Thời gian gần đây rủi ro tín dụng đối với khu vực này đang là vấn đề nổi cộm đang thu hút sự quan tâm của các cấp lãnh đạo ngành Ngân hàng trong khi tiềm năng của khu vực kinh tế ngoài q
Trang 1quốc doanh
Trang 2
Lời mở đầu
Tín dụng Ngân hàng được coi là “đòn bẩy” quan trọng cho nền kinh tế, là nguồn vốn quan trọng, chủ động để phát triển kinh tế trong nước Tuy nhiên, nghiệp vụ tín dụng không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà nó còn là nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của từng Ngân hàng Cũng như mọi hoạt động kinh doanh khác, hoạt động tín dụng cũng chứa đựng những rủi ro Do đặc thù kinh doanh tín dụng Ngân hàng là kinh doanh chủ yếu dựa trên tiền của người khác, kinh doanh qua tay người khác nên rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng còn cao hơn rủi ro doanh nghiệp vì nó vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của Ngân hàng và vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, rủi ro trong kinh doanh dịch vụ Ngân hàng là điều khó tránh khỏi mà chủ yếu là rủi ro tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Thời gian gần đây rủi ro tín dụng đối với khu vực này đang là vấn đề nổi cộm đang thu hút sự quan tâm của các cấp lãnh đạo ngành Ngân hàng trong khi tiềm năng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh rất to lớn nhưng chưa được phát huy Hơn nữa rủi ro xảy ra trong Ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng còn nguy hiểm hơn rất nhiều lần so với rủi ro trong các ngành kinh doanh khác Hậu quả của nó rất dễ lan truyền trong cả hệ thống Ngân hàng, gây
ra những vụ hoảng loạn và sụp đổ hàng loạt Ngân hàng và một loạt hậu quả nghiêm trọng khác về mọi mặt kinh tế, xã hội đặc biệt là lòng tin của người dân vào sự lãnh đạo của Chính phủ bị suy giảm Ta có thể thấy được phần nào hậu quả của rủi ro Ngân hàng qua vụ đổ vỡ hàng loạt của gần 500 quỹ tín dụng đô thị và hàng nghìn hợp tác xã tín dụng nông thôn nước ta những năm 1989-1990, hay mới đây nhất là sự sụp đổ của
hệ thống quỹ tín dụng ở Anbani
Với các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, rủi ro tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng đang là một vấn đề làm đau đầu các nhà quản trị Ngân hàng Sự gia tăng của các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi, thất thoát vốn tín dụng do bị lừa đảo, chiếm dụng….đã làm rung động cả một hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần và đẩy không ít các Ngân hàng kể cả Ngân hàng quốc doanh vào trạng thái co cụm không dám cho vay Nhưng đã cho vay thì phải chấp nhận rủi ro Trong kinh
Trang 3doanh Ngân hàng cũng vậy, đến các Ngân hàng hoạt động hiệu quả nhất thì việc tồn tại các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi … vẫn xảy ra nhưng ở mức độ thấp và rất thấp Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cho các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay là cần chấp nhận rủi ro và tìm ra các biện pháp giảm thiểu nó đến mức thấp nhất có thể, để trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng lợi nhuận và góp phần thúc đẩy kinh
tế phát triển
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề, sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải- Chi nhánh Hà nội, dưới sự hướng dẫn của Cô giáo PGS, TS
Nguyễn Thị Bất em đã chọn đề tài nghiên cứu: “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng
đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh” (Nghiên cứu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải – Chi nhánh Hà nội)
Bài luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải- Chi nhánh Hà nội
Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Hàng hải- Hà nội
Trang 4Chương 1
Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại đối với khu vực Kinh tế ngoài quốc doanh
1.1 hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Tính tất yếu khách quan của hoạt động kinh doanh Ngân hàng
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một bộ phận không thể tách khỏi đời sống xã hội,
là một sản phẩm đặc biệt của nền kinh tế thị trường Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở lưu thông hàng hóa và phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài của loài người Quan niệm Ngân hàng thay đổi theo thời gian, theo sự biến đổi của nền kinh tế Song khái quát chung được ghi trong pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước (Điều I, khoản 1): “Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là thường xuyên nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”
Ngân hàng thương mại cũng giống như các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích thu lợi nhuận nhưng là tổ chức kinh doanh đặc biệt vì đối tượng Ngân hàng
là tiền tệ Trong đó hoạt động tín dụng là đặc trưng chủ yếu Hơn nữa, tổ chức này lại
có vai trò to lớn trong việc tạo ra vốn và điều hoà vốn trong nền kinh tế Khoản 8 và
10, điều 20, luật các tổ chức tín dụng, hoạt động tín dụng được định nghĩa như sau:
“Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thoả thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu cho thuê tài sản, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác…”
Hoạt động Ngân hàng cũng như hoạt động tín dụng ngân hàng đều là một công cụ quan trọng không thể thiếu của nền sản xuất kinh tế thị trường
Trang 51.1.2 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại thể hiện mình thông qua các hoạt động sau:
1.1.2.1 Huy động tiền gửi của doanh nghiệp và cá nhân
Đây là một trong những nghiệp vụ cơ bản, đầu tiên chủ yếu của ngân hàng thương mại
mà chính qua nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại đã thực hiện chức năng tạo tiền Ngân hàng thương mại có thể huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng cách nhận tiền gưỉ của các doanh nghiệp và cá nhân thông qua các hình thức: tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm Ngoài ra, khi cần thêm vốn, ngân hàng có thể huy động bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền gửi, các trái khoán ngân hàng, hay vay vốn của ngân hàng trung ương và các tổ chức tín dụng khác Tuy nhiên, ngân hàng thương mại phải thu hút vốn trên cơ sở vốn tự có Vốn tự có được coi là “cái đệm” chống đỡ các rủi ro gặp phải trong kinh doanh ngân hàng Tỷ lệ vốn huy động và vốn
tự có được quy định cụ thể trong luật ngân hàng mỗi nước ở Việt Nam, các ngân hàng thương mại không được phép huy động vốn quá 20 lần vốn tự có và quỹ dự trữ
1.1.2.2 Thực hiện nghiệp vụ đầu tư tín dụng
Đây là nghiệp vụ kinh doanh mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại dùng chủ yếu vốn huy động để cho vay từ đó thu lợi nhuận trên
cơ sở chênh lệch chi phí đầu vào và đầu ra Thực hiện nghiệp vụ này, các ngân hàng thương mại đã thực hiện chức năng xã hội của mình thông qua việc mở rộng vốn đầu
tư, gia tăng sản phẩm xã hội và cải thiện đời sống nhân dân Tín dụng có ý nghĩa lớn đối với toàn bộ nền kinh tế thông qua hoạt động tài trợ cho các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế như: công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng…Đồng thời đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất, do vậy các ngân hàng thương mại luôn chú trọng tới việc thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc cho vay để đảm bảo thu
về cả gốc lẫn lãi đúng hạn
1.1.2.3 Nghiệp vụ thanh toán
Các ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ thanh toán thông qua việc phát hành các công cụ thanh toán (thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, séc) cung cấp các dịch vụ thanh toán cho công chúng, thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ Để thực hiện các chức năng
Trang 6trung gian thanh toán của mình, các ngân hàng thương mại đều tham gia vào các hệ thống thanh toán như: hệ thống thanh toán bù trừ, hệ thống thanh toán liên hàng hay thông qua các ngân hàng đại lý
1.1.2.4 Tham gia hoạt động trên thị trường hối đoái
Các ngân hàng thương mại tham gia mua bán ngoại tệ, kim loại quý… trên thị trường hối đoái Trong sự phát triển của mình các ngân hàng thương mại đã hình thành và phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và kim loại quý Nó xuất phát từ sự phát triển sản xuất kinh doanh theo xu hướng hội nhập và phân công lao động quốc tế Đồng thời, nó cũng là động lực thúc đẩy trở lại sự phát triển của hoạt động này Về phía ngân hàng, việc mua bán ngoại tệ và kim loại quý…đã đem lại lợi nhuận trên cơ sở mua vào với giá thấp và bán ra với giá cao Kinh doanh trên cơ sở chênh lệch tỷ giá thông qua các giao dịch giao ngày, giao dịch kỳ hạn, arbit…cũng đem lại lợi nhuận cho ngân hàng
1.1.2.5 Tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán, ngân hàng thương mại tham gia với tư cách là người cung cấp (phát hành), người mua bán, người bảo lãnh phát hành, người môi giới, người đầu tư….Trong đó, chức năng môi giới của ngân hàng trên thị trường chứng khoán được mọi người biết tới thông qua các hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các công ty, mua bán chứng khoán cho khách hàng…
1.1.2.6 Cung cấp các dịch vụ khác cho khách hàng
Các ngân hàng thương mại hiện đại nhận thấy lợi nhuận đem lại từ việc cung cấp các dịch vụ cho khách hàng chiếm tỷ trọng ngày một lớn trong tổng lợi nhuận Do vậy đa dạng hóa các dịch vụ, nâng cao hiệu quả chất lượng dịch vụ luôn là mối quan tâm của ngân hàng Ngày nay, các dịch vụ của ngân hàng thương mại rất đa dạng, phong phú
từ việc bảo lãnh, đến cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, quản lý tài sản cho khách hàng lưu giữ, bảo quản các chứng từ, tài sản có giá, cho thuê két, thực hiện nghiệp vụ đại lý uỷ thác, quản lý danh mục đầu tư…
1.2.Vài nét về rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm rủi ro trong kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Trang 7Mục đích chung nhất của mọi hoạt động của con người là vươn tới thành công theo những mục tiêu đã định Trong quá trình thực hiện hoạt động ấy luôn có những khó khăn nhiều, dự định ban đầu có thể không đạt được như ý muốn Tất cả những cái đó
có thể gọi là rủi ro
Tuỳ theo điều kiện khác nhau mà có cách nhìn về rủi ro không giống nhau:
- Theo Franknight(1921) thì :”Rủi ro là sự bất chắc có thể đo lường được”
- Theo Marilic Mr Carty(1986) cho rằng “Rủi ro là một tình trạng trong đó biến
cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được”
- Theo H.Kinh nhà kinh tế học Mỹ: “Rủi ro là các kết quả bất lợi có thể đo lường được” Như vậy theo ông những gì chưa biết thì không phải là rủi ro mà là bất chắc
- Còn theo Allan Willet thì “ Rủi ro là bất chắc có liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”
- Theo lý thuyết chứng khoán: “ Rủi ro là sự chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế
và lợi nhuận bất lợi cho nhà đầu tư”
Nhìn chung mỗi định nghĩa đều khẳng định được rằng Rủi ro là khả năng xuất hiện những biến cố không mong đợi gây thiệt hại cho một công việc cụ thể
Trong nền kinh tế thi trường, rủi ro đựơc xem như một yếu tố không thể tách rời với quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, doanh nhân trên thị trường Các chuyên gia
về Tài chính- Ngân hàng cho rằng: “ hơn mọi doanh nghiệp khác, Ngân hàng phải đối phó với các loại rủi ro từ mọi nguồn gốc”
Rủi ro tín dụng là đặc trưng nhất và dễ xảy ra nhất trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng Rủi ro tín dụng là một rủi ro trong kinh doanh của Ngân hàng do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ về tài chính với Ngân hàng Rủi ro tín dụng được hiểu là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng Hoặc nói một cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ tài sản có sinh lời của các Ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả
về mặt số lượng và thời hạn
Điều đó có nghĩa là một khi còn có hoạt động Ngân hàng thì còn có rủi ro trong hoạt động tín dụng và buộc Ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro, giảm tới mức thấp nhất thiệt hại do chúng gây ra
Trang 81.2.2 Các loại hình rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Rủi ro tín dụng (rủi ro cho vay)
Hoạt động tín dụng là một trong các hoạt động lớn nhất và chủ yếu nhất của Ngân hàng thương mại vì vậy lợi nhuận của Ngân hàng chủ yếu là thu từ lãi do việc cấp tín dụng Đương nhiên ở khâu này chứa đựng nhiều rủi ro nhất, nói cách khác việc cho vay bao giờ cũng thực hiện các đảm bảo để giảm thiểu các rủi ro có liên quan đến tiền vay như: Phân tích khách hàng, quy định hạn mức cho vay, yêu cầu thế chấp, thỏa thuận về vay, trả nợ Nhưng dẫu sao Ngân hàng cũng không thể đánh gía được hết các bất ngờ hoặc chính xác được
Rủi ro cho vay biểu hiện ra bên ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, vốn bị
ứ đọng khó có khả năng thu hồi hoặc xảy ra nợ quá hạn ngày càng tăng, các khoản lãi chưa thu ngày càng lớn dẫn đến Ngân hàng không thu hồi được vốn để hoàn trả vốn cho người gửi tiền, thậm chí Ngân hàng bị thiếu và không có khả năng thanh toán
Nói tóm lại, rủi ro trong khâu cho vay liên quan đến ba vấn đề chính: ý thức về nghĩa
vụ trả nợ của khách hàng, khả năng trả nợ hiện tại và tương lai, khả năng chịu nợ theo thời hạn thoả thuận với mức vay đã thực hiện
1.2.2.2 Rủi ro mất khả năng thanh toán
Trường hợp này xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng được các nhu cầu thanh toán của mình và của khách hàng Có hai nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng này Thứ nhất,
do ngân hàng huy động vốn ngắn hạn song lại cho vay dài hạn bởi vậy nó không đủ số vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng Thứ hai, do khách hàng đột ngột mất lòng tin ở ngân hàng, cùng lúc ồ ạt đến rút tiền làm cho ngân hàng không có
đủ tiền thanh toán cho khách hàng Rủi ro này thể hiện ngân hàng đang thiếu vốn hoạt động Trong trường hợp này các Ngân hàng bị rủi ro thường bị mất tiền lãi và bỏ ra chi phí cho các việc nhằm cứu vãn tình hình như:
Bán chứng khoán
Vay tái chiết khấu từ Ngân hàng trung ương
Vay các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác
Thu hồi hay bán lại các món vay chưa đến hạn
Trang 9Do sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ nếu khả năng thanh toán của ngân hàng kém thì ngân hàng càng khó huy động được nguồn vốn dồi dào, phạm vi hoạt động ngày càng thu hẹp Từ đó, Ngân hàng sẽ lâm vào vòng xoáy đã thiếu vốn lại càng thiếu vốn hơn và sẽ vỡ nợ nếu không được sự trợ giúp kịp thời của Ngân hàng trung ương
1.2.2.3 Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh khi có biến động chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay của Ngân hàng với lãi suất phải trả cho việc đi vay dẫn đến giảm thu nhập của Ngân hàng Rủi ro này là hậu quả của những thay đổi lãi suất Trong nền kinh tế, lãi suất là yếu tố rất nhạy cảm đối với những biến động của nền kinh tế, hơn nữa nó là công cụ trong việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của chính phủ Vì vậy, rủi ro lãi suất xuất hiện thường xuyên trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
1.2.2.4 Rủi ro tỷ giá
Kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động của Ngân hàng nhằm phục vụ cho nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu thuật lợi Rủi ro tỷ giá xuất hiện do sự thay đổi tỷ giá giữa các đồng tiền Rủi ro này xuất hiện hầu hết trong các hoạt động kinh doanh Ngân hàng, đặc biệt trong khâu ”đi vay” và “cho vay” Khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra ”lãi” về hối đoái, tỷ giá giảm sẽ tạo ra ”lỗ” về hối đoái Những điều này sẽ tạo ra ảnh hưởng trực tiếp đến Ngân hàng cũng như đối với khách hàng của Ngân hàng
1.2.2.5 Rủi ro bị đọng vốn
Rủi ro này xuất hiện trong trường hợp nguồn vốn của Ngân hàng bị ứ đọng, không cho vay được hay không thể chuyển sang các tài sản có sinh lời khác Điều này gây rủi ro lớn cho Ngân hàng Bởi vì NHTM là doanh nghiệp kiếm lợi nhuận bằng cách”đi vay
để cho vay” nguồn vốn tự có rất ít ỏi, chỉ là một cái đệm chống đỡ sự sụt giảm của tài sản có mà thôi Và nguồn vốn huy động chủ yếu của ngân hàng chính là vốn huy động Nếu vì một lý do nào đó, ngân hàng không cho vay được nguồn vốn này hoặc không
sử dụng hết nghĩa là tồn tại tiền dự trữ qúa mức không sinh lãi trong khi đến hạn ngân
Trang 10hàng vẫn phải trả lãi cho số tiền huy động và các chi phí nghiệp vụ khác có liên quan
sẽ làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Tình trạng này kéo dài và đến một mức độ nào đó sẽ đẩy ngân hàng vào hoàn cảnh khó khăn thua lỗ hoặc thậm chí phá sản
1.2.2.6 Các rủi ro thuần tuý
Đó là những rủi ro của tự nhiên mang lại như thiên tai, hoả hoạn, động đất hoặc các rủi
ro như lừa đảo, trộm cắp…làm thiệt hại hay phá huỷ tài sản của Ngân hàng
1.3 Rủi ro tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Với khả năng điều hòa vốn trong nền kinh tế, Ngân hàng thương mại từ lâu đã được xem có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế của đất nước nói chung và
sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng Nhưng trước khi xem xét rủi ro tín dụng Ngân hàng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, chúng ta cần phải biết đặc điểm khu vực kinh tế này trong nền kinh tế thị trường
1.3.1 Đặc điểm khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Kinh tế ngoài quốc doanh(KT NQD) là một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân
Sự tồn tại và sự phát triển khu vực kinh tế này có cơ sở về mặt kinh tế và thể chế chính trị Xét về mặt kinh tế xã hội, Marx đã từng khái quát rằng một kết cấu xã hội không bị loại trừ khi bản thân nó vẫn còn sức sống và một cấu trúc Xã hội mới chưa thể ra đời khi những điều kiện này nảy sinh nó chưa xuất hiện
Trên ý nghĩa đó, KT NQD có cơ sở kinh tế xã hội ở nước ta Về mặt thể chế chính trị
từ Đại hội Đảng lần VI(1986) đến nay, Đảng và nhà nước ta đã kiên trì và nhất quán thực hiện chiến lược nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo hướng Xã hội chủ nghĩa
Theo đó, sở hữu tư nhân được chấp nhận, KT NQD được tồn tại và phát triển cùng kinh tế Nhà nước KTNQD là khu vực kinh tế được hình thành trong quan hệ sở hữu
tư nhân, không có sự góp vốn của Nhà nước Xét cụ thể về loại hình doanh nghiệp KT NQD bao gồm: hợp tác xã, công ty, doanh nghiệp tư nhân, hộ cá thể và cá nhân kinh doanh
Trang 11Nghiên cứu hoạt động của KT NQD trong mối quan hệ với khu vực quốc doanh, ta sẽ thấy rõ được vai trò tất yếu của KT NQD trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội Thành phần KT NQD có đặc điểm nổi trội sau:
1.3.1.1 Đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều tập trung vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ và tập trung chủ yếu ở các vùng đô thị lớn
Qua số liệu thống kê cho thấy phạm vi hoạt động của khu vực KT NQD có mặt hầu hết các ngành Kinh tế quốc dân(26000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, tính đến đầu năm 1998), công nghiệp chế biến, nông –lâm nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ Tuy nhiên trong vòng 10 năm trở lại đây, mức đầu tư nhiều nhất vẫn là thương mại và dịch vụ, ngành chiếm tỷ trọng nhiều cả về số lượng lẫn giá trị tổng sản phẩm quốc nội
Sự phát triển của thương mại –dịch vụ ngoài việc xuất phát từ nhu cầu thực tế của nền kinh tế còn là tất yếu của thời đại và xu thế hội nhập nên quy mô hoạt động của nó đã vượt ra ngoài biên giới của một nước Hơn nữa, đặc điểm của ngành thương mại và dịch vụ là vốn đầu tư thấp hơn các ngành khác, thời gian thu hồi vẫn nhanh, tỷ suất doanh lợi hấp dẫn, có thị trường, có kinh nghiệm kinh doanh
Trong lĩnh vực sản xuất khu vực KT NQD chiếm tỷ trọng thấp năng lực sản xuất nhỏ nên dễ bị tác động bởi sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường và chủ đầu tư vào các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến
1.3.1.2 Năng động nhạy bén và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường
Người quản lý doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường xuyên đồng thời là chủ sở hữu nên các quyết định trong kinh doanh thường có hiệu lực ngay Sự gắn bó sát sao giữa quyền lợi của doanh nghiệp với quyền lợi của người lãnh đạo khiến họ phải tập trung hết trí lực cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do có khả năng tự quyết, họ
có thể chớp lấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi đồng thời họ có thể chuyển hướng kinh doanh khi có những bất lợi Vì vậy các DN NQD có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường và sự tiến bộ không ngừng của Khoa học-Kĩ thuật Đây
là một lợi thế của các DN NQD so với các doanh nghiệp quốc doanh(DNQD)
1.3.1.3 Có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ
Trang 12Các DN NQD hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu Nếu thường thích hợp với
cơ cấu tổ chức đơn giản, số lượng nhân viên ít và các nhân viên thường phải đảm bảo nhận nhiều công việc theo kiểu đa năng Phần lớn chủ doanh nghiệp vừa phải đảm nhiệm vai trò điều hành, chỉ huy nhân viên vừa phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo kinh doanh
DN NQD thường sử dụng lực lượng lao động thời vụ, góp phần làm giảm chi phí, tạo lợi thế cạnh tranh về giá Cũng vì vậy mà họ đòi hỏi nhân viên của mình làm việc nghiêm túc với cường độ cao, giảm thiểu lãng phí nguồn nhân lực vẫn thường gặp ở DNQD Doanh nghiệp có thể tận dụng lao động thay thế cho vốn từ đó có thể đạt hiệu quả kinh tế cao hơn
Rõ ràng là phát triển KT NQD là phù hợp với điều kiện và khả năng về vốn, kỹ thuật cũng như trình độ quản lý của các nhà đầu tư trong nước Đồng thời nó có khả năng linh hoạt và dễ điều chỉnh hơn so với các doanh nghiệp có quy mô lớn trong nền kinh
tế thị trường ở nước ta Do vậy, khối lượng vốn để hỗ trợ cho từng doanh nghiệp sẽ không lớn hiệu quả sử dụng vốn cao và thời gian thu hồi vốn nhanh Tuy nhiên khu vực KT NQD cũng có không ít đặc điểm mang tính hạn chế, cần phải chú ý tới khi xây dựng mối quan hệ tín dụng với họ
1.3.1.4 Dễ dàng tạo lập sự phát triển cân đối giữa các vùng của đất nước
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với sự tạo lập dễ dàng có thể phát triển rộng rãi ở mọi vùng của đất nước tạo ra các sản phẩm phong phú và đa dạng và phát triển cân đối giữa các vùng của đất nước Khối lượng kinh doanh có thể đáp ứng tốt nhu cầu của địa phương, từng vùng Bên cạnh đó khu vực KT NQD có xu hướng tập trung phát triển ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hải phòng, Thành phố Hồ Chí Minh…chưa phát triển ở các tỉnh miền núi, trung du … dù rằng ở những nơi này có nhiều nguồn nguyên liệu để phát triển
1.3.1.5 Hạn chế về vốn
Hiện nay các DN NQD đang gặp phải một cản trở rất lớn đến sự phát triển sản xuất và
mở rộng kinh doanh là tình trạng thiếu vốn Trong khi đó họ thường chiếm một tỷ trọng lớn trong số những người xin vay vốn Ngân hàng Do vậy các Ngân hàng thương mại phải có sự chú ý đặc biệt tới tình hình tài chính trong cho vay đối với khu vực này
Trang 13Mặc dù thị trường chứng khoán đã đi vào hoạt động được hơn 2 năm nhưng chưa thực
sự trở thành thị trường vốn dài hạn và ổn định cho các doanh nghiệp thuộc khu vực Đồng thời hạn chế về nguồn vốn là nguyên nhân cơ bản dẫn tới những khó khăn khác cho các doanh nghiệp như về công nghệ lạc hậu, trình độ công nhân thấp, khả năng cạnh tranh
1.3.1.6 Tâm lý đầu tư, ý chí kinh doanh của các chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn thấp
Đa phần chủ doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần KT NQD chưa được đào tạo một cách bài bản, trình độ đội ngũ quản lý các kỹ sư bậc cao, trình độ người lao động thấp, thiếu kinh nghiệm tổ chức quản lý, khả năng thâm nhập thị trường, trình độ trang bị sản xuất thấp Hiện nay các nhà đầu tư chưa mạnh dạn đầu tư Vì vậy họ đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực nhằm tổ chức, quản lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.3.1.7 Một số Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa xác định được rõ hướng sản xuất kinh doanh
Không ít doanh nghiệp thụ động do thiếu trình độ mà không xây dựng được kinh doanh dài hạn, không xác định được rõ hướng sản xuất kinh doanh nên thường đăng
ký kinh doanh nhiều chức năng để dự phòng để thay đổi ngành nghề kinh doanh dễ dàng Còn có tình trạng kinh doanh sai chức năng, không có địa chỉ cố định, thay đổi sáng lập viên, tạm ngừng kinh doanh, giải thể nhưng không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền
1.3.1.8 Việc thực hiện pháp lệnh về tài chính và thống kê của Nhà nước chưa nghiêm
Các DN NQD gặp khó khăn trong việc xây dựng kế hoạch tài chính, phản ánh sản xuất kinh doanh khả thi trong khi thói quen sử dụng các dịch vụ tư vấn mang tính chuyên nghiệp chưa thành Do việc lập kế hoạch tài chính xây dựng phương án sản xuất có hiệu quả phụ thuộc vào nhiều nhân tố: trình độ khả năng quản lý kinh doanh, khả năng
dự đoán những biến động của thị trường…
Trang 14Hiện nay các sổ sách các doanh nghiệp lập ra nhằm để đối phó và đều chưa được kiểm toán Do vậy việc đánh giá các chỉ tiêu tài chính từ các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là thiếu chính xác Ngân hàng thực sự khó khăn trong việc đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp để đưa ra quyết định cho vay hay không
Tính không ổn định của các quy định luôn thay đổi và không được báo trước đã tạo tâm
lý thiếu yên tâm đầu tư, còn nhiều quy định mang tính phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp nhà nước và DN NQD rõ nhất là lĩnh vực đất đai, tín dụng… Ngoài ra, DN NQD gặp khó khăn về vấn đề đất đai trong đó có thủ tục xin cấp quyền sử dụng đất như nhau Trong trường hợp thuê đất doanh nghiệp phải trả tiền thuê đất cao gấp nhiều lần so với doanh nghiệp nhà nước Sự không bình đẳng này dẫn tới những vấn đề cấp đất, cấp quyền sử dụng đất, gây thất thoát cho ngân sách Nhà nước
Để khu vực KT NQD phát triển, góp phần phát triển kinh tế đất nước, các vướng mắc trong cơ chế tín dụng cần được tháo gỡ hơn nữa
1.3.2 Nguyên nhân phát sinh rủi ro cho vay của Ngân hàng thương mại đối với khu vực Kinh tế ngoài quốc doanh
Các nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro cho vay của các NHTM đối với doanh nghiệp
của khu vực Kinh tế ngoài quốc doanh có thể được xem xét trên các khía cạnh sau:
1.3.2.1 Thông tin không cân xứng
Trong những giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được gọi là thông tin không cân xứng Ví dụ một người vay một món tiền thường có thông tin tốt hơn về lợi tức tiềm ẩn và rủi ro kèm theo với dự án đầu tư mà người này có dự tính tiến hành so với người cho vay Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn đề trong hệ thống tài chính ở hai mặt: trước khi cuộc giao dịch diễn
ra và sau khi cuộc giao dịch diễn ra
Chọn lựa đối nghịch là do vấn đề thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn ra cuộc giao dịch Chọn lựa đối nghịch xảy ra trên thị trường tài chính khi những người
đi vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn (đối nghịch) – tức là những rủi ro không trả được nợ – là những người tích cực tìm vay nhất và do vậy có nhiều khả năng được lựa chọn nhất Do việc chọn lựa đối nghịch khiến dễ có thể là các
Trang 15món cho vay được thực hiện cho những trường hợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù có những trường hợp có thể trả được nợ
Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra Rủi ro đạo đức xảy ra khi người cho vay phải chịu một rủi ro là người vay
có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt ( thiếu đạo đức) xét theo quan điểm người cho vay, bởi vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này sẽ hoàn trả
Rủi ro đạo đức nảy sinh trong thị trường vay nợ bởi vì những người vay tiền có ý thức muốn thực hiện những hoạt động không đáng mong muốn theo quan điểm của người cho vay Trong tình trạng như vậy, dễ có thể là người cho vay này sẽ bị đặt vào sự rủi
ro về vỡ nợ Một khi những người vay đã có món tiền vay, họ dễ có thể đầu tư vào những dự án có rủi ro cao – những dự án đem lại lợi tức cao cho những người vay tiền nếu thành công Tuy nhiên, sự rủi ro cao này khiến họ có khả năng hoàn trả lại món tiền vay
Một thực tế đang tồn tại lâu nay là tình trạng các doanh nghiệp vay vốn luôn đối phó với ngân hàng thông qua việc cung cấp các số liệu không trung thực, mặc dù những số liệu này đều đã được các cơ quan có chức năng kiểm duyệt Chế độ kế toán, thống kê
đã được ban hành, nhưng phần lớn các doanh nghiệp đều thực hiện không nghiêm túc Điều này gây rất nhiều khó khăn cho ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh, cũng như việc quản lý vốn vay của đơn vị, để qua đó có thể đưa ra được những quyết định đầu tư đúng đắn có tác dụng hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, nhằm thu hồi vốn cho ngân hàng Nhiều khi các ngân hàng thương mại có những quyết định đầu tư không căn cứ vào số liệu báo cáo của đơn vị
mà thường dựa vào những cảm nhận trực quan của mình, điều này nếu kéo dài sẽ rất nguy hiểm
1.3.2.2 Môi trường kinh tế
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc biệt, rất nhạy cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế trong nước và thế giới Trong thời gian qua, nền kinh tế nước ta cũng như một số nước trong khu vực có những biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành ngân hàng Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ
Trang 16khu vực tuy không tác động trực tiếp nhưng ít nhiều cũng gây chao đảo hệ thống ngân hàng Việt Nam Những điều chỉnh liên tục về lãi suất nhằm kích cầu trong năm 1999 cũng gây thiệt hại không ít cho các ngân hàng thương mại Năm 2000 do những biến động về tỷ giá đã gây nên tình trạng đôla hoá, người ta đua nhau rút tiền gửi tiết kiệm mua ngoại tệ rồi gửi vào ngân hàng và đặc biệt là việc gửi ngoại tệ ra nước ngoài Do nền kinh tế khó khăn và sự sụt giảm nguồn vốn đầu tư, cuối năm 2001 Ngân hàng Trung ương Mỹ liên tục cắc giảm lãi suất đồng USD cộng với sự sụt giảm lãi suất đồng VND đã đẫn tới mọi ngươì đổ xô đầu tư vào bất động sản dẫn đến giá bất động sản tăng một cách chóng mặt, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc huy động vốn để đầu tư vào nền kinh tế
Bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng Như một cá thể tự nhiên, ngân hàng “khoẻ mạnh” hay không cũng phụ thuộc rất
nhiều vào môi trường kinh tế ổn định hay nhiều “bão tố”
1.3.2.3 Môi trường pháp lý
Hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng hiện nay, tuy đã được cải tiến nhiều nhưng vẫn chưa thực sự khoa học và thiếu đồng bộ, chưa đủ sức điều chỉnh những diễn biến phức tạp trong thực tế kinh doanh của ngân hàng thương mại Một vấn đề quan trọng là người thi hành luật, có nhiều người đã không thi hành đúng theo luật Nhà nước đã ban hành Đứng trước vụ lợi họ quyên mất vai trò quan trọng đó là đem lại lợi ích cho quốc gia và công bằng cho xã hội Nhà nước cần có những văn bản hướng dẫn cụ thể cách thi hành luật và có những biện pháp xử lý nghiêm minh đối với những người không làm trọn trách nhiệm
Hiện nay, điều kiện vay vốn, đặc biệt đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh gần như bắt buộc phải có tài sản thế chấp, trong khi đó chúng ta chưa có luật về sở hữu nên chưa có cơ quan nào có trách nhiệm cấp chứng nhận sở hữu tài sản và việc chuyển quyền sở hữu Vì thế mà ngân hàng gặp khó khăn trong việc kiểm tra tính xác thực của chủ sở hữu tài sản Tín dụng thương mại đang rất phổ biến trong giao dịch nhưng các quy định về lưu thông thương phiêú chưa có, dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn dây dưa, lừa đảo, trốn thuế…gây khó khăn trong việc kiểm soát Hệ thống các văn bản quy định về đảm bảo tiền vay còn nhiều bất cập, mang tính áp đặt, chưa nâng cao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của ngân hàng và khách hàng vay vốn
Trang 17Bên cạnh đó các cơ quan hữu quan chưa có được cái nhìn thấu đáo về ngân hàng và hoạt động kinh doanh tiền tệ, nên chưa có được sự phối hợp đồng bộ, tích cực với ngân hàng trong việc giải quyết những vấn đề liên quan Cho đến nay không ít người còn cho rằng việc cho vay và thu hồi nợ vay chỉ đơn thuần là việc của ngân hàng, trong khi trên thực tế có nhiều khoản vay ngân hàng đã thực hiện theo đúng mọi quy định của nhà nước mà vẫn không thu hồi được nợ Lúc đó việc thu hồi nợ đã vượt ra khỏi chức năng và khả năng của ngân hàng Mặc dầu đã có nhiều thông tư liên tỉnh giữa ngân hàng nhà nước và các bộ ngành liên quan hướng dẫn thực hiện những vấn
đề có liên quan đến hoạt động của ngân hàng, nhưng thực tế đòi hỏi phải có sự phối hợp nhiều hơn nữa giữa các cơ quan này với nhau trong thời gian tới
1.3.2.4 Những nguyên nhân bất khả kháng
Đó là những nguyên nhân như bão lụt, hạn hán, động đất, hỏa hoạn , các vụ ăn cắp, lừa đảo gây thiệt hại về tài sản của ngân hàng hoặc của khách hàng khiến người vay mất khả năng trả nợ vay Đối với loại rủi ro này, ngân hàng phòng ngừa bằng các biện pháp như mua bảo hiểm, tăng cường bảo vệ trực tiếp, giáo dục ý thức trách nhiệm cho nhân viên ngân hàng…
1.3.3 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng (RRTD)
RRTD là vấn đề lớn và gắn liền với mọi hoạt động của cả Ngân hàng Nhận biết và đánh giá đầy đủ các rủi ro có thể thực hiện đầy đủ được, bởi các hình thức rủi ro xảy ra rất đa dạng không thể có mô hình chung về RRTD Tuy nhiên trong một chừng mực nào đó chúng ta có thể nhận biết được các rủi ro tuỳ theo từng dấu hiệu cụ thể
1.3.3.1 Doanh nghiệp vay vốn trì hoãn nộp các báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là tài liệu quan trọng dùng để thẩm định cho vay và là cơ sở trực tiếp
để đánh giá việc vay vốn, sử dụng vốn vay của Ngân hàng Vì vậy báo cáo tài chính (như bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo lỗ lãi…) có mối quan
hệ mật thiết với mọi khoản cho vay, và đòi hỏi người vay phải xuất trình kèm theo các tài liệu vay vốn theo suốt thời gian vay Việc chậm trễ trong xây dựng hoặc nộp các báo cáo định kỳ nói lên tình hình tài chính có vẫn đề phải xem xét, hoặc doanh nghiệp
Trang 18có khó khăn, hoặc có gian lận về tài chính, Ngân hàng cần thiết phải tiến hành kiểm tra phân tích và kết luận cụ thể
1.3.3.2 Mối quan hệ giữa Ngân hàng và người vay
Trong nền kinh tế thị trường quan hệ giữa Ngân hàng và người vay là quan hệ bạn hàng kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật Song mối quan này chủ yếu thực hiện trên
cơ sở việc sử dụng vốn lẫn nhau và dựa trên sự tín nhiệm Vì vậy trong quan hệ tín dụng nhất thiết phải có các quan hệ qua lại lẫn nhau nhằm để cung cấp thông tin hai chiều, kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện các cam kết và để khẳng định vị trí và
uy tín của mình Sự chậm trễ hoặc thất hẹn, hoặc trốn tránh các giao tiếp đó chứng tỏ mối quan hệ đang diễn ra không bình thường và sự không bình thường đó sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn, khả năng hoàn trả nợ, tình hình sản xuất kinh doanh
và các quan hệ hợp tác nói chung về kinh tế, xã hội Tình hình đó có thể làm cho mối quan hệ xã hội trở nên căng thẳng, không tốt đẹp, làm giảm uy tín và trực tiếp làm ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn, khả năng cho vay, khả năng thanh toán của các bên – tức là có thể xuất hiện các rủi ro tín dụng
1.3.3.3 Tình hình dự trữ vật tư hàng hoá
Vật tư hàng hoá nói chung và vật tư hàng hoá tạo ra từ tiền vay nói riêng đều được coi như các đảm bảo tiền vay trực tiếp, là cơ sở để vốn vay Ngân hàng phát huy hiệu quả kinh tế (tạo ra lợi nhuận mới) Do đó dự trữ vật tư hàng hoá là việc làm cần thiết cho sản xuất kinh doanh Tuy nhiên nếu dự trữ vật tư hàng hoá quá lớn (trên mức hợp lý) thì có thể dẫn đến ứ đọng về vốn, làm giảm khả năng thanh toán và như vậy tình hình tài chính trở nên khó khăn, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ Từ đó
có thể làm nảy sinh nợ nần và gia tăng thêm các khoản nợ, kể cả các khoản nợ quá hạn
và có thể dẫn đến rủi ro tín dụng
1.3.3.4 Chất lượng hàng hoá, dịch vụ
Chất lượng hàng hoá, dịch vụ là kết quả của quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh, nên có thể được coi là tiêu thức đánh giá sự thành công hay thất bại của người kinh doanh Tuy nhiên phải là các hàng hoá, dịch vụ phù hợp với thị trường, được thị trường chấp nhận Khi chất lượng hàng hoá, dịch vụ bị giảm sút, hoặc là không đạt được các tiêu chuẩn thì đương nhiên khó có khả năng tiêu thụ, dẫn đến không có khả
Trang 19năng thu hồi vốn đầu tư, không thực hiện được nghĩa vụ tài chính Các doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng trong các trường hợp đó khó có thể đảm bảo được việc trả nợ đúng hạn, đầy đủ cho Ngân hàng và đương nhiên có nhiều khả năng làm cho rủi ro tín dụng xuất hiện
1.3.3.5 Hoàn trả nợ vay Ngân hàng
Thực hiện nghĩa vụ nợ vay Ngân hàng (bao gồm cả vốn và lãi) theo thời hạn được coi như là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng Các trường hợp trả nợ vay Ngân hàng chậm hoặc quá thời hạn thoả thuận đều coi như là các dấu hiệu cơ bản của rủi ro tín dụng Cho dù rằng nguyên nhân của nó là khách quan hay chủ quan Bởi
vì suy cho cùng khi cho vay thì điều mong muốn lớn nhất và chủ yếu nhất của Ngân hàng là phải thu hồi đủ vốn và lãi theo thời hạn
1.3.3.6 Sự thay đổi tổ chức hoạt động
Bao gồm thay đổi của các nhà quản lý (cách thức, từ chức, chuyển công tác khác), hoặc tình trạng ngừơi lao động thiếu việc làm(làm việc cầm chừng,thôi việc, nghỉ việc), hoặc đơn vị vay phải bán các tài sản để giải quyết cho các nhu cầu tài chính, cũng đều được coi như các dấu hiệu rõ nét để nhận biết rủi ro tín dụng Bởi vì trong đơn vị vay xuất hiện các tình trạng đó chứng tỏ đơn vị đang có các biến động xấu về tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính khó khăn thì việc hoàn thành nghĩa
vụ nợ là điều khó thực hiện được
1.3.3.7 Các thảm họa thiên nhiên, các biến động về chính trị xã hội
Các thảm họa thiên nhiên như báo lụt, hoả hoạn, thời tiết khắc nghiệp… đều có thể là các nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là đối với các đơn vị hoạt động phụ thuộc vào tự nhiên Các biến động chính trị, xã hội sẽ dẫn đến môi trường xã hội, môi trường kinh tế bất ổn định, đây là các bất lợi cho các chủ thể trong kinh doanh Như vậy cũng có nghĩa là tạo “điều kiện” nảy sinh các rủi ro tín dụng Điều này có thể nhận biết được từ các thông tin kinh tế, xã hội
Tóm lại, trong quá trình kinh doanh các Ngân hàng phải thường xuyên quan tâm đến mọi vấn đề có liên quan đến sự an toàn của các khoản cho vay, đầu tư thông qua các dấu hiệu có thể nhận biết được Các dấu hiệu đó có thể nhận biết được thông qua thông
Trang 20tin từ phía người vay, từ thực tiễn cuộc sống và từ sự hoạt động của chính bản thân Ngân hàng Đồng thời căn cứ vào mức độ và biểu hiện của từng trường hợp để đề ra các biện pháp ứng xử hợp lý nhất
1.4 Tác hại của rủi ro tín dụng
1.4.1 Đối với nền kinh tế
Ngân hàng thương mại hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với tư cách là một trung tâm của đời sống kinh tế Nên có thể nói hoạt động của Ngân hàng được coi là một bức tranh thu nhỏ của nền kinh tế, thông qua nó ta có thể biết được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thu nhập của dân cư Do đó, khi gặp phải những rủi ro thì tất yếu sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống
xã hội Các Ngân hàng thường có quan hệ chặt chẽ với nhau, khi một Ngân hàng gặp rủi ro thì có thể kéo theo một hệ thống Ngân hàng thương mại bị khủng hoảng Điều này sẽ kéo theo tình trạng mất ổn định trên thị trường tiền tệ Nó có thể làm giảm giá trị đồng nội tệ, đẩy tỷ giá hối đoái lên cao, gây khó khăn cho các nhà doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá Như vậy nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng, khi đó những hiện tượng tiêu cực trong xã hội sẽ diễn ra như: Mức sống giảm, thất nghiệp tăng, các vấn đề xã hội trở nên trầm trọng Không chỉ như vậy, nó còn tạo ra tâm lý bất ổn, hoảng loạn trong khu vực dân cư Điều này được chứng minh rõ ở nước ta trong đầu thập niên 90 do sự sụp đổ của hệ thống tín dụng; hay ở các nước Pháp, Đức, Mỹ … hoặc trong thời gian qua hay gần hơn nữa là các nước trong khu vực Đông Nam á
1.4.2 Đối với bản thân ngân hàng
Ngân hàng thương mại thực chất cũng là một doanh nghiệp vì vậy cũng coi lợi nhuận
là mục tiêu cuối cùng Lợi nhuận của Ngân hàng được tạo ra từ nhiều hoạt động, trong
đó nguồn thu từ lãii cho vay trong hoạt động kinh doanh tín dụng là chủ yếu nhất (khoảng 70-80%) Do đó có thể nói rằng kinh doanh tín dụng là hoạt động quyết định đến lợi nhuận thu được của cả Ngân hàng Nhưng hoạt động tín dụng thì lại bao hàm hầu hết các rủi ro của Ngân hàng Như vậy có nghĩa là giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận Ngân hàng luôn có mối liên hệ mật thiết và đối nghịch nhau
Mối quan hệ đó thể hiện qua đồ thị
Mức đầu tư và cho vay
Lợi
Trang 21
Vì vậy, để có thể quyết định cho vay đúng đắn, ít rủi ro và thu được lợi nhuận hợp lý, Ngân hàng cần phải phân tích cụ thể, kỹ lưỡng các yếu tối hợp thành khoản cho vay Trong khi phân tích Ngân hàng cần phải chú ý đến : năng lực vay nợ (Capacity), uy tín của người vay (Chavacter), vốn (Capital), thế chấp tài sản (Collateral), các điều kiện (condition) – theo mô hình 5C
Khi rủi ro xảy ra ở mức độ thấp, Ngân hàng có thể bù đắp bằng thu nhập từ các hoạt động khác hoặc bằng vốn tự có của mình, ở mức độ này Ngân hàng chỉ bị giảm lợi nhuận kinh doanh hoặc tạm thời thua lỗ và khả năng khắc phục tình trạng này là hoàn toàn có thể Nhưng khi rủi ro xảy ra lớn, các phương tiện thông tin đại chúng sẽ nêu lên và làm cho dân chúng thiếu lòng tin vào Ngân hàng và như vậy Ngân hàng khó có thể huy động vốn được dồi dào Các Ngân hàng nước ngoài vì thế mà xa lánh, không
mở đại lý Thậm chí có thể dẫn đến phá sản Ngân hàng khi khách hàng ồ ạt kéo đến rút tiền khỏi Ngân hàng, vốn tự có không đủ bù đắp, Ngân hàng mất khả năng thanh toán
1.4.3 Đối với doanh nghiệp và những người gửi tiền
Hiện nay các doanh nghiệp hầu hết hoạt động sản xuất kinh doanh không phải dựa vào vốn tự có của doanh nghiệp mà dựa vào vốn vay của Ngân hàng là chủ yếu Có những doanh nghiệp vốn kinh doanh của Ngân hàng chiếm tới 80% đến 90% trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy khi Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng nhiều thì việc cho vay của Ngân hàng cũng “dè dặt” hơn, Ngân hàng sẽ không dám cho vay nhiều Và điều đó có ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của doanh nghiệp, các nhu cầu về vốn của doanh nghiệp sẽ không được đáp ứng đầy đủ
Trang 22Còn đối với những người gửi tiền thì sao? Ta biết rằng, vốn của Ngân hàng chủ yếu
là vốn đi huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế, những người có tiền nhàn rỗi trong một thời gian nào đó chưa sử dụng Nguồn vốn huy động này được đem cho vay ngoài xã hội Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm cho khả năng thanh toán của Ngân hàng gặp nhiều khó khăn, thậm chí khi người gửi tiền cần rút tiền, Ngân hàng không
có tiền để trả thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch, đến hoạt động sản xuất của người gửi tiền bị dở dang
1.5 sự cần thiết của việc nghiên cứu rủi ro tín dụng
Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn đứng trước nguy cơ rủi ro rất cao mà nghiệp vụ tín dụng là một trong những lĩnh vực nhiều rủi ro nhất Đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, hoạt động tín dụng đang là lĩnh vực chủ đạo, chiếm tỷ trọng từ 85%-95% doanh thu, nên việc đảm bảo chất lượng tín dụng đồng nghĩa với việc giảm thiểu rủi ro tín dụng ở mức có thể sẽ là vấn đề có tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Chính vì vậy mà việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng tín dụng luôn là mục tiêu, đồng thời là nhân tố quan trọng nhất để cạnh tranh và phát triển của ngân hàng thương mại
Vậy làm sao để nâng cao được chất lượng tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh? Chất lượng tín dụng đối với khu vực này có thể hiểu đơn giản là hiệu quả của việc cho vay (hay đầu tư, bảo lãnh mang lại) là khả năng thu hồi đầy đủ đúng hạn cả vốn gốc và lãi (hoặc phí) theo dự định Hiệu quả và khả năng thu hồi vốn càng lớn thì chất lượng tín dụng càng cao và ngược lại Hay nói cách khác rủi ro, thất thoát tín dụng càng thấp thì chất lượng tín dụng càng cao Điều đó có nghĩa là muốn nâng cao chất lượng tín dụng phải giảm thiểu được rủi ro tín dụng, các ngân hàng phải thực hiện được những món cho vay hoàn hảo
Để có được một khoản cho vay hoàn hảo, các ngân hàng thường sử dụng rất nhiều biện pháp như thẩm định dự án đầu tư kỹ càng, tìm hiểu về khách hàng, mục đích đầu
tư, uy tín, lịch sử phát triển của khách hàng… Từ đó đánh gía khả năng hoàn trả khoản vay và ra quyết định có cho vay hay không Tuy nhiên dù có thận trọng đến đâu chăng nữa, các ngân hàng vẫn không thể tránh hoàn toàn rủi ro nhất là đối với khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh Có thể là một chính sách mới của nhà nước khiến cho khách hàng phải giải thể, hoặc những biến động bất lợi của nền kinh tế (suy thoái, khủng
Trang 23hoảng…) hoặc thiên tai, hoả hoạn… Mặt khác, nếu ngân hàng quá thận trọng trong việc ra quyết định cho vay, ngân hàng sẽ bị lỡ những cơ hội thu lợi nhuận và khó mà
mở rộng được quy mô của ngân hàng Bởi vậy, dù muốn dù không ngay từ đầu ngân hàng vẫn đòi hỏi khoản cho vay phải có hai phương án trả nợ tách biệt Hiển nhiên phương án một là mọi chuyện đều trôi chảy, việc cho vay thành công Chẳng hạn khi xuất khẩu, công ty bán được hàng và thu được tiền, có lãi và trả được nợ cho ngân hàng Xét trên phương diện cho vay thì đó là giải pháp hoạt động kinh doanh của công
ty sinh lời dù để họ có thể trả nợ cho ngân hàng Phương án thứ hai là dự phòng trường hợp nếu dự án không thành công thì doanh nghiệp lấy tài sản của họ để trả nợ hay đi vay để trả nợ bao gồm cả việc sử dụng công cụ vay nợ trên thị trường Đó chính là những hình thức đảm bảo an toàn tín dụng
Tóm lại, việc đưa ra các giải pháp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng nói chung
và đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng là việc làm cần thiết ở các Ngân hàng và đặc biệt là đối với Ngân hàng cổ phần Hàng hải-chi nhánh Hà nội Ngân hàng phải linh hoạt dự báo được khả năng xảy ra trong tương lai, nắm bắt được thông tin thị trường từ đó đưa ra giải pháp kịp thời và phù hợp để Ngân hàng hoạt động ngày càng hiệu quả, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước
Chương 2
Trang 24Thực trạng rủi ro rín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại ngân hàng Thương mại cổ phần hàng hải -
chi nhánh Hà nội
2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng hàng hải - Hà nội:
Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt nam(viết tắt là MSB) là Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên ở Việt nam được thành lập sau khi pháp lệnh
về Ngân hàng và tổ chức tài chính có hiệu lực Vốn điều lệ ban đầu là 40 tỷ VNĐ Vốn điều lệ thực góp đến nay là 110 tỷ đồng
MSB là một ngân hàng thương mại cổ phần một mặt các tổ chức tín dụng là khuôn khổ và căn cứ pháp lệnh cho mọi hoạt động của Ngân hàng, mặt khác chịu sự chi phối của luật doanh nghiệp
Đối tượng phục vụ của Ngân hàng là mọi doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế và dân cư trong toàn quốc MSB-Hà nội được thành lập theo giấy phép số 0001/NH-CP ngày 8/6/1991 có trụ sở 44 Nguyễn Du-Hà nội MSB-Hà nội là đại diện uỷ quyền của MSB-VN Phương châm “giúp khách hàng làm giàu một cách hợp pháp” là mục tiêu phục vụ của MSB
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, vấn đề tạo vốn và sử dụng vốn nhằm đạt hiệu quả cao nhất luôn là mục tiêu vươn tới Đối với các tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng như các NHTM thì việc cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn sao cho hợp lý là yếu tố quyết định đến sự tồn tại của Ngân hàng Chính vì vậy để có một cái nhìn khái quát về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng hải- Hà nội chúng ta
sẽ đi xem xét tình hình huy động và sử dụng vốn của nó:
Trang 252.1.1 Tình hình huy động vốn:
Cũng giống như các Ngân hàng thương mại khác, công tác huy động vốn là một nghiệp vụ quan trọng hàng đầu của Ngân hàng Hàng hải – Hà nội Hoạt động này nhằm giải quyết “đầu vào” tức là giải quyết vốn để Ngân hàng thương mại hoạt động; đồng thời cũng là điểm nút trong kinh doanh Ngân hàng Mỗi kỳ kinh doanh Ngân hàng phải tính làm sao cho lượng vốn huy động phù hợp với kế hoạch sử dụng vốn, tình trạng thiếu vốn hay ứ đọng vốn đều gây rủi ro cho Ngân hàng
Ngân hàng hàng hải – Hà nội trong hoạt động của mình đã cải tiến nghiệp vụ, đổi mới phương thức hoạt động, hình thức huy động vốn, áp dụng chính sách lãi suất hợp lý linh hoạt và Ngân hàng đã có những chính sách hợp lý nhằm duy trì hệ thống khách hàng lâu năm và phát triển khách hàng mới Để nắm bắt được hoạt động huy động vốn của của Ngân hàng Hàng hải -Hà nội trong những năm gần đây chúng ta sẽ xem xét và phân tích một cách chi tiết các chỉ tiêu ở bảng 1:
Bảng 1: Tình hình nguồn huy động vốn của Ngân hàng TMCP Hàng hải-Hà nội
(Nguồn: Phòng tín dụng tại Ngân hàng Hàng hải- Hà nội)
Qua bảng số liệu mô tả kết quả huy động vốn của Ngân hàng Hàng hải Hà nội từ năm
2000 đến năm 2002 ta thấy:
Trang 26Liên tục trong nhiều năm liền Ngân hàng TMCP Hàng Hải Hà Nội đã đạt vượt mức chỉ tiêu huy động vốn của mình, vốn huy động tăng qua từng năm Nếu như năm 2001 đạt 553,576 triệu đồng tăng 123,088 triệu đồng, tăng 28,6% so với năm 2000 Sang năm 2002 tổng vốn huy động tăng, tuy nhiên tỷ lệ tăng thấp hơn, tăng 77,241 triệu đồng bằng 113% so với năm 2001 Có được kết quả như vậy là sự lỗ lực không mệt mỏi của cán bộ nhân viên Ngân hàng, đặc biệt tổ dịch vụ khách hàng, sự chỉ đạo sát sao ban lãnh đạo chi nhánh và chính sách huy động vốn hợp lý
Một điều dễ nhận thấy nó thể hiện nét riêng trong cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Hàng hải-Hà nội không giống với các Ngân hàng khác đó là: trong nguồn vốn huy động thì tiền gửi thanh toán chiếm tỷ trọng lớn nhất (năm 2000 là 48,9%; năm
2001 là 49,2% và năm 2002 là 50,3%) Đây là nguồn vốn có chi phí thấp chủ yếu là các tổ chức kinh tế mà chủ yếu là các đơn vị ngành Hàng hải, Bưu chính viễn thông, Giao thông vận tải gửi vào Các tổ chức này gửi vào nhằm mục đích thanh toán, để có
sự thuận lợi hơn trong giao dịch với bạn hàng Đây là nguồn vốn rất hấp dẫn đối với Ngân hàng nhưng tính ổn định không cao, Ngân hàng Hàng hải-Hà nội luôn phải dự trữ để bảo đảm khả năng thanh toán khi có dòng tiền rút ra
Nguồn vốn quan trọng thứ hai đối với Ngân hàng Hàng hải-Hà nội là tiền gửi tiết kiệm, loại tiền gửi này cũng được tăng qua các năm(năm 2000 là 121,44 triệu đồng; năm 2001 là 166,25 triệu đồng và năm 2002 là 195,37 triệu đồng) Điều này chứng tỏ Ngân hàng vẫn giữ được uy tín của mình, khách hàng đến gửi tiền ngày càng nhiều
Và ngoài ra Ngân hàng Hàng hải- Hà nội còn huy động bằng cách vay nợ các tổ chức tín dụng trong nước và ngoài nước để bổ sung nguồn vốn thiếu hụt cho Ngân hàng Tỷ trọng nguồn vốn này cũng khá lớn Nhìn vào bảng ta thấy tỷ trọng nguồn vốn vay của Ngân hàng thay đổi ít(năm 2000 là 15%; năm 2001 là 16% và năm 2002 là 17%) trong nguồn vốn vay đó nguồn vốn vay từ tổ chức tín dụng và Ngân hàng nước ngoài cũng chiếm tỷ trọng đáng kể Ngân hàng Hàng hải-Hà nội rất chú trọng nguồn vốn này và ngày càng được nhiều Ngân hàng nước ngoài cho vay vốn và mở rộng hạn mức tín dụng trong thanh toán Có thể thấy nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng nước ngoài qua bảng 2 sau:
Bảng 2: Cơ cấu vay vốn nước ngoài của Ngân hàng TMCP Hàng hải-Hà nội
Trang 27(Đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Vốn vay từ tổ chức nước ngoài 64,57 88,63 106,72
(Nguồn: Phòng tín dụng Ngân hàng Hàng hải-Hà nội)
Nhìn chung, công tác huy động vốn của Ngân hàng Hàng hải –Hà nội đã tăng trưởng
và ổn định qua các năm, phục vụ tốt nhu cầu sử dụng vốn Công tác huy động vốn đóng góp quan trọng vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Trong nguồn vốn huy động của Ngân hàng chủ yếu là của khách hàng truyền thống của Ngân hàng Ngân hàng đã giữ được quan hệ tốt với các khách hàng truyền thống như: Các thành viên của tổng cục Bưu điện, Tổng công ty bưu chính viễn thông, các đơn vị thuộc Tổng cục Hàng Hải, Bộ Giao thông và Tổng công ty Bảo hiểm Nên đã được các đơn vị này gửi vốn thường xuyên tại Ngân hàng Ngân hàng đã thực hiện khá tốt các chỉ tiêu của hội sở giao cho, mặc dù vậy Ngân hàng vẫn cần phải có những biện pháp nâng cao nguồn vốn này
2.1.2 Tình hình sử dụng vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng hải -Hà nội:
Có thể khẳng định rằng nguồn huy động vốn quyết định đầu vào còn sử dụng
vốn quyết định đầu ra của mọi Ngân hàng Ngân hàng chỉ có thể tồn tại và phát triển khi hai khâu này phối hợp ăn ý với nhau
Ngân hàng Hàng hải-Hà nội chủ yếu tập trung vào các hoạt động sử dụng vốn sau:
- Tín dụng ngắn hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh
- Tín dụng trung và dài hạn phục vụ cho các dự án đầu tư phát triển
- Góp vốn liên doanh liên kết
- Thực hiện các dịch vụ Ngân hàng
Trang 28- Và các hình thức đầu tư khác…
Để nắm bắt được tình hình sử dụng vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng hải-Hà nội ta sẽ xem xét và phân tích nó trên nhiều góc độ khác nhau Trước hết là tình hình sử dụng vốn trên góc độ thành phần kinh tế tại Ngân hàng Hàng hải- Hà nội:
Bảng 3: Tình hình sử dụng vốn theo thành phần kinh tế tại Ngân hàng Hàng
doanh
158,131 47,16 149,661 42,17 160,001 38,46
3.Dư nợ đến 31/12 256,213 100 276,704 100 305,875 100 Kinh tế quốc doanh 121,788 47,53 134,031 48,43 164,741 53,85 Kinh tế ngoài quốc
doanh
134,425 52,47 112,919 51,57 105,213 46,15
(Nguồn: Phòng tín dụng Ngân hàng Hàng hải-Hà nội)
Qua số liệu bảng 2 ta thấy doanh số cho vay tăng mạnh qua các năm: Năm 2000 doanh
số cho vay tăng với mức tăng tuyệt đối 19,586 triệu đống so với năm 2001 Mức tăng này hoàn toàn do tăng doanh số cho vay khu vực kinh tế quốc doanh: 28,056 triệu đồng so với năm 2001 Sang năm 2002 doanh số cho vay tăng khá mạnh với mức tăng tuyệt đói 61,143 triệu đồng so với năm 2001 Khác với năm 2001, doanh số cho vay vẫn tăng lên trong năm 2002 là do mức cho vay cả hai khu vực kinh tế quốc doanh và
Trang 29ngoài quốc doanh trong đó khu vực kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ yếu: 50,803 triệu đồng trên tổng số tăng 61,143 triệu đồng so với năm 2001
Về cơ cấu cho vay, Kinh tế quốc doanh thường chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng số cho vay Năm 2000, tỷ trọng doanh số cho vay kinh tế quốc doanh chiếm 52,83% sang năm 2001 tăng 57,82% và năm 2002 là 61,53% Như vậy tỷ trọng cho vay kinh tế quốc doanh có xu hướng tăng tương đối trong khi tỷ trọng này đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có xu hướng giảm tương đối
Năm 2000, tỷ trọng doanh sốcho vay giữa hai khu vực này chênh lệch nhau rất ít thì sang năm 2001-2002 tỷ lệ này có phần chênh lệch hẳn về phía khu vực kinh tế quóc doanh
Xét về xu hướng doanh số cho vay quốc doanh đều tăng giữa các năm Năm 2001,doanh số cho vay khu vực quốc doanh tăng mạnh với mức tuyệt đối 28,056 triệu đồng so với năm 2000 Năm 2002 doanh số này tiếp tục tăng ở mức cao hơn rất nhiều : 50,803 triệu đồng so với năm 2001 Trong khi đó doanh số cho vay ngoài quốc doanh lại giảm thất thường Năm 2001, doanh số này giảm 8,470 triệu đồng so với năm 2000 Sau đó, sang năm 2002 doanh số cho vay ngoài quốc doanh lại tiếp tục tăng 10,340 triệu đồng so với 2001 Từ việc phân tích số liệu trên ta có thể thấy mặc dù Ngân hàng Hàng hải-Hà nội luôn khuyến khích mọi thành phần kinh tế vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vẫn chiếm phần lớn vốn vay của Ngân hàng và doanh số cho vay đối với khu vực này đều tăng qua các năm Đây là một đáng mừng Nhưng mặt khác cũng có thể thấy rằng đầu tư cho vay đối với khu vực ngoài quốc doanh mức độ rủi ro, mạo hiểm cũng tăng lên Cần xem xét kỹ các dự
án này mới mong khống chế giảm bới rủi ro
Tiếp tục phân tích tình hình thu nợ và dư nợ của Ngân hàng Doanh số thu nợ cũng tăng nhưng với tốc độ khác nhau qua các năm Năm 2001, doanh số thu nợ giảm đi chút ít: 905 triệu đồng so với năm 2000 Sang năm 2002, cùng với sự tăng mạnh của doanh số cho vay, doanh số thu nợ cũng tăng mạnh với mức tăng tuyệt đối là 31,972 triệu đồng so với năm 2001 Do doanh số cho vay và doanh số thu nợ có mức tăng tương đối đồng điệu nhau thì tổng dư nợ lại tăng với số tuyệt đối khá đều qua các năm Năm 2001, dư nợ tăng 20,491 triệu đồng so với năm 2000 Năm 2002 dư nợ tăng thêm 29,171 triệu đồng so với năm 2001
Trang 30Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng dư nợ của Ngân hàng năm 2000 là 256,213 triệu đồng, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 52,466% trong tổng dư nợ, còn lại là khu vực quốc doanh Sang năm 2001 dư nợ tăng lên là 276,704 triệu đồng trong đó dư
nợ khu vực ngoài quốc daonh giảm đôi chút là 112,919 triệu đồng chiếm 51,57% Nguyên nhân của tình trạng này là do tình trạng bất ổn của tình hình kinh tế (năm 2001), tiêu dùng giảm, sản xuất đình trệ nên các doanh nghiệp giảm nhu cầu vốn để
mở rộng sản xuất kinh doanh mặt khác lợi nhuận các doanh nghiệp giảm thậm chí thua
lỗ dẫn tới thu nợ khó khăn
Năm 2002, nền kinh tế được cải thiện hơn nên dư nợ của Ngân hàng đối với Khu vực ngoài quốc doanh chỉ còn 105,213 triệu đồng chiếm 46,15% tổng dư nợ, rõ ràng là giảm so với năm 2000 và 2001 Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đã bắt đầu có ý thức trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Nhưng tổng dư nợ của Ngân hàng vẫn tăng so với 2 năm trước với con số khá lớn là 305,875 triệu đồng tăng 29,171 triệu đồng so với năm 2001
Qua phân tích trên ta thấy tại Ngân hàng Hàng hải-Hà nội dư nợ đối với khu vực kinh
tế quốc doanh luôn chiếm phần khống chế (từ 47,5%-53,85%) và có xu hướng tăng Ngược lại tỷ lệ dư nợ cũng như cho vay(phân tích số liệu bên trên) đối với khu vực ngoài quốc doanh ngày càng giảm Trong khi đó, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vẫn còn là tiềm năng lớn của đất nước mà thiếu vốn là một trong vấn đề cản trở sự phát triển của khu vực này Đây là vấn đề nan giải mà cả Nhà nước và Ngân hàng cần cùng nhau khắc phục
Tiếp theo ta xem xét tình hình sử dụng vốn vay của Ngân hàng theo thời hạn qua các năm:
Bảng 4 : Tình hình cho vay theo thời hạn tại Ngân hàng Hàng hải –hà nội
Trang 31- Ngắn hạn 273,105 83,25 286,093 80,63 320,307 76,99
- Trung, dài
hạn
56,164 16,75 68,764 19,37 95,693 23,01
(Nguồn: Phòng tín dụng Ngân hàng Hàng hải-Hà Nội)
Nhìn vào bảng trên ta thấy doanh số cho vay ngắn hạn của Ngân hàng Hàng hải-Hà nội chiếm một tỷ trọng tổng doanh số cho vay Năm 2000, tỷ trọng doanh số cho vay ngắn hạn là 273,105 triệu đồng chiếm 83,25% Năm 2001 là 286,093 triệu đồng chiếm 76,99% Về số tuyệt đối doanh số cho vay ngắn hạn vẫn tăng mạnh Năm 2001 doanh
số cho vay ngắn hạn tăng tuyệt đối là 12,988 triệu đồng so với năm 2000 Trong năm
2002 doanh số này tăng mạnh tiếp 34,214 triệu đồng so với năm 2001
Ngược lại với doanh số cho vay ngắn hạn, doanh số cho vay trung và dài hạn chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn Năm 2000, doanh số cho vay trung và dài là 56,164 triệu đồng chỉ chiếm 16,75% trên tổng doanh số Năm 2001 là 19,37%; năm 2002 là 23%.Tuy nhiên doanh số này cũng tăng qua các năm Năm 2001, doanh số cho vay trung và dài hạn tăng 12,600 triệu đồng so với năm 2001 Sang năm 2002 doanh số này tăng thêm 26,929 triệu đồng so với năm 2001 Mặc dù doanh số cho vay trung và dài hạn tăng nhưng tổng số cũng tăng nên tỷ trọng của nó thay đổi ít
Điều đó chứng tỏ khách hàng đến vay vốn Ngân hàng với mục đích thương mại ngày càng nhiều Đó là các doanh nghiệp sản xuất ít, quay vòng vốn nhanh Khách hàng chỉ cần vay trong thời gian ngắn đã có thể thu hồi để trả nợ Ngân hàngvà khi cần sẽ vay món mới tạo điều kiện cho vốn lưu chuyển nhanh, có hiệu quả Song cũng phải hiểu rằng các món vay ngắn hạn đem lại lợi nhuận không cao bằng các khoản cho vay trung và dài hạn do lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp hơn Mặt khác, việc cho vay và thu nợ không ổn định, khó kiểm soát khả năng thiếu hụt vốn hay ứ đọng vốn kinh doanh cho Ngân hàng Đồng thời khả năng xảy
ra nợ quá hạn với Ngân hàng cũng cao làm cho Ngân hàng mất khả năng chủ động Việc dự đoán tình hình cho vay, thu nợ của Ngân hàng trở nên khó khăn hơn Ngân hàng cần phải có biện pháp dể tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn Làm như vậy Ngân hàng sẽ giảm bớt rủi ro và tăng lợi nhuận Ngân hàng Có thể
Trang 32bằng cách đưa ra các chính sách ưu đãi trong cho vay đối với các dự án có tính khả thi cao
Ngoài hai cách trên, ta có thể đánh giá công tác sử dụng vốn theo loại tiền vay: ta thấy, mặc dù dư nợ tín dụng đối với khoản cho vay bằng VNĐ có xu hướng tăng nhưng tốc độ không nhiều và được coi là khá ổn định: năm 2001 tỷ lệ này là 82,2% thì đến năm 2002 tăng lên 88,2% Bên cạnh đó, ta còn thấy dư nợ tín dụng giữa VNĐ và ngoại tệ là tương đối cân đối Điều này cho thấy sự hài hoà tương đối giữa hai loại hình cho vay và cả hai đều là những hoạt động sôi nổi của Ngân hàng Như vậy các khách hàng có quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá, thiết bị, nguyên vật liệu với các công ty nước ngoài, và cả khách hàng có quan hệ giao dịch trong nước và các dự án đầu tư đều đã tìm đến Ngân hàng chứng tỏ Ngân hàng đã có chỗ đứng trên thị trường và vị trí đó ngày càng vững chắc
Số liệu cụ thể về tình hình cho vay tại Ngân hàng Hàng hải-Hà nội theo ngành kinh tế:
Bảng 5: Tình hình cho vay theo ngành kinh tế tại Ngân hàng Hàng hải-Hà nội
Trang 33(Nguồn: Phòng tín dụng ngân hàng Hàng hải-Hà nội)
Qua số liệu bảng trên ta thấy Ngân hàng Hàng hải-Hà nội đã đầu tư cho ngành Hàng hải năm 2001 là 14,3% tổng cho vay gấp 3 lần năm 2000 Năm 2002 là 15,6% tổng
dư nợ tăng 28% so với năm 2001, tăng chủ yếu do đồng tài trợ cho Vinaline, ngành Bưu điện năm 2001 chiếm 9,5% tổng cho vay năm 2002 là 15,5% dư nợ cho vay Đầu tư cho ngành Bưu điện 2 năm 2001,2002 tăng gấp 10 so với năm 2000, chủ yếu đầu tư vào VNPT Tỷ trọng cho vay thương mại và cho vay tiêu dùng chiếm 47,4%(năm 2001);50,59%(năm 2002)
Trên đây ta vừa xem xét phần sử dụng vốn của Ngân hàng Hàng hải-Hà nội Tuy nhiên, nếu ta đặt hai chỉ tiêu nguồn vốn huy động và dư nợ bình quân cạnh nhau ta sẽ thấy một vấn đề đáng lưu ý(xem bảng sau) Đó là việc Ngân hàng Hàng hải-Hà nội huy động nhiều nhưng chưa sử dụng hết nguồn huy động đó vào mục đích cho vay Hiệu suất sử dụng vốn qua các năm còn thấp Năm 2000, hiệu suất sử dụng vốn là 51,3%; năm 2001 là 51,5% và năm 2002 là 53,7% Như vậy Ngân hàng Hàng hải-Hà nội luôn thừa vốn bình quân lớn hơn 40% Nhìn chung, phần vốn huy động thừa này không hề làm ảnh hưởng đến lợi nhuận chung của Ngân hàng Hàng hải-Hà nội(qua bảng sau) song nó chứng tỏ một điều là : khả năng mở rộng thị trưởng tín dụng của Ngân hàng Hàng hải-Hà nội còn lớn
Bảng 6: Hiệu suất sử dụng vốn của Ngân hàng Hàng hải-Hà nội qua các năm
(Đơn vị: Triệu đồng)
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Trang 34Dư nợ bình quân 220,926 285,091 337,141
(Nguồn: Phòng tín dụng Ngân hàng Hàng hải-Hà nội)
Ngân hàng đã thực hiện phương châm “đi vay để cho vay” đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế Nhờ có phương pháp quản lý điều hành vững mạnh, thực hiện các phương án kinh doanh có hiệu quả nên trong những năm gần đây Ngân hàng Hàng hải –
Hà nội đã đạt được những thành quả đáng kể, lãi trong hoạt động Ngân hàng liên tục tăng qua các năm:
Bảng 7: Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Hàng hải-Hà nội
(Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh tại Ngân hàng Hàng hải Hà nội)
Tóm lại, sử dụng vốn huy động sao cho có hiệu quả nhất luôn là mục tiêu vươn tới của Ngân hàng Hàng hải-Hà nội Tính “hiệu quả” ở đây đã bao hàm ý nghĩa vốn cho vay
ra phải được thu hồi về cả gốc lẫn lãi đúng hạn, lãi cho vay phải bù đắp được lãi huy động cùng các chi phí khác và tạo ra thu nhập cho nhà Ngân hàng Qua phân tích những nhóm chỉ tiêu chủ yếu là doanh số cho vay dư nợ theo các góc độ khác nhau Doanh số cho vay tăng lên hàng năm hứa hẹn thu lãi từ lãi cho vay tăng tạo ra thu nhập ngày càng cao cho Ngân hàng, đặc biệt hứa hẹn từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Trang 35Nhưng chỉ nhìn vào mức tăng này mà cho rằng tình hình tín dụng tốt thì rất không đúng và không trọn vẹn Để đánh giá được chính xác công tác kinh doanh tín dụng của Ngân hàng Hàng hải-Hà nôi đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trước hết phải xem xét khả năng thu hồi vốn vay Tương tự như vậy, dư nợ cho vay đối với khu vực ngoài quôc doanh tăng đều qua các năm liệu có phải là một dấu hiệu tốt khi phân tích hoạt động tín dụng của Ngân hàng không? Điều này còn phụ thuộc vào việc dư nợ đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh này có bao gồm cả dư nợ của các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi…hay không? Để trả lời những câu hỏi trên chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu tình hình rủi ro tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh của Ngân hàng Hàng hải-Hà nội
2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng Hàng hải-Hà nội:
Trên cơ sở các đảm bảo tín dụng (như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh…) trên cơ sở phân tích thực trạng tài chính, giám sát hoạt động của doanh nghiệp và tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh hay dự án đầu tư, Ngân hàng cấp tín dụng cho doanh nghiệp với cam kết là doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi Song trên thực tế các hợp đồng tín dụng, các nguyên tắc tín dụng luôn bị vi phạm bởi nhiều lý do mà hậu quả xấu nhất là khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn hoặc không trả được nợ Điều này không một Ngân hàng nào muốn nó xảy ra đối với Ngân hàng mình Nhưng rủi ro mang tính tất yếu trong kinh doanh Ngân hàng là rủi ro tín dụng mà nợ quá hạn là rủi
ro tín dụng mà Ngân hàng khó tránh khỏi Dù Ngân hàng đó mạnh hay yếu, to hay nhỏ thì cũng đều phải đối mặt với rủi ro tín dụng ở một mức độ nào đó Ngân hàng TMCP Hàng hải- Hà nội cũng không phải là ngoại lệ: nó phát sinh chủ yếu do các khoản vay ngắn hạn đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Tình trạng này xảy ra đối với nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh khi chuyển đổi nền kinh tế đưa đến gánh nặng cho Ngân hàng Trên thực tế rủi ro là tất yếu nhưng nếu hạn chế được rủi ro thì hạo động kinh doanh sẽ hiệu quả hơn
Xem xét thực trạng của Ngân hàng Hàng hải- Hà Nội nổi lên mấy vấn đề sau:
Bảng 8: Nợ quá hạn trong cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng Hàng
hải Hà nội
Trang 36%
Số tiền
Tỷ trọng
%
Số tiền
Tỷ trọng
%
Nợ quá hạn 72,146 100 63,165 100 56,473 100 Quốc doanh 19,102 26,47 19,205 30,41 19,227 34,04 Ngoài quốc
doanh
53,77 73,52 43,170 69,59 36,538 65,95
(Nguồn: Phòng tín dụng Ngân hàng Hàng hải Hà nội)
Qua số liệu trên ta thấy nợ quá hạn chủ yếu phát sinh ở khu vực ngoài quốc doanh Năm 2000 nợ quá hạn là 72,146 triệu đồng, trong đó khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 73,52% tổng nợ quá hạn Năm 2001, tổng nợ quá hạn giảm so với năm 2001 là 8,98 triệu đồng trong đó khu vực ngoài quốc doanh chiếm 69,59% với mức nợ quá hạn
là 43,170 triệu đồng Sang năm 2002 nợ quá hạn tại Ngân hàng tiếp tục giảm 6,92 triệu đồng trong đó khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 65,95% tổng nợ quá hạn Như vậy, nợ quá hạn cho vay kinh tế ngoài quốc doanh giảm, để có kết quả này là do Ngân hàng Hàng hải –Hà nội đã đề ra biện pháp hạn chế và thu hồi nợ quá hạn Tuy nhiên tỷ
lệ nợ quá hạn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vẫn ở con số đáng quan tâm điều này đòi hỏi Ngân hàng cần có biện pháp hữu hiệu hạn chế nợ quá hạn đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Qua khảo sát tình hình thực tế tại Ngân hàng Hàng hải Hà nội, cho vay kinh tế ngoài quốc doanh, 90% dư nợ đều cho vay theo từng món theo một hợp đồng kinh tế, một phi vụ kinh doanh…Chủ yếu Ngân hàng mới chỉ chạy theo nhu cầu của từng người vay chứ chưa chủ động khảo sát nghiên cứu, xây dựng các phương án đầu tư theo các luận chứng khoa học và thực tiễn Do vậy mà nợ quá hạn tại Ngân hàng Hàng hải –Hà nội vẫn ở con số khá lớn so với các Ngân hàng khác đã nói lên một phần nào khó khăn trong thanh toán của khách hàng cũng như chất lượng tín dụng của Ngân hàng
Trang 37Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng Hàng hải-Hà nội là vấn đề quan trọng cần được quan tâm, để thấy rõ hơn ta có thể phân tích nợ quá hạn theo thời gian Ngân hàng Hàng hải –Hà nội phân chia nợ quá hạn thành ba loại:
Nợ quá hạn có thời gian quá hạn dưới 6 tháng được coi là nợ quá hạn bình thường do định kỳ cho vay sai thực tế Nợ quá hạn 6-12 tháng được coi là nợ khê đọng tiềm ẩn những rủi ro Nợ quá hạn trên 12 tháng kể từ ngày đến hạn trả nợ được coi là nợ khó đòi có mức rủi ro cao
Bảng 9: Tình hình nợ quá hạn khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở ngân hàng
Hàng hải- Hà Nội theo mức độ
%
Tuyệt đối
Tỷ trọng
%
Tuyệt đối
Tỷ trọng
%
á hạn 53,77 43,17 100 36,54 100 -10,6 -80,29 -6,63
84,64
-NQH>1
2th 42,559 39,22 90,85 36,016 99,57 -3,339 -92,15
3,201
91,83
(Nguồn: Phòng tín dụng Ngân hàng Hàng hải – HàNội)