LỜI MỞ ĐẦULịch sử ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, trước hết nó đáp ứng các như cầu về vốn của các cá nhân và tập thể, muốn phát triển sản xuất kinh doanh nhưng lại thiếu vốn, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các Ngân hàng thương mại ngày càng xâm nhập sâu sắc hơn vào mọi hoạt động của nền kinh tế, trở thành một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất, "bà đỡ" của mọi nền kinh tế.Trong các hoạt động của Ngân hàng thì tín dụng đóng một vai trò quan trọng. Tín dụng là tài sản chiếm tỷ trọng cao nhất, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro nhất. Vì thế, đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng vừa là mục tiêu, là nhân tố quan trọng để cạnh tranh và phát triển của mỗi Ngân hàng thương mại. Trước mỗi quyết định tài trợ, Ngân hàng luôn phải cân nhắc kỹ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời dựa trên phân tích các khía cạnh tài chính, phi tài chính theo một quy trình nghiệp vụ nghiêm ngặt, mang tính khoa học cao, phân tích tài chính khách hàng là một trong những nội dung đó. Như vậy , quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng (đặc biệt là các Doanh nghiệp) ngày càng găn bó, tương tác lẫn nhau. Khách hàng không trả được nợ đến hạn, doanh thu cua Ngân hàng giảm, ảnh hưởng đến việc cho khách hàng khác vay vốn, ảnh hưởng đến sự tồn tại cua Ngân hàng. Để tránh được những rủi ro tín dụng này, trong quá trình thẩm định cho vay, Ngân hàng cần nâng cao chất lượng trong khâu phân tích đánh giá tài chính đối với khách hàng - khâu quyết định xem khách hàng có đủ điều kiện vay vốn của Ngân hàng không.Đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam, hoạt động cho vay luôn chiếm tỷ trọng từ 85% - 95% doanh thu, tuy nhiên công tác phân tích tín dụng, trong đó có phân tích tài chính khách hàng vẫn còn nhiều bất cõp dẫn đến hiệu quả cho vay chưa cao, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao…. Qua quá trình học tập, nghiên cứu và thực tập tại Chi nhánh NHTMCP Á Châu Hà Nội, em chọn đề tài: “ Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội ” làm Chuyên đề Tốt nghiệp của mình.Kết cấu của chuyên đề nh sau:Chương I: Lý luận chung về Tín Dụng Ngân hàng và chất lượng phân tích tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn.Chương II: Thực trạng chất lượng phân tích tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội.Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội.Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, em xin đưa ra một vài đóng góp nhỏ góp phần hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội đối với doanh nghiệp vay vốn. Vì trình độ kiến thức còn nhiều hạn chế, bài viết không thể tránh được những thiếu sót, em rất mong được sự đóng góp của các thầy cô giáo.Em xin chân thành cảm ơn Th.S Lê Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt quá trình viết Chuyên đề Tốt nghiệp. Em xin cảm ơn các cán bộ trong Chi nhánh, đặc biệt là các cô chú cán bộ của phòng Khách hàng doanh nghiệp đã hết sức nhiệt tình tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành bài viết này.Hà Nội, năm 2012
Trang 11.3 Nội dung công tác phân tích tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn 8
1.3.1 Các thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp vay
1.3.2 Các phương pháp được sử dụng trong phân tích tài chính 10
1.3.3 Quy trình phân tích tài chính khách hàng 12
1.3.4 Nội dung công tác phân tích tài chính đối với Doanh nghiệp vay vốn14
1.3.4.1 Phân tích các chỉ tiêu tài chính trong báo cáo kết quả kinh doanh đối với doanh nghiệp vay vốn 141.3.4.2 Phân tích Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 28
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn 30
1.4.1 Nhân tố chủ quan 30
1.4.2 Nhân tố khách quan 31
CHƯƠNG 2
Trang 2THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI CHI NHÁNH NH TMCP Á CHÂU
HÀ NỘI 33
2.1 Tổng quan về chi nhỏnh NHTMCP Á Chõu Hà Nội 33
2.1.1 Sự ra đời, phỏt triển, mụ hỡnh tổ chức và khỏi quỏt nội dung hoạt động33
2.1.1.1 Sự ra đời và phỏt triển 33
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thơng mại cổ phần Á Châu 352.1.1.3 Hoạt động sản xuất, kinh doanh của ACB Hà Nội 392.1.2 Tình hình cho vay tại Chi nhánh NHTMCP Á Chõu Hà Nội 41
2.2 Thực trạng cụng tỏc phõn tớch tài chớnh đối với doanh nghiệp vay vốn tại chi
HÀ NỘI 80
3.1 Phơng hớng hoạt động cho vay của ngân hàng trong thời gian tới 80 3.2 Giải pháp nâng cao chất lợng phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn 81
3.3 Kiến nghị với cơ quan hữu quan 90
Trang 33.3.1 KiÕn nghÞ víi Ng©n hµng Nhµ níc 90
3.3.2 KiÕn nghÞ víi Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 92
3.3.3 KiÕn nghÞ víi c¸c Doanh nghiÖp 94
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại gắn liền với quá trìnhphát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, trước hết nó đáp ứng các như cầu vềvốn của các cá nhân và tập thể, muốn phát triển sản xuất kinh doanh nhưng lại thiếuvốn, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các Ngân hàng thương mạingày càng xâm nhập sâu sắc hơn vào mọi hoạt động của nền kinh tế, trở thành mộttrung gian tài chính quan trọng bậc nhất, "bà đỡ" của mọi nền kinh tế
Trong các hoạt động của Ngân hàng thì tín dụng đóng một vai trò quan trọng.Tín dụng là tài sản chiếm tỷ trọng cao nhất, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng làhoạt động mang lại rủi ro nhất Vì thế, đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt độngtín dụng vừa là mục tiêu, là nhân tố quan trọng để cạnh tranh và phát triển của mỗiNgân hàng thương mại Trước mỗi quyết định tài trợ, Ngân hàng luôn phải cân nhắc
kỹ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời dựa trên phân tích các khía cạnh tàichính, phi tài chính theo một quy trình nghiệp vụ nghiêm ngặt, mang tính khoa họccao, phân tích tài chính khách hàng là một trong những nội dung đó
Như vậy , quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng (đặc biệt là cácDoanh nghiệp) ngày càng găn bó, tương tác lẫn nhau Khách hàng không trả được
nợ đến hạn, doanh thu cua Ngân hàng giảm, ảnh hưởng đến việc cho khách hàngkhác vay vốn, ảnh hưởng đến sự tồn tại cua Ngân hàng Để tránh được những rủi rotín dụng này, trong quá trình thẩm định cho vay, Ngân hàng cần nâng cao chấtlượng trong khâu phân tích đánh giá tài chính đối với khách hàng - khâu quyết địnhxem khách hàng có đủ điều kiện vay vốn của Ngân hàng không
Đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam, hoạt động cho vay luôn chiếm
tỷ trọng từ 85% - 95% doanh thu, tuy nhiên công tác phân tích tín dụng, trong đó cóphân tích tài chính khách hàng vẫn còn nhiều bất cõp dẫn đến hiệu quả cho vaychưa cao, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao…
Qua quá trình học tập, nghiên cứu và thực tập tại Chi nhánh NHTMCP Á Châu
Hà Nội, em chọn đề tài: “ Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối
Trang 5với doanh nghiệp vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội ” làm
Chuyên đề Tốt nghiệp của mình
Kết cấu của chuyên đề nh sau:
Chương I: Lý luận chung về Tín Dụng Ngân hàng và chất lượng phân tích
tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn
Chương II: Thực trạng chất lượng phân tích tài chính đối với doanh
nghiệp vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Á Châu HàNội
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối với doanh
nghiệp vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, em xin đưa ra một vài đóng góp nhỏ gópphần hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàngTMCP Á Châu Hà Nội đối với doanh nghiệp vay vốn Vì trình độ kiến thức cònnhiều hạn chế, bài viết không thể tránh được những thiếu sót, em rất mong được sựđóng góp của các thầy cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn Th.S Lê Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn và chỉ
bảo em trong suốt quá trình viết Chuyên đề Tốt nghiệp Em xin cảm ơn các cán bộtrong Chi nhánh, đặc biệt là các cô chú cán bộ của phòng Khách hàng doanh nghiệp
đã hết sức nhiệt tình tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoànthành bài viết này
Hà Nội, năm 2012
Trang 6CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
VÀ CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH ĐỒI
VỚI DOANH NGHIỆP VAY VỐN1.1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng Thương mại
Thuật ngữ “ Ngân hàng” đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử, gần 3500 nămtrước Công nguyên trở về trước, từ khi xuất hiện xã hội loài người, chính nhu cầuphát triển của xã hội và nền kinh tế đã thúc đẩy hoạt động Ngân hàng không ngừngphát triển từ mức thô sơ cho đến đa dạng và phức tạp như ngày nay Mỗi thời kỳphát triển của xã hội loài ngưòi, hoạt động của Ngân hàng ngày càng trở nên đadạng và phức tạp, ở mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi dân tộc khác nhau, luậtpháp, tập quán khác nhau dẫn đến một cách nhìn nhận và quan niệm về Ngân hàngThương mại là khác nhau Do đó, không có một định nghĩa chung cho các quốc gia
về Ngân hàng Thương mại Riêng ở Việt Nam, theo tinh thần Luật tổ chức tín dụngcủa Việt Nam: Ngân hàng Thương mại là tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh tiền
tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi , sử dụng sốtiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Tuy nhiên, dù theokiểu cách nào thì chắc chắn: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh tế hoạt độngkinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với hai nội dung chính: nhận tiền gửi và cho vay.Đây cũng là điểm đặc trưng để phân biệt Ngân hàng thương mại với các loại hìnhNgân hàng và các tổ chức tín dụng khác
Hoạt động của Ngân hàng bao gồm ba loại nghiệp vụ chính: nghiệp vụ nợ(huy động vốn), nghiệp vụ có (cho vay kinh doanh) và nghiệp vụ môi giới trunggian ( dịch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn, thông tin, giữ hộ chứng từ, vật quý giá )
Ba loại nghiệp vụ này có mối quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ, thúc đẩy nhau pháttriển, tạo uy tín cho Ngân hàng Có huy động được vốn thì mới có nguồn vốn chovay; chỉ cho vay có hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh tế thì mới có nguồn vốn đểhuy động vào; đồng thời muốn cho vay và huy động vốn tốt thì Ngân hàng phải làm
Trang 7tốt nghiệp vụ môi giới trung gian; ngược lại, nghiệp vụ môi giới trung gian tốt sẽtạo việc thu hút nguồn vốn huy động vào và có thể cho vay ra Do đó cho vay thếnào để có hiệu quả nhất đối với người đi vay và với Ngân hàng cho vay là một trongnhững vấn đề cơ bản nhất của Ngân hàng hiện nay, đó luôn là vấn đề làm đau đầucác cán bộ Ngân hàng trong việc tìm ra phương pháp giải quyết cho mỗi thời kỳkhác nhau, mỗi quốc gia khác nhau.
