàn HaproFood 47
2.3 Đánh giá hiệu quả kinh doanh của mạng lưới HaproFood 55
2.3.1 Thực trạng hiệu quả kinh doanh của mạng lưới HaproFood 55
2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của mạng lưới HaproFood 62
Trang 42.3.2.1 Các yếu tố nội bộ HaproFood 62
2.3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng theo mô hình Marketing h n h p 7 66
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA MẠNG LƯỚI KINH DOANH RAU, THỰC PHẨM AN TOÀN HAPROFOOD GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 69
3.1 Xu hướng phát triển của hoạt động kinh doanh rau, thực phẩm an toàn 69
3.2 Quan điểm, định hướng, mục tiêu, kế hoạch nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới kinh doanh rau, thực phẩm an toàn HaproFood 73
3.2.1 Quan điểm, định hướng 71
3.2.2 Mục tiêu phát triển đến năm 2015 72
3.2.3 Kế hoạch phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của mạng lưới HaproFood giai đoạn 2011 - 2015) 74
3.2.3.1 Kế hoạch phát triển mạng lưới kinh doanh 74
3.2.3.2 Kế hoạch doanh thu hệ thống HaproFood đến năm 2015 75
3.2.3.3 Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư từ năm 2011 - 2015 75
3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của mạng lưới HaproFood giai đoạn 2011 - 2015) 76
3.3.1 Giải pháp về quy hoạch và phát triển mạng lưới kinh doanh 76
3.3.2 Giải pháp về tăng cường huy động vốn và sử dụng vốn một cách hiệu quả 77
3.3.3 Giải pháp về xây dựng chính sách sản phẩm 78
3.3.4 Giải pháp về ngu n hàng 79
3.3.5 Giải pháp về ngu n nhân lực 81
3.3.6 Giải pháp về công nghệ 83
3.3.7 Giải pháp về đổi mới công nghệ quản l 85
3.3.8 Giải pháp về xây dựng và phát triển thương hiệu HaproFood 87
3.3.9 Giải pháp về Marketing h n h p 4 87
3.3.10 Giải pháp củng cố chức năng kiểm soát, giảm thiểu chi phí 90
3.4 Một số kiến nghị 92
3.3.1 Kiến nghị UBND Thành phố Hà Nội 92
3.3.2 Kiến nghị Chính hủ 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCT Tổng công ty/ Tổng công ty Thương mại Hà Nội
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TPAT Thực phẩm an toàn
TTTM Trung tâm thương mại
UBND Ủy ban Nhân dân
UBND TP Ủy ban nhân dân Thành phố
VIETGAP Vietnamese Good Argricultural Practices - Qui trình thực hành sản
xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi an toàn tại Việt Nam VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
XNK Xuất nhập khẩu
WTO World Trade Organization - Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đ 1-1: Sơ đ chu i giá trị của Doanh nghiệp
Sơ đ 2-1: Mô hình tổ chức Tổng công ty Thương mại Hà Nội
Bảng 2-1: Một số chỉ tiêu phát triển của Tổng công ty đến năm 2015
Bảng 2-2: Hình thức đầu tư phát triển mạng lưới HaproFood
Bảng 2-3: Kết quả phát triển chu i HaproFood giai đoạn 2007 - 2010
Bảng 2-4: Tổng Doanh thu chu i HaproFood giai đoạn 2007 - 2010
Bảng 2-5: Kết quả kinh doanh chu i HaproFood giai đoạn 2007 - 2010 Bảng 2-6: Đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD qua các chỉ tiêu định lư ng Bảng 3-1: Kế hoạch phát triển mạng lưới HaproFood đến năm 2015
Bảng 3-2: Dự kiến Nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2011 - 2015
Biểu đ 2-1: Biểu đ tăng trưởng Tổng doanh thu từ năm 2005 - 2010
Biểu đ 2-2: Biểu đ tăng trưởng Tổng kim ngạch XNK từ năm 2005 - 2010 Biểu đ 3-1: Kế hoạch Doanh thu hệ thống HaproFood đến năm 2015
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề (Tính cấp thiết của đề tài)
An toàn thực phẩm (ATTP) có vai trò đặc biệt quan trọng, ATTP không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, giống nòi của dân tộc mà còn ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế, giao lưu văn hóa, thương mại Tuy nhiên, ATTP ở nước
ta còn nhiều bất cập, gây bức xúc cho toàn xã hội, làm mất ổn định an ninh, chính trị và gây thiệt hại về kinh tế Ngộ độc thực phẩm gây ra những thiệt hại lớn về tài sản, sức khỏe và tính mạng con người Mỗi năm Nhà nước và nhân dân tiêu tốn hàng chục tỷ đồng để khám và chữa các bệnh có liên quan đến ngộ độc thực phẩm Bên cạnh đó, ngộ độc thực phẩm còn gây ra những thiệt hại kinh tế do hàng loạt sản phẩm nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang nước ngoài bị tiêu hủy/trả về do vi phạm các quy định về ATTP của các nước nhập khẩu
Tình trạng ngộ độc thực phẩm phổ biến do nhiều nguyên nhân nhưng phải kể đến những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Ý thức của một bộ phận người dân về VSATTP chưa cao
- Ý thức của một số cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm còn hạn chế
- Thực trạng sản xuất và phân phối rau, thực phẩm an toàn còn nhiều bất cập,
tỷ lệ thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội
- Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước: Tình trạng kiểm soát chất lượng VSATTP còn gặp nhiều khó khăn
Với vai trò là Tổng công ty Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực thương mại, Tổng công ty Thương mại Hà Nội luôn phấn đấu đóng góp cho sự phát triển của ngành Thương mại Thủ đô, đi đầu trong công tác xây dựng văn minh thương mại,
vệ sinh an toàn thực phẩm và góp phần bình ổn giá thị trường trên địa bàn Thành phố Hà Nội Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của xã hội nói chung và Hà Nội nói riêng, với mục tiêu thực hiện tốt nhiệm vụ và vai trò của mình, Tổng công ty Thương mại
Hà Nội xác định việc đầu tư xây dựng và phát triển chuỗi cửa hàng kinh doanh rau, thực phẩm an toàn HaproFood là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu phát triển lâu dài của TCT đồng thời giải quyết nhu cầu tất yếu của xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Thủ đô, cụ thể như sau:
Trang 8 Về mặt chính trị - xã hội:
+ Góp phần giải quyết vấn đề vệ sinh ATTP, đảm bảo an sinh xã hội, bình ổn giá cả thị trường trên địa bàn Thành phố Hà Nội
+ Góp phần thực hiện mục tiêu của Thành phố về phát triển RAT đến 2015 theo
“Đề án sản xuất và tiêu thụ RAT Thành phố Hà Nội, giai đoạn 2009 - 2015” của UBND Thành phố Hà Nội
Về mặt kinh tế:
+ Góp phần giảm thiểu thiệt hại do hậu quả của vấn đề vệ sinh ATTP
+ Góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ rau, thực phẩm an toàn
+ Góp phần tạo tiền đề để phát triển kinh tế, thương mại, du lịch, đặc biệt là ngành sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm
Với mục tiêu tìm những giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của mạng lưới kinh doanh rau, thực phẩm an toàn HaproFood, tạo sự khác biệt trong cơ cấu sản phẩm hàng hóa tại hệ thống bán lẻ của TCT, tăng khả năng cạnh tranh và xây dựng thương hiệu HaproFood trở thành một trong những thương hiệu lớn, có độ tin cậy cao về VSATTP của TP Hà Nội nói riêng và của Việt Nam nói chung, Tôi lựa chọn đề tài luận văn “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mạng lưới kinh doanh rau, thực phẩm an toàn HaproFood của Tổng công ty Thương mại Hà Nội”
1.2 Tình hình nghiên cứu:
Các đề tài nghiên cứu liên quan đến rau, thực phẩm an toàn chủ yếu trên góc
độ sản xuất và tiêu thụ (chu trình từ sản xuất đến đưa sản phẩm tới người tiêu dùng, như “Đề án sản xuất và tiêu thụ Rau an toàn thành phố Hà Nội, giai đoạn 2009 - 2015” của UBND Thành phố Hà Nội hoặc Đề án sản xuất rau sạch theo tiêu chuẩn
VIETGAP của Công ty Hương Cảnh Đề tài nghiên cứu “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mạng lưới kinh doanh Rau, Thực phẩm an toàn HaproFood của Tổng công ty Thương mại Hà Nội” là đề tài nghiên cứu đầu tiên, có hệ thống
và cụ thể về mạng lưới kinh doanh Rau, thực phẩm an toàn HaproFood, đưa ra những đánh giá về hiệu quả hoạt động của mạng lưới kinh doanh này tại thị trường
Hà Nội; đến nay chưa có đề tài nào trực tiếp nghiên cứu về vấn đề này
1.3 Mục đích nghiên cứu:
Trang 9Phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của mạng lưới kinh doanh Rau, Thực phẩm an toàn HaproFood, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả và mở rộng phát triển mạng lưới kinh doanh Rau, Thực phẩm an toàn HaproFood, xây dựng thương hiệu HaproFood trở thành một trong những thương hiệu lớn, có độ tin cậy cao về vệ sinh an toàn thực phẩm của TP Hà Nội nói riêng
và của Việt Nam nói chung
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Một là, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức và hoạt động của
mạng lưới kinh doanh, các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của mạng lưới kinh doanh
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động kinh doanh của mạng
lưới kinh doanh rau, thực phẩm an toàn HaproFood hiện nay
Ba là, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả mạng lưới kinh doanh rau,
thực phẩm an toàn HaproFood
1.5 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: là các yếu tố tổ chức và hoạt động của mạng lưới kinh doanh rau, thực phẩm an toàn HaproFood của Tổng công ty Thương mại Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: do điều kiện về thời gian và khuôn khổ của luận văn thạc
sĩ, luận văn chỉ tập trung phân tích thực trạng của mạng lưới kinh doanh rau, thực phẩm an toàn HaproFood từ năm 2007 - 2010 để đề xuất các giải pháp hiệu quả cho giai đoạn 2011 - 2015
1.6 Nguồn số liệu:
- Báo cáo thường niên của Tổng công ty Thương mại Hà Nội
- Báo cáo triển khai kế hoạch hàng năm và báo cáo định kỳ kiểm điểm công tác phát triển mạng lưới kinh doanh Rau, Thực phẩm an toàn HaproFood
- Báo cáo kiểm tra tình hình hoạt động của mạng lưới kinh doanh Rau, Thực phẩm an toàn HaproFood
1.7 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận: đề tài vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử trong nghiên cứu kinh tế, quản trị doanh nghiệp thương mại
Trang 10Phương pháp tiếp cận: đề tài vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, logic
đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số đề tài và các số liệu thống kê từ các nguồn
Phương pháp nghiên cứu: đề tài vận dụng phương pháp nghiên cứu tình huống,
- Làm nguồn tài liệu tham khảo cho các công ty có hoạt động tương tự
1.9 Hạn chế của nghiên cứu:
Do hạn chế về thời gian, số liệu nghiên cứu thực tế của mạng lưới kinh doanh rau, thực phẩm an toàn HaproFood của Tổng công ty Thương mại Hà Nội (từ năm
2007 - 2010), thời gian nghiên cứu đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của mạng lưới kinh doanh rau, thực phẩm an toàn HaproFood (giai đoạn
2011 - 2015) và không gian (Hà Nội) nên nghiên cứu chỉ đưa ra các lý luận và các giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của mạng lưới kinh doanh rau, thực phẩm an toàn HaproFood trong phạm vi này
1.10 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục thì nội dung chính của Đề tài gồm 3 Chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả của mạng lưới kinh doanh
Chương II: Thực trạng hiệu quả của mạng lưới kinh doanh Rau, Thực phẩm an
toàn HaproFood của Tổng công ty Thương mại Hà Nội
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mạng lưới kinh doanh Rau,
Thực phẩm an toàn HaproFood giai đoạn 2011 - 2015
Trang 11CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CỦA MẠNG LƯỚI KINH DOANH
1.1 Khái niệm và đặc điểm mạng lưới kinh doanh:
1.1.1 Khái niệm:
Mạng lưới kinh doanh hay còn gọi là chuỗi bán lẻ là khái niệm dùng để chỉ một
hệ thống các cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tiện ích, Siêu thị, Đại Siêu thị, Trung tâm thương mại, của một nhà phân phối được đặt ở các địa bàn khác nhau nhưng áp dụng phương thức kinh doanh thống nhất Các điểm kinh doanh trong hệ thống có các mặt hàng, giá cả, phương thức quản lý quầy hàng, gian hàng trưng bày hàng hóa, biển hiệu, hình thức bên ngoài và kiến trúc tương tự nhau
Một nhà phân phối có thể có nhiều loại hình tổ chức kinh doanh khác nhau, trên thực tế có thể bao gồm:
* Cửa hàng tiện ích (Cửa hàng thuận tiện - Convenience Store)
CHTI là CH nhỏ bán chủ yếu các mặt hàng thiết yếu, mở cửa khuya hoặc suốt 24h, nằm ở gần hoặc ngay trong khu vực dân cư Các CH này KD chủ yếu các nhóm hàng thực phẩm công nghệ, tạp phẩm
Đặc điểm của chuỗi CHTI là có mức giá nhỉnh hơn 1 chút so với mức giá cho mặt hàng tương tự ở các Chợ, CH tổng hợp hay ST Các CHTI ngoài ưu điểm gần các khu dân cư còn có thời gian mở cửa kéo dài, thuận tiện cho việc mua sắm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng bất cứ lúc nào Ở nhiều nước phát triển, các CH loại này không chỉ KD các loại hàng hóa đơn thuần mà còn mở rộng ra các dịch vụ khác như cắt tóc, gội đầu, rửa xe, đồ ăn nhanh, xăng dầu,
* Cửa hàng chuyên doanh:
Cửa hàng chuyên doanh là cửa hàng nhỏ bán tập trung một hoặc một số mặt hàng, nhóm hàng cùng loại có thể thay thế và bổ trợ cho nhau, thường được đặt gần hoặc ngay trong khu dân cư
Đặc điểm của các cửa hàng chuyên doanh là có nhiều cấp độ của mặt hàng hoặc nhóm hàng để đáp ứng các mức độ lựa chọn của các nhóm nhu cầu khác nhau
* Siêu thị (Supermarket):
Siêu thị là thuật ngữ chỉ một cơ sở bán lẻ theo phương thức tự phục vụ, có nhóm
Trang 12mặt hàng tương đối rộng và sâu, chủ yếu là các mặt hàng thực phẩm và một số nhóm hàng công nghệ tiêu dùng có số lượng, chất lượng, giá cả rộng rãi nhằm thỏa mãn các loại nhu cầu ăn uống, sinh hoạt và liên đới tiêu dùng phong phú, đa dạng của các gia đình có qui mô khác nhau
Theo Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 của Bộ Thương Mại
về việc ban hành Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại thì định nghĩa: “Siêu thị
là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, đảm bảo chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng” Theo đó, Siêu thị được phân ra làm 3 hạng gồm:
Siêu thị hạng I: Ngoài các tiêu chuẩn về kiến trúc hiện đại, kho hàng, kỹ
thuật bảo quản, khu vệ sinh, khu giải trí, các siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Có diện tích kinh doanh từ 5.000m2 trở lên;
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
- Diện tích từ 1.000m2 trở lên;
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 2.000 tên hàng trở lên
Siêu thị hạng II:
Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Có diện tích kinh doanh từ 2.000m2 trở lên;
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
- Diện tích từ 500m2 trở lên;
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 1.000 tên hàng trở lên
Siêu thị hạng III:
Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Có diện tích kinh doanh từ 500m2 trở lên;
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
Trang 13- Diện tích từ 500m2 trở lên (như siêu thị tổng hợp);
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 500 tên hàng trở lên Đặc điểm của chuỗi Siêu thị là cung cấp dịch vụ KH ở mức vừa phải nhưng giá cả lại rất cạnh tranh, cận biên lợi nhuận mỏng, vì vậy, yêu cầu quan trọng nhất đối với ST là phải tăng tốc độ lưu chuyển hàng hóa càng nhanh càng tốt Khi mua trong ST, người mua được tự do ngắm nghía, so sánh, lựa chọn hàng hóa mà không
có cản trở nào từ người bán Người mua không phải mặc cả và tiết kiệm được thời gian mua sắm do giá cả được niêm yết rõ ràng Người bán thì tiết kiệm được chi phí bán hàng, đặc biệt chi phí tiền lương cho nhân viên Sự ra đời của ST được coi là cuộc cách mạng trong lĩnh vực phân phối bán lẻ vì chính ST sáng tạo ra phương thức tự phục vụ và nghệ thuật trưng bày hàng hóa
* Đại Siêu thị (Hypermarket):
Đại Siêu thị được định nghĩa là CH thương mại bán lẻ khối lượng lớn tại một địa điểm, dựa trên nguyên tắc bán hàng tự phục vụ và có quy mô lớn hơn nhiều so với ST, thường nằm ở ngoại ô các Thành phố lớn và có bãi xe rộng hoặc cũng có khi đóng vai trò là CH trung tâm trong một khu mua sắm hay Trung tâm mua sắm Đại ST có thể có diện tích bán hàng rộng trên 2.500m2, với ít nhất 35% diện tích đó dành cho sản phẩm không thiết yếu
* Trung tâm thương mại (Commercial Center)
Trung tâm thương mại là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa chức năng, bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ; hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê…được bố trí tập trung, liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến trúc liền kề; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh thương nhân và thoả mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng
Trung tâm thương mại thường được xây dựng trên diện tích lớn, tại vị trí trung tâm
đô thị để tiện lợi cho khách hàng và đảm bảo doanh thu
Theo Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 của Bộ Thương Mại
về việc ban hành Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại thì TTTM được phân ra làm 3 hạng:
Trang 14 Trung tâm thương mại hạng I: Ngoài các tiêu chuẩn về kiến trúc hiện đại, kho hàng, kỹ thuật bảo quản, khu vệ sinh, khu giải trí, các Trung tâm thương mại hạng I phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Có diện tích kinh doanh từ 50.000m2 trở lên;
- Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại hình dịch vụ bao gồm: khu vực để bố trí các cửa hàng bán buôn, bán
lẻ hàng hoá; nhà hàng khách sạn; khu vực để tổ chức hội chợ triển lãm, trưng bày giới thiệu hàng hoá; khu vực dành cho hoạt động vui chơi giải trí, cho thuê văn phòng làm việc, hội trường, phòng họp để tổ chức các hội nghị, hội thảo, giao dịch và ký kết các hợp đồng thương mại trong, ngoài nước; khu vực dành cho các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tin học, tư vấn, môi giới đầu tư, du lịch
Trung tâm thương mại hạng II: Phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Có diện tích kinh doanh từ 30.000m2 trở lên;
- Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại hình dịch vụ, tương tự như Trung tâm thương mại hạng I, trừ yêu cầu về khu vực để tổ chức Hội chợ triển lãm
Trung tâm thương mại hạng III: Phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Có diện tích kinh doanh từ 10.000m2 trở lên;
- Hoạt động đa chức năng về kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại hình dịch vụ, tương tự như Trung tâm thương mại hạng II, trừ yêu cầu
về khu vực phục vụ các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tin học; không yêu cầu các dịch vụ nhà hàng khách sạn, thay vào
đó là khu vực dành cho hoạt động ăn uống quy mô nhỏ hơn
1.1.2 Đặc điểm của mạng lưới kinh doanh:
Thứ nhất: Mạng lưới kinh doanh bao gồm nhiều CH, ST cùng chung một sở
hữu, phương thức kiểm soát và hệ thống chính sách chiến lược
Thứ hai: Các CH, ST trong mạng lưới được chỉ đạo, điều hành và quản lý tập
trung từ một đầu mối thống nhất sao cho phù hợp với triết lý và phương châm KD của toàn hệ thống Sự chỉ đạo này được thông qua mạng lưới thông tin tập trung và
áp dụng thống nhất từ công tác thu mua và hệ thống hậu cần cung ứng hàng hóa cho
Trang 15đến hoạch định và thực hiện chiến lược Marketing hỗn hợp, triển khai dịch vụ kết hợp và tiêu thụ hàng hóa
Thứ ba: Mạng lưới kinh doanh tổ chức công tác thu mua và phân phối tập trung
theo mô hình chuỗi cung ứng Việc này giúp cho hệ thống khai thác tối đa thế mạnh
KD chuỗi của mình do mua hàng trên quy mô lớn và tận dụng được nhiều ưu đãi và đầu tư của nhà cung cấp Đây là nền tảng giúp hệ thống có giá hàng thấp, cho phép hình thành biểu giá có tính cạnh tranh cao, nhờ vậy thu hút KH tốt hơn và tiêu thụ sản phẩm hiệu quả hơn
Thứ tư: Các CH, ST trong mạng lưới được chuẩn hóa khi bán những mặt hàng
giống nhau về chủng loại, cơ cấu và số lượng; có phương thức phục vụ tương tự và mang phong cách đồng nhất về hình thức trang trí bên trong và bên ngoài; cách thức sắp xếp, bố trí và trưng bày hàng hóa, thậm chí kiểu kiến trúc cửa hàng y hệt nhau Một chuỗi CH có kiến trúc và phong cách đồng nhất sẽ giúp làm nổi bật của CH và giúp khách hàng dễ nhận ra hơn Nói cách khác đây là việc xây dựng một hình ảnh mang đậm nét đặc trưng riêng của chuỗi trong tâm trí khách hàng
1.2 Mô hình tổ chức hoạt động:
1.2.1 Cấu trúc sở hữu và hoạt động:
Cấu trúc sở hữu của mạng lưới kinh doanh nhìn chung có thể chia thành 3 nhóm: Chuỗi cửa hàng thông thường, chuỗi cửa hàng nhượng quyền, chuỗi tự nguyện liên doanh liên kết
* Chuỗi CH thông thường (sở hữu 100% vốn Công ty): là hệ thống CH chuỗi do
một DN sở hữu Doanh nghiệp này tự bỏ vốn thành lập và tổ chức điều hành một hệ thống CH chuỗi của riêng mình Do tất cả các thành viên trong chuỗi đều thuộc sở hữu của một DN nên về cơ bản không có những xung đột lợi ích giữa các thành viên Doanh nghiệp có toàn quyền quyết định về tiêu chuẩn hoạt động và can thiệp sâu vào hoạt động của các thành viên trong chuỗi, từ bố trí nhân sự, tổ chức bán hàng đến quản lý tài chính, Tính thống nhất giữa các CH thành viên rất cao và mức độ rủi ro
do các thành viên không tuân thủ theo những chuẩn mực chung của chuỗi là rất thấp Tuy nhiên việc DN được toàn quyền can thiệp vào hoạt động của các thành viên nhiều khi làm cho các CH thành viên mất đi tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong việc giải quyết các tình huống kinh doanh
Trang 16Việc xây dựng cơ chế vận doanh của chuỗi CH thông thường là đơn giản nhất so với các loại hình chuỗi khác do tất cả các CH thành viên đều thuộc một chủ sở hữu nhưng yêu cầu về vốn đầu tư cho cơ sở vật chất và công nghệ quản lý không phải là nhỏ, thường chỉ những DN lớn có tiềm lực về tài chính, kinh nghiệm và trình độ quản lý mới có thể xây dựng và sở hữu một chuỗi CH thuần nhất
* Chuỗi CH nhượng quyền (franchise chain): là chuỗi CH mà DN với tư cách là
bên nhượng quyền cấp quyền kinh doanh cho CH nhận quyền hay CH mua quyền nhằm thu hút các CH bán lẻ hoạt động độc lập ở các địa điểm khác nhau và thuộc các
sở hữu khác nhau vào làm CH thành viên của chuỗi Ngoài tiền nhượng quyền ban đầu, CH nhận quyền còn phải trả tiền nhượng quyền hàng tháng tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh số bán Doanh nghiệp ngoài việc trao quyền sử dụng thương hiệu, bí quyết kinh doanh, cung cấp hàng hóa để các CH bán ra hoặc cung cấp trang thiết bị cho hoạt động của CH, còn chỉ đạo, hướng dẫn CH nhận quyền về trưng bày hàng hóa, thực hiện xúc tiến bán hàng, quản lý, đào tạo nhân viên, tổ chức nhân sự,
Áp dụng phương thức nhượng quyền, DN không cần phải đầu tư nhiều vốn (nhất là không mất tiền thuê, mua mặt bằng xây dựng CH) mà vẫn có thể nhanh chóng mở rộng được qui mô kinh doanh
* Chuỗi CH liên doanh liên kết: là loại hình tổ chức bán lẻ dựa trên sự liên minh,
hợp tác (và tổ chức hóa) giữa nhiều CH bán lẻ độc lập trong việc sử dụng thương hiệu chung, cùng nhau mua hàng và sử dụng dịch vụ logistics, nhờ đó sẽ giúp giảm chi phí vì lượng đặt hàng và giao dịch một lần lớn hơn nhiều lần khi từng CH bán lẻ độc lập thực hiện Các CH thành viên của chuỗi CH tự nguyện thuộc sở hữu của các chủ thể khác nhau, vận doanh dựa trên cơ chế tự nguyện liên kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động chung và một số cam kết ràng buộc Khác với CH nhượng quyền, tính độc lập của từng CH trong chuỗi CH tự nguyện ít bị tổn hại, tức là mỗi CH thành viên về cơ bản vẫn độc lập KD
Tuy nhiên, các CH thuộc chuỗi CH thuần nhất 100% vốn và CH nhượng quyền
có mức độ đồng nhất cao về dịch vụ và hàng hóa bán ra thì giữa các CH thuộc chuỗi
CH tự nguyện, mức độ đồng nhất này thường không cao và phương châm KD tùy thuộc vào từng CH nên khó phát huy được sức mạnh của toàn chuỗi trong cạnh tranh với các đối thủ lớn
Trang 171.2.2 Các nội dung của mô hình mạng lưới kinh doanh:
1.2.2.1 Xác định quan điểm kinh doanh:
Để tổ chức theo mô hình mạng lưới thì một trong những nhân tố có ý nghĩa quan trọng nhất đó là xác định quan điểm kinh doanh của mạng lưới Quan điểm KD của mạng lưới là những quan điểm chiến lược, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của toàn bộ hệ thống mà mọi DN thành viên phải tuân theo Các thành viên dù ở bất cứ nơi đâu cũng có đặc trưng giống nhau từ việc xác định khách hàng mục tiêu, bộ máy
tổ chức, quy trình làm việc, hình thức trang trí, màu sắc, logo, thương hiệu cho đến chủng loại và chất lượng hàng hóa, cách thức trưng bày, giá cả, các dịch vụ bán hàng
và cung cách phục vụ đều phải thống nhất với nhau Sự thành công của mạng lưới phụ thuộc phần lớn vào việc quán triệt và thực thi một cách tốt nhất quan điểm kinh doanh của mạng lưới
Quan điểm KD của mạng lưới chỉ rõ ý tưởng, định hướng KD trong đó mô tả tổng quan về những mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động, xác định rõ phân khúc mục tiêu và loại hình mà mạng lưới hoạt động, xác định những nhu cầu của thị trường mục tiêu để trả lời câu hỏi “Ai là khách hàng mục tiêu của mạng lưới?” - đây
là phân khúc khách hàng mạng lưới hướng toàn bộ nỗ lực tìm cách thỏa mãn nhu cầu một cách có kết quả hơn các đối thủ đồng thời phải thường xuyên theo dõi để đảm bảo các đối thủ không thu hút được khách hàng của mình
1.2.2.2 Lựa chọn xây dựng hình ảnh và thương hiệu của mạng lưới:
Hình ảnh của MLKD là cái mà NTD và công chúng nhìn nhận về chuỗi, một phần thông qua những yếu tố đặc trưng về vật chất (lý tính), một phần do những thuộc tính tâm lý (cảm tính) toát ra từ tâm trí khách hàng Các yếu tố này không chỉ dựa vào những yếu tố có thể trông thấy và lượng hóa được mà còn dựa vào những yếu tố vô hình thức như phong cách, văn hóa riêng của chuỗi
Có nhiều DN bán lẻ tham gia vào việc tạo dựng hình ảnh nên dễ có những cách nhìn nhận, cách hiểu, cách thể hiện, cách làm khác nhau, nên có thể làm sai lệch hoặc tạo nên một hình ảnh không thống nhất Điểm cần lưu ý là hình ảnh của chuỗi không chỉ bị lu mờ bởi đối thủ cạnh tranh mà còn do sự không thống nhất của các thành viên trong chuỗi Vì vậy việc xây dựng hình ảnh của chuỗi phải được chỉ đạo tập trung và thống nhất rất cao từ Văn phòng chính trên các phương diện, yếu tố tạo
Trang 18nên hình ảnh của chuỗi Một khi chuỗi thành công trong việc tạo nên hình ảnh đặc trưng thống nhất về MLKD của mình thì thương hiệu của MLKD, sức mạnh cạnh tranh và thu hút khách hàng được nhân lên gấp nhiều lần do NTD có thể gặp hình ảnh của chuỗi ở mọi lúc, mọi nơi
1.2.2.3 Hoạch định chiến lược Marketing hỗn hợp của mạng lưới:
Do đó, để đảm bảo phát triển thành công MLKD phải hình thành phát triển mạng lưới ở những vị trí và địa bàn thích hợp Chiến lược vị trí của MLKD chỉ rõ những tiêu thức của việc phát triển mạng lưới các thành viên của chuỗi, bao gồm: mật độ của các Cửa hàng, Siêu thị thành viên trên một địa phương, khoảng cách giữa các
CH, ST thành viên với nhau, quy mô dân số và bán kính phục vụ mà mỗi DN bán lẻ thành viên nhắm đến, đặc điểm và các tiêu chí trong việc lựa chọn một vị trí để thiết lập một đơn vị bán lẻ, tính liên hoàn và sự tương trợ giữa các CH, ST thành viên với nhau,
Chiến lược hàng hóa
Chiến lược và chủng loại hàng hóa KD của một MLKD được xác định ở một mức
độ tiêu chuẩn cao hơn các đơn vị bán lẻ để có thể đảm bảo tính thống nhất và tập trung cao của chuỗi Căn cứ vào quan điểm KD của MLKD, bộ phận mua hàng ở Văn phòng chính thiết lập một danh mục những ngành hàng và mặt hàng đưa vào KD gồm:
+ Hàng cơ bản: là những mặt hàng phù hợp nhu cầu của khách hàng mục tiêu
mà chuỗi nhằm tới và được bày bán ở tất cả các đơn vị bán lẻ thành viên Những mặt hàng này được tổ chức mua và phân phối tập trung, được quản lý thống nhất toàn hệ thống về cơ cấu, chủng loại, qui cách, bao bì đóng gói Số lượng hàng hóa này chiếm 80 - 90% các loại hàng hóa kinh doanh của toàn chuỗi
+ Hàng địa phương: là những mặt hàng bổ sung căn cứ vào nhu cầu có tính đặc thù của khách hàng ở từng địa phương nơi các DN bán lẻ thành viên hoạt động
Chiến lược giá
Trang 19Đặc thù của việc quản trị một MLKD đòi hỏi các nhà quản lý phải quan tâm đến việc triển khai áp dụng chiến lược giá như thế nào để đảm bảo tính thống nhất và phát huy tối đa lợi thế của chuỗi Một yêu cầu có tính nguyên tắc là tất cả hàng hóa bày bán tại các đơn vị bán lẻ thành viên của chuỗi dù ở bất cứ nơi đâu cũng đều phải
có một giá bán như nhau Việc quyết định giá bán các mặt hàng này được thực hiện thống nhất và tập trung từ một đầu mối tại Văn phòng chính
Trên thực tế điều này phụ thuộc vào trình độ, năng lực điều hành, quản lý của chuỗi và điều kiện trang thiết bị, nhất là hệ thống điện báo Trong trường hợp chưa
có điều kiện thống nhất cho toàn bộ nhóm hàng cơ bản, MLKD có thể lựa chọn áp dụng chính sách giá thống nhất cho một nhóm hàng đặc trưng tiêu biểu mà khách hàng mục tiêu của mình quan tâm nhiều, thể hiện được hình ảnh hoặc nét đặc trưng riêng của chuỗi, có sự nhạy cảm về giá có thể phân cấp cho các ST thành viên tự quyết định trên cơ sở tuân thủ những nguyên tắc chung của toàn hệ thống và chính sách giá, phương pháp định giá và khung tỷ lệ lãi gộp
Chiến lược xúc tiến
Hoạt động xúc tiến của một MLKD được quản lý và tổ chức thực hiện thống nhất
từ bộ phận Marketing tại Văn phòng chính thành một hệ thống các chiến lược, đường lối chủ trương và các chính sách xúc tiến chung Hệ thống này bao gồm các nội dung chủ yếu như:
+ Chính sách, kế hoạch và các chương trình quảng cáo, khuyến mại, các chương trình quan hệ công chúng và tuyên truyền,
+ Công tác thiết kế, cách trang trí và thể hiện bên ngoài đơn vị bán lẻ, bầu không khí và hàng hóa bên trong DN, bố trí layout
+ Chính sách trưng bày định vị hàng hóa
+ Xây dựng ngân sách và phân bố ngân sách cho từng hoạt động
Việc tổ chức và triển khai tập trung các hoạt động xúc tiến sẽ tạo ấn tượng mạnh
mẽ do các chương trình được tiến hành đồng bộ, cùng một thời điểm, diễn ra ở tất cả các đơn vị bán lẻ thành viên trên diện rộng, đồng thời nó còn cho phép tiết giảm chi phí do mọi thành viên của chuỗi đều tiến hành đồng loạt và sử dụng chung các hoạt động và dịch vụ Tuy nhiên, công tác tổ chức và triển khai các hoạt động không tốt, thiếu đồng bộ có thể dẫn đến sự thiếu linh hoạt, nặng nề, kém hiệu quả của việc tổ chức,
Trang 20thiết kế và triển khai các chương trình
Trong các hoạt động xúc tiến của MLKD thì việc xây dựng một lượng khách hàng trung thành, cam kết mua hàng và gắn bó thường xuyên là một trong những mục tiêu và nội dung quan trọng của mạng lưới MLKD thường quan tâm đầu tư cho hoạt động này dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau như: Câu lạc bộ khách hàng, Thẻ khách hàng VIP, Thẻ ưu đãi, Khách hàng thành viên,
1.2.2.4 Tổ chức bộ máy hoạt động của mạng lưới:
Trái với quản lý một DN bán lẻ đơn lẻ, quản lý MLKD rất phức tạp Chuỗi phải quản lý bao gồm nhiều DN bán lẻ ở những địa bàn khác nhau, cách xa nhau nhưng lại đòi hỏi sự thống nhất và tập trung cao về mọi mặt Bộ máy của chuỗi thường được tổ chức thành 3 bộ phận như sau:
+ Bộ phận trung tâm: chịu trách nhiệm điều hành và chỉ đạo toàn bộ hoạt động của chuỗi, quyết định các chính sách định hướng chung, định vị, phân bổ và đảm bảo các nguồn lực theo yêu cầu kinh doanh và quản lý của chuỗi
+ Bộ phận các DN bán lẻ thành viên: trực tiếp tổ chức kinh doanh, tập trung phục vụ khách hàng, quản lý nhân viên và triển khai thực hiện các chỉ đạo của Văn phòng trung tâm
+ Bộ phận hỗ trợ và hậu cần logistics: đảm trách công tác thu mua, cung ứng
và dịch vụ hậu cần phân phối
Bộ máy tổ chức của một MLKD và các nhân viên làm việc trong chuỗi được tuyển chọn theo một tiêu chuẩn đã được chuẩn hóa trong toàn hệ thống theo hướng chuyên môn hóa cao Theo định kỳ các cán bộ quản lý được bố trí và luân chuyển giữa các vùng lãnh thổ, các khu vực, các đơn vị bán lẻ, các bộ phận chức năng khác nhau để họ
có thể tiếp cận với nhiều lĩnh vực và nội dung hoạt động khác nhau, qua đó họ được đào tạo và phát triển, bổ sung thêm kinh nghiệm trong quản lý và điều hành MLKD
1.3 Hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp bán lẻ:
1.3.1 Các quan niệm về hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp:
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
KD, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các hoạt động SXKD của DN Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao
Trang 21động xã hội Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả KD Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính chất cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực Để đạt được mục tiêu KD, các DN buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu lực của các yếu tố
sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí
Ngày nay, khi đề cập đến vấn đề hiệu quả thì người ta vẫn chưa có khái niệm thống nhất Bởi vì ở mỗi một lĩnh vực, xem xét trên các góc độ khác nhau thì người
ta có những cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề hiệu quả Để hiểu rõ hơn về hiệu quả thì chúng ta xem xét trên các quan điểm kinh tế, và quan điểm xã hội Tương ứng với các quan điểm này là 2 phạm trù hiệu quả: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội
1.3.1.1 Hiệu quả kinh doanh theo quan điểm kinh tế
Hiệu quả kinh tế của từng doanh nghiệp riêng lẻ được biểu hiện qua phạm trù kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu phản ánh đầy đủ các mặt của cả một quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể là:
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Dưới giác độ này thì chúng ta có thể xác định hiệu quả kinh doanh một cách cụ thể bằng các phương pháp định lượng thành các chỉ tiêu hiệu quả cụ thể và từ đó có thể tính toán so sánh được Lúc này phạm trù hiệu quả kinh doanh là một phạm trù cụ thể, nó đồng nhất
và là biểu hiện trực tiếp của lợi nhuận, doanh thu… Ngoài ra nó còn biểu hiện mức
độ phát triển doanh nghiệp theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực, trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện được mục tiêu kinh doanh Lúc này phạm trù hiệu quả kinh doanh là một phạm trù trừu tượng và nó phải được định tính thành mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Nói một cách khác, ta có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh trình
độ và khả năng quản lý của doanh nghiệp Lúc này hiệu quả kinh doanh thống nhất với hiệu quả quản lý doanh nghiệp Dưới góc độ này thì hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ và khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất
Trong thực tế, hiệu quả kinh doanh trong các DN đạt được trong các trường hợp sau:
Trang 22- Kết quả tăng, chi phí giảm
- Kết quả tăng, chi phí tăng nhưng tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơn tốc độ tăng của kết quả
Nói tóm lại ở tầm vĩ mô hiệu quả kinh doanh phản ánh đồng thời các mặt của quá trình sản xuất kinh doanh như: kết quả kinh doanh, trình độ sản xuất, tổ chức sản xuất và quản lý, trình độ sử dụng của yếu tố đầu vào… đồng thời nó yêu cầu sự phát triển của doanh nghiệp theo chiều sâu Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong thời kỳ Sự phát triển tất yếu đó đòi hỏi các DN phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, đây là mục tiêu cơ bản nhất của doanh nghiệp
1.3.1.2 Hiệu quả kinh doanh theo quan điểm xã hội:
Hiệu quả xã hội của một hoạt động kinh tế xác định trong mối quan hệ giữa hoạt động đó với tư cách là tổng thể các hoạt động kinh tế hoặc là một hoạt động cụ thể về kinh tế với nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội, được thể hiện ở mức độ đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội như: đáp ứng được nhu cầu
đa dạng, nâng cao mức sống, ổn định đời sống góp phần an sinh xã hội, kích thích
và phát triển sản xuất, tăng thu cho ngân sách, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân
Hiệu quả xã hội có tính chất gián tiếp rất khó định lượng nhưng lại có thể định tính: “Hiệu quả xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển”
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong nhiều trường hợp, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội vận động cùng chiều, nhưng lại có một số trường hợp hai mặt đó lại mâu thuẫn với nhau Có những hoạt động kinh doanh không mang lại lợi nhuận, thậm chí có thể thua thiệt, nhưng doanh nghiệp vẫn kinh doanh nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định Phạm vi nghiên cứu của Luận văn này tập trung vào các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của mạng lưới kinh doanh rau, thực phẩm an toàn HaproFood theo quan điểm kinh tế
1.3.2 Các nhân tố chi phối hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp bán lẻ:
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có thể được chia thành hai nhóm đó là nhóm các nhân tố ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp và nhóm các nhân
Trang 23tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp Mục tiêu của quá trình nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nhằm mục đích lựa chọn các phương án kinh doanh phù hợp Tuy nhiên việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh cần phải được thực hiện liên tục trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường
1.3.2.1 Nhân tố bên ngoài:
a Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô:
Trong bức tranh toàn cầu đang biến đổi nhanh chóng, công ty phải theo dõi bốn môi trường cơ bản là môi trường chính trị luật pháp, môi trường kinh tế, môi trường
xã hội và môi trường công nghệ Đây là bốn yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế, các yếu tố này là các yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp và ngành, và phải chịu các tác động của nó đem lại như một yếu tố khách quan Các doanh nghiệp dựa trên các tác động sẽ đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp
Môi trường chính trị luật pháp
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị - pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự ổn định chính trị được xác định là một trong những tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự thay đổi của môi trường chính trị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm hãm sự phát triển nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại Hệ thống pháp luật hoàn thiện, không thiên vị là một trong những tiền đề ngoài kinh tế của kinh doanh Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp luật trong nền kinh tế
có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường pháp luật tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì môi trường này ảnh hưởng đến mặt hàng sản xuất, ngành nghề, phương thức kinh doanh của doanh nghiệp Không những thế nó còn tác động
đến chi phí của DN cũng như chi phí lưu thông, chi phí vận chuyển, thuế suất…
Môi trường kinh tế
Trạng thái của môi trường kinh tế vĩ mô xác định sự lành mạnh, thịnh vượng của nền kinh tế, nó luôn gây ra những tác động đến các doanh nghiệp và các ngành Môi trường kinh tế bao gồm kinh tế vĩ mô, các chính sách, chủ trương phát triển kinh tế theo vùng miền, lãnh thổ, ngành nghề Môi trường kinh tế chỉ bản chất và định hướng
Trang 24của nền kinh tế trong đó doanh nghiệp hoạt động
Các doanh nghiệp cần chú ý đến các yếu tố kinh tế cả trong ngắn hạn, dài hạn và
sự can thiệp của Chính phủ tới nền kinh tế Các ảnh hưởng của nền kinh tế đến một công ty có thể làm thay đổi khả năng tạo giá trị và thu nhập của nó Thông thường các DN sẽ dựa trên yếu tố kinh tế để quyết định đầu tư vào các ngành, các khu vực
Môi trường xã hội
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó Những giá trị văn hóa là những giá trị làm lên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội
đó tồn tại và phát triển Chính vì thế các yếu tố văn hóa thông thường được bảo vệ hết sức quy mô và chặt chẽ, đặc biệt là các văn hóa tinh thần Tuy vậy chúng ta cũng không thể phủ nhận những giao thoa văn hóa của các nền văn hóa khác vào các quốc gia Sự giao thoa này sẽ thay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống, và tạo ra triển
vọng phát triển với các ngành
Bên cạnh văn hóa, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quan tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập khác nhau về: Tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, ăn uống; Thu nhập trung bình, phân phối thu nhập; Lối sống, học thức, các quan điểm về thẩm mỹ, tâm
lý sống; Điều kiện sống
Môi trường công nghệ
Khoa học, công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất vật chất to lớn Chính khoa học công nghệ làm thay đổi mọi thói quen, cách thức sản xuất và tiêu dùng kể cả phương thức trao đổi mua bán Sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật đang làm thay đổi nhiều lĩnh vực sản xuất Đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ truyền thông hiện đại đã giúp các khoảng cách
về địa lý, phương tiện truyền tải Để đạt được thành công khi kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, các doanh nghiệp rất cần các thông tin chính xác về cung cầu thị trường hàng hoá, về người mua và về đối thủ cạnh tranh Khoa học công nghệ đòi hỏi mọi doanh nghiệp nhạy cảm, tiếp nhận, thích nghi với tiến bộ khoa học kỹ thuật để đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ sản xuất mới
Trang 25để đưa doanh nghiệp đi lên Các doanh nghiệp bán lẻ cần đặc biệt quan tâm tới môi trường công nghệ, các kỹ thuật tiên tiến để áp dụng vào quản lý hoạt động bán hàng, quản lý hệ thống, quản trị kênh phân phối, tiêu thụ sản phẩm, tiếp thị, và các hoạt động logistics
Môi trường tự nhiên và môi trường hạ tầng
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố như thời tiết, khí hậu, mùa vụ, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên Các nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến quy trình công nghệ, tiến độ thực hiện KD của các DN đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh các
mặt hàng mang tính chất mùa vụ như nông, lâm, thủy sản, đồ may mặc, giày dép…
Các yếu tố cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, điện, nước… đều là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp bán lẻ hoạt động ở những khu vực có
hệ thống giao thông thuận lợi, điện, nước đầy đủ, thị trường tiêu thụ thuận lợi sẽ có nhiều điều kiện phát triển kinh doanh, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí kinh doanh và do đó nâng cao hiệu quả kinh doanh
Ngoài các yếu tố cơ bản trên, hiện nay khi nghiên cứu thị trường, các doanh nghiệp phải đưa yếu tố toàn cầu hóa trở thành một yếu tố vĩ mô tác động đến ngành Toàn cầu hóa tạo ra các sức ép cạnh tranh từ các đối thủ đến từ mọi khu vực Quá trình hội nhập sẽ khiến các doanh nghiệp phải điều chỉnh phù hợp với các lợi thế so sánh, phân công lao động của khu vực và của thế giới Điều quan trọng là khi hội nhập, các rào cản về thương mại sẽ dần dần được gỡ bỏ, các doanh nghiệp có cơ hội buôn bán với các đối tác ở cách xa khu vực địa lý, khách hàng của các doanh nghiệp lúc này không chỉ là thị trường nội địa nơi doanh nghiệp đang kinh doanh mà còn các khách hàng ở các khu vực và vùng lãnh thổ khác trên thế giới
b Các nhân tố thuộc môi trường ngành
Ngành là một nhóm các doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ có thể thay thế chặt chẽ với nhau Sự thay thế một cách chặt chẽ có nghĩa là các sản phẩm hay dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu khách hàng về cơ bản tương tự nhau
Các ngành rất khác nhau về: đặc tính kinh tế, qui mô và tốc độ tăng trưởng thị trường, tốc độ thay đổi công nghệ, ranh giới địa lý của thị trường (địa phương hay toàn cầu), số lượng, qui mô của những người mua và bán, mức độ tác động của tính
Trang 26kinh tế về qui mô đến sản phẩm của người bán, các kiểu kênh phân phối Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành có thể vừa phải, dữ dội, thậm chí
là tàn khốc Các tiêu điểm cạnh tranh, có thể là giá, có thể là chất lượng, cải tiến hay rất nhiều các đặc tính hiệu năng khác
Tính hấp dẫn của ngành thể hiện ở diện mạo kinh tế và các điều kiện cạnh tranh hiện tại cũng như dự kiến tương lai của ngành, cơ sở của dự báo mức lợi nhuận tương lai
* Mô hình năm lực lượng cạnh tranh (Michael E.Porter )
Có năm lực lượng định hướng cạnh tranh trong phạm vi ngành Các lực lượng cạnh tranh càng mạnh, càng hạn chế khả năng để các doanh nghiệp hiện tại tăng giá
và có được lợi nhuận cao hơn Lực lượng cạnh tranh mạnh có thể xem như một sự
đe dọa, sẽ làm giảm thấp lợi nhuận Sức mạnh của năm lực lượng có thể thay đổi theo thời gian, khi các điều kiện ngành thay đổi Vì vậy các doanh nghiệp cần nhận thức về những cơ hội và nguy cơ, do thay đổi của năm lực lượng sẽ đem lại, để xây dựng các chiến lược thích ứng
+ Mức độ cạnh tranh (Degree of Rivalry):
Trong mô hình kinh tế truyền thống, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đối thủ đẩy lợi nhuận tiến dần tới con số 0, nhưng trong cuộc cạnh tranh ngày nay, các doanh nghiệp không ngây thơ đến mức chịu chấp nhận giá một cách thụ động Trên
thực tế, các hãng đều cố gắng để có được lợi thế cạnh tranh so với đối thủ của mình
Nếu mức độ cạnh tranh giữa các hãng trong một ngành thấp, thì ngành đó được coi là “có kỷ luật” Kỷ luật này có thể là kết quả của lịch sử cạnh tranh trong ngành, vai trò của hãng đứng đầu, hoặc sự tuân thủ với các chuẩn mực đạo đức chung Sự câu kết giữa các công ty nhìn chung là không hợp pháp Trong những ngành có mức
độ cạnh tranh thấp, các động thái cạnh tranh chắc chắn bị hạn chế một cách không chính thức Khi một đối thủ hành động theo cách khiến các hãng khác buộc phải trả đũa, thì tính cạnh tranh ở thị trường đó sẽ tăng lên Cường độ cạnh tranh thường được miêu tả là tàn khốc, mạnh mẽ, vừa phải, hoặc yếu, tùy theo việc các hãng nỗ lực giành lợi thế cạnh tranh đến mức nào
+ Cường độ cạnh tranh chịu ảnh hưởng của các đặc điểm ngành sau đây:
- Số lượng công ty lớn
Trang 27- Thị trường tăng trưởng chậm
- Các chi phí cố định cao
- Chi phí lưu kho cao hoặc sản phẩm dễ hư hỏng
- Chi phí chuyển đổi hàng hóa thấp
- Mức độ khác biệt hóa sản phẩm thấp
- Khả năng thay đổi chiến lược cao
- Các rào cản “thoát ra” cao
- Sự sàng lọc trong ngành
+ Nguy cơ thay thế (Threat of Substitutes)
Trong mô hình của Porter, thuật ngữ “sản phẩm thay thế” là đề cập đến sản phẩm thuộc các ngành sản xuất khác Độ co giãn nhu cầu theo giá của một sản phẩm chịu tác động của sự thay đổi giá ở hàng hóa thay thế Càng có nhiều hàng hóa thay thế thì đồ thị thể hiện nhu cầu sản phẩm càng có độ co giãn cao (có nghĩa
là chỉ một sự thay đổi nhỏ trong giá sản phẩm cũng dẫn đến sự thay đổi lớn trong lượng cầu sản phẩm) vì lúc này người mua có nhiều sự lựa chọn hơn Vì vậy, sự tồn tại của các hàng hóa thay thế làm hạn chế khả năng tăng giá của doanh nghiệp trong một ngành sản xuất nhất định Sự cạnh tranh gây ra bởi nguy cơ thay thế này thường đến từ các sản phẩm bên ngoài ngành
+ Sức mạnh của khách hàng (Buyer Power)
Sức mạnh khách hàng là ảnh hưởng của khách hàng đối với một ngành sản xuất nào đó Nhìn chung, khi sức mạnh khách hàng lớn, thì mối quan hệ giữa khách hàng với ngành sản xuất sẽ gần với cái mà các nhà kinh tế gọi là độc quyền mua – tức là thị trường có nhiều nhà cung cấp nhưng chỉ có một người mua Trong điều kiện thị trường như vậy, khách hàng có khả năng áp đặt giá Nếu khách hàng mạnh,
họ có thể buộc giá hàng phải giảm xuống, khiến tỷ lệ lợi nhuận của ngành giảm Có rất ít hiện tượng độc quyền mua trên thực tế, nhưng vẫn thường tồn tại mối quan hệ không cân bằng giữa một ngành sản xuất và người mua Sau đây là những yếu tố quyết định sức mạnh khách hàng
Khách hàng có sức mạnh lớn khi:
- Khách hàng có tính tập trung cao, tức là có ít khách hàng chiếm một thị phần lớn
- Khách hàng mua một lượng lớn sản phẩm sản xuất ra trong bối cảnh kênh
Trang 28phân phối hoặc sản phẩm đã được chuẩn hóa
- Khách hàng có khả năng sát nhập hay thậm chí là mua hãng sản xuất
Khách hàng yếu trong những trường hợp sau:
- Trường hợp sát nhập xảy ra: nhà sản xuất có khả năng sát nhập hoặc mua hãng phân phối/ bán lẻ, chẳng hạn như các hãng sản xuất phim thường có thể mua lại các rạp chiếu phim
- Chi phí chuyển đổi sản phẩm của khách hàng lớn, thường do sản phẩm không được chuẩn hóa, vì thế khách hàng không thể dễ dàng chuyển sang sử dụng sản phẩm khác được
- Có rất nhiều khách hàng, vì thế không khách hàng nào có ảnh hưởng đáng kể đến sản phẩm hoặc giá sản phẩm Hiện tượng này xảy ra với hầu hết các loại hàng hóa tiêu dùng
- Nhà sản xuất cung cấp giá trị đầu vào đáng kể cho sản phẩm của người mua
+ Sức mạnh của nhà cung cấp:
Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện khả năng quyết định các điều kiện giao dịch của họ đối với doanh nghiệp Những nhà cung cấp yếu thế có thể phải chấp nhận các điều khoản mà doanh nghiệp đưa ra, nhờ đó doanh nghiệp giảm được chi phí và tăng lợi nhuận trong sản xuất, ngược lại, những nhà cung cấp lớn có thể gây sức ép đối với ngành sản xuất bằng nhiều cách, chẳng hạn đặt giá bán nguyên liệu cao để san sẻ phần lợi nhuận của ngành
Sau đây là một số yếu tố quyết định sức mạnh của nhà cung cấp:
- Mức độ tập trung của các nhà cung cấp
- Mức độ chuẩn hóa của đầu vào
- Chi phí thay đổi nhà cung cấp
- Nguy cơ tăng cường hợp nhất giữa nhà cung cấp và đơn vị sản xuất
- Sức mạnh của doanh nghiệp thu mua
+ Các rào cản gia nhập:
Không chỉ các đối thủ hiện tại mới tạo ra nguy cơ đe dọa các doanh nghiệp trong một ngành, mà khả năng các hãng mới có thể gia nhập ngành cũng ảnh hưởng đến cuộc cạnh tranh Các rào cản gia nhập không chỉ là sự điều chỉnh thông thường của thị trường Chẳng hạn như khi lợi nhuận của ngành tăng lên, chúng ta dự đoán
Trang 29rằng sẽ có thêm các hãng muốn xâm nhập vào thị trường để được hưởng mức lợi nhuận cao đó, khiến lợi nhuận của các hãng trong ngành giảm dần Khi lợi nhuận giảm, chúng ta lại dự đoán rằng một số công ty sẽ rút lui, nhờ đó, tình trạng cân bằng thị trường được tái lập Giá giảm, hoặc dự đoán rằng giá sẽ giảm trong tương lai, ngăn cản các đối thủ tiềm năng bước vào thị trường Các công ty sẽ ngần ngại không muốn tham gia một thị trường bất ổn, đặc biệt là nếu việc tham gia thị trường đòi hỏi phải tốn một khoản chi phí khởi sự lớn Đó là những điều chỉnh thông thường của thị trường, nhưng nếu các hãng cố tình giữ giá thấp để duy trì mức lợi nhuận thấp của cả ngành (việc tập hợp các hãng thực hiện biện pháp này sẽ bị coi là hành động phi pháp) như một chiến lược để ngăn cản những công ty khác không bước chân vào thị trường, thì việc đặt giá để ngăn cản gia nhập đó chính là một rào cản gia nhập
Các rào cản đối với việc thoát ra khỏi ngành cũng tương tư như các rào cản gia nhập Rào cản thoát ra hạn chế khả năng rời khỏi thị trường của công ty và vì thế có thể làm cho mức độ cạnh tranh trở nên gay gắt hơn - vì không thể rời bỏ ngành, nên công ty buộc phải cạnh tranh để tồn tại
1.3.2.2 Nhân tố bên trong
Các nhân tố bên trong doanh nghiệp chính là tiềm lực của một doanh nghiệp
Cơ hội, chiến lược kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp luôn phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố phản ảnh tiềm lực của một doanh nghiệp cụ thể Tiềm lực của một doanh nghiệp không phải là bất biến, có thể phát triển mạnh lên hay yếu đi, có thể thay đổi toàn bộ hay bộ phận Chính vì vậy trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp luôn phải chú ý tới các nhân tố này nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp hơn nữa
Nhân tố vốn:
Đây là một nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối, đầu tư có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý có hiệu quả các nguồn vốn kinh doanh
Yếu tố vốn là yếu tố chủ chốt quyết định đến quy mô của doanh nghiệp và quy
mô có cơ hội có thể khai thác Nó phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và là sự đánh giá về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kinh doanh
Trang 30 Nhân tố con người:
Trong sản xuất kinh doanh con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo thành công Lực lượng lao động có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với cầu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ được tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả kinh doanh
Nhân tố trình độ kỹ thuật công nghệ:
Trình độ, kỹ thuật công nghệ tiên tiến cho phép doanh nghiệp chủ động nâng cao chất lượng hàng hoá, năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm Các yếu tố này tác động hầu hết đến các mặt về sản phẩm như: đặc điểm sản phẩm, giá cả sản phẩm, sức cạnh tranh của sản phẩm Nhờ vậy doanh nghiệp có thể tăng khả năng cạnh tranh của mình, tăng vòng quay của vốn lưu động, tăng lợi nhuận đảm bảo cho quá trình tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp
Nhân tố quản trị doanh nghiệp:
Nhân tố này đóng với trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng trong môi trường kinh doanh ngày càng biến động Chất lượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp Kết quả và hiệu quả hoạt động của quản trị doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, cá nhân và thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó
Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin:
Thông tin được coi là một hàng hoá, là đối tượng kinh doanh và nền kinh tế thị trường hiện nay được coi là nền kinh tế thông tin hàng hoá Để đạt được thành công trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp cần nhiều thông tin chính xác về cung cầu thị trường hàng hoá, về công nghệ kỹ thuật, về người mua, về các đối thủ cạnh tranh… Ngoài ra, doanh nghiệp còn rất cần đến các thông tin về kinh nghiệm thành công hay thất bại của các doanh nghiệp khác ở trong nước
Trang 31và quốc tế, cần biết các thông tin về các thay đổi trong các chính sách kinh tế của Nhà nước và các nước khác có liên quan Kinh nghiệp thành công của nhiều doanh nghiệp
là nắm được các thông tin cần thiết và biết xử lý, sử dụng các thông tin đó kịp thời là một điều kiện quan trọng để ra các quyết định kinh doanh có hiệu quả cao
Để gia tăng giá trị dành cho khách hàng, doanh nghiệp có thể có hai phương án: hoặc tăng giá trị mà khách hàng có thể nhận được, hoặc giảm tổng chi phí mà họ bỏ
ra Phương án đầu, đòi hỏi phải củng cố hay nâng cao lợi ích của sản phẩm/dịch vụ của đội ngũ nhân viên bán hàng hay hình ảnh của công ty Phương án thứ hai, đòi hỏi phải giảm chi phí của khách hàng thông qua việc giảm giá, đơn giản thủ tục mua bán, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc mua và sử dụng hàng hoá cho khách hàng… Cả hai phương án này đòi hỏi có sự phối hợp đồng bộ của tất cả các biến số của hệ thống Marketing-Mix của doanh nghiệp
Vấn đề đặt ra là, vậy quá trình cung ứng giá trị cho khách hàng được doanh nghiệp thực hiện như thế nào? Theo Micheal Porter, giáo sư của trường đại học Harvard, một chuyên gia về chiến lược cạnh tranh đã cho rằng công cụ quan trọng của doanh nghiệp để tạo ra giá trị lớn hơn dành cho khách hàng chính là chuỗi giá trị Về thực chất, đây là một tập hợp các hoạt động nhằm thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của doanh nghiệp Trong chuỗi giá trị này, mô hình Porter khoanh thành hai mảng chính cho kinh doanh: hoạt động bổ trợ và hoạt động chính Về cơ bản, tổng thể có chín loại hoạt động tạo ra giá trị trong toàn chuỗi Nhóm hoạt động chính thì bao gồm dãy năm loại hoạt động: đưa nguyên vật liệu vào kinh doanh; vận hành, sản xuất - kinh doanh; vận chuyển ra bên ngoài; marketing và bán hàng; cung cấp các dịch vụ liên quan Nhóm bổ trợ chứa các hoạt động tạo ra giá trị bao gồm: Hạ tầng, quản trị nhân lực, công nghệ và mua sắm Các hoạt động bổ trợ xảy ra bên trong từng loại hoạt động chính
Trang 32Có thể khái quát chuỗi giá trị của doanh nghiệp qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1-1: Sơ đồ chuỗi giá trị của doanh nghiệp
Từ sơ đồ trên, có thể thấy rằng, để doanh nghiệp tạo ra những giá trị lớn hơn dành cho khách hàng làm cơ sở cho việc xây dựng thương hiệu mạnh cần chú ý mấy
điểm sau:
- Thứ nhất, cần tiến hành tốt 4 hoạt động chủ chốt vì đây là những hoạt động đóng vai trò chính trong việc tạo ra giá trị cho khách hàng Các hoạt động chủ chốt bao gồm: hậu cần nội bộ, sản xuất, hậu cần bên ngoài, marketing và bán hàng, cung cấp dịch vụ Nó là một chuỗi công việc, từ việc đưa các yếu
tố đầu vào về doanh nghiệp, chế biến chúng, sản xuất các thành phẩm, bán hàng và các hoạt động để phục vụ khách hàng
- Thứ hai, doanh nghiệp cũng cần đầu tư cho những hoạt động hỗ trợ Đây là những hoạt động tuy không trực tiếp và đóng vai trò chính trong việc tạo ra giá trị dành cho khách hàng nhưng lại có ý nghĩa trợ giúp cho tất cả các hoạt động chủ chốt nói trên và thiếu chúng thì không thể tiến hành các hoạt động chủ chốt được
- Thứ ba, nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải thường xuyên kiểm tra chi phí và kết quả thực hiện của mình trong từng hoạt động tạo ra giá trị và không ngừng cải tiến hoạt động này để làm sao có thể thực hiện những hoạt động đó tốt hơn đối thủ cạnh tranh Chỉ có như thế mới đạt được các ưu thế cạnh tranh
- Thứ tư, để tạo được giá trị tối đa dành cho khách hàng không chỉ đòi hỏi sự
Cơ sở hạ tầng của công ty Quản trị nguồn nhân lực Phát triển công nghệ Cung ứng
Sản xuất Hậu cần
bên ngoài
MKT
và bán hàng
Cung cấp dịch
vụ
Hậu cần nội
bộ
Trang 33nỗ lực cố gắng đạt kết quả tốt của từng hoạt động, từng bộ phận riêng rẽ mà còn đòi hỏi sự phối hợp tốt hoạt động của tất cả các bộ phận khác nhau của doanh nghiệp Nói cách khác, ở đây phải tránh tình trạng mỗi bộ phận trong công ty chỉ hành động nhằm tăng tối đa lợi ích của bộ phận mình mà không chăm lo đến lợi ích của công ty và khách hàng
Tổng giá trị của khách hàng được hình thành từ giá trị của 4 nguồn, đó là sản phẩm, dịch vụ, con người và hình ảnh của doanh nghiệp Tổng chi phí của khách hàng lớn hơn chi phí, nó bao gồm cả phí tổn về thời gian, sức lực và tinh thần mà người mua bỏ ra để có được hàng hoá dịch vụ đó Yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp bán lẻ là làm thế nào để nâng cao tổng giá trị và giảm tổng chi phí của khách hàng để khuyến khích khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp mình Vì vậy cung ứng giá trị cho khách hàng trong doanh nghiệp bán lẻ là rất quan trọng, nó là việc thực hiện các hoạt động như: mua hàng, gia công, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của mình… nhằm tạo ra giá trị cho khách hàng Giá trị của một doanh nghiệp tạo ra cho khách hàng được đo bằng khối lượng và giá mà người mua sẵn sàng trả cho sản phẩm hay dịch vụ
1.3.3 Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp bán lẻ:
1.3.3.1 Chỉ tiêu định tính
Về mặt định tính, hiệu quả kinh doanh được phản ánh ở trình độ và năng lực quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện sự đóng góp của doanh nghiệp với toàn xã hội Các doanh nghiệp và đặc biệt là doanh nghiệp bán lẻ, các chỉ tiêu định tính đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
Sức mạnh thương hiệu
Không giống như những dịch vụ hay sản phẩm khác, bản thân điểm bán lẻ chính là nơi quảng bá thương hiệu bán lẻ hiệu quả nhất Việc đầu tư vào một hệ thống nhận diện thương hiệu bán lẻ (bao gồm logo, màu sắc, cách thức và vật liệu trang trí) là rất quan trọng, vì không chỉ đóng vai trò như quảng cáo ngoài trời mà còn gắn liền ngay với hình ảnh cửa hiệu Hình ảnh này cũng gắn liền với cách trưng bày hàng hóa bên trong, vốn là những công cụ quảng bá kinh điển của cửa hàng bán lẻ Hầu hết các thương hiệu bán lẻ thành công đều có quy mô lớn với mạng lưới bán lẻ rộng khắp Hoạch định mạng lưới bán lẻ vì thế là công tác chiến lược của ngành kinh doanh này Việc hình
Trang 34thành mạng lưới không chỉ hữu ích trong công tác định vị và quảng bá thương hiệu, mà còn giúp thương hiệu có sức mạnh quy mô Vì vậy, đối với doanh nghiệp bán lẻ sức mạnh thương hiệu chính là chỉ tiêu quan trọng thể hiện hiệu quả kinh doanh của DN
Địa điểm kinh doanh
Trong kinh doanh bán lẻ, không một doanh nghiệp nào có thể bỏ qua yếu tố địa điểm kinh doanh Đây thực sự là một bài toán cần phải có lời giải chuẩn xác nhất Quyết định địa điểm kinh doanh là một trong những quyết định quan trọng nhất của một doanh nghiệp bán lẻ Các doanh nghiệp có thể thường xuyên thay đổi các kế hoạch kinh doanh và chiến lược bán hàng, nhưng một khi đặt bút ký một hợp đồng thuê hay mua lại địa điểm kinh doanh đồng nghĩa với một sự ổn định lâu dài và không thể thay đổi dễ dàng
Chất lượng dịch vụ khách hàng
Bán lẻ là một ngành rất đặc thù vì nó là hỗn hợp của sản phẩm và dịch vụ do vậy
để có thể làm hài lòng khách hàng ngoài yếu tố sản phẩm chất lượng cao, chất lượng phục vụ cũng có tầm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dịch vụ bán lẻ và đánh giá chung của khách hàng Bằng cách làm hài lòng khách hàng thông qua chất lượng dịch vụ, các nhà bán lẻ không chỉ giữ được khách hàng hiện tại mà còn có thể gia tăng thị phần Các doanh nghiệp bán lẻ cần quan tâm đúng mức về chất lượng dịch
vụ và coi đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình
1.3.3.2 Chỉ tiêu định lượng
Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp
Chỉ tiêu năng suất lao động
Năng suất lao động = Doanh thu trong kỳ
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân cho 1 lao động
Lợi nhuận bình quân
tính cho một lao động =
Lợi nhuận trong kỳ Tổng số lao động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho thấy với mỗi lao động trong kỳ tạo ra được bao nhiều đồng lợi nhuận trong kỳ Dựa vào chỉ tiêu này để so sánh mức tăng hiệu quả của mỗi lao động trong kỳ
Trang 35 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Lợi nhuận trong kỳ
Vốn cố định bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn cố định tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận, thể hiện trình độ sử dụng tài sản cố định, khả năng sinh lợi của tài sản cố định trong sản xuất kinh doanh
Hệ số sử dụng công suất máy móc thiết bị
Hệ số sử dụng công suất
máy móc thiết bị =
Công suất thực tế máy móc thiết bị Công suất thiết kế
Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Sức sản xuất của vốn lưu động
Sức sản xuất của vốn
lưu động =
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ Vốn lưu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ Nếu chỉ tiêu này qua các kỳ tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng đồng vốn lưu động tăng
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn
lưu động =
Lợi nhuận trong kỳ Vốn lưu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho ta biết với một đồng vốn lưu động sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ Chỉ số này càng cao càng tốt, chứng tỏ hiệu quả cao trong việc sử dụng vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nguồn vốn lưu động thường xuyên vận động không ngừng, nó tồn tại ở các dạng khác nhau Có khi là tiền, có khi là hàng hoá, vật tư, bán thành phẩm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục Do
đó việc đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết ách tắc, đình trệ của vốn trong doanh nghiệp đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh của toàn bộ doanh nghiệp
Trang 36Số vòng quay của vốn lưu động
Số vòng quay của vốn
lưu động =
Doanh thu trong kỳ Vốn lưu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết số vòng quay của vốn lưu động bình quân trong kỳ Chỉ số ngày càng lớn càng tốt, chứng tỏ vòng quay của vốn tăng nhanh, điều này thể hiện việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả và ngược lại
Số ngày luân chuyên bình quân 1 vòng quay
Số ngày luân chuyển
bình quân 1 vòng quay =
365 ngày
Số vòng quay của vốn lưu động Chỉ tiêu này cho chúng ta biết thời gian để vốn lưu động quay được một vòng Thời gian càng nhỏ thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại
Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được dùng để phản ánh chính xác hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và được dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau và so sánh trong doanh nghiệp qua các thời kỳ để xem xét các thời kỳ doanh nghiệp hoạt động có đạt hiệu quả cao hơn hay không
Doanh lợi của doanh thu bán hàng:
Doanh lợi của doanh thu
Lợi nhuận trong kỳ Doanh thu trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả của doanh nghiệp đã tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một đồng doanh thu bán hàng Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng doanh thu giảm chi phí Nhưng để có hiệu quả thì tốc độ tăng doanh thu phải nhỏ hơn tốc độ tăng lợi nhuận
Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh:
Doanh lợi của toàn bộ
vốn kinh doanh =
Lợi nhuận trong kỳ Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Một đồng vốn kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận, nó phản ánh trình độ lợi dung vào các yếu tố vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, điều này
Trang 37chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn của DN
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo chi phí
Tỷ suất lợi nhuận theo
Lợi nhuận trong kỳ Tổng chi phí SX và tiêu thụ trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố chi phí trong sản xuất Nó cho thấy với một đồng chi phí tạo ra bao nhiêu lợi nhuận Chỉ tiêu này có hiệu quả nếu tốc độ tăng lợi nhuận tăng nhanh hơn tốc độ tăng chi phí
Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh theo chi phí:
Hiệu quả kinh doanh theo
Doanh thu tiêu thụ SP trong kỳ Tổng chi phí SX và tiêu thụ trong kỳ Chỉ tiêu này cho thấy với một đồng chi phí tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Chỉ tiêu doanh thu trên một đồng vốn sản xuất:
Doanh thu trên một đồng
vốn sản xuất =
Doanh thu tiêu thụ SP trong kỳ Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ Với chỉ tiêu này cho ta thấy với một đồng vốn kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
Chỉ tiêu doanh thu trên 1m 2 sàn kinh doanh
Doanh thu trên một m2
là công ty lớn nhất thế giới vừa là công ty lớn nhất lịch sử thế giới
Hiện nay, Wal-Mart có tổng doanh thu đạt gần 400 tỷ USD, cao trên gấp đôi doanh số của tập đoàn bán lẻ thứ 2 thế giới CarreFour, gấp khoảng 5 lần GDP của Việt Nam, lợi nhuận 2008 đạt trên 10 tỷ USD, Wal-Mart hiện sở hữu gần 7.000 siêu thị trên khắp thế giới trong đó riêng tại Mỹ chiếm khoảng 80% số lượng, tổng lượng lao động khoảng 1,9 triệu người Bình quân 1 ngày có khoảng 20 triệu người đến
Trang 38các siêu thị của Mart, mỗi năm có khoảng 7,2 tỉ người ghé vào cửa hàng Mart Và không chỉ ở nước Mỹ, Wal-Mart là nhà bán lẻ lớn nhất ở cả Mexico lẫn Canada, và nhà bán lẻ lớn thứ hai tại Châu Âu sau CarreFour Suốt từ năm 2002 đến nay, Wal-Mart luôn dẫn đầu danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới do tạp chí Forune công bố và được coi là doanh nghiệp được ngưỡng mộ nhất tại Mỹ
Wal-Vậy những gì đã làm nên thành công của Wal-Mart ngày hôm nay, trong phần nghiên cứu này sẽ đề cập đến một số bài học mang tính chất phát triển chiến lược và hiệu quả của Wal-Mart
o Phát triển mạng lưới với tốc độ kỷ lục
Đầu thập niên 1990, Wal-Mart bắt đầu thử nghiệm bán hàng tạp hoá - thực phẩm bên cạnh các loại hàng hoá phổ thông theo một hình thức mà Wal-Mart gọi là “đại siêu thị” (supercenter) Đến cuối năm 1990 Wal-Mart chỉ có 9 siêu thị, mười năm sau, đến cuối năm 2000, Wal-Mart có 888 siêu thị, đến nay Wal-Mart có gần 7.000 siêu thị Như vậy trong vòng 8 năm vừa qua, Wal-Mart đã phát triển trên 6.000 siêu thị, bình quân 1 năm phát triển thêm 750 siêu thị trên toàn thế giới
o Tăng năng lực cạnh tranh về quy mô
Dù là thực phẩm hay trong các lĩnh vực bán lẻ khác, Wal-Mart không chỉ là hạng nhất trong số các tập đoàn tương tự và không có đối thủ Khắp nước Mỹ, Wal-Mart chiếm giữ khoảng 16% thị trường thực phẩm Tuy nhiên, trong nhiều thành phố đơn lẻ, Wal-Mart lại chiếm tới 25 hay 30% thị trường, cứ 3 hay 4 gia đình thì
có một gia đình mua thực phẩm ở Wal-Mart
Winn-Dixie - chuỗi cửa hàng tạp hoá trị giá 11 tỉ USD - buộc phải phá sản năm
2005 vì không cạnh tranh nổi với Wal-Mart Trong cùng thập niên, Wal-Mart dần thống lĩnh doanh nghiệp thực phẩm ở Mỹ, 31 chuỗi siêu thị đã phải tuyên bố phá sản, 21 trong số đó nêu lý do là Wal-Mart cạnh tranh; Procter & Gambler và Gillette
- hai công ty sản phẩm tiêu dùng nhiều sáng kiến và ổn định nhất thế giới - chấp thuận một cuộc sáp nhập khiến P&G tốn 57 tỉ USD để hợp thành một công ty duy nhất Cộng chung lại, hai công ty này có 21 nhãn hiệu sản phẩm, mỗi nhãn hiệu có doanh số 1 tỉ USD hoặc hơn Cuộc sáp nhập ấy phần nào được thúc đẩy bởi nhu cầu của các công ty muốn duy trì quy mô để đối ứng Wal-Mart
o Chiến lược giá rẻ
Trang 39Khi Wal-Mart bắt đầu mở siêu thị ở một thành phố mới, lại làm ăn thắng lợi nhanh chóng bằng một phương thức đơn giản hiệu nghiệm: giá của Wal-Mart thấp hơn khoảng 15% giá của đúng loại hàng đó bán ở nơi khác
Wal-Mart đã san bằng và làm cho hợp lý nhu cầu của người tiêu dùng là chỉ mua khi họ cần bằng việc yêu cầu những hãng bán hàng cho mình cộng hết tất cả các khoản giảm giá của các đợt khuyến mại trong năm và trừ vào trị giá sản phẩm của nguyên một năm để có giá bán lẻ thấp và cố định của từng ngày Bên cạnh đó, Wal-Mart còn thường xuyên đưa ra những chiến dịch mạnh mẽ như “giảm giá, giảm giá
và giảm giá hơn nữa” và những chiến dịch này luôn thành công Các đối thủ không
dễ bắt chước Wal-Mart, các đối tác vẫn thích cung cấp hàng cho Wal-Mart và hơn
cả là 1 lượng khách hàng khổng lồ vẫn đến Wal-Mart, đó chính là bí quyết thành công của Wal-Mart
Wal-Mart trở thành nhà bán lẻ không có đối thủ cạnh tranh cả về quy mô lẫn giá
rẻ là nhờ Wal-Mart đã rất quan tâm đầu tư cho mọi công đoạn nhằm hạ giá thành thấp nhất có thể, từ việc quản lý tốt hệ thống, tiền lương nhân viên thấp…v.v nhưng đặc biệt hơn cả là Wal-Mart rất quan tâm đến việc ép giá các nhà cung cấp hàng hóa, đặc biệt là các nhà sản xuất ở nước ngoài
o Giá chỉ được giảm chứ không tăng
Sự kiên định của Wal-Mart trong chuyện hàng phải “luôn luôn giá thấp” khiến các hãng cung cấp gần như phải tự phát huy năng lực, phải do dự không dám bàn chuyện tăng giá bán cho Wal-Mart ngay cả khi chuyện tăng giá này là hoàn toàn chính đáng
David Glass, nguyên tổng giám đốc Wal-Mart, cho biết triết lý cạnh tranh của ông ta Rất đơn giản: “Tôi muốn mọi người đều bán cùng một thứ hàng, và chúng tôi muốn cạnh tranh trên cơ sở giá bán, và các đối thủ phải khánh kiệt 5% trước khi chúng tôi thua lỗ”
1.4.2 Carrefour
Thành lập năm 1959 tại Annecy - Pháp, hiện hệ thống siêu thị của Carrefour đã
mở rộng ra nhiều nước châu Âu, Nam Mỹ, châu Á và tập đoàn này cũng hợp tác kinh doanh với nhiều công ty siêu thị địa phương ở các vùng khác trên thế giới Là
công ty tiên phong trong lĩnh vực đại siêu thị (hypermarket) kể từ năm 1963, hệ
Trang 40thống Carrefour đồng thời cũng bao gồm các siêu thị thông thường và các cửa hàng giảm giá Bên cạnh nhãn hiệu đầu tàu Carrefour, tập đoàn còn có hai nhãn hiệu siêu thị quốc tế là Champion, Dia và một số nhãn hiệu siêu thị địa phương như GS, Supermarchés GB, Norte, Shopi hay 8 à Huit
Là tập đoàn bán lẻ đứng thứ 2 thế giới và đứng đầu tại Châu Âu với doanh số năm 2008 gần 100 tỷ EUR, với 14.991 siêu thị tại 30 nước trên thế giới, số lượng nhân viên lên tới 490.000 người, tổng diện tích bán hàng khoảng 17 triệu m2
, hàng năm có khoảng trên 3 tỷ khách hàng đến mua sắm tại các siêu thị Carrefour
Nếu như hình thức phân phối của Walmart là đại siêu thị, tận dụng lợi thế về quy mô thì hình thức phân phối của Carrefour là sự kết hợp của cả đại siêu thị (59,1%); siêu thị (23,5%); cửa hàng giảm giá (9,5%) và 7,5% còn lại là các loại hình cửa hàng tiện ích và các loại hình khác Loại hình kinh doanh chiến lược của
Carrefour là các đại siêu thị (hypermarché), năm 2006 chiếm 60% doanh số của tập
đoàn Carrefour là nhãn hiệu đại siêu thị duy nhất của tập đoàn tại Pháp cũng như các quốc gia khác trên thế giới với tổng số khoảng trên 1.000 đại siêu thị (tính đến cuối năm 2006) Các đại siêu thị Carrefour có diện tích kinh doanh từ 3.000 tới trên 23.000 m2 (Carrefour Portet-sur-Garonne tại Pháp), diện tích trung bình của mỗi đại siêu thị là 9.333 m2 Trung thành với nguyên tắc mặt hàng đa dạng, các đại siêu thị Carrefour bày bán từ 20.000 đến 80.000 mặt hàng khác nhau với giá cả phải chăng, phục vụ khách hàng là đội ngũ nhân viên từ 250 tới 750 người và những bãi đỗ xe rộng rãi, thuận tiện cho việc mua sắm
Bên cạnh các đại siêu thị có diện tích lớn, Carrefour cũng kinh doanh loại hình
siêu thị (supermarché) có diện tích nhỏ hơn, thông thường là dưới 2.000 m2, loại hình được tập đoàn đầu tư chủ yếu ở một số nước châu Âu và Nam Mỹ Với loại hình này, Carrefour sử dụng rất nhiều nhãn hiệu khác nhau để phù hợp với từng thị trường riêng và cũng là để tránh tai tiếng "ông lớn" của nhãn hiệu Carrefour, có thể
kể tới Champion ở Pháp, Supermarchés GB ở Bỉ, GS ở Ý, Gima và Endi ở Thổ Nhĩ
Kỳ, Globi ở Ba Lan và Norte ở Argentina
Xuất phát từ mô hình kinh doanh của tập đoàn siêu thị Đức ALDI sau Thế chiến
thứ hai, Carrefour bắt đầu mở các siêu thị giá rẻ (maxidiscompte) từ cuối thập niên
1970 Đây là các siêu thị có diện tích nhỏ, chủ yếu kinh doanh mặt hàng thực phẩm