1.1.2 Tín dụng Ngân hàng
Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của Ngân hàng Thưong mại để tạo ralợi nhuận Kinh tế càng phát triển, lực lượng cho vay của các Ngân hàng Thươngmại càng tăng nhanh, loại hình và cách thức cho vay cũng trở nên vô cùng đa dạng.Hiện nay, ở những nước đang phát triển, khi một Ngân hàng được thành lập và đivào hoạt động, mối quan tâm chính và thường xuyên của nó là sẽ cho ai vay và sẽđầu tư vào đâu, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn.Ngược lại, ở những nước đã phát triển, vấn đề đặt ra ở những nước này là lợi tức cócao không và an toàn không
Cho vay của Ngân hàng Thương mại, nói rộng ra là Tín dụng của Ngân hàngThương mại, là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên phải cập nhật theo nhữngbiến chuyển của môi trường kinh tế Do đó, tìm hiểu thêm về lĩnh vực này, ta cầnbiết thêm khái niệm về “Tín dụng”
Danh từ Tín dụng để chỉ một hành vi kinh tế rất phức tạp, nh: bán chịu hàng hoá,cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấy bạc Nhà kinh tế Pháp, ôngLuis Baundin, đã định nghĩa tín dụng như là “ một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấymột tài hoá tương lai”, như vậy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào nên có thể có sự bấttrắc rủi ro xảy ra nên cần có sự tín nhiệm của hai bên đương sự đối với nhau, haibên đương sự dựa vào sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau nên mới có danh
từ “Tín dụng” Những hành vi tín dụng có thể do bất cứ ai, chẳng hạn hai ngườithường có thể cho nhau vay tiền Tuy nhiên, với thời gian, chóng ta thấy có một sựchuyên nghiệp đã xảy ra và ngày nay, khi nói tới Tín dụng, người ta nghĩ ngay tớicác Ngân hàng
Trang 8Tóm lại, Tín dụng Ngân hàng có thể hiểu cơ bản là việc Ngân hàng tin tưởngnhường quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định
và kết thúc thời gian đó, Ngân hàng sẽ thu về cả vốn lẫn lãi Đặc trưng của tín dụng
là lòng tin, tính thời hạn và tính hoàn trả Chính nhờ hoạt động này mà Ngân hàngtrang trải được mọi chi phí phát sinh và là nguồn thu chủ yếu của Ngân hàng Tuynhiên, song hành với lợi nhuận thu được là độ rủi ro cao Vì vậy, chất lượng củahoạt động là nhân tố quyết định tới sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Để tăngtrưởng và phát triển, quy mô của hoạt động cho vay mới chỉ là điều kiện cần, cònđiều kiện đủ chính là chất lượng của hoạt động này
1.2 Vai trò của công tác phân tích tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng thương mại
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ chophép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lýDoanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của Doanhnghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ, chất lượng và hiệu quả hoạt động của Doanhnghiệp đó Bất kỳ một Doanh nghiệp nào khi được thành lập và đi vào hoạt độngđều phải thành lập sổ sách kế toán và các loại sổ sách khác Những sổ sách nàyphản ánh tình hình hoạt động mọi mặt của Doanh nghiệp, vấn đề là người sử dụng
sổ sách đó phải khai thác thế nào, ở góc độ nào, khía cạnh nào để phục vụ cho hoạtđộng, công tác, cương vị của mỗi người Tức là có phân tích tài chính doanh nghiệpmới thấy hết vai trò ý nghĩa của nó
Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,các Doanh nghiệp thuộc loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luậttrong việc lựa chọn lĩnh vực, nghành nghề kinh doanh, mỗi Doanh nghiệp khi kinhdoanh đều có quan hệ với nhiều đối tượng khác nhau như: nhà cung cấp, nhà tiêuthụ, Ngân hàng, Nhà nước, các nhà quản lý, những người lao động Do đó, mỗi đốitượng đó sẽ quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khácnhau, sẽ tập trung vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của mộtCông ty Mặc dù vậy, họ vẫn có cái chung là thường sử dụng các công cụ và kỹ
Trang 9thuật cơ bản là giống nhau để phân tích báo cáo tài chính Đối với chủ doanh nghiệp
và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợinhuận và khả năng trả nợ, bởi vì có lợi nhuận thì Doanh nghiệp mới có thể tồn tại
và phát triển, khả năng trả nợ tốt thì Doanh nghiệp mới có khả năng cạnh tranh trênthương trường ở cả đầu ra và đầu vào, tức là phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh.Các chủ Doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp trong nghĩa vụ và quyềnhạn của mình, họ cần quan tâm tới đảm bảo đủ nguồn tài chính cho Doanh nghiệpbằng cách huy động mọi nguồn vốn bên trong và bên ngoài, đảm bảo cho tiền tệđuợc đầu tư vào sản xuất kinh doanh một cách hợp lý nhất, hiệu quả nhất, tiết kiệmnhất
Đối với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ, họ phải quyết địnhxem sắp tới có cho khách hàng được mua chịu hàng, thanh toán chậm hay không,bởi vì nếu khả năng thanh toán hiện tại và tương lai, tiềm lực tài chính của Doanhnghiệp không đủ mạnh thì dẫn đến nợ thương mại của Doanh nghiệp đối với Doanhnghiệp khác lên cao thì không có khả năng trả nợ
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố nh: sự rủi ro,thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn Vì vậy, họ cần nhữngthông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và các tiềmnăng tăng trưởng của doanh nghiệp Đồng thời, các nhà đầu tư cũng rất quan tâm tớiviệc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý Những điều đónhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả cho các nhà đầu tư
Ngoài ra, các cơ quan tài chính khác như cơ quan thuế, thống kê, cơ quan chủquản, các nhà phân tích tài chính, những người lao động Những nhóm người này
có nhu cầu thông tin về cơ bản giống như các chủ Ngân hàng, các nhà đầu tư, cácchủ doanh nghiệp bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến kháchhàng hiện tại và tương lai của họ
Đặc biệt với các chủ Ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của
họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của Doanh nghiệp Phân tích tài chínhDoanh nghiệp là một khâu quan trọng trong quy trình thẩm định cho vay của Ngânhàng Mục đích của công tác phân tích này giúp Ngân hàng có thể nhìn nhận một
Trang 10cách lôgic tình hình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại
và xu hướng phát triển trong tương lai Qua phân tích tài chính Doanh nghiệp, Ngânhàng trả lời các câu hỏi:
- Doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không?
- Khả năng tự chủ tài chính cũng nh khả năng sử dụng nợ vay của Doanhnghiệp đến mức độ nào?
- Mức doanh thu Doanh nghiệp thực hiện so với số đầu tư về các tài sản lưuđộng và cố định của nó?
- Doanh nghiệp đạt được mức lợi nhuận là bao nhiêu và mức lợi nhuận đó cóthể giảm bao nhiêu trước khả năng không thể đáp ứng được các chi phí cố định?
- Nếu Doanh nghiệp thua lỗ, các tài sản sẽ mất giá bao nhiêu so với con sètrong bảng tổng kết tài sản trước khi các chủ nợ được Bảo hiểm chấp nhận thiệthại?
Bên cạnh đó, thông qua việc phân tích tài chính Doanh nghiệp, Ngân hàng cóthể tư vấn kịp thời cho các Doanh nghiệp về quyết định tài chính nhằm tháo gỡ khókhăn, ổn định và phát triển Doanh nghiệp Phân tích, đánh giá tài chính Doanhnghiệp trong Ngân hàng góp phần kiểm tra lại tính trung thực của kiểm tra tài chínhnội bộ Từ đó, chủ doanh nghiệp có cái nhìn khách quan hơn về nội lực Doanhnghiệp mình
Như vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp có thể đánh giá được rủi ro củaDoanh nghiệp, đặc biệt là rủi ro về khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai, vàquyết định cho Doanh nghiệp có nên vay không và mức độ tủi ro mà Ngân hànggánh chịu khi chấp nhận cho Doanh nghiệp vay, cho vay với số lượng là bao nhiêu
Có thể đưa ra những nhận định tinh tế hơn như mục đích vay vốn của doanh nghiệp
có thực sự trung thực không (thông qua phân tích nhu cầu vốn và khả năng vốn hiệntại của doanh nghiệp) Phân tích tài chính không chỉ giúp Ngân hàng đưa ra nhữngquyết định đúng đắn khi tiến hành xét duyệt các khoản cho vay mà còn trong cả quátrình cho vay Trong thời hạn cho vay, Doanh nghiệp vẫn có nghĩa vụ cung cấp choNgân hàng các báo cáo tài chính, các thông tin về tình hình tài chính của mình, qua
Trang 11đó, Ngân hàng có thể phát hiện những dấu hiệu xấu về tình hình tài chính của doanhnghiệp đó và thu hồi các khoản vay trước hạn.
Ngoài ra còn giúp Ngân hàng xây dựng kế hoạch cho vay, trên cơ sở đánh giáthực trạng sản xuất kinh doanh và tài chính của mỗi doanh nghiệp, Ngân hàng cóthể đánh giá nhu cầu vốn ngắn hạn, trung và dài hạn Từ đó có chiến lược huyđộng vốn phù hợp, tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao nhất Đồng thời, Ngân hàng
có thể biết được xu hướng phát triển của từng giai đoạn, từng lĩnh vực kinh tế, lập
kế hoạch cung cấp tín dụng hướng vào lĩnh vực có khả năng phát triển mạnh trongtương lai Xây dựng kế hoạch tín dụng phù hợp sẽ giúp Ngân hàng nâng cao hiệuquả cho vay, đem lại lợi nhuận cao còng nh góp phần thực hiện chính sách pháttriển kinh tế của Nhà nước
1.3 Nội dung công tác phân tích tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn 1.3.1 Các thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn
Các báo cáo tài chính phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của đơn vịtại những thời điểm khác nhau, kết quả hoạt động kinh doanh và tinh hình sử dụngvốn trong những thời kỳ nhất định, Đồng thời được giải trình, giúp cho các đốitượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng tài chính, tình hình sảnxuất kinh doanh của đơn vị để ra các quyết định phù hợp
* Bảng cân đối kế toán :
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, mô tả thực trạng tàichính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó Kết cấu của bảng được chialàm hai phần: phần tài sản phản ánh toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báocáo thuộc quyên sở hữu và sử dụng của doanh nghiệp Bên nguồn vốn phản ánhnguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo.Bảng cân đối tài sản là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp các nhà phân tíchđánh giá được tổng quát tình hình tài chính, khả năng thanh toán, cơ cấu vốn vàtrình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp
* Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Trang 12Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tìnhhình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng tại nhữngthời kỳ nhất định Nó cung cấp các thông tin tổng hợp về tình hình tài chính và kếtquả sử dụng các tiềm năng về sử dụng vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lýsản xuất kinh doanh của khách hàng Đồng thời, nó cũng giúp phân tích so sánhđược doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng, dịch vụ với tổng chi phí phátsinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành kinh doanh Ngoài ra theo quy định ở ViệtNam, báo cáo thu nhập cũn cú thêm phần kê khai tình hình thực hiện nghĩa vụ củakhách hàng đối với ngân sách Nhà nước và tình hình thực hiện thuế giá trị gia tăng -VAT.
Hạn chế của báo cáo thu nhập là kết quả thu nhập sẽ lệ thuộc rất nhiều vào quanđiểm của kế toán trong quá trình hạch toán Đồng thời cũng do nguyên tắc kế toán
về ghi nhận doanh thu, theo đó doanh thu được ghi nhận khi nghiệp vụ mua bánhoàn thành, tức là khi sở hữu hàng hoá có thể xảy ra vào một thời điểm khác.Nhược điểm này dẫn đến sự cần thiết của báo cáo lưu chuyển tiền tệ
*Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hìnhthành và sử dụng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp các thông tin giúp người sử dụng đánh giákhả năng tạo tiền của doanh nghiệp, đánh giá khả năng thanh toán của doanhnghiệp, phân tích mối quan hệ giữa lợi tức ròng và lưu chuyển tiền tệ ròng, dự đoántrong tương lai lượng tiền mang lại từ các hoạt động của Doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần:
- Lưu chuyển từ hoạt động sản xuất kinh doanh
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
Có hai phương pháp lưu chuyển tiền tệ: phương pháp trực tiếp và phương phápgián tiếp, mỗi phương pháp có ưu điểm riêng
* Thuyết minh báo cáo tài chính:
Trang 13Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về tìnhhình sản xuất, kinh doanh chưa có trong hệ thống các báo cáo tài chính, đồng thời,giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày,giải thích rõ ràng, cụ thể như các thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, chế độ kế toán áp dụng, tình hình và lý do biến động một số tài sản và nguồn vốnquan trọng
* Các thông tin khác liên quan đến tình hình tài chính của Doanh nghiệp
1.3.2 Các phương pháp được sử dụng trong phân tích tài chính
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng ngày càng được mở rộng cho nhiều đốitượng trong xã hội, đó là các doanh nghiệp, cá nhân, hộ sản xuất kinh doanh…Trong số đó, khách hàng lớn nhất, thường xuyên nhất, quan trọng nhất vẫn luôn làcác doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp, hoạt động kế toán tuân thủ theo nhữngnguyên tắc chung luật đề ra, các báo cáo tài chính trình ngân hàng phải tuân theonhững quy chuẩn nhất định, đây là thuận lợi cho quá trình phân tích của ngân hàng.Trong phương pháp phân tích khách hàng nêu sau đây, tập trung nờu cỏc phươngpháp phân tích đối với các báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biệnpháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong
và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổnghợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp qua chất lượng hoạtđộng và mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Về lý thuyết cú cỏc phương pháp để phân tích tài chính khách hàng là: phươngpháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp Dupont, …
* Phương pháp so sánh:
Để áp dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo tính có thể so sánh được của cácchỉ tiêu tài chính ( thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chính xác vàđơn vị tính toán ) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh Gốc sosánh được chọn là gốc thời gian và không gian, kỳ phân tích được chọn là kỳ báo
Trang 14cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, sốtương đối hoặc số bình quân Nội dung so sánh gồm:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này và số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xuhướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu củaDoanh nghiệp
- So sánh giữa số liệu của Doanh nghiệp với số liệu của nghành, của cácDoanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của Doanh nghiệp mình đangphân tích tốt hay xấu, được hay chưa được
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể,
so sánh chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số lượng tuyệt đối
và số tương đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
* Phương pháp tỷ lệ:
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chínhtrong các quan hệ tài chính Sự biến đổi các tỷ lệ cố nhiên là sự biến đổi các đạilượng tài chính Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định được cácngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính tài chính doanhnghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính đựơc phân thành cácnhóm đặc trưng , phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động củadoanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấuvốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khảnăng sinh lời
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạtđộng tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, nguờiphân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích tàichính của mình
* Phương pháp phân tích tài chính Dupont:
Trang 15Còn gọi là phân tích tách đoạn, được thực hiện bằng cách tách ROE thành cácnhân tố khác nhau, nhằm phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đó tới thu nhập củachủ sở hữu.
ROE = NI/E = NI/S x S/A x A/E
Trong đó: NI là lợi nhuận ròng; S là doanh thu; A là tổng tài sản và E là vốn chủ
sở hữu Với cách thay thế như vậy, ta sẽ có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữuchịu ảnh hưởng của 3 nhóm nhân tố: tỷ suất lợi nhuận biên (NI/S); hiệu suất sửdụng tổng tài sản (S/A) và đòn bẩy tài chính (A/E)
Một DN có thể tăng ROE bằng cách nâng cao hiệu suất sử dụng tổng tài sản(ROA) hoặc tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính (sử dụng nhiều nợ hơn để tài trợ cho tổngtài sản)
+ Phương pháp phân tích tài chính Dupont mở rộng:
Với phương pháp phân tích tài chính Dupont mở rộng, các nhà phân tích đã đưa
ra một số nhân tố bên trong ảnh hưởng đến ROE, gồm 5 nhân tố:
- Tỷ suất lợi nhuận ròng biên = EBIT/doanh thu bán hàng;
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu bán hàng/tổng tài sản;
- Tỷ lệ chi phí trả lãi = Chi phí trả lói/tổng tài sản;
- Đòn bẩy tài chính = Tổng tài sản/vốn chủ sở hữu;
- Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế so với lợi nhuận trước thuế (1-Thuế TNDN/EBT) = NI/EBT.Những phân tích này sẽ giúp nhà đầu tư biết được những thay đổi về giá trị ROEcủa DN cũng như các nguyên nhân gây ra chúng
1.3.3 Quy trình phân tích tài chính khách hàng
*Phân tích trước khi cho vay
Trước bất kỳ một yêu cầu vay vốn nào, Ngân hàng luôn phải xem xét, phân tích
kỹ khách hàng, về phương án dự án xin tài trơ Quá trình này goik là phân tích tíndụng hay thẩm định tín dụng và thẩm định tài chính khách hàng là một nội dungtrong đó Dựa trờn những nguồn thông tin thu thập được, Ngân hàng tiến hành phântích tài chính khách hàng nhằm xác nhập được, Ngân hàng tiến hành phân tích tàichính khách hàng nhằm xác định được tình hình sản xuất kinh doanh hiện tại, tiềm
Trang 16năng tương lai và dự báo khả năng tra nợ của khách hàng Việc phân tích này cóảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cho vay hay không của Ngân hàng phân tíchtình hình tài chính bao gồm nhiều nội dung nhưng tập trung và phân tích khả năngsinh lời và phân tích rủi ro từ đó xác định khả năng trả nợ.
Khả năng sinh lời của khách hàng là khả năng lâu dài và liờn tỳc của một kháchhàng trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính gắn liền với khả năng tạo lợi nhuận.Khả năng sinh lợi là vấn đề quan tâm đầu tiên của Ngân hàng Nếu người vay kinhdoanh không có lãi thì ngay cả việc trả nợ gốc cho Ngân hàng cũng là điều khókhăn chưa nói đến việc trả lãi khả năng sinh lợi xao thì khả năng trả nợ cao vàngược lại Nghiên cứu khả năng sinh lợi của khách hàng trong quá khứ và hiện tại
sẽ giúp Ngân hàng sự đoán khả năng trả nợ trong tương lai Hơn thế, khả năng sinhlợi của khách hàng sinh lợi, Ngân hàng phân tích một số chỉ tiêu như: doanh lợidoanh thu, doanh lợi tài sản, hệ số quay vòng tài sản… các thông số để phân tíchđược lấy từ báo kết quá kinh doanh, bảng cân đối kế toán
Rủi ro là khả năng mà một sự kiện không thuận lợi nào đó sẽ xuất hiện, rủi roxảy ra cho khách hàng cũng chính là rủi ro cho Ngân hàng vì nguy cơ không thu hồiđược món vay Tình trạng sản xuất kinh doanh không hiệu quả, sản xuất sản phẩmkhông tiêu thụ được, kinh doanh không có lãi thua lỗ kéo dài sẽ làm mất khả năngchi trả các khoản nợ đến hạn của khách hàng Trong trường hợp người vay vốn bịphá sản thì nguy cơ không thu hồi được nợ của Ngân hàng sẽ rất cao Phân tích rủi
ro là việc Ngân hàng dùa vào số liệu trên bảng cân đối để tính toán đánh giá các chỉtiêu nh: tỷ lệ thanh khoản, năng lực hoạt động, khả năng cân đối vốn để xác địnhtính lành mạnh, an toàn của tài chính khách hàng
*Phân tích trong khi cho vay
Phân tích trước khi cho vay là cơ sở để Ngân hàng ra quyết định tín dụng Nếuqua phân tích Ngân hàng chấp nhận cho vay thì thế theo Ngân hàng phải thực hiệnphân tích trong khi cho vay khi cho vay, quyền sử dụng vốn của Ngân hàng đãchuyển giao cho khách hàng nhưng Ngân hàng vẫn có quyền và nghĩa vụ kiểm tratheo dõi món vay Kiểm tra theo dõi món vay dưới giác độ công tác phân tích tài
Trang 17chính khách hàng bao gồm các công việc xác định nguồn vốn trả nợ, phân tích lạicác chỉ tiêu tài chính căn cứ vào các báo cáo tài chính trong các kỳ kế toán tiếp theo
mà khách hàng có nghĩa vụ phải gửi cho Ngân hàng Việc phân tích này giúp Ngânhàng thất được hiệu quả việc đầu tư bằng vốn vay Ngân hàng của khách hàng, thấytình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng có diễn ra đúng theo điều kiện haykhông, có xu hướng biến động tốt hay xấu… từ đó là cơ sở hay yêu cầu khách hàng
bổ sung thêm tài sản thế chấp hay tìm cách hối thúc trả nợ sớm
Trang 18*Phân tích sau khi cho vay
Quan hệ tín dụng kết thúc khi Ngân hàng thu hồi đủ gốc và lói Cỏc khoản tíndụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là cac khoản tín dụng an toàn, Ngânhàng sẽ chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan đến khoản vay không hoàn trả hay khônghoàn trả đúng hạn, Ngân hàng phải phân tích các nguyên nhân và đề ra biện pháp
xử lý, Ngân hàng vẫn phải theo sát hoạt động của khách hàng để khi thấy kháchhàng có nguồn thu bằng cách hối thúc trả nợ ngay
1.3.4 Nội dung công tác phân tích tài chính đối với Doanh nghiệp vay vốn
Khi Doanh nghiệp vay vốn, điều mà Ngân hàng quan tâm nhất là khả năng thanhtoán và trả nợ của khách hàng (DN) vay vốn Do đó, khi phân tích tài chính, Ngânhàng quan tâm nhiều hơn tới việc đánh giá rủi ro thanh toán của Doanh nghiệp Tức
là phân tích các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, cơ cấu nợ, báo cáo lưu chuyển tiền
tệ cũng nh trạng thái tài chính của Doanh nghiệp nhằm đánh giá rủi ro trong tươnglai Do đó Ngân hàng đặc biệt quan tâm tới việc phân tích khái quát một số chỉ tiêutài chính trung gian và cuối cùng trong báo cáo kết quả kinh doanh
1.3.4.1 Phân tích các chỉ tiêu tài chính trong báo cáo kết quả kinh doanh đối với doanh nghiệp vay vốn
Mục tiêu của phân tích này là xác định, phân tích mối liên hệ và đặc điểm cácchỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh, đồng thời so sánh chúng qua một số niên
độ kế toán liên tiếp và với số liệu trung bình của nghành (nếu có) với các Doanhnghiệp khác Từ đó mà đánh giá được một phần của xu hướng giai đoạn tiếp theocủa Doanh nghiệp, có thể giúp Ngân hàng tránh đựơc những rủi ro không có khảnăng thanh toán của Doanh nghiệp do xu hướng hoạt động kinh doanh không tốtcủa Doanh nghiệp
Trang 19Các chỉ tiêu đã được chuẩn hoá trong mẫu bảng phân tích nh sau:
Tỷ trọng
1.Doanh thu thuần
7.Lãi sau thuế
8.Lãi không chia
a) Đối với cho vay ngắn hạn
*Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Đây là nhóm chỉ tiêu mà không riờng gỡ Ngân hàng mà rất nhiều đối tượngkhác quan tâm tới, bất kỳ đối tượng nào liên quan đến doanh nghiệp nh nhà đầu
tư, công ty tài chính, cán bộ công nhân viên Phân tích tình hình thanh toán củadoanh nghiệp đối với các khoản nợ trước đây rất quan trọng vỡ nú phản ánhđược phần nào mức độ tín nhiệm hay sự sẵn sàng chi trả của doanh nghiệp
- Chỉ tiêu thanh toán ngắn hạn
Tài sản lưu động
Trang 20Trong thực tiễn, người ta thường yêu cầu chỉ tiêu này của doanh nghiệp là lớnhơn 1, còn lớn hơn bao nhiêu là tốt thì tuỳ vào từng loại hình doanh nghiệp ở từngngành nghề khác nhau.
- Chỉ tiêu thanh toán nhanh
Hệ sè thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán ngay tức thì của doanh nghiệp bằngnguồn vốn bằng tiền, không bị chi phối bởi thời gian chuyển đổi của hàng hoá tồnkho và các khoản phải thu Về mặt lý thuyết, hệ số này lớn hơn 0,5 là dấu hiệu tốt.Nếu quá lớn tức là vốn bằng tiền của doanh nghiệp quá lớn,chi phí cho việc lưu trữ,ghi chép, kiểm đếm, phân loại khá lớn, mặt khác không sinh lời nên cũng khôngphải là tốt
- Chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời:
Trang 21Nếu quá lớn tức là vốn bằng tiền của doanh nghiệp để lại quá lớn, chi phí cho việclưu trữ, ghi chép, kiểm đếm, phân loại khá lớn, mặt khác lại không sinh lợi cho nêncũng không phải là càng lớn càng tốt Cũng như vậy với hệ số thanh toán ngắn hạn và
hệ số thanh toán nhanh, không hẳn là càng cao càng tốt, chỉ vừa hợp lý sao cho tươngứng với các khoản nợ ngắn hạn để không gây ra hiện tượng dư thừa nguồn lực, hiệuquả tài sản lưu động kém hay tài sản lưu động quay vòng kém là không sinh lợi
*Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động
Trang 22khấu hao không đủ dẫn đến việc đầu tư cho trang bị cho tài sản cố định kém, hậuquả kéo theo là tiếp tục sản xuất kinh doanh kém tạo ra vòng xoáy liên tiếp.
Doanh thu thuần
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Tổng tài sản
Các khoản phải thu
- Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu bình quân một ngày
Nếu kỳ thu tiền bình quân lớn do các khoản phải thu nhiều chứng tỏ doanhnghiệp bị chiếm dụng vốn hoặc do doanh nghiệp thu tiền bình quân một ngày nhỏ,chứng tỏ sự tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp kém Những điều trên đều tác độngtới khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng
*Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính
Nhóm chỉ tiêu này để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp
so với nợ vay Chủ nợ ưa thích một hệ số nợ vừa phải, hệ số nợ càng thấp, hệ số antoàn càng cao, món nợ của họ càng được đảm bảo và họ có cơ sở để tin vào sự đáo
nợ đúng hạn của con nợ
Khi hệ số nợ cao tức là chủ doanh nghiệp chỉ góp một phần nhỏ trên tổng sốvốn, thì rủi ro trong kinh doanh chủ yếu chuyển sang cho chủ nợ gánh chịu, nhưngbằng cách tăng vốn thông qua vay nợ, các chủ nợ vẫn nắm được quyền kiểm soát vàđiều hành doanh nghiệp Tuy nhiên,vấn đề giữa vốn vay và vốn góp với cơ cấu nh
Trang 23thế nào còn rất nhiều phức tạp, nó còn ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ củamỗi bên tùy từng thời kỳ và đối với từng doanh nghiệp.
Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay
- Hệ số khả năng thanh toán lãi =
Lãi vay
Đây là chỉ tiêu được Ngân hàng quan tâm nh là một chỉ tiêu khả năng thanh toánlãi vay bằng kết quả hoạt động kinh doanh Nếu lãi vay mà không trả được thì nợgốc càng khó trả hơn
Tài sản cố định hoặc tài sản lưu động
- Hệ số cơ cấu tài sản =
Tổng tài sản
Hệ số này còn tuỳ thuộc vào từng nghành nghề, lĩnh vực và từng doanh mghiệp vì
có những nghành nghề kinh doanh quay vòng nhanh , tài sản lưu động cần nhiều,nhưng có những nghành nghề thì tài sản cố định lại chiếm phấn lớn như mày móc,trang thiết bị, công nghệ, đặc biệt ngày nay tài sản cố định vô hình chiếm tương đốilớn
* Nhóm chỉ tiêu về phân phối lợi nhuận
Lợi nhuận sau thuế
+ Thu nhập cổ phần =
Số lượng cổ phiếu thường
Trang 24
Lợi nhuận đem chia
Thu nhập cổ phiếu Lãi sau thuế
Riêng nhóm chỉ tiêu này dành riêng cho công ty cổ phần.Nó cho biết tình hìnhphân phối lợi nhuận( kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh ) có phù hợp haykhông đối với doanh nghiệp trong tình trạng hiện nay, nếu khộng phù hợp sẽ gây raảnh hưởng gì không tốt đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Về phíacác cổ đông, đây là những chỉ tiêu rất đáng chú ý và nó ảnh hưởng đến quyền lợiriêng của họ
b) Đối với cho vay trung và dài hạn
Khi phân tích tình hình tài chính khách hàng đối với cho vay trung và dài
hạn, các NHTM thường tập trung phân tích cỏc nhúm tỷ lệ và các tỷ lệ cụ thể sau:
*Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn tự có và vốn đi vay Nguồn gốc và cấu thành hai loại vốn này xác định sự ổn định tài chính và khả năng thanh toán dài hạn của doanh nghiệp Nhìn chung, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thường muốn sử dụng vốn tự có nhỏ nhất bởi vì: chi phí của vốn chủ sở hữu lớn hơn
so với chi phí của vốn vay, do khi sử dụng vốn vay doanh nghiệp được hưởng một khoản tiết kiệm nhờ thuế, mặt khác, nếu doanh nghiệp chỉ góp một phần nhỏ trong toàn bộ vốn hoạt động thì rủi ro trong kinh doanh chủ yếu do nguời cho vay gánh chịu Trong khi đó, doanh nghiệp nắm phần lợi rõ rệt, doanh nghiệp chỉ cần bỏ ra một số vốn Ýt nhưng được quyền sử dụng một lượng tài sản lớn để kinh doanh đangphát triển, sẻ quyền kiểm soát Đặc biệt khi hoạt động của doanh nghiệp đang phát triển, lãi thu được trên tiền vay lớn hơn lãi suất tiền vay, lợi nhuận dành cho chủ
Trang 25doanh nghiệp tăng lên gấp bội Doanh nghiệp càng vay càng có hiệu quả và khi đó rủi ro đến với người cho vay cũng càng lớn.
Bất cứ Ngân hàng nào cũng muốn mở rộng doanh nghiệp doanh số hoạt động nhất là mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả song nếu càng lấn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp, ngân hàng sẽ càng trở thành người gánh chịu rủi ro thay cho doanh nghiệp Do đó, Ngân hàng phải tự hạn chế mình, chỉ cho vay trong khả năng thanh toán của doanh nghiệp Chỉ tiêu thường được Ngân hàng
sử dụng khi xem xét cơ cấu vốn của doanh nghiệp là:
nghiÖpdoanh
cña vèn nguånTæng
tr¶
iph¶
Nî
= nîsèTû
nghiÖpdoanh
cña vèn nguånTæng
u
÷ hsëchñ vènNguån
=trîtµitùsèTû
Tỷ số này cho biết tổng số vốn của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng bao nhiêu trongtổng số vốn của doanh nghiệp đưa ra sản xuất kinh doanh Tỷ số càng lớn, càng có
sự đảm bảo cao cho các khoản nợ vay Trong tình huống xấu nhất, khi doanh nghiệpkhông còn khả năng đối đầu với những cam kết trên thị trường và bị đặt vào tìnhtrạng thanh lý thì số vốn tự có sẽ dùng để trang trải những khoản tổn thất phát sinhkhi chuyển nhượng tài sản của doanh nghiệp Ngoài ra cũn dựng để trang trải nhữngcam kết của doanh nghiệp nh phí thanh lý, tiền phạt do không thực hiện hợp đồng,hoặc trả tiền trợ cấp cho người lao động nếu doanh nghiệp giải thể
Mức tối thiểu của tỷ số này tuỳ thuộc vào từng ngành hoạt động Ví dụ, nhữngdoanh nghiệp thuộc ngành sản xuất kinh doanh tương đối ổn định có thể chấp nhậnđược tỷ số này ở mức thấp hơn doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất không ổnđịnh Những ngành mà tài sản cố định mang tính đặc thù chuyên dùng, có tínhchuyên môn hoá cao hơn các doanh nghiệp bình thường khác
Nói tóm lại, trong hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào, nguồn vốn chủ sởhữu doanh nghiệp nào, nguồn vốn chủ sở hữu thường phải đảm bảo những khoảnmục có mức độ rủi ro cao như TSCĐ vô hình, TSCĐ có tính chuyên dùng, cỏc bỏnthành phẩm…
Trang 26÷ hsëchñ vãnNguån
h¹ndµi nî
d Sè
= h¹ndµi nîsèTû
Tỷ số này cao phản ánh doanh nghiệp phụ thuộn nhiều vào chủ nợ, đó là cấutrúc vốn mạo hiểm Tỷ số này càng cao thì sự an toàn trong đầu tư càng giảm và do
đó rủi ro của doanh nghiệp càng tăng, tuy nhiên tỷ số này cũng thay đổi theo ngànhhoạt động
TSC§
trÞGi¸
h¹ndµi vènNguån
=Þnh
®cèns¶
tµitrîtµisèTû
Trong đó, nguồn vốn dài hạn là tổng hợp của hai nguồn: nguồn vốn chủ sở hữu
và nợ dài hạn trên bảng cân đối kế toán
Tỷ số tài trợ TSCĐ luôn phải lớn hơn 1 mới mang lại cho doanh nghiệp sự ổnđịnh và an toàn tài chính Vì TSCĐ thể hiện năng lực sản xuất lâu dài của doanhnghiệp không thể thu hồi nhanh chóng nên nguyên tắc nguồn vốn dài hạn trongdoanh nghiệp phải đảm bảo đủ tài trợ cho TSCĐ và một phần tài sản lưu động tốithiểu, thường xuyên, cần thiết, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp được tiến hành bình thường không bị gián đoạn tỷ số trên nhỏ hơn 1
có nghĩa là doanh nghiệp đó dựng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn tình hìnhtài chính của doanh nghiệp không bình thường, nếu NH đầu tư vốn vào doanhnghiệp trong tình trạng trờn thỡ sẽ quá mạo hiểm
*Nhóm chỉ tiêu sinh lợi
Lợi nhuận sau thuế
+ Hệ số sinh lợi doanh thu =
Doanh thu thuần
Lợi nhuận trước thuế + Tiền lãi phải trả
+ Hệ số sinh lợi của tài sản =
Tổng tài sản
Trang 27Chỉ tiêu này cho thấy sau khi đầu tư vào tài sản bằng nguồn vốn mới huy động sẽđem lại hiệu quả cao hay thấp hơn so với lúc chưa đầu tư Vì vậy, trong phân tích tàichính khách hàng để ra quyết định cho vay thì đây là tỷ lệ được Ngân hàng quan tâm Lợi nhuận sau thuế
+ Hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
Ngân hàng sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra đem
về bao nhiêu doanh thu, từ đó đánh giá doanh nghiệp làm ăn nh vậy có hiệu quả haykhông
*Nhóm tỷ lệ về khả năng trả nợ
Để đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp, các hệ số sau đây có thể được xét:
trîtµitùKh¶ n¨ng
h¹ndµiVay
= vaytr¶ nî hoµn
Kh¶ n¨ng
Vì nguồn vốn trả nợ dài hạn là khả năng tự tài trợ Tỷ số này nêu lên thời hạn lýthuyến tối thiểu cần thiết để hoàn trả toàn bộ nguồn kinh phí vay muợn với giả thiếtcho rằng khả năng tự tài trợ được dùng toàn bộ vào hoàn trả nợ vay Nếu hệ số nàybằng 3, điều đó có nghĩa là trong vòng 3 năm doanh nghiệp có khả năng tích luỹđược số tiền đủ để trả nợ dài hạn
h¹ndµi nîtr¶ vÒi
ph¶
L·i
h¹ndµi nîtr¶ vÒi
ph¶
L·i+thuÕ
tr íc
LN
=l·ito¸nthanhKh¶ n¨ng
Khả năng thanh toán lãi vay thường xuyên được tính để đánh giá độ an toàn củaviệc hoàn trả nợ cho chủ nợ Số tiền thu nhập trước khi trả thuế TNDN và cáckhoản tiền lãi cố định là số tiền sẵn sàng để thanh toán tiền lãi cho các khoản nợ vaydài hạn hệ số này càng lớn càng tốt Thông thường khả năng thanh toán lãi vayđược xem là an toàn, hợp lý, nếu doanh nghiệp tạo ra khoản thu nhập gấp hơn hailần khoản lãi cố định phải trả hàng năm
Trang 28Ngoài ra có thể xem xét khả năng trả nợ bằng cách so sánh lãi vay với doanh thuthuần Theo kinh nghiệm thực tế người ta cho rằng tỷ lệ này phải dưới mức 3 % tỷ
lệ cao sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư trung và dài hạn:trước đây khitrình bày các chỉ tiêu này, có một điểm cần lưu ý là: đối với các chỉ tiêu này, việcthẩm định của Ngân hàng chỉ là thẩm định lại những gì đó cú mà chủ dự án đã thẩmđịnh, việc tính toán các chỉ tiêu này cũng là Ngân hàng đứng trên quan điểm củadoanh nghiệp để tính toán, bởi vì các chỉ tiêu này mà hấp dẫn đối với doanh nghiệpthì chắc chắn là hấp dẫn đối với Ngân hàng cũn cỏc chỉ tiêu thuộc nhóm này đốivới Ngân hàng là hoàn toàn khác so với doanh nghiệp
Trước đây khi trình bày các chỉ tiêu này, có một điểm cần lưu ý là: đối với cácchỉ tiêu này, việc thẩm định của Ngân hàng chỉ là thẩm định lại những gì đã có màchủ dự án đã thẩm định, việc tính toán các chỉ tiêu này cũng là Ngân hàng đứng trênquan điểm của doanh nghiệp để tính toán, bởi vì các chỉ tiêu này mà hấp dẫn đối vớidoanh nghiệp thì chắc chắn là hấp dẫn đối với Ngân hàng còn các chỉ tiêu thuộcnhóm này đối với Ngân hàng là hoàn toàn khác so với doanh nghiệp
Các chỉ tiêu chủ yếu được sử dụng để đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư trung
và dài hạn:
- Giá trị hiện tại ròng (NPV)
Công thức tính:
i 0
= /( i + ) i
CF n Σ
= NPVTrong đó:
CFI phản ánh dòng chi (liên quan đến sự giảm sút ngân quỹ của doanh nghiệp)
CFi = Bi - C i với là khoản thu nhập ròng của năm thứ i
Là vốn đầu tư thực hiện tại năm thứ i
R là lãi suất chiết khấu
I là thứ tự các năm, i = (0, n), n là thứ tự các năm
Trang 29NPV càng lớn càng tốt, nhưng nhất thiết NPV phải lớn hơn 0 thì dự án mới đượcchọn Đối với Ngân hàng, NPV của dự án dự cú lớn đến mấy thì Ngân hàng cũngchỉ thu được gốc lẫn lãi vay, nhưng nếu NPV mà càng lớn thì Ngân hàng có khảnăng thu hồi được gốc và lãi nhanh hơn vì lúc đó lợi nhuận cho dù án tạo ra chắcchắn trang trải được chi phí và gốc, lãi vay cho Ngân hàng Nếu tỷ giá có thay đổithì khả năng chống đỡ của dự án tốt nên khả năng thu hồi gốc và lãi vay tốt.
Chỉ tiêu NPV được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước do nó phản ánh chính xácnhất quy mô tiền lời của một dự ánh sau khi đã hoàn trả vốn đầu tư, tức là nó phảnánh chính xác hiệu quả của đầu tư về phương diện tài chính
Để sử dụng phương pháp này cần lưu ý một số quan điểm sau:
Phải lập được dòng tiền phát sinh hàng năm là âm hoặc dương cho dù án khi
đó cần phải tính được doanh thu và chi phí hàng năm của dự án dựa trờn công suấtthực tế của năm đó cùng với mức giá ước tính, cuối cùng là quy tất cả số tiền phátsinh trong cùng một kỳ vào cuối kỳ để đánh giá và tính toán
Phải xác định được tỷ suất chiết khấu hợp lý cho từng loại dự án, muốn vậyphải xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất chiết khấu, đó là các nhân tố:
Tỷ lệ lạm phát hàng năm: tỷ lệ này có ảnh hưởng trực tiếp tới r, nếu tỷ lệ lạmphát tăng thì r cũng phải tăng một tỷ lệ tương ứng và ngược lại
Tỷ lệ gia tăng do sử dụng phương án này mà không sử dụng phương án khỏcdựa trờn việc xác định chi phí cơ hội Nhân tố ảnh hưởng này thương xuất hiện khi
cú cỏc phương án loại trừ nhau cựng giỳp nhà đầu tư được chọn phải thể hiện được
tỷ lệ gia tăng do việc quyết định chọn phương án đầu tư này mà không phải làphương án khác
Tỷ lệ tăng hoặc giảm do việc thu được hoặc mất đi một lượng giá trị do cácyếu tố rủi ro hoặc may mắn Đõy chớnh là yếu tố đã quy định một việc xác định rủi
ro r cho từng dự án thuộc từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh là khácnhau, chẳng hạn trong sản xuất nông nghiệp do phải chịu nhiều ảnh hưởng của yếu
tố rủi ro khách quan hơn là so với các dự án trong các lĩnh vực khác như côngnghiệp, thương nghiệp…
Trang 30- Tỷ suất thu hồi nội bộ IRR
IRR chính là tỷ suất chiết khấu sao cho NPV= 0 hay IRR được xác định bằngcông thức:
i - r + 1 ( i C n 0
= i
= i - r + 1 ( i B n 0
Σ
Để đánh giá dự án, ta có thể đánh giá IRR của dự án bằng cách so sánh nó với giátrị IRR định mức Tuỳ theo từng dự án mà IRR định mức có thể là lãi suất cho vay dàihạn, tỷ suất lợi nhuận bình quân của ngành, lợi tức cổ phần, chi phí cơ hội…
Để tính IRR tao phải làm như sau:
Chọn lãi suất chiết khấu r1, thường lấy bằng lãi suất vay vốn ta sẽ tính được NPV1.
Chọn lãi suất chiết khấu i2, tính được NPV2, giá trị này cần chọn sao cho NPV2 < 0.Dùng phương pháp nội suy ta tính được:
2/NPV+1NPV/(
1NPV)1i-2i(+1i
=IRR
*Ưu điểm của phương án này
IRR cho biết lãi suất mà tự bản thân dự án có thể mang lại cho nhà đầu tư, IRRcàng lớn thì càng tốt Nếu có hai hay nhiều dự án cần so sánh thì dự án nào có tỷsuất thu hồi nội bộ tối đa thì sẽ chọn
IRR còn đặc biệt quan trọng trong trường hợp đầu tư bằng vốn vay Giả sử lãisuất vay là i % thì:
- Nếu IRR < i thì dự án không đủ tiền để trả nợ
- Nếu IRR > i thì nhà đầu tư không những sẽ trả được nợ mà còn có lời
Do vậy đối với Ngân hàng, Ngân hàng sẽ cho vay khi IRR lớn hơn lãi vay vàcàng lớn càng tốt (thường thì IRR > 15 %)
- Hệ số lợi ích trên chi phí
i ) + 1 /(
i C n 0
= i Σ
i ) + 1 /(
i B n 0
= i
Σ
= PV(B/C)
Trang 31Tỷ số này cho biết một đồng vốn bỏ ra thu được bao nhiêu đồng thu nhập Tỷ sốnày càng lớn càng tốt nhưng nhất thiết phải lớn hơn 1 thì dự án mới được chọn.
- Thời gian hoàn vốn đơn và thời gian hoàn vốn có chiết khấu
Thời gian hoàn vốn đơn (PP): là khoảng thời gian mà tại đó:
t
i=0CFi = 0 t = thời gian hoàn vốn đơn t = thời gian hoàn vốn đơn
Thời gian hoàn vốn chiết khấu: là khoảng thời gian mà tại đó
t
i=0CFI/(1 + r)i = 0 t* = thời gian hoàn vốn có chiết khấu t = thời gian hoàn vốn đơn
Thời gian hoàn vốn cho biết thời gian tối thiều, cần thiết để chủ dự án thu về sốvốn đã bỏ ra Đối với Ngân hàng, thời gian hoàn vốn càng ngắn càng tốt, bởi vì,doanh nghiệp càng mau chóng thu hồi lại số vốn đầu tư ban đầu va sau khoảng thờigian nào đó là khoảng thời gian mà doanh nghiệp chắc chắn thu được lợi nhuậncàng dài và như vậy, khoản vay của NH dành cho doanh nghiệp càng được đảmbảo và doanh nghiệp càng nhanh chóng trả cho Ngân hàng cả gốc lẫn lãi
*Nhóm chỉ tiêu về đo lường độ rủi ro của dự án
Điểm hoà vốn
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó mức doanh thu vừa đủ trang trải mọi phí tổn
*Điểm hoà vốn lãi lỗ
Gọi R: doanh thu bán hàng; F : tổng chi phí cố định; V: chi phí biến đổi một sảnphẩm X: lượng sản phẩm tiêu thụ; P: giá bán đơn vị sản phẩm; c: tổng chi phí trong kỳ
P
F
= XSản lượng hoà vốn đạt từ 50% đến 60% công suất của dự án là tốt
Trang 32* Điểm hoà vốn trả nợ
Điểm hoà vốn trả nợ là điểm mà tại đó doanh thu do dự án tạo ra vừa đủ để trangtrải gốc và lãi vay cho Ngân hàng
Phân tích độ nhạy:
Phân tích độ nhạy là kỹ thuật chỉ ra chính xác giá trị hiện tại ròng NPV thay đổi
nh thế nào khi một biến đầu tư vào thay đổi các giá trị dễ thay đổi làm ảnh hưởngtới dòng tiền từ đó làm ảnh hưởng tới NPV là sản lượng bán hàng, giá bán, chi phí
cố định, chi phí biến đổi
Để phân tích ta cho mét trong các yếu tố trên thay đổi, từ đó tính được các NPVmới, rồi tập hợp các NPV tính được để biểu diễn nú trờn đồ thị Đường biểu diễnNPV càng dốc thì mức độ nhạy cảm của NPV đối với sự thay đổi của biến số cànglớn, khi đó dự án càng dễ gặp rủi ro
Tóm lại: Thông qua phân tích tình hình tài chính khách hàng, NHTM có thể
biết được một phần tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính khả quan haykhông khả quan, xu hướng phát triển của đơn vị như thế nào để từ đó có quyết địnhcho vay đúng, đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, đầy đủ gốc và lãi
Tuy nhiên, việc phân tích tình hình tài chính khách hàng chỉ hữu Ých khi các sốliệu báo cáo phải được đảm bảo tính chính xác trong điều kiện của nước ta hiệnnay, khi mà việc thực hiện pháp lệnh kế toán thúng kờ chưa được chấp hành nghiêmchỉnh thì đòi hỏi cán bộ tín dụng phải thẩm định tính chính xác của các số liệu báocáo và cần phải kết hợp chặt chẽ giữa phân tích tình hình tài chính với các thông sốphi tài chính để đưa ra những kết luận xác đáng về khác hàng mà Ngân hàng đãquan hệ làm ăn
1.3.4.2 Phân tích Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện lưu lượng tiền vào, ra của doanh nghiệptrong mét chu kỳ kinh doanh Kết quả phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ chobiết được sự vận động sản xuất kinh doanh, lượng tiền bình quân trong kỳ Bản chất
sự vận động nh sau:
Trang 33- Nguồn thu tăng do giảm tài sản này hay tăng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
- Nguồn chi tăng do tăng tài sản, trả các khoản nợ đến hạn hay trả cho đồng sởrút vốn
- Tiền mặt đầu kỳ + tiền phát sinh trong kỳ = tiền mặt cuối kỳ
Sự vận động của dòng tiền thể hiện qua ba hoạt động:
Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là hoạt động chủ yếu của doanhnghiệp Dòng tiền này >=0 do: doanh thu tăng, bán chịu Ýt, tốc độ tăng doanh thubằng tiền lớn hơn tốc độ tăng sản phẩm được sản xuất ra, tăng phải thu kỳ trước.Đây là dấu hiệu sản xuất kinh doanh ổn định phát triển Dòng tiền<0 do nguyênnhân ngược lại
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: Dòng tiền này>0 do: thu lãi đầu tư, thu tiền bántài sản cố định, thu hồi đầu tư không có hiệu quả, tăng vốn chủ sở hữu, tìm nguồnhoạt động từ bên ngoài; dòng tiền này< 0 do: Doanh nghiệp mới đầu tư vào tài sảnhay đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, cán bộ tín dụng phải xem xét nguồn vốn để đầu
tư, nếu không phải vốn chủ sở hữu hay vốn dài hạn thì chức tỏ doanh nghiệp đã đầu
tư bằng vốn ngắn hạn như vậy tiềm Èn rủi ro tín dụng
Dòng tiền từ hoạt động tài chính: dòng tiền này liên quan tới vốn chủ sở hữu,vay vốn, nhận vốn liên doanh, phát hành cổ phiếu Dòng tiền này <=0 do trả lãi, chủ
sở hữu rút vốn Trường hợp > 0 Tăng vay vốn, gúp thờm vốn
Dtiền
HĐSXKD
Dtiền HĐĐT
Dtiền HĐTC
Trang 34- - + +
DN đầu tư lớn, gặp khó khăn tiêu thụ sảnphẩm, cẩn trọng trong cho vay, chỉ chovay giải quyết khó khăn này
- Không cho vay nữa
trả được nợ, không cho vay nữa
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn
Chất lượng phân tích tài chính khách hàng được hiểu là tính chính xác củanhững đánh giá về tình hình tài chính một khách hàng, về rủi ro, mức độ, chất lượnghiệu quả hoạt động của khách hàng và sự sát sao của các báo cáo tài chính Vì vậy,
có rất nhiều nhân tố khác nhau gây nhưng snảh hưởng trực tớe cũng như gián tiếptới chất lượng phân tích tài chính của khách hàng, ở đây xin được phân chia theo hainhóm nhân tố chính: nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan Mỗi nhân tố có mức
độ tác động mạnh yếu khác nhau theo những chiều hướng khách nhau nhưng tổnghợp lại thì có tác động rất lớn tới chất lượng phân tích tài chính khách hàng
1.4.1 Nhân tố chủ quan
*Nhân tố con người
Đó là trình độ nghiệp vụ, nhận thức, đạo đức, kinh nghiệm của Cán bộ Tín dụngtrong suốt quá trình đánh giá tài chính khách hàng Mỗi người Cán bộ Tín dụng đều
có kinh nghiệm thực tế, trình độ nghiệp vụ, nhận thức và hiểu biết khác nhau do đóngoài việc đánh giá phân tích khách hàng thep quy định chung của Luật thỡ cú độnhạy bén, sắc sảo khác nhau Những thế hệ đi trước có kinh nghiệm thực tế rấtnhiều nhưng trì trệ, bảo thủ, trình độ chuyên môn không được bổ sung, cập nhậtthường xuyên thì sẽ khụngtheo kịp tốc độ phát triển, cánh thức hiện đại thế hệ trẻmặc dù kiến thức, trình độ được cập nhật mới nhưng nóng vội, thiếu kinh nghiệmthực tế Chưa kể tới đạo đức nghề nghiệp, tính cách của mỗi người,tất cả những vấn
đề trên đều ảnh hưởng tới chất lượng phân tích khách hàng
*Chính sách tín dụng của Ngân hàng
Trang 35Chính sách tín dụng trong từng thời kỳ khác nhau mở rộng hay thu hẹp tớndụng.Trong thời kỳ Ngân hàng thu hẹp tín dụng, phân tích khách hàng sẽ có thể kỹ hơn,phức tạp và khó khăn hơn nếu Ngân hàng mở rộng tín dụng thì quy trình phân tíchkhách hàng có thể đơn giản hơn, tất nhiên không thể để sai phạm ở một khâu nàotrong quy trình phân tích đánh giá nó
1.4.2 Nhân tố khách quan
*Bản thân khách hàng vay vốn
Khách hàng vay vốn là rất đa dạng và nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau,quy mô hoạt động khác nhau đều ảnh hưởng lớn đến chất lượng phân tích củaNgân hàng
- Lĩnh vực kinh doanh: với những ngành nghề khác nhau thì đặc trưng củatừng nghành đó là khác nhau, cho nên đối với các chỉ tiêu tài chính của mỗi ngànhmỗi nhóm khách hàng là khác nhau cũng có những mức chuẩn khác nhau do đókhông thể áp dụng chuẩn của ngành này cho ngành khác để phân tích hoạt động sảnxuất kinh doanh Chẳng hạn đối với doanh nghiệp sản xuất và những doanh nghiệpdịch vụ thì chỉ tiêu về khả năng hoạt động tài sản cố định sẽ là khác nhau, ở doanhnghiệp sản xuất thì chỉ tiêu về khả năng hoạt động của tài sản là cao hơn trong đódoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thỡ cỏc chỉ tiêu về hiệu quả sử dụngvốn sẽ phải được quan tâm hơn
- Nhóm khách hàng khác nhau do đó cũng gây khó khăn cho Ngân hàng, vìnhững nhóm khách hàng khác nhau thì mức độ phức tạp của các báo cáo tài chính làkhác nhau ví dụ như Doanh nghiệp Nhà nước so với Công ty tư nhân, góc độ phântích là khác nhau, các chỉ tiêu quan tâm được chú trọng cũng khau Mặt khác đốivới mỗi nhóm khách hàng nh khách hàng là các doanh nghiệp, khách hàng là hộkinh doanh… thì sẽ gây khó khăn cho Ngân hàng Với những nhóm khách hàng có
số liệu phức tạp, cán bộ tín dụng càng cần thiết phải sử dụng hết số liệu, tìm mốiliên quan và lời giải thích giữa các chỉ tiêu với những nhóm khách hàng có báo cáotài chính nhiều thông số phức tạp thì điều quan trọng hơn là búc tỏch những chỉ tiêu
Trang 36quan trọng, tìm được mối liên quan giữa chúng và từ đó nên bật được tình hình tàichính hiện tại của khách hàng.
- Thời hạn của khoản vay mà Ngân hàng sẽ chú trọng đến các khía cạnh khácnhai của tình hình tài chính khách hàng Chẳng hạn, với các khoản vay ngắn hạn,các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, cơ cấu vốn cũng như các nguồn có thể đáp ứngcho việc trả nợ trong ngắn hạn sẽ được Ngân hàng quan tâm hơn, vỡ nú ảnh hưởngtới khả năng trả nợ của doanh nghiệp Trong khi đó, với các khoản cho vay trung vàdài hạn, thì Ngân hàng lại đề cao các chỉ tiêu về khả năng sinh lời và hiệu quả hoạtđộng của khỏchhàng vỡ trong dài hạn chính lợ nhuận và sự vững mạnh về tài chínhmới là yếu tố đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khác hàngg
*Độ chính xác của các báo cáo tài chính:
Đây là một nhân tố đóng vai trò quyết định độ chính xác của nội dung phân tíchtài chính vì toàn bộ việc phân tích tài chính được thực hiện căn cứ vào số liệu trongbáo cáo này Các báo cáo mà không sát thực thì dẫn đến những quyết định sai lầm
Vì thế, việc kiểm tra lại độ chính xác, phù hợp của báo cáo tài chính là hết sức cầnthiết, công sức của người cán bộ không lãng phí
Ngoài ra các nhân tố khác như công nghệ tin học, môi trường kinh tế, xã hội vàpháp luật cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ tới chát lượng phân tích tàichính khách hàng việc ứng dụng công nghệ tin học sẽ giúp cho việc tính toán đượcchính xác hơn, không phức tạp, gây lộn xộn không đáng có, tiết kiệm thời gian sứclực Thông qua hệ thốngmỏy tớnh, Ngân hàng có thể lưu giữ, cập nhật những thôngtin mới nhất và cần thiết một cách nhanh chóng
Các văn bản pháp luật, quy định cũng buộc công tác phân tích, đánh giá phảituân thủ các buớc, các chuẩn mực của toàn nghành và từng ngành, của Ngân hàng,chính những yếu tố này đã tạo ra những thông tin phản hồi của các khách hàng
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VAY VỐN
TẠI CHI NHÁNH NH TMCP Á CHÂU HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về chi nhánh NHTMCP Á Châu Hà Nội
2.1.1 Sự ra đời, phát triển, mô hình tổ chức và khái quát nội dung hoạt động 2.1.1.1 Sự ra đời và phát triển
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (gọi tắt là ngân hàng ACB) là một ngânhàng thương mại cổ phần Việt Nam đăng ký hoạt động tại nước Cộng hòa Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấyphép hoạt động số 0032/NH-GP ngày 24-04-1993 Vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷVND cho thời hạn hoạt động 50 năm Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày 04-06-
1993 Năm 1994, ngân hàng tiếp tục tăng vốn điều lệ lên 70 tỷ VND, năm 1996 vốnđiều lệ là 341 tỷ VND, năm 2003 ACB lại tăng vốn điều lệ lên 424 tỷ VND và tínhđến ngày 23-08-2005 vốn điều lệ của ACB là 948,32 tỷ VND
Sau gần 20 năm hoạt động, đến nay ACB đó cú 61 chi nhánh và phòng giao dịchtại những vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc
Tại TP Hồ Chí Minh: 23 chi nhánh và 13 phòng giao dịch
Tại khu vực phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh): 6 chinhánh và 6 phòng giao dịch
Tại khu vực miền Trung (Đà Nẵng, Daklak, Khánh Hoà, Hội An, Huế): 5chi nhánh và 1 phòng giao dịch
Tại khu vực miền Tây (Cần Thơ, An Giang, và Cà Mau): 3 chi nhánh
Tại khu vực miền Đông (Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu): 3 chi nhánh
và 1 phòng giao dịch
Trang 38 5.584 đại lý chấp nhận thanh toán thẻ của Trung tâm thẻ ACB (31/12/2005)
360 đại lý chi trả của Trung tâm chuyển tiền nhanh ACB-Western Union(tháng 03/2005)
- PGD Kim Liên tại số 1 Chùa Bộc, quận Đống Đa
- PGD Bát Đàn tại 46B Phố Bát Đàn, quận Hoàn Kiếm
- PGD Chùa Hà tại 18 Trần Đăng Ninh, quận Cầu Giấy
- PGD Ngọc Lâm tại 225 Phố Ngọc Lâm, quận Long Biên
- PGD Nội Bài tại Khu C, tầng 1, Sân Bay Quốc tế Nội Bài
Nhiệm vụ chính của ACB Hà Nội là cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàngnhằm phục vụ tốt nhất, đáp ứng tốt nhất nhu cầu cho mọi đối tượng khách hàng.Đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của ngân hàng ACB cũng như cả hệthống ngân hàng Việt Nam Những sản phẩm dịch vụ chính mà ACB Hà Nội cungcấp bao gồm:
Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng đồng Việt Nam, ngoại
Kinh doanh ngoại tệ và vàng
Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ
Trang 39Bên cạnh đó ACB còn là nơi đặt chi nhánh của Công ty cổ phần địa ốc ACB(công ty liên kết với ngân hàng ACB) hoạt động trong lĩnh vực bất động sản.
Trang 402.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Về cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu nói chung về mặt nội dung tuân theo quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng quản trị, kiểm soát viên, người điều hành Ngân hàng thương mại cổ phần, Công ty tài chính cổ phần theo quyết định số 166/ QĐ-NH5 ngày 10/08/1994
Hiện nay, cơ cấu tổ chức tại Sở giao dịch Hà Nội được thực hiên theo sơ đồ sau đây